Tải bản đầy đủ

MỘT số BIỆN PHÁP PHỐI hợp GIỮA NHÀ TRƯỜNG và GIA ĐÌNH TRONG GIÁO dục đạo đức học SINH ở các TRƯỜNG TRUNG học PHỔ THÔNG HUYỆN đơn DƯƠNG TỈNH lâm ĐỒNG

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHỐI HỢP
GIỮA NHÀ TRƯỜNG VÀ GIA
ĐÌNH TRONG GIÁO DỤC ĐẠO
ĐỨC HỌC SINH Ở CÁC
TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG HUYỆN ĐƠN DƯƠNG
TỈNH LÂM ĐỒNG


- Nguyên tắc xây dựng biện pháp
- Xuất phát từ những quy luật của giáo dục
Mọi giải pháp được đề xuất để có kết quả tốt nhất thì
cần dựa trên những nền tảng, cơ sở vững chắc là căn cứ
khoa học, những biện pháp quản lý sự phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong GD học sinh đặc biệt là
giáo dục đạo đức HSTHPT. Tác giả đề xuất những biện
pháp cần căn cứ vào những quy luật phát triển giáo dục
theo đúng quy luật khách quan là:
Những định hướng, mục tiêu phát triển giáo dục
và đào tạo, những đòi hỏi của địa phương.
Căn cứ vào những tình trạng biến động về kết quả

phát triển kinh tế xã hội của thế giới, các nước
Đông Nam Á, tình hình trong nước, địa phương và
địa bàn cụ thể.
Căn cứ thực trạng về sự phối hợp trong GD đạo
đức HS của địa phương (Tỉnh, Huyện) và đơn vị
mình quản lý.


- Xuất phát từ mục tiêu quản lý giáo dục trung học phổ
thông
Các đích của mọi hoạt động là mục tiêu. Các đích của hoạt
động giáo dục và cái đích của hoạt động quản lý giáo dục
là mục tiêu giáo dục. Một nguyên tắc quan trọng và cũng là
điều tất cả các nhà giáo dục, quản lý giáo dục mong muốn
là xác định, lựa chọn các mục tiêu và tìm được các biện
pháp thực hiện phù hợp với các mục tiêu. Không những
chúng ta để ý đến mục tiêu chung của Đảng, Nhà nước về
đào tạo nguồn nhân lực CNH - HĐH đất nước và các mục
tiêu giáo dục, mục tiêu cụ thể của mỗi bậc học trong Luật
giáo dục mà còn để ý tới những mục tiêu và định hướng
phát triển giáo dục và đào tạo ở địa phương trong giai đoạn
hiện nay và những năm tới. Đặc biệt, các biện pháp quản lý
sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong GD nhất là
giáo dục đạo đức HSTHPT của người cán bộ quản lý cấp
cơ sở khi đưa ra cần để ý đến mục tiêu giáo dục cụ thể của
nhà trường và phải dung hòa các mục tiêu trên.
- Các biện pháp phải phù hợp với thực tiễn và có tính
khả thi cao


Mỗi biện pháp đề xuất phải dựa trên những phân tích chính
xác, khoa học trong thực tiễn. Muốn đề xuất các biện pháp,
quản lý phối hợp giữa nhà trường và gia đình có hiệu quả
phải tìm hiểu cụ thể địa phương, nhà trường từ tất cả các
phương tiện liên quan như: về con người, điều kiện cơ sở
vật chất, cách thức quản lý, hình thức tổ chức, điều kiện
môi trường,...
Đối tượng của GD và QLGD là con người nên khi đề xuất
các biện pháp quản lý giáo dục đạt hiệu quả và có tính khả
thi cao trong thực tiễn, chúng ta phải để ý đến đặc điểm


tâm sinh lý lứa tuổi ở mỗi bậc học và sự tác động các yếu
tố bên ngoài đến sự hình thành và phát triển nhân cách của
các HS đặc biệt là HSTHPT trong điều kiện kinh tế, văn
hóa và xã hội cụ thể.
Lứa tuổi diễn ra quá trình phát triển, biến đổi mạnh về tâm
sinh lý là lứa tuổi HSTHPT. Các em thường có những hoài
bão, ước mơ, muốn được khẳng định mình, có những biến
đổi tâm sinh lý muốn làm người lớn, nhưng đây cũng là lứa
tuổi dễ bị ảnh hưởng xấu từ bên ngoài, nông nổi, bồng bột.
Đây là giai đoạn rất phức tạp trong hình thành và phát triển
nhân cách của học sinh. Vì vậy, cần chú ý đến đặc điểm


tâm sinh lý của HS để đưa ra biện pháp quản lý phù hợp và
có tính khả thi cao.
Mỗi biện pháp đưa ra sẽ tác động và ảnh hưởng đến tập thể.
Tuy nhiên, mỗi biện pháp quản lý giáo dục còn ảnh hưởng
lâu dài đến cả một thế hệ và tạo nên diện mạo nhân cách
của thế hệ đó. Vì vậy, khi đưa ra biện pháp quản lý giáo
dục phải cân nhắc, tính toán khoa học, tiến hành thực
nghiệm để kiểm định và xác định tính thiết thực và tính khả
thi trong điều kiện cho phép.
- Các biện pháp phải đồng bộ
“Đồng bộ” có nghĩa là ăn khớp giữa tất cả các bộ phận
hoặc các khâu tạo nên sự hoạt động nhịp nhàng của chỉnh
thể. Sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình là một trong
những nguyên tắc cơ bản để đi đến đích của GD là mục
tiêu giáo dục. Cho nên, một biện pháp đưa ra phải đảm bảo
tính đồng bộ thì mới có sự phối hợp nhịp nhàng và đảm
bảo sự thống nhất cao giữa các bộ phận cùng hoạt động
tránh sự lủng củng và rơi vào tình trạng “trống đánh xuôi,
kèn thổi ngược”. Sự phối hợp chặt chẽ, tương đồng và cùng
một hướng giữa nhà trường và gia đình trong GDĐĐ HS là


một mục đích và đồng tâm hợp lực thúc đẩy quá trình phát
triển nhân cách của học sinh.
Sức mạnh tổng hợp và đồng bộ trong toàn xã hội đáp ứng
được yêu cầu của GD là việc tìm kiếm giải pháp thống nhất
giữa hai môi trường GD gia đình và nhà trường trong công
tác phối hợp nhằm hạn chế tối đa những ảnh hưởng tiêu
cực của thời kỳ CNH - HĐH. Từ đó, xây dựng môi trường
sư phạm lành mạnh tạo những tác động tích cực, điều kiện
tiên quyết trong GD đạo đức cho HS dẫn đến thành công.
- Đảm bảo tính pháp lý
Luật Giáo dục: “Hoạt động giáo dục phải được thực
hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, giáo dục nhà
trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã
hội, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, lý luận
gắn liền với thực tiễn.”
Luật Hôn nhân và gia đình: “Cha mẹ phải làm gương
tốt cho con về mọi mặt và phối hợp chặt chẽ với nhà
trường và các tổ chức xã hội trong việc giáo dục con.
Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi dưỡng, giáo dục


con; chăm lo việc học tập và sự phát triển lành mạnh
của con về thể chất, trí tuệ và đạo đức….”
Luật bảo vệ và chăm sóc - giáo dục trẻ em: “Nhà
trường chủ động phối hợp chặt chẽ với gia đình và xã
hội trong việc bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, có
trách nhiệm thực hiện giáo dục toàn diện về thẩm mỹ,
thể dục, tri thức, đạo đức, giáo dục lao động hướng
nghiệp cho trẻ em.”
Điều lệ trường Trung học phổ thông: “Để thực hiện
mục tiêu, nguyên lý giáo dục nhà trường phải chủ
động phối hợp chặt chẽ và thường xuyên với gia đình
để xây dựng môi trường giáo dục thống nhất giữa nhà
trường và gia đình.”
Chỉ thị số 71/2008/CT-BGDĐT ngày 23/12/2008 của
Bộ Giáo dục đào tạo về “Tăng cường phối hợp gia
đình, nhà trường và xã hội trong công tác giáo dục trẻ
em, học sinh sinh viên”[8] phát huy toàn bộ vai trò
quan trọng của nhà trường, gia đình và xã hội trong
thực hiện GD toàn diện cho thế hệ mai sau để nâng
cao hơn nữa chất lượng GDĐĐ cho thế hệ trẻ, lực


lượng nòng cốt là học sinh - sinh viên và họ cũng là
tài sản vô giá, quan trọng nhất của mỗi gia đình và
của quốc gia.
- Đề xuất một số biện pháp phối hợp giữa nhà trường
và gia đình trong giáo dục đạo đức học sinh ở các
trường trung học phổ thông
- Nâng cao nhận thức cán bộ, giáo viên và phụ huynh
học sinh về sự phối hợp giữa nhà trường và gia đình
trong công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ
thông
Mục đích của biện pháp:
Biện pháp này nhằm làm cho CB, GV và PHHS
thấy được vai trò, tầm quan trọng và nhiệm vụ của
sự phối hợp giữa nhà trường với gia đình, từ đó ý
thức được trách nhiệm của mình trong công tác
phối hợp cùng GDĐĐ học sinh.
Trong quá trình hoạt động thì nhận thức là yếu tố đầu tiên
quyết định đến sự thành công hay thất bại của công việc.
Yếu tố vô cùng quan trọng góp phần nâng cao kết quả công


tác GDĐĐ học sinh hiện nay là việc nâng cao nhận thức
của CBQL, GV và PHHS thấy được phải phối hợp giữa
nhà trường và gia đình rất quan trọng và cần thiết.
Nội dung và cách thực hiện:
Nội dung và hình thức phối hợp giữa nhà trường và gia
đình trong GDĐĐ học sinh rất phong phú, vì vậy để công
tác quản lý sự phối hợp được đảm bảo, tổ chức thực hiện
có hiệu quả cao ở nhiều hoạt động thì hiệu trưởng cần
tăng cường chỉ đạo các bộ phận đặc biệt là GVCN tổ chức
tốt sự phối hợp với gia đình học sinh.
Nhà trường cần chủ đạo và chủ động phối hợp với PHHS
tổ chức các loại hình hoạt động cho học sinh. Muốn vậy,
cần phải hình thành nên các tổ chức theo sự hướng dẫn
chung, duy trì sinh hoạt đều đặn và chặt chẽ.
Để nắm toàn bộ mục tiêu, nội dung giáo dục, học tập của
con em thì gia đình cần chủ động phối hợp với nhà trường,
với GVCN.
Nâng cao nhận thức và tinh thần trách nhiệm cho CBQL,
GV và PHHS cần đạt:


Đối với cán bộ quản lý:
Qui định của các Bộ, Ngành về chỉ đạo phối hợp giữa
nhà trường và gia đình trong GD học sinh cần nắm
vững vàng để từ đó đạt được nhiệm vụ GDĐĐ trong
giai đoạn GD hiện nay.
Ngay từ đầu năm học với nội dung và mục tiêu cụ thể,
hiệu trưởng ở các trường THPT có thể tổ chức xây
dựng kế hoạch quản lý phối hợp phải dựa trên kế
hoạch chung của ngành, nhiệm vụ chính trị của địa
phương, nhiệm vụ trọng tâm của năm học và đảm bảo
tính mục đích, khoa học và phù hợp với hoàn cảnh cụ
thể của từng trường.
Hiệu trưởng chủ động chỉ đạo các lực lượng trong nhà
trường xây dựng kế hoạch phối hợp, tuyên truyền
nâng cao nhận thức về phối hợp với gia đình học sinh
trong GDĐĐ.
Đối với cán bộ Đoàn thanh niên: Các quan điểm,
đường lối, chủ trương của Đảng; chính quyền cần
phải nắm rõ để áp dụng trong sự phối hợp để GDĐĐ
học sinh một cách thiết thực và hiệu quả.


Đối với GVCN: GVCN cần phải nắm vững mục tiêu và
phương pháp giáo dục vì là người đại diện nhà trường
quản lý tất cả hoạt động của học sinh trong một lớp và
cũng là người cha (người mẹ) thứ hai của các em. GVCN
phải chủ động phối hợp với các bộ phận trong nhà trường
và gia đình học sinh để quản lý và uốn nắn các em kịp thời
và đạt hiệu quả.
Phối hợp với PHHS để nắm tình hình học sinh: Có thể
nói rằng PHHS là người nắm tình hình hình hoạt động
hàng ngày của học sinh nơi các em sinh sống. Chính
những thông tin trao đổi từ PHHS thì giáo viên chủ
nhiệm có những nguồn thông tin đáng tin cậy để giúp
giáo viên đánh giá đúng học sinh của mình từ đó tìm
ra biện pháp hữu ích giúp các em hoàn thành nhân
cách.
Phối hợp với PHHS để động viên và khuyến khích
học sinh: Tác động kịp thời những điều tốt của các em
sẽ có tác dụng rất lớn đến học sinh. Dư luận và sự
đánh giá giúp các em học sinh tự điều chỉnh hành vi
một cách hữu hiệu.


Đối với PHHS: Trong việc hoàn thiện nhân cách của học
sinh không chỉ là trách nhiệm của nhà trường mà cần phải
giúp PHHS thấy được gia đình có vai trò quan trọng.
PHHS cần nắm rõ mục tiêu, nội dung, hình thức GDĐĐ
cho học sinh, để từ đó PHHS tích cực phối hợp với GVCN
trong việc này.
Nếu các bậc phụ huynh có điều kiện khả năng thì
tham gia cùng với nhà trường tổ chức hoạt động giáo
dục ngoài giờ lên lớp, các hoạt động ngoại khoá.
Động viên giúp đỡ thầy cô giáo giảng dạy, GVCN lớp
của con em mình học tập. Giúp đỡ cần hiểu là thiết
lập quan hệ thường xuyên, động viên về tinh thần,
tình cảm, trao đổi về kinh nghiệm chứ không chỉ về
vật chất. Giúp đỡ những khó khăn như ốm đau, hoạn
nạn khi thầy cô gặp đột xuất.
Tham gia đầy đủ các buổi trao đổi mà giáo viên chủ
nhiệm triệu tập hoặc nhà trường yêu cầu về học tập,
rèn luyện của con cái.


Tham gia vào quá trình hoạt động giáo dục của con
mình ở lớp học, nhà trường và đánh giá kết quả học
tập, rèn luyện đạo đức cho con em.
Để các lực lượng GD trong và ngoài nhà trường nhận
thức rõ về tầm quan trọng của việc phối hợp giáo dục
nâng cao hiệu quả và chất lượng GDĐĐ cho học sinh
thì nhà trường phải chủ động xây dựng kế hoạch phối
hợp, tuyên truyền bằng nhiều hình thức như soạn thảo
và in tài liệu,… của sự phối hợp giáo dục, tuyên dương
những gương điển hình trong lao động học tập, về
phương pháp giáo dục, quản lý con em; phối hợp với
gia đình ký các cam kết nhằm nâng cao hiệu quả và
chất lượng GDĐĐ.
Ngay từ đầu năm học, nhà trường phối hợp với ban đại
diện PHHS để đánh giá những mặt làm được và những mặt
chưa làm được trong công tác phối hợp ở năm học trước
để rút ra những kinh nghiệm phối hợp, từ đó tuyên truyền
sâu hơn cho PHHS những vấn đề:
Tầm quan trọng và cần thiết của sự phối hợp.


PHHS có vai trò và trách nhiệm tham gia phối hợp
chặt chẽ trong GDĐĐ học sinh.
Trong công tác phối hợp cần tích cực vận động gia
đình để tránh sự ngại tiếp xúc với thầy cô giáo, nhất
là PHHS của con em yếu kém.
Cần tác động đến PHHS để ủng hộ giúp đỡ từ phía
gia đình cho sự phối hợp.
Sự thể hiện tác động qua lại một cách biện chứng là
sự liên kết quản lý phối hợp trong việc nâng cao nhận
thức, tinh thần trách nhiệm nhằm GDĐĐ học sinh đó
là:
Thứ nhất, trong việc giáo dục con cái nhà trường cần có
những hỗ trợ cụ thể đó là những lời khuyên, sự giúp đỡ của
các nhà sư phạm cho các bậc phụ huynh mặc dù hiện nay
nhiều bậc phụ huynh học sinh đã có trình độ học vấn cao.
Các nhà sư phạm cần chỉ ra cho các bậc phụ huynh học
sinh biết được và hiểu một cách sâu sắc giáo dục gia đình
là giáo dục có những khả năng ưu thế đặc biệt, mục đích
giáo dục của nhà trường XHCN và mục tiêu giáo dục ở
trường THPT.


Thứ hai, giáo dục gia đình với tư cách là một chủ thể giáo
dục tiêu biểu thì trong việc tổ chức các hoạt động giáo dục
con em các các bậc PHHS có trách nhiệm chủ động phối
hợp với nhà trường, PHHS tránh tư tưởng khoán trắng cho
nhà trường hoặc tự đề ra những yêu cầu giáo dục đi ngược
lại mục tiêu, nhiệm vụ của nhà trường quy định mà phải
hiểu rõ nhiệm vụ của mình.
Trong thực tiễn công tác quản lý và kết quả khảo sát thực
tế chương 2, tác giả nhận thấy nhận thức của một số CBQL
và GV về công tác phối hợp GDĐĐ học sinh chưa cao,
trong đó ít quan tâm đến vấn đề này là đối tượng CBQL
chuyên môn, GV không làm công tác chủ nhiệm hoặc GV
không làm công tác Đoàn của nhà trường. Vấn đề cơ bản
các PHHS có con đang theo học trong trường chưa được
phổ biến về mục tiêu, nội dung và biện pháp phối hợp
GDĐĐ học sinh nên còn thờ ơ tham gia phối hợp với nhà
trường trong việc học tập của con em mình.
Điều kiện thực hiện:
Nhà trường là cơ sở giáo dục, đào tạo có sự quản lý của
nhà nước với tư cách pháp nhân nên phải phát huy vai trò


tiên phong, chủ lực trong hoạt động dạy học và trong lĩnh
vực giáo dục cho thế hệ trẻ thì nhà giáo dục phải làm
nhiệm vụ tư vấn cho gia đình học sinh.
Trong công tác chủ nhiệm, thầy cô giáo không chỉ tâm
huyết, có kiến thức về tâm lý lứa tuổi, tâm lý của học sinh
mà còn phải nhạy cảm, tinh tế, thương học sinh hết mình,
thấy đau khi học sinh mình sa ngã,.... Từ đó, thầy cô giáo
mới tìm ra được cách phối hợp với PHHS để giáo dục sự
lệch chuẩn về đạo đức của học sinh với nhiều cách khác
nhau, cần dành thời gian để gần gũi tác động làm trỗi dậy
phần thiện trong con người của các em để các em vươn lên
thay đổi chính con người mình.
Nguồn lực để giáo dục học sinh lệch chuẩn về đạo đức chủ
yếu là sự phối hợp giữa PHHS và GVCN. Bên cạnh đó, cần
có sự cộng tác của các bộ phận trong nhà trường như Ban
giám hiệu, Đoàn thanh niên và tập thể lớp của học sinh.
- Nâng cao chất lượng xây dựng kế hoạch chương trình,
nội dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
công tác giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
Mục đích của biện pháp:


Biện pháp quản lý kế hoạch chương trình, nội
dung phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong
GDĐĐ học sinh là nhằm đảm bảo tính ổn định
tương đối, hệ thống và hướng đích để tránh sự tùy
tiện của các hoạt động phối hợp này. Xây dựng kế
hoạch, chương trình sự phối hợp phải gắn liền với
kế hoạch quản lý chung của nhà trường thông qua
vào mỗi đầu năm học trong hội đồng sư phạm nhà
trường. Dựa trên kết quả khảo sát và phân tích
thực trạng ở chương 2 việc xây dựng kế hoạch
phối hợp tác giả nhận thấy rằng: đa số các trường
chưa xây dựng kế hoạch phối hợp một cách cụ thể
và phù hợp, mà chỉ đề ra một số công việc thực
hiện: Họp PHHS, gọi điện cho PHHS khi học sinh
hư, thỉnh thoảng gởi sổ liên lạc,thông báo cho
PHHS,….nên dẫn đến hiệu quả phối hợp chưa đạt
được kết quả tốt. Vì vậy, các trường cần xây dựng
kế hoạch phối hợp hàng năm có nội dung và
phương pháp phù hợp. Kế hoạch phối hợp thống
nhất, cụ thể, thực tế, khoa học và khả thi các hoạt


động phối hợp cụ thể qua từng giai đoạn, kế hoạch
phối hợp tránh phức tạp.
Nhà trường và gia đình cần thống nhất nội dung giáo
dục cho học sinh ở nhà trường, ở gia đình. Trước tiên,
giáo dục gia đình có thế mạnh và xuyên suốt cho nên
những truyền thống tốt đẹp của gia đình là cái nôi hình
thành và nuôi dưỡng những chuẩn mực đạo đức mang
tính giá trị cho các em học sinh. Giáo dục nhà trường có
những đặc thù chính sách riêng nên cũng có trách
nhiệm và nhiều thuận lợi truyền thụ cho học sinh
những vấn đề cụ thể, khoa học, hệ thống trong chương
trình chính khóa và ngoại khóa bằng phương pháp
khoa học tối ưu cho học sinh lĩnh hội những tri thức
văn hóa và hành vi đạo đức cần thiết đạt hiệu quả.
Nội dung và cách thực hiện:
Trong kế hoạch phối hợp ngay từ đầu năm học cần chọn
lựa các nội dung cần thiết, phù hợp với từng thời điểm,
từng nhà trường và khu vực đang sinh sống của gia đình
học sinh, nhằm tạo điều kiện thuận lợi tốt nhất cho PHHS
tham gia các hoạt động giáo dục. Kế hoạch cần chi tiết, rõ


ràng, cụ thể và có lịch hoạt động cho toàn trường, từng
khối lớp, từng lớp và từng thời điểm để GVCN và PHHS
chủ động thời gian tham gia. Kế hoạch phối hợp giữa
GVCN và PHHS trong GDĐĐ học sinh phải dựa trên cơ
sở kế hoạch chung của nhà trường và có mối quan hệ chặt
chẽ với những hoạt động khác như: hoạt động dạy học,
hoạt động ngoại khóa, hoạt động hướng nghiệp…
Nội dung kế hoạch phải là những công việc nhà trường
chủ động thực hiện được thông qua hội nghị cán bộ, công
chức, viên chức và ban đại diện PHHS hàng năm góp ý để
trở thành nghị quyết chung khi thực hiện và phấn đấu hoàn
thành được yêu cầu giáo dục của nhà trường trong năm
học. Mục tiêu kế hoạch cũng không thể tách rời, mâu thuẫn
gây cho các em tâm trạng hoang mang, dao động trong
việc lựa chọn, định hướng các giá trị tốt đẹp của nhân
cách, mà phải đảm bảo được sự thống nhất trong nhận
thức và hành động, tập trung sức mạnh thúc đẩy quá trình
phát triển nhân cách của học sinh. Cần thống nhất nội
dung hoạt động giáo dục giữa nhà trường và gia đình
trong đó có nội dung dạy và học là trách nhiệm của nhà
trường và nuôi dưỡng, dạy dỗ ở gia đình là trách nhiệm


của cha mẹ. Những nội dung hoạt động phối hợp cần thống
nhất bao gồm:
Bố trí, sắp xếp thời gian hợp lý trong phối hợp.
Kế hoạch phối hợp xây dựng phù hợp với điều kiện
của từng trường, của từng địa phương với phong tục
tập quán và sinh hoạt của PHHS để đáp ứng nhiệm
vụ giáo dục hàng năm cũng như công tác giáo dục
chính trị, tư tưởng.
Kế hoạch giám sát, kiểm tra việc thực hiện kế hoạch
phối hợp của từng GVCN luôn là nội dung quan
trọng để thực hiện các nhiệm vụ trong kế hoạch
chung của hiệu trưởng nhà trường.
Điều kiện thực hiện:
Nhà trường và gia đình đều phải ý thức thống nhất được
tầm quan trọng của việc phối hợp GDĐĐ cho học sinh.
Kế hoạch phối hợp phải được nhà trường và gia đình thống
nhất mục đích, nội dung và chương trình hành động .
Kế hoạch đã được thống nhất phải quyết tâm thực hiện
đúng.


Phải tận dụng mọi hình thức trực tiếp, gián tiếp không mất
nhiều thời gian nhưng đạt hiệu quả.
Xây dựng cơ chế phối hợp sao cho hợp lý và hiệu quả
thì nhà trường phải chủ động tổ chức các hình thức
gặp mặt với gia đình học sinh để thống nhất.
- Nâng cao hiệu quả quản lý tổ chức và chỉ đạo thực hiện
phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong công tác
giáo dục đạo đức học sinh trung học phổ thông
Mục đích của biện pháp:
Nhằm nâng cao chất lượng và đạt hiệu quả tốt nhất
trong tổ chức và chỉ đạo của nhà trường việc thực hiện
phối hợp giữa nhà trường và gia đình, cần phải gắn liền
với việc xây dựng các cơ cấu tổ chức, cắt cử nhiệm vụ
cho từng người, từng bộ phận và kịp thời điều chỉnh,
củng cố, bổ sung nhân lực nòng cốt của công tác phối
hợp trong từng giai đoạn.
Nội dung và cách thực hiện:
Nội dung và hình thức phối hợp giữa nhà trường với
gia đình rất đa dạng, phong phú vì vậy để đảm bảo


cho công tác quản lý sự phối hợp, tổ chức thực hiện
nhiều hoạt động mang lại hiệu quả cao thì hiệu
trưởng cần phải tăng cường chỉ đạo các bộ phận
trong nhà trường như tổ chủ nhiệm và GVCN để tổ
chức tốt các hoạt động phối hợp
Ngay từ đầu năm học, phân công nhiệm vụ phối hợp
cụ thể cho từng giáo viên thực hiện dựa trên kế hoạch
đã vạch ra. Trong công tác phối hợp, hàng tháng
hiệu trưởng chỉ đạo họp giao ban để triển khai kế
hoạch và tổng kết, đánh giá rút kinh nghiệm công tác
phối hợp của tháng trước. Tổ chủ nhiệm và GVCN có
vai trò quan trọng trọng việc xây dựng kế hoạch, nội
dung và hình thức hoạt động cho tháng tiếp theo.
Trong việc tổ chức hoạt động phối hợp phù hợp thì
người hiệu trưởng cắt cử trách nhiệm cụ thể cho từng
GVCN với đặc điểm cụ thể của từng khối, từng lớp.
Trong tổ chức hoạt động phối hợp người GVCN có
vai trò chính nên hoạt động của tổ, khối chủ nhiệm
có ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng phối hợp nhà
trường và gia đình. Hàng tháng, hiệu trưởng chỉ
đạo tổ khối chủ nhiệm tăng cường sinh hoạt từng


khối (có thể quy định số lần họp, thời gian họp cụ
thể) với nội dung sinh hoạt và hình thức hoạt động
phải thống nhất gắn trên gắn liền với kế hoạch
triển khai chủ đề của toàn trường nhằm cho hoạt
động phối hợp chặt chẽ hơn. Từ đó, GVCN từng
lớp tổ chức các hoạt động phối hợp phù hợp với
lớp của mình.
Tổ chủ nhiệm từng khối được hiệu trưởng chỉ đạo tổ
chức huấn luyện cho GVCN những kỹ năng phối hợp
với gia đình học sinh. Nhà trường thành lập tổ tư vấn
học đường để giúp học sinh tháo gỡ những khó khăn
trong học tập, những thay đổi tâm sinh lý lứa tuổi
THPT, vướng mắc trong quan hệ với thầy cô, bạn
bè…và đồng thời cũng giúp PHHS tư vấn những khó
khăn, vướng mắc trong giáo dục con em mình.
Giáo viên chủ nhiệm được hiệu trưởng chỉ đạo tuyên
truyền cho PHHS biết được mục đích GD của nhà
trường thông qua cuộc họp PHHS, từ đó thống nhất
yêu cầu giáo dục giữa hai môi trường GD (gia đình,
nhà trường), trách nhiệm của gia đình trong việc đưa


con em mình vào khuôn khổ, thống nhất hình thức
liên lạc giữa GVCN và PHHS.
Hiệu trưởng chỉ đạo GVCN phối hợp với Ban đại diện
PHHS lớp tham gia tổ chức các hoạt động GDĐĐ cho
học sinh như mỗi tháng Ban đại diện PHHS dự giờ
sinh hoạt lớp một lần để nắm được tình hình lớp và
kịp thời uốn nắn những hành vi lệch chuẩn của con
em mình, đặc biệt có sự tham gia trực tiếp của cha mẹ
học sinh vào giáo dục.
Điều kiện thực hiện:
Tổ chức định kỳ các cuộc họp PHHS ở lớp, trường.
Ngay từ đầu năm học, thành lập Ban đại diện PHHS ở
lớp, trường để thường xuyên phối hợp tìm cách tháo
gỡ những khó khăn vướng mắc.
GVCN thường xuyên gởi thư, điện thoại hoặc đi thăm
gia đình học sinh để đưa ra các yêu cầu cho PHHS
trong giáo dục đạo đức con em mình.


Nhà trường phải công bố chương trình kế hoạch, yêu
cầu nội dung và nhiệm vụ giáo dục của nhà trường để
PHHS nắm được.
- Tăng cường nguồn lực cho công tác phối hợp giữa nhà
trường và gia đình trong công tác giáo dục đạo đức học
sinh trung học phổ thông
Mục đích của biện pháp:
Biện pháp này nhằm tăng cường và đảm bảo phối hợp và
khắc phục những tồn tại về nhân lực mà chương 2 đã thể
hiện. Trong thực hiện kế hoạch phối hợp giữa nhà trường
và gia đình thì nguồn lực con người là điều kiện tiên quyết,
phải xây dựng đội ngũ GVCN nhiệt tình, năng lực và có
kiến thức thực hiện tốt nhất những nhiệm vụ hiệu trưởng
cắt cử.
Nội dung và cách thực hiện:
Lực lượng nòng cốt trong công tác phối hợp: Ban giám
hiệu và GVCN. Việc làm cần thiết và thường xuyên là
xây dựng và bồi dưỡng đội ngũ GVCN nhằm giúp họ có
những kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật ứng xử, tuyên


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×