Tải bản đầy đủ

ĐẠI học THÁI NGUYÊN

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

TRIỆU VĂN THỰC

Tên đề tài
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG VÀ BIỆN PHÁT XỬ LÝ TẠI XÃ
YÊN THÀNH -YÊN BÌNH-YÊN BÁI

KHÓA LUẬT TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo

: Chính quy

Chuyên ngành :Khoa học môi trường
Khoa

:Môi trường

Khóa học


: 2014-2018

Giảng viên hướng dẫn : Ths Nguyễn Minh Cảnh
Khoa Môi Trường-Trường Đại Học Nông Lâm Thái Nguyên

Thái Nguyên 2018


DANH MỤC BẢNG


DANH MỤC HÌNH


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT


MỤC LỤC


PHẦN 1: MỞ ĐẦU
1.1.

Đặt vấn đề
Nhìn chung nông thôn Việt Nam có cảnh quan thiên nhiên phong phú, đa
dạng, giàu giá trị văn hoá và môi trường trong lành. Tuy nhiên, hiện tại nông
thôn Việt Nam đang chịu tác động sâu sắc của quá trình hướng tới xã hội
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đang diễn ra ở nước ta. Nhiều tác động diễn ra
hàng ngày làm thay đổi tận gốc cách làm ăn, cách nghĩ của con người cũng
như môi trường sống của họ. Ngày nay, nông thôn đã có những thay đổi to
lớn về kinh tế xã hội, phần lớn ở khu vực đồng bằng đều có điện, có trường
học, 100% số xã có trạm y tế, có nhà trẻ.
Chất lượng cuộc sống của con người nay không chỉ là những điều kiện về
ăn, mặc, ở mà còn về chất lượng không khí hít thở hằng ngày, chất lượng
nước để uống, tắm rửa Vì vậy, các bộ ngành các chính quyền địa phương
trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng phải nhìn từ góc độ tổng quan về môi
trường để có quyết định phát triển ở địa phương mình. “Nước ta là một nước
nông nghiệp với 75% dân số và nguồn lực lao động xã hội đang sinh sống và
làm việc ở khu vực nông thôn, với hơn 3 triệu hộ nông dân, lực lượng sản
xuất này chiếm vị trí quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã hội.


Do đặc diểm khác nhau về điều kiện kinh tế và thiên nhiên về kinh tế xã hội,
cho nên các vùng nông thôn Việt Nam có nét đặc thù riêng và chất lượng
môi trường có sự biến đổi khác nhau. Yên Bái là tỉnh nằm ở vùng trung du
miền núi phía Bắc, nông dân chủ yếu là sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi
số hộ được sử dụng nướ sạch còn thấp. Việc thu gom, xử lý rác thải từ trước
tới nay do từng hộ nông dân xử lý, xã chưa có lực lượng thu gom. Vì vậy
tình trạng rác thải vứt bừa bãi, hôi thối gây ô nhiễm không chỉ ảnh hưởng
đời sống của các hộ nông dân trong xã mà còn ảnh hưởng đến mỹ quan
chung của huyện. Nhận thức của người dân về việc thu gom, xử lý rác thải
trong quá trình chăn nuôi và sinh hoạt lại chưa cao, xác súc vật chết đều đổ
ra khe, suối gần nhà và quanh vườn; Nhà tiêu không đảm bảo vệ sinh đây là
những nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường, phát sinh dịch bệnh trên
địa bàn xã thời gian qua, ảnh hưởng sức khoẻ cộng đồng, phá huỷ cân bằng
môi trường


Thời kì đổi mới nền kinh tế nướ ta đã có những bước phát triển rất quan
trọng, đặc biệt phải nói đến vai trò to lớn của kinh tế nông nghiệp và nông
thôn. Khởi đầu của sự nghiệp đổi mới được bắt đầu từ nông nghiệp. Cho
đến nay, khi chúng ta bước vào thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
nghiệp, nông thôn, nông dân dần càng có vị trí, vai trò quan trọng. Tinh thần
Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII
đã chr rõ: phát triển nông nghiệp, nông thôn là một trong các chủ trương và
giải pháp lớn thúc đẩy sự nghiệp đổi mới tiến lên.
Trong quá trình thực hiện quan điểm đó, chúng ta đã đạt được nhiều những
thành tựu quan trọng về kinh tế, chính trị,xã hội, nông dân, nông thôn từng
bước được cải thiện cả về đời sống vật chất và đời sống tinh thần.
Xã Yên Thành đang tích cực tham gia vào quá trình xây dựng và phát triển
các vùng nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông
thôn. Và cũng đạt được rất nhiều những thành tựu về mặt kinh tế, xã hội,
chính trị.
Là một xã còn nghèo nên việc quản lý và quy hoạch về môi trường vẫn còn
nhiều vước mắc, khó khăn, dân chí thấp đặc biệt là chưa hiểu tầm quan trọng
của môi trường sống xung quanh. Đây là thách thức lớn của xã Yên Thành
nói riêng và của huyện và tỉnh nói chung.
Việc quản lý, tổng hợp, hiểu rõ thông tin về môi trường của xã là việc cần
thiết để là đòn bẩy cho xã phát triển kinh tế-xã hội cho địa phương, những
vẫn đề liên quan đến môi trường đang là vẫn đề quan tâm, chú trọng trong
công tác quản lý, bảo vệ môi trường của xã của huyện. việc sử dụng, khai
thác nguồn tài nguyên môi trường đang được tích cực đẩy mạnh. Nhưng
cũng có những nối lo cho xã và toàn huyện vầ hậu quả của việc khác thác đó
để lại cho môi trường xung quanh.
Vì vậy, để quản lý, quy hoạch về vẫn đề tài nguyên và môi trường xã được
tốt, phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, từ đó thúc đẩy sự phát triển của xã
lên một nấc thang mới là vẫn đề cấp thiết được đề ra . Xuất phát từ vấn đề
đó, được sự nhất trí của ban giám hiệu nhà trường ban chủ nhiệm khoa Tài
nguyên và Môi trường - trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, dưới sự
hướng dẫn trực tiếp của thạc sĩ Nguyễn Minh Cảnh, em tiến hành thực hiện


đề tài: “ Đánh giá hiện trạng môi trường và biện pháp xử lý xã Yên Thành,
huyện Yên Bình,Tỉnh Yên Bái ”.
1.2 Mục đích và yêu cầu, ý nghĩa của đề tào
1.2.1 Mục đích của đề tài
- Điều tra, đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Yên Thành,
huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái về các vấn đề:
+ Nước sinh hoạt
+ Nước thải
+ Vấn đề rác thải
+ Vệ sinh môi trường
+ Phân bón, thuốc bảo vệ thực vật và môi trường
+ Sức khỏe cộng đồng và môi trường
+ Công tác tuyên truyền và giáo dục vệ sinh môi trường
-

Đánh giá sự hiểu biết của người dân về vấn đề môi trường.

-

Thông qua nghiên cứu chuyên đề, nâng cao hiểu biết của người dân
về vấn đề bảo vệ môi trường.

-

Đánh giá công tác quản lý nhà nước về môi trường của xã Yên Thành

-

Đề xuất của giải pháp bảo vệ và quản lý môi trường tại địa phương

1.2.2 Yêu cầu của đề tài
- Phỏng vấn đại diện các tầng lớp, các lứa tuổi làm việc ở các nghành
nghề khác nhau.
- Thu thập các thong tin, tài liệu về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội tại
xã Yên Thành.
- Số liệu thu thập phải chính xác, khách quan, trung thực.


- Tiến hành điều tra theo bộ câu hỏi, bộ câu hỏi phải dễ hiểu đầy đủ các
thong tin cần thiết cho việc đánh giá.
- Các kiến nghị được đưa ra phải phù hợp với tình hình địa phương và
có tính khả thi cao.
1.3 Ý nghĩa của đề tài
- Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học:
+ Bổ sung thông tin về thực trạng môi trường tại Yên Thành, huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
+ Nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút kinh nghiệm thực tế phục vụ cho
công tác sau này
+ Vận dụng và phát huy được các kiến thức đã học tập và nghiên cứu.
-

Ý nghĩa trong thực tiễn:
+ Kết quả của chuyên đề sẽ góp phần nâng cao được sự quan tâm của
người dân về bảo vệ môi trường.
+ Làm căn cứ để cơ quan chức năng tang cường công tác tuyên
truyền giáo dục nhận thức của người dân về môi trường.
+ Xác định hiện trạng môi trường nông thôn tại xã Yên Thành, huyện
Yên Bình, tỉnh Yên Bái.
+ Đưa ra các giải pháp bảo vệ môi trường cho khu vực nông thôn
thuộc tỉnh Yên Bái nói chung và Huyện Yên Bình nói riêng.
+ Làm cơ sở cho việc hoạch định các chính sách về môi trường.


PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở khoa học của đề tài
2.1.1 Khái niện về môi trường
Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ
mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự
tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Điều 1, Luật Bảo vệ Môi
trường của Việt Nam).
Môi trường theo nghĩa rộng là tất cả các nhân tố tự nhiên và xã hội cần thiết
cho sự sinh sống, sản xuất của con người, như tài nguyên thiên nhiên, không khí,
đất, nước, ánh sáng, cảnh quan, quan hệ xã hội...
2.1.2 Khái niệm về phát triển bền vững
Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm đáp ứng những nhu cầu hiện tại mà
không làm tổn hại tới khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
Phát triển bền vững là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà
không làm tổn hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên
cơ sở kết hợp chặt chẽ, hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và
bảo vệ môi trường.
2.1.3 Chức năng về môi trường.
Môi trường có các chức năng cơ bản sau:
- Môi trường là không gian sống của con người và các loài sinh vật;
- Môi trường là nơi cung cấp tài nguyên cần thiết cho cuộc sống và hoạt động sản
xuất của con người;
- Môi trường là nơi chứa đựng các chất phế thải do con người tạo ra trong cuộc
sống và hoạt động sản xuất của mình;
-Môi trường là nơi giảm nhẹ các tác động có hại của thiên nhiên tới con người và
sinh vật trên trái đất;
- Môi trường là nơi lưu trữ và cung cấp thông tin cho con ngư
2.1.4 Khái niệm nhiễm môi trường


Theo Tổ chức Y tế thế giới: “Ô nhiễm môi trường được hiểu là việc chuyển các
chất thải hoặc năng lượng vào môi trường đến mức có khả năng gây hại đến sức
khoẻ con người, đến sự phát triển sinh vật hoặc làm suy giảm chất lượng môi
trường”.
Theo khoản 6 Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường năm 2005: “Ô nhiễm môi trường là
sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật”.
- Ô nhiễm môi trường nước
Ô nhiễm môi trường nước là sự thay đổi theo chiều xấu đi các tính chất vật lýhóa học-sinh học của nước, với sự xuất hiện của các khí lạ ở thể lỏng, rắn làm cho
nguồn nước trở nên độc hại với con người và sinh vật. Làm giảm độ đa dạng sinh
học trong nước.
- Ô nhiễm môi trường không khí
Ô nhiễm môi trường không khí là cho hiện tượng khí sạch thay đổi thành
phần và tính chất dưới bất kỳ hình thức nào có nguy cơ gây tác hại đến thực vật và
động vật, gây hại đến sức khỏe con người và môi trường xung quanh. Khí quyển
có khả năng tự làm sạch để duy trì cân bằng giữa các quá trình. Những hoạt động
của con người vượt quá khả năng tự làm sạch, sẽ có sự thay đổi bất lợi cho môi
trường không khí thì được xem là ô nhiễm môi trường khong khí.
- Ô nhiễm môi trường đất
Ô nhiễm môi trường đất là sự thay đổi thành phần, tính chất của đất gây ra bởi
những tập quán phản vệ sinh của các hoạt động sản xuất nông nghiệp và những
phương thức canh tác khác nhau và do thải bỏ không hợp lý các chất cặn bã đặc và
lỏng vào đất. Ngoài ra ô nhiễm đất con do sự lắng đọng của các chất gây ô nhiễm
không khí lắng đọng xuống đất.
- Ô nhiễm tiếng ồn
Ô nhiễm môi trường đất là âm thanh khồn mong muốn hay âm thanh được phát
ra không đúng lúc, không đúng chỗ. Tiếng ồn là tổng hợp của nhiều thành phần
khác nhau được tổng hợp trong sự cân bằng biến động. Mỗi thành phần có vai trò
riêng trong việc gây ồn. Noa khác nhau với những người khác nhau, ở những chỗ
khác nhau và những thời điểm không giống nhau. Ô nhiễm tiếng ồn như một âm
thanh không mong muốn bao hàm sự bất lợi làm ảnh hưởng đến con người và môi
trường sống của con người bao gồm đất đai, công trình xây dựng, động vật nuôi ở
trong nhà và tự nhiên.
2.1.5 Suy thái môi trường
Suy thoái môi trường là sự suy giảm về chất lượng và số lượng của thành phần
môi trường, gây ảnh hưởng xấu đối với con người và sinh vật.


Hay là sự suy giảm khả năng đáp ứng các chức năng của môi trường. Mất nơi cư
chút an toàn cạn kiện nguồn tài nguyên, xả thải quá độ, ô nhiễm.
Nguyên nhân gây suy thái môi trường rất đa dạng: sự biến động của tự nhiên
theo hướng không có lợi cho con người, sự khai thác tài nguyên quá khả năng tự
phục hồi, do mô hình phát triển chỉ nhằm vào phát triển kinh tế, sự gia tăng dân số,
nghèo đói, bất bình đẳng.
Quản lý môi và phòng chống ô nhiễm: (Quản lý môi trường là một hoạt đọng
quản lý xã hội: có tác động điều chỉnh các hoạt động của con người dựa trên sự
tiếp cận của hệ thông và khác kỹ thuật điều phối thông tin, đối với các vẫn đề môi
trường có liên quan đến con người, xuất phát từ quan điểm định lượng, hướng tới
sự phát triển bên vững và sự dụng hợp lý tài nguyên).
Quản lý môi trường được thực hiện bằng tổng hợp các biện pháp: luật pháp,
chính sách,kinh tế, công nghệ, xã hội, văn hóa, giáo duc. Các biện pháp này có thể
đan xen, phối hợp, thích hợp với nhau tùy theo điều kiện cụ thể của vấn đề đặt ra.
Việc quản lý môi trường hiện nay mọi quy mô: toàn cầu, toàn khu vực, quốc gia,
tỉnh, huyện, cơ sở sản xuất, hộ gia đình.
2.1.6 Tiêu chuẩn môi trường.
Theo Luật BVMT 2005 “ Tiêu chuẩn môi trường là giới hạn cho phép của
các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất gây ô
nhiễm trong chất thải được cơ quản nhà nước có thẩm quyền quy định làm căn cứ
để quản lý và bảo vệ môi trường ”
Theo luật BVMT 2014 “ Tiêu chuẩn môi trường là mức giới hạn cho phép
của các thông số về chất lượng môi trường xung quanh, về hàm lượng của chất
gây ô nhiễm trong chất thải, các yêu cầu kỹ thuật và quản lý được cơ quan nhà
nước và các tổ chức công bố dưới dạng văn bản tự nguyện áp dụng để bảo vệ môi
trường ”.
* Chỉ thị môi trường:
Theo UNEP: Chỉ thị môi trường ( Environmeltal Indicator ) là một độ đo
tập hợp một số liệu về môi trường thành một thông tin tổng hợp về một khía cạnh
của một quốc gia hoặc một địa phương.


Chỉ thị môi trường: Là thông số cơ bản phản ánh các yếu tố đặc trưng
của môi trường phục vụ mục đích đánh giá, theo dõi diễn biến chất lượng môi
trường, lập báo cáo hiện trạng môi trường.
* Phân loại chỉ thị:
Phân loại chỉ thị theo mô hình DPSIR: Bộ chỉ chị môi trường theo mô hình
hình DPSIR bao gồm 5 loại chỉ thị môi trường sau đây:
a)

Các chỉ thị về động lực (D) phát triển kinh tế - xã hội, gây biến đổi áp
lực đối với môi trường.

b)

Các chỉ thị về áp lực (P) về chất thải ô nhiễm gây ô nhiễm gây biến đổi
hiện trạng môi trường.

c)

Các chỉ thị về hiện trạng (S) môi trường ( chất lượng/ô nhiễm môi
trường)

d)

Các chỉ thị về tác động (I) của ô nhiễm môi trường đối với sức khỏe,
cuộc sống của con người, đối với các hệ sinh thái và đối với kinh tếxã hội.

e)

Các chỉ thị về đáp ứng (R) của Nhà Nước, xã hội và con người ( chính
sách, biện pháp, hành động) nhằm giảm thiểu động lực, áp lực gây
biến đổi môi trường không mong muốn và cải thiện chất lượng môi
trường.

* Hoạt động bảo vệ môi trường:
Là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp, phòng ngừa, hạn
chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô
nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường, khái thác, sử dụng hợp lý
và tiết kiệm tiền tài nguyên thiên nhiên. Bảo vệ đa dạng sinh học. ( Theo luật
BVMT 2005)
Là hoạt động giư gìn, phòng ngừa, hạn chế các tác động xuấ đến môi
trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, cải thiện,
phục hồi môi trường, khai thác , sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên nhằm
giữ môi trường trong lành. ( Theo luật BVMT 2014 )


* Phát triển bền vững
Là phát triển đáp ứng được nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không làm tổn hại
đến khả năng đáp ứng nhu cầu đó của các thế hệ tương lai trên cơ sở kết hợp chặt
chẽ, hài hòa giữ tăng trưởng kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường.
( Theo luật BVMT 20014)
2.1.7 . Khái niệm chất thải rắn.
Chất thải rắn là toàn bộ cái loại tạp chất mà con người loại bỏ trong các hoạt
động kinh tế-xã hội của mình, bao gồm các hoạtđộng sản xuất, các hoạt động sống
và duy trì sự tồn tại cả cọng đồng.
Chất thải rắn sinh hoạt là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt của cá nhân,
hộ gia đình, nơi công cộng.
Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng góp lưu giữ tập
thời các chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới thời điểm hoặc cơ sở được cơ
quan nhà nước có thẩm quyền chấp nhận.
Lưu trữ chất thải rắn là việc lưu trữ chất thải rắn trong một thời gian nhất định
ở nơi cơ quan có thẩm quyền chấp thuật trước khi vận chuyển đến cơ sở xử lý.
Vận chuyển chất thải rắn là quá trình chuyên trở chất thải rắn từ nơi phát sinh,
thu gom, lưu trữ trung chuyển đến nơi xử lý, tái chế sử dụng hoặc đến nơi chôn lấp
cuối cùng.
Xử lý chất thải rắn là quá trình sử dụng các giải pháp công nghệ, kỹ thuật làm
giảm, loại bỏ tiêu hủy các thành phần có hại hoặc không có ích trong chất thải rắn,
thu hồi tái chết sử dụng lại các thành phần có ích.
Chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh là hoạt động chôn lấp phù hợp với các yều
câu của tiêu chuẩn kỹ thuật về bãi chôn lấp chất thải rắn hợp vệ sinh.
2.2. Cơ sở pháp lý
Căn cứ Nghị định số 19/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2015 của Chính phủ
Quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường;
Căn cứ Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24 tháng 4 năm 2015 của Chính phủ về
quản lý chất thải và phế liệu;


Căn cứ Thông tư số 26/2015/TT-BTNMT ngày 28 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường quy định về đề án bảo vệ môi trường chi tiết, đề án bảo vệ
môi trường đơn giản;
Căn cứ Thông tư số 27/2015/TT-BTNMT ngày 29 tháng 5 năm 2015 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi
trường và kế hoạch bảo vệ môi trường;
Căn cứ Thông tư số 36/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về quản lý chất thải nguy hại;
Căn cứ Thông tư số 38/2015/TT-BTNMT ngày 30 tháng 6 năm 2015 của Bộ Tài
nguyên và Môi trường về cải tạo, phục hồi môi trường trong hoạt động khai thác
khoáng sản;
Theo đề nghị của Giám đốc Sở Tài nguyên và Môi trường tại Tờ trình số 763/TTrSTNMT ngày 25 tháng 11 năm 2015
Ban hành kèm theo Quyết định này Quy định một số nội dung về công tác bảo vệ
môi trường tại tỉnh Yên Bái.
Quyết định này có hiệu lực thi hành sau 10 ngày, kể từ ngày ký và thay thế Quyết
định số 21/2010/QĐ-UBND ngày 26 tháng 8 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh
Yên Bái ban hành Quy định bảo vệ môi trường tỉnh Yên Bái; Quyết định
số 38/2010/QĐ-UBND ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Ủy ban nhân dân tỉnh Yên
Bái ban hành Quy định ký quỹ cải tạo, phục hồi môi trường trong khai thác khoáng
sản trên địa bàn tỉnh Yên Bái; Quyết định số 36/2012/QĐ-UBND ngày 03 tháng 10
năm 2012 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Quy định một số nội dung về đánh
giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi
trường, đề án bảo vệ môi trường chi tiết và đề án bảo vệ môi trường đơn giản trên
địa bàn tỉnh Yên Bái.
Chánh Văn phòng Ủy ban nhân dân tỉnh; Thủ trưởng các Sở, ban, ngành, đoàn
thể, các tổ chức chính trị - xã hội của tỉnh; Chủ tịch Ủy ban nhân dân các huyện,
thị xã, thành phố và các tổ chức, cá nhân hoạt động trên địa bàn tỉnh Yên Bái chịu
trách nhiệm thi hành Quyết định này.
2.3 Cơ sở thực tiễn của đề tài.
2.3.1 Hiện trạng môi trường nông thôn tại việt nam
Do hệ thống quan trắc quốc gia tại các vùng nông thôn còn hạn chế về số lượng
điểm cũng như tần suất quan trắc nên các số liệu minh họa sử dụng trong Chương
3 của Báo cáo chủ yếu được tổng hợp từ số liệu quan trắc môi trường của các tỉnh
thành trên cả nước, một số chương trình quan trắc của Trung tâm Quan trắc môi
trường - Tổng cục Môi trường và một số nguồn đáng tin Tình hình chung chất
lượng môi trường không khí khu vực nông thôn Chất lượng môi trường không khí
vùng nông thôn còn khá tốt, rất nhiều vùng chưa có dấu hiệu ô nhiễm. Tuy nhiên,


theo mức độ phát triển KT-XH, có sự khác biệt về nồng độ các chất trong không
khí ở các vùng nông thôn tùy theo khu vực và hoạt động gây ô nhiễm. Môi trường
không khí khu vực nông thôn hiện nay chủ yếu bị ảnh hưởng bởi một số hoạt động
làng nghề, điểm công nghiệp xen kẽ trong khu dân cư, các cơ sở sản xuất, các trang
trại chăn nuôi tập trung, hoạt động trồng trọt, khai thác khoáng sảncậy khác. Các số
liệu chỉ mang tính đại diện cho địa phương hoặc khu vực nhất định.
ở các vùng lân cận, chôn lấp và đốt chất thải sinh hoạt cũng như phát triển cơ sở
hạ tầng... Do đó, một vài khu vực tại vùng nông thôn đã có dấu hiệu ô nhiễm môi
trường không khí cục bộ. Khu vực có chất lượng không khí tốt với nồng độ các
chất gây ô nhiễm thấp là khu vực miền núi phía Bắc, các khu vực thuần nông, nơi
hầu như chưa chịu tác động của các hoạt động sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng
nghề, chăn nuôi tập trung. Một số nơi khác như khu vực ven đô, các khu vực dân
cư đông đúc... có nồng độ các chất trong không khí cao hơn song hầu hết các vùng
chưa ghi nhận hiện tượng ô nhiễm.
Một số vấn đề ô nhiễm cục bộ môi trường không khí khu vực nông thôn Hiện
tượng ô nhiễm cục bộ đã được ghi nhận tại một số làng nghề; khu vực cụm điểm
công nghiệp nằm xen kẽ trong khu dân cư; xung quanh điểm khai thác và sản xuất
vật liệu xây dựng, cũng như một số điểm đang diễn ra hoạt động nâng cấp cơ sở hạ
tầng nông thôn. Các thông số đáng chú ý là bụi, NH3 , H2 S, SO2 , NO2 ... Theo
số liệu thống kê của Hiệp hội làng nghề Việt Nam, làng nghề tập trung chủ yếu ở
miền Bắc, trong đó tập trung nhiều nhất ở ĐBSH (Bắc Ninh, Ninh Bình, Nam
Định, Hà Nội, Hưng Yên...), tiếp đến là khu vực Nam Bộ và Trung Bộ. Vấn đề ô
nhiễm môi trường không khí xung quanh làng nghề cũng là vấn đề đáng lưu tâm
tại các khu vực này (Biểu đồ 3.3). Đặc thù các làng nghề ở nước ta chủ yếu ở quy
mô hộ gia đình, nằm xen kẽ trong khu dân cư. Do đó, ô nhiễm môi trường khu vực
làng nghề mang tính cục bộ và gây ảnh hưởng trực tiếp đến các hộ sản xuất cũng
như các hộ dân xung quanh. Thành phần và nồng độ các chất ô nhiễm không khí
xung quanh các làng nghề và các cơ sở sản xuất ở nông thôn phụ thuộc nhiều vào
loại hình sản xuất. Ô nhiễm mùi đặc trưng tại các làng nghề chế biến lương thực,
thực phẩm và giết mổ. Tại các làng nghề mây tre đan, ô nhiễm khí SO2 là vấn đề
đáng quan tâm. Ô nhiễm bụi là vấn đề phổ biến tại các làng nghề gốm sứ, chế tác
đá, đồ gỗ mỹ nghệ. Nồng độ SO2 , NO2 tại các làng nghề tái chế nhựa khá cao,
vượt nhiều lần giới hạn cho phép. Ngành tái chế làm phát sinh bụi và các khí thải
như SO2 , NO2 , hơi axit và kiềm sản sinh từ các quá trình như xử lý bề mặt, phun
sơn, đánh bóng bề mặt sản phẩm, nung, sấy, tẩy trắng, khí thải lò rèn… Một số
làng nghề điển hình như làng nghề tái chế nhựa Trung Văn (Hà Nội), làng nghề


đúc đồng Đại Bái (Bắc Ninh), làng tái chế nhựa Vô Hoạn (Nam Định), làng nghề
tái chế nhôm Bên cạnh vấn đề ô nhiễm bụi và khí thải tại các làng nghề, vấn đề ô
nhiễm bụi do khai thác khoáng sản cũng đang xảy ra cục bộ tại một số điểm, tập
trung chủ yếu tại vùng TDMNPB với nhiều loại khoáng sản khác nhau như than,
sắt, đồng, apatit... Do công nghệ còn lạc hậu, các biện pháp giảm thiểu tác động
môi trường còn hạn chế nên bụi phát sinh tại hầu hết các công đoạn sản xuất và có
sự ảnh hưởng lớn đến môi trường không khí các khu vực dân cư nông thôn xung
quanh. Tại một số khu vực khai thác vật liệu xây dựng như đá, sét... nồng độ TSP
lớn hơn so với ngưỡng QCVN từ 8 đến 12 lần. Tuy lượng bụi này chỉ gây ô nhiễm
xung quanh khu vực khai thác ở bán kính 300-500m nhưng những địa điểm khai
thác này lại thường nằm trong hoặc gần các vùng dân cư sinh sống hoặc vùng canh
tác. Ô nhiễm SO2 và bụi là vấn đề phổ biến xung quanh các khu vực sản xuất vật
liệu xây dựng, gạch, gốm vùng trung du phía Bắc và vùng Tây Nam Bộ
Thái Nguyên), môi trường không khí đã bị ô nhiễm bụi, SO2 , CO… Khối
lượng bụi phát sinh từ các hoạt động sản xuất xi măng công nghệ lò đứng và sản
xuất vật liệu xây dựng lớn hơn hẳn các ngành khác. Nhiều nghiên cứu đã cho thấy
hàm lượng bụi cao nhất đo được thường cách các nhà máy này khoảng 1,5-3 km
với hàm lượng TSP vượt nhiều so với QCVN

Tại một số vùng nông thôn khu vực Tây Nguyên, môi trường không khí bị ảnh
hưởng do chế biến nông sản thực phẩm, đáng chú ý là chế biến cà phê. Ví dụ tại
Đắk Lắk, Lâm Đồng, các cơ sở chế biến cà phê chủ yếu ở quy mô hộ gia đình (1-2
ha/hộ) và ô nhiễm bụi thường phát sinh ở công đoạn xay hạt cà phê (năng suất vài
chục tấn/năm) nhưng chỉ tập trung ngắn hạn xung quanh khu vực các hộ sản xuất.
Các trang trại chăn nuôi cũng đang là một trong những nguồn làm gia tăng chất
gây ô nhiễm không khí tại khu vực nông thôn do việc xử lý chất thải chưa hiệu
quả. Đặc biệt, vấn đề ô nhiễm mùi từ chất thải của các trang trại chăn nuôi đang
gây nhiều bức xúc cho các hộ dân xung quanh. Trong những năm gần đây, bộ mặt
khu vực nông thôn đã có nhiều thay đổi đáng kể. Cùng với các hoạt động phát triển
và chương trình nông thôn mới, quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn đã và
đang được các địa phương trên cả nước chú trọng thực hiện. Tuy nhiên, do điều


kiện nguồn lực hạn chế, ở nhiều vùng nông thôn hoạt động xây dựng chưa được
triển khai đồng bộ, nhiều công trình thi công dở dang hoặc kéo dài làm ảnh hưởng
không nhỏ đến chất lượng môi trường không khí. Vấn đề ô nhiễm chủ yếu là bụi
được ghi nhận ở nhiều vùng nông thôn trong toàn quốc như Thanh Hóa, Phú Yên,
Vĩnh Long... Ô nhiễm không khí do chất thải chăn nuôi Hà Tĩnh đã có 2.588 bể
biogas để xử lý chất thải chăn nuôi. Nhờ công nghệ khí sinh học từ các bể biogas,
các hộ chăn nuôi đã có khí để đun nấu và thắp sáng. Bã thải được dùng bón cho
cây trồng nâng cao năng suất và cải tạo đất. Tuy nhiên, tại các cơ sở chăn nuôi
nông hộ, vùng chăn nuôi lợn với mật độ cao, như khu Cẩm Bình (huyện Cẩm
Xuyên), Thạch Thắng, Thạch Hội (huyện Thạch Hà)… do kỹ thuật vận hành và
công suất xử lý của các hầm không phù hợp nên một số nơi vẫn ghi nhận tình trạng
ô nhiễm môi trường, các khí thải và mùi phát tán ảnh hưởng đến dân cư quanh
vùng. Tại Thanh Hóa, tỷ lệ các trang trại, gia trại áp dụng công nghệ hầm biogas
xử lý chất thải chăn nuôi chiếm 34,4%. Tuy nhiên, số lượng hầm đạt yêu cầu chỉ
chiếm gần 50%. Thêm vào đó là tác động từ các trang trại, gia trại chưa được đầu
tư hệ thống xử lý chất thải làm cho môi trường khu vực tiếp tục suy giảm, không
khí xung quanh khu vực sản xuất bị ô nhiễm các khí NH3 và H2s
Đối với tỉnh Yên Bái Tổng cục Môi trường (Bộ TN&MT) đang chủ trì xây dựng
Báo cáo môi trường quốc gia 2014 với chủ đề “Môi trường nông thôn”.
Việc xây dựng Báo cáo môi trường quốc gia được thực hiện theo Luật Bảo vệ môi
trường. Theo đó, cứ 5 năm một lần, Bộ Tài nguyên và Môi trường tiến hành xây
dựng Báo cáo môi trường tổng quan trình Quốc hội. Hàng năm, Bộ xây dựng Báo
cáo chuyên đề về vấn đề môi trường đang nổi cộm, bức xúc để làm cơ sở xem xét
các tác động qua lại giữa phát triển kinh tế - xã hội với bảo vệ môi trường và kịp
thời điều chỉnh kế hoạch phát triển nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của đất
nước.
Sở dĩ chủ đề Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014 lựa chọn là “Môi trường nông
thôn” bởi đây là vấn đề nổi cộm ở nhiều vùng nông thôn, ảnh hưởng đến sự phát
triển kinh tế xã hội cũng như sức khỏe người dân.
Hiện 70% dân số sống ở vùng nông thôn. Ở nhiều khu vực nông thôn, ô nhiễm
môi trường đã và đang trở thành vấn đề nổi cộm. Đó là vấn đề ô nhiễm môi trường
nước, không khí, đất, ô nhiễm chất thải rắn do nguồn thải từ hoạt động chăn nuôi,
trồng trọt, sản xuất quy mô nhỏ, các làng nghề và từ hoạt động dân sinh.
Từ năm 2010,Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới. Tuy nhiên, cho đến nay, hầu hết các địa phương đều
đang gặp khó khăn trong việc triển khai và đáp ứng Tiêu chí 17 về Môi trường


trong Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới. Công tác quản lý môi trường nông
thôn hiện nay đang còn nhiều bất cập. Thiếu các văn bản pháp quy đặc thù và hệ
thống quan trắc, giám sát chuyên biệt phục vụ công tác bảo vệ môi trường nông
thôn. Đội ngũ cán bộ chuyên trách ở các địa phương còn hạn chế; trong khi đó,
việc quản lý và giải quyết các vấn đề về môi trường nông thôn ở các bộ, ban ngành
trung ương còn chưa được quan tâm đúng mức với trách nhiệm cũng chưa rõ ràng.
Bên cạnh đó, trong những năm qua, vấn đề môi trường nông thôn hầu như chưa
được xem xét, đánh giá một cách đầy đủ và toàn diện. Chính vì vậy, việc xây dựng
Báo cáo môi trường quốc gia năm 2014 sẽ cung cấp thông tin, cái nhìn tổng quát
về hiện trạng môi trường nông thôn trong những năm qua, từ đó giúp các nhà quản
lý có những định hướng trong việc điều chỉnh và bổ sung các chính sách, kế hoạch
và giải pháp bảo vệ môi trường nông thôn.
Dự thảo Báo cáo môi trường quốc gia 2014 gồm 6 chương. Cụ thể: Chương 1. Đổi
mới, phát triển nông thông và môi trường; Chương 2. Áp lực ô nhiễm đối với môi
trường nông thôn; Chương 3. Hiện trạng môi trường nông thôn; Chương 4. Tác
động của ô nhiễm môi trường nông thôn; Chương 5. Quản lý môi trường nông
thôn; Chương 6. Những vấn đề bức xúc về môi trường nông thôn và định hướng
bảo vệ môi trường nông thôn trong thời gian tiếp theo.
Tại các hội thảo góp ý, nhiều chuyên gia cho rằng, báo cáo cần chỉ rõ phạm vi đánh
giá môi trường nông thôn, chú ý đặc thù từng vùng miền, 1 số số liệu cần cụ thể
hơn. Đồng thời, Dự thảo nên ưu tiên giải quyết vấn đề chất thải rắn sinh hoạt,
nước thải sinh hoạt dứt điểm sau đó mới thực hiện các vấn đề khác.
Dự thảo đưa ra quan điểm, cần huy động một cách linh hoạt nguồn lực và kinh phí
đầu tư cho môi trường nông thôn để tiêu chí 17 sớm có nhiều địa phương hoàn
thành. Công tác phối hợp giữa các Bộ, ngành cần phối hợp chặt chẽ hơn nữa trong
công tác quản lý để tránh đầu tư dàn trải, kém hiệu quả
2.3.2 Hiện trạng môi trường tại tỉnh Yên Bái
2.3.2.1 Môi trường không khí
2.3.2.1.1. Chất lượng môi trường không khí tại các đô thị
Môi trường không khí tại các đô thị trên địa bàn tỉnh Yên Bái bao gồm
thành phố Yên Bái, thị xã Nghĩa Lộ và các thị trấn, thị tứ, trung tâm huyện lỵ các
huyện chịu ảnh hưởng tổng hợp từ nhiều nguồn thải trong đó đặc biệt là từ hoạt
động giao thông tại các trục đường chính.
Kết quả phân tích tại các điểm quan trắc cho thấy nhìn chung chất lượng môi
trường không khí tại các đô thị trên địa bàn tỉnh vẫn còn khá tốt, hầu hết các chỉ
tiêu phân tích tại các khu vực quan trắc thuộc các đô thị trong tỉnh đều nằm trong
giới hạn cho phép của QCVN 05:2013/BTNMT. Các thông số như NO2, CO, TSP có xu


hướng tăng dần qua các năm, riêng nồng độ SO2 có xu hướng giảm dần so với trước
đây. Tuy nhiên, sự biến động nồng độ của các thông số trên đều không đáng kể.
2.3.2.1.2. Chất lượng môi trường không khí làng nghề và nông thôn
- Chất lượng không khí làng nghề
Tính đến thời điểm hiện nay trên địa bàn tỉnh Yên Bái chỉ có duy nhất 01
làng nghề đó là Làng nghề sản xuất miến đao Ngòi Đong tại Thôn 6 xã Giới Phiên,
thành phố Yên Bái đáp ứng đủ các tiêu chí theo Thông tư 116/2006/TT-BNN của
Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn và được Uỷ ban nhân dân tỉnh Yên Bái
công nhận tại Quyết định số 674/QĐ-UBND vào ngày 25 tháng 6 năm 2012. Ngoài
ra còn một số các làng có nghề như: nghề chế tác đá, nghề nuôi ong lấy mật, nghề
sản xuất mây tre đan, nghề dệt thổ cẩm, chế biến măng ớt, trồng dâu nuôi tằm và
chế biến nông lâm sản thực phẩm... Các ngành nghề sản xuất trong làng nghề và
làng có nghề này chỉ sản xuất theo mùa vụ, mang tính tự phát, quy mô nhỏ, không
tập trung thành cụm sản xuất và rải rác tại các hộ gia đình. Do đó vấn đề ô nhiễm,
ảnh hưởng đến môi trường từ các làng nghề và làng có nghề này là không đáng kể
trong đó có môi trường không khí.
- Chất lượng môi trường không khí nông thôn
Các nguồn phát sinh ô nhiễm môi trường không khí khu vực nông thôn trên
địa bàn tỉnh Yên Bái chủ yếu từ hoạt động khai thác khoáng sản, hoạt động sản
xuất của các nhà máy chế biến nông lâm sản (sắn, giấy, tinh dầu quế) và hoạt động
chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Phần lớn ô nhiễm không khí tại khu vực nông thôn chỉ mang tính cục bộ tại
các nguồn phát sinh nên nhìn chung chất lượng không khí khu vực nông thôn trên
địa bàn tỉnh Yên Bái còn tương đối tốt. Tuy nhiên, một số cơ sở hoạt động khai
thác khoáng sản và chế biến tinh bột sắn trên địa bàn tỉnh đã gây ô nhiễm không
khí như bụi, mùi...ảnh hưởng đến đời sống của nhân dân.
- Chất lượng môi trường không khí tại khu công nghiệp
- Bụi
Khối lượng bụi phát sinh từ hoạt động khai thác khoáng sản trên địa bàn
tỉnh chủ yếu từ hoạt động vận chuyển. Với đặc thù là tỉnh có nhiều điểm mỏ
khai thác khoáng sản cùng với sự xuống cấp của hạ tầng giao thông, hoạt động
vận chuyển quặng từ mỏ về khu vực chế biến hoặc đem đi tiêu thụ trên địa bàn
tỉnh là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến một số nơi trên địa bàn
tỉnh nằm trên tuyến vận chuyển có nồng độ bụi phát sinh cao, ảnh hưởng đến
sinh hoạt và sản xuất của nhân dân. Tuy nhiên, hiện trạng trên chưa quá
nghiêm trọng và Sở Tài nguyên và Môi trường thường xuyên kiểm tra, nhắc nhở


các đơn vị hoạt động khai thác khoáng sản phải có biện pháp giảm thiểu bụi
phát sinh từ hoạt động vận chuyển
- Các khí SO2, NO2 và CO
Nhìn chung, nồng độ SO2, NO2 và CO xung quanh các khu công nghiệp trên
địa bàn tỉnh Yên Bái còn thấp, đều nằm trong ngưỡng cho phép. Trong đó, do đặc
điểm nguồn gốc phát sinh cũng như đặc điểm về loại hình sản xuất tại các KCN
nên nồng độ SO2, NO2 tại các KCN gần tương đương nhau, nồng độ CO tại các KCN
gần với các trục giao thông có nồng độ cao hơn so với các KCN xa khu vực dân cư
và trục giao thông
2.3.2.2 Môi trường nước
2.3.2.2.1 Các nguồn gây ô nhiễm nước mặt
- Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp
Nước thải từ hoạt động của các cơ sở sản xuất công nghiệp và Khu công
nghiệp (KCN) là nguồn gây áp lực lớn nhất đến môi trường nước mặt lục địa trên
địa bàn tỉnh Yên Bái.
Hiện nay, theo danh sách quản lý của Sở Tài nguyên và Môi trường, trên địa
bàn tỉnh Yên Bái có 62 cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến có phát sinh nước thải công
nghiệp thuộc đối tượng phải nộp phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công
nghiệp. Trong đó, chủ yếu là các cơ sở chế biến nông, lâm sản (28 cơ sở); cơ sở khai
thác, chế biến khoáng sản (23 cơ sở)... Ngoài ra, theo báo cáo của Ủy ban nhân dân
các huyện, thị xã, thành phố còn có 41 cơ sở sản xuất bột sắn mini và 67 cơ sở chăn
nuôi lợn hộ gia đình có quy mô từ 100 đầu lợn trở lên. Đây cũng là nguồn phát sinh
nước thải đáng kể ra môi trường nước mặt trên địa bàn tỉnh (Hình 3.1)
Hình 3.1. Tỷ lệ các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến phát sinh nước thải công
nghiệp trên địa bàn tỉnh Yên Bái.


Mỗi ngành sản xuất có đặc trưng nước thải khác nhau. Nước thải từ ngành
cơ khí, luyện kim chứa nhiều kim loại nặng, dầu mỡ khoáng; nước thải ngành dệt
nhuộm, giấy chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ khó phân hủy và chất tạo
màu; nước thải ngành thực phẩm chứa nhiều chất rắn lơ lửng và đặc biệt là chất
hữu cơ dễ phân hủy sinh học (BOD), chất dinh dưỡng như hợp chất Ni tơ, phốt
pho; nước thải từ ngành khai thác, chế biến khoáng sản chủ yếu là chất rắn lơ
lửng, kim loại nặng và hóa chất từ quá trình tuyển...
Phần lớn các cơ sở sản xuất, cơ sở chế biến có phát sinh nước thải công
nghiệp trên địa bàn tỉnh đã đầu tư xây dựng các công trình, biện pháp để xử lý nước
thải trước khi thải ra môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả xử lý của các công trình này
chưa thật sự cao, vẫn có hiện tượng xả nước thải chưa được xử lý đảm bảo theo quy
chuẩn cho phép ra ngoài môi trường. Bên cạnh đó, hiện nay, trên địa bàn tỉnh Yên
Bái, vẫn chưa có Khu/Cụm công nghiệp nào đầu tư xây dựng hệ thống xử lý nước
thải tập trung.
- Thải lượng các chất ô nhiễm từ hoạt động nông nghiệp
Nông nghiệp là ngành sử dụng nhiều nước nhất, chủ yếu để phục vụ tưới lúa
và hoa màu. Vì vậy, tính trong tổng lượng nước thải chảy ra nguồn nước mặt thì lưu
lượng nước thải từ hoạt động sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Việc sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật và phân bón hóa học bất hợp lý trong sản
xuất nông nghiệp là nguyên nhân chủ yếu làm ô nhiễm nguồn nước. Trung bình
khoảng 20-30% thuốc BVTV và phân bón không được cây trồng tiếp nhận sẽ theo
nước mưa và nước tưới do quá trình rửa trôi đi vào nguồn nước mặt và tích lũy trong
đất, nước ngầm dưới dạng dư lượng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật. Đây là hiện
tượng phổ biến tại các vùng sản xuất nông nghiệp trên cả nước trong đó có tỉnh Yên
Bái.
- Thải lượng các chất ô nhiễm do nước thải đô thị chưa xử lý
Cùng với sự phát triển của dân số và sự phát triển các dịch vụ đô thị, nước
dùng trong sinh hoạt của dân cư các đô thị trên địa bàn tỉnh Yên Bái ngày càng
tăng nhanh. Hiện nay, tất cả các đô thị trên địa bàn tỉnh (gồm thành phố Yên Bái,
thị xã Nghĩa Lộ và trung tâm, thị trấn các huyện) đều chưa có hệ thống xử lý nước
thải sinh hoạt tập trung. Phần lớn nước thải được xử lý qua hệ thống xử lý nước
thải (đối với các cơ sở dịch vụ như Bệnh viện, trung tâm y tế...) hoặc bể tự hoại
(đối với các cơ quan, đơn vị, trường học, hộ gia đình...) rồi theo hệ thống thoát
nước chung chảy ra môi trường nước mặt.


Bên cạnh đó, một số cơ sở y tế đến nay vẫn chưa được đầu tư hệ thống xử
lý nước thải hoặc công trình xử lý nước thải đã xuống cấp, không đảm bảo hiệu
quả xử lý. Nước thải từ các cơ sở này cùng với nước thải sinh hoạt trong khu dân
cư là nguyên nhân chính làm ô nhiễm hệ thống các thủy vực nội đô (các hồ, suối ở
khu vực đô thị) trên địa bàn tỉnh.
2.3.2.2.2 Các nguồn gây ô nhiễm nước dưới đất
Các nguyên nhân chính dẫn đến suy giảm chất lượng nước dưới đất bao
gồm: đặc tính địa chất vùng chứa nước dưới đất, thẩm thấu và rò rỉ nước bề mặt
đã bị ô nhiễm, do thay đổi mục đích sử dụng đất và khai thác nước bất hợp lý,...
Hiện nay, chưa có đánh giá cụ thể nào về ảnh hưởng của các đặc tính địa
chất đến chất lượng nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Yên Bái. Vì vậy, đánh giá
nguyên nhân chủ yếu gây ô nhiễm nước dưới đất chủ yếu là do thẩm thấu và rò rỉ
nước bề mặt đã bị ô nhiễm từ hoạt động khai thác, chế biến khoáng sản, từ nước
rỉ rác của các bãi chôn lấp rác thải, nước thải từ hoạt động công nghiệp, sinh hoạt,
dịch vụ, nước do bị nhiễm lượn tồn dư thuốc, hóa chất bảo vệ thực vật trong sản
xuất nông nghiệp...Bên cạnh đó, việc khai thác nước quá mức ở tầng holoxen cũng
làm cho hàm lượng asen trong nước dưới đất tăng lên rõ rệt.

2.3.2.3 Môi trường đất
- Ô nhiễm đất do sử dụng không hợp lý phân bón hóa học và thuốc bảo vệ
thực vật
Cũng giống như phần lớn các địa phương khác trong cả nước, hiện nay, việc sử
dụng phân bón hóa học trên địa bàn tỉnh Yên Bái hầu hết không cân đối, không
đúng lúc cây cần, hàng năm một lượng lớn phân bón bị rửa trôi hoặc bay hơi đã
làm xấu đi môi trường sản xuất nông nghiệp và môi trường sống, đó cũng là những
tác nhân gây ô nhiễm đất, nguồn nước, không khí.
Ngoài ra, lạm dụng thuốc bảo vệ thực vật trong phòng trừ dịch hại không tuân
thủ các quy trình kỹ thuật, không đảm bảo thời gian cách ly của từng loại thuốc đã
dẫn đến hậu quả nhiều trường hợp ngộ độc thực phẩm, mất an toàn vệ sinh thực
phẩm, đồng ruộng bị ô nhiễm.


-Ô nhiễm đất do các chất ô nhiễm từ hoạt động công nghiệp, xây dựng và dân
sinh
Các hoạt động xây dựng, sản xuất và khai thác mỏ gây ra những tác động về
vật lý như xói mòn, nén chặt đất và phá hủy cấu trúc đất. Các chất thải rắn, lỏng và
khí từ hoạt động của các ngành sản xuất đều có tác động đến đất. Các chất thải gây
ô nhiễm đất ở đây được phân làm 4 nhóm: chất thải xây dựng, chất thải kim loại,
chất thải khí, chất thải hóa học và hữu cơ
PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Hiện trạng môi trường nông thôn của xã Yên Thành-Yên Bình-Yên Bái
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Nông thôn xã Yên Thành Huyện, Yên Bình, Tỉnh Yên Bái
3.2 Địa điểm, thời gian nghiên cứu
3.2.1 Địa điểm nghiên cứu
Tại UBND xã yên thành, huyện yên bình, tỉnh yên bái
3.2.2 Thời gian nghiên cứu
Từ ngày 01 tháng 01 năm 2018 đến ngày….tháng….năm 2018
3.3 Nội dung nghiên cứu
3.3.1 Điều kiện tự nhiện, kinh tế-xã hội của xã yên thành, huyện yên bình, tỉnh
yên bái
- Điều kiện tự nhiên của xã Yên Thành
- điều kiện kinh tế-xã hội của xã Yên Thành
3.3.2 Đánh giá hiện trạng môi trường nông thôn của xã Yên Thành-huyện Yên
Bình-tỉnh Yên Bái


-Đánh giá hiện trạng môi trường đất
-Đánh giá hiện trạng môi trường nước
-Đánh giá hiện trạng môi trường không khí
-Đánh giá hiện trạng sinh thái
3.3.3 Đề xuất giải pháp và phương hướng giải pháp
3.4. Phương pháp nghiên cứu
3.4.1 Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu, thông tin thứ cấp
3.4.2. Phương pháp phỏng vấn người dân về hiện trạng môi trường tại xã Yên
Thành
3.4.3. Phương pháp kế thừa

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬT
4.1.Điều kiện tự nhiên và kinh tế-xã hội của xã Yên Thành-huyện Yên
Bình-tỉnh Yên Bái
4.1.1.Điều kiện tự nhiên
4.1.1.1. Vị trí địa lý
Yên Thành là xã miền núi vùng cao dân tộc đặc biệt khó khăn nằm ở phía
đông huyên Yên Bình, tỉnh Yên Bái. Cách thị trấn Yên Bình 20km. Xã giáp ranh
với các đại phương như sau:
- Phía Bắc giáp với xã Xuân Lai

- Phía Tây giáp với xã Mông Sơn
- Phía Đông giáp với tỉnh Tuyên Quang
- Phái Nam giáp với xã Phúc An


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×