Tải bản đầy đủ

Chứng cứ trong tố tụng dân sự

MỞ ĐẦU
Chứng cứ trong tố tụng dân sự là một nội dung quan trọng nhưng rất phức
tạp. Pháp luật tố tụng dân sự không thể được coi là hoàn thiện nếu không có những
chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự. Pháp luật mà không có chứng cứ thì
chẳng có nghĩa lý gì cả, nhưng chứng cứ dù không có pháp luật vẫn có tất cả ý
nghĩa của nó. Hay trong báo cáo công tác của ngành Toà án trong thực tiễn xét xử
các vụ án dân sự cho thấy “chất lượng hồ sơ vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình
phụ thuộc vào chất lượng điều tra, xác minh, thu thập tài liệu, chứng cứ có đầy đủ,
chính xác và khách quan hay không và có chấp hành nghiêm chỉnh thủ tục tố tụng
hay không là cơ sở của một bản án, quyết định đúng đắn”. Như vậy, chứng cứ là
một trong những yếu tố quan trọng nhất của pháp luật tố tụng dân sự. Chính vì lý
do đó, em xin chọn đề tài: “Chứng cứ trong tố tụng dân sự” để tìm hiểu.

NỘI DUNG
I.MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHỨNG CỨ TRONG TỐ TỤNG
DÂN SỰ
1. Khái niệm và thuộc tính của chứng cứ
1.1. Khái niệm
Chứng cứ là cái có thật, theo một trình tự do luật định được tòa án dùng làm
căn cứ để giải quyết vụ việc dân sự
Hiện nay theo quy định tại Điều 93 BLTTDS năm 2015 định nghĩa chứng cứ

như sau: “Chứng cứ trong vụ việc dân sự là những gì có thật được đương sự và cơ
quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng
hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và
được Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án
cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp
pháp.”
1.2.Các thuộc tính của chứng cứ


Chứng cứ có ý nghĩa rất lớn đối với việc giải quyết vụ việc dân sự nhưng là
phạm trù pháp lý khá phức tạp. Tuy vậy, như các sự vật sự việc khác con người vẫn
có thể nhận thức được thông qua các thuộc tính của nó. Các thuộc tính của chứng
cứ bao gồm: tính khách quan, tính liên quan và tính hợp pháp.
Chứng cứ có tính khách quan bởi chứng cứ là cơ sở để nhận thức vụ việc dân
sự. Theo lý luận về nhận thức thì người ta chỉ nhận thức đúng bản chất của sự vật,
sự việc khi nó được phản ánh lại một cách khách quan. Những cái đó có được là do
sự tưởng tượng, hư cấu không bao giờ nói lên được bản chất của sự vật, sự việc và
không thể làm cơ sở của nhận thức.
Tính khách quan của chứng cứ được thể hiện ở chỗ chứng cứ phải là cái có
thật, tồn tại ngoài ý muốn của những người tiến hành tố tụng và những người tham
gia tố tụng. Trong quá trình tố tụng, những người tiến hành tố tụng và những người
tham gia tố tụng không thể tạo ra chúng theo ý muốn chủ quan của họ mà chỉ có thể
thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng.
Xác định được tính khách quan của chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ
việc dân sự có ý nghĩa rất quan trọng. Căn cứ vào tính khách quan của chứng cứ,
tòa án loại bỏ được những cái không có thật, không sử dụng để giải quyết vụ việc
dân sự bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự được nhanh chóng, đúng đắn.
Chứng cứ có tính liên quan bởi chứng cứ được tòa án dựa vào để giải quyết
vụ việc dân sự. Tính liên quan của chứng cứ được thể hiện ở chỗ giữa chứng cứ và
vụ việc dân sự có mối quan hệ nhất định. Nhờ chứng cứ mà tòa án có thể công nhận
hay phủ nhận được tình tiết, sự kiện này hay tình tiết này, sự kiện khác của vụ việc
dân sự hoặc đưa ra tin tức về nó.
Thông thường, chứng cứ bao gồm những tin tức liên quan trực tiếp đến vụ
việc dân sự. Thông qua nó tòa án có thể khẳng định ngay được có hay không tình
tiết, sự kiện của vụ việc dân sự nhưng trong nhiều trường hợp, chứng cứ còn bao
gồm cả những tin tức liên quan gián tiếp đến vụ việc dân sự. Tuy vậy, nhờ chúng


tòa án vẫn có khả năng đưa ra những kết luận nhất định về vụ việc dân sự đang giải
quyết.


Căn cứ vào tính liên quan của chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ việc,
tòa án có thể loại bỏ được những cái không có liên quan đến vụ việc dân sự. Từ đó,
không phải xác minh làm rõ chúng, bảo đảm cho việc giải quyết vụ việc dân sự
được nhanh chóng và đúng đắn.
Chứng cứ có tính hợp pháp, bởi việc giải quyết vụ việc dân sự không thể
tách rời quá trình nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ. quá trình này lại rất
phức tạp, pháp luật lại phải quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến chúng thì
mới có thể làm cho việc giải quyết vụ việc dân sự đúng với bản chất của nó.
Tính hợp pháp của chứng cứ yêu cầu chứng cứ phải được rút ra từ những
nguồn nhất định do pháp luật quy định; quá trình thu thập, nghiên cứu, đánh giá và
sử dụng phải được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.
Trong quá trình giải quyết vụ việc dân sự, các chủ thể chứng minh phải tuân
thủ đúng các quy định của pháp luật về chứng cứ. Đối với những gì không được rút
ra từ các nguồn do pháp luật quy định, không được thu thập, nghiên cứu, đánh giá
và sử dụng theo đúng quy định của pháp luật thì không được coi là chứng cứ,
không được sử dụng giải quyết vụ việc dân sự.
Như vậy, chứng cứ có ba thuộc tính cơ bản. Căn cứ vào các thuộc tính này,
trong quá trình chứng minh, tòa án và các chủ thể khác sẽ xác định những gì được
coi là chứng cứ. Chỉ những cái có đủ ba thuộc tính đó mới được sử dụng với tư
cách là chứng cứ.
2.Phân loại chứng cứ
Trên thực tế, chứng cứ thường được phân chia thành các loại khác nhau. Có
nhiều cách phân loại chứng cứ, như căn cứ vào nguồn chứng cứ, cách thức tạo
thành chứng cứ, hình thức tồn tại của chứng cứ, mối liên hệ giữa chứng cứ với các
tình tiết, sự kiện cần chứng minh của vụ việc dân sự, giá trị chứng minh của chứng
cứ đối với vụ việc dân sự v. v… Tùy theo từng cách phân loại, chứng cứ có thể gọi


dưới những tên khác nhau như chứng cứ gốc, chứng cứ thuật lại; chứng cứ trực
tiếp, chứng cứ gián tiếp; chứng cứ viết, chứng cứ miệng; chứng cứ khẳng định,
chứng cứ phủ định v. v…
Chứng cứ qua phân loại được gọi dưới những tên khác nhau. Tuy vậy, việc
phân loại chứng cứ không làm thay đổi giá trị chứng minh của chứng cứ. Việc phân
loại chứng cứ chủ yếu có ý nghĩa đối với việc nghiên cứu và đưa ra những quy định
về chứng cứ. Bên cạnh đó, nó cũng có ý nghĩa đối với việc sử dụng chứng cứ trong
giải quyết vụ việc dân sự. Từ việc phân loại chứng cứ, tòa án có thể xác định được
phạm vi những chứng cứ, tài liệu cần phải thu thập, xác định được phạm vi những
chứng cứ, tài liệu cần phải thu thập, xác định được yêu cầu sử dụng đối với chứng
cứ cụ thể v.v… bảo đảm việc giải quyết đúng vụ việc dân sự.
3.Nguồn chứng cứ
Một trong những vấn đề khá quan trọng về chứng cứ là nguồn chứng cứ.
nguồn được hiểu là nới bắt đầu, nơi phát sinh ra hoặc nơi có thể cung cấp hay rút ra
cái gì, điều gì. Do đó, nguồn chứng cứ được hiểu là nơi rút ra các chứng cứ.
Nguồn chứng cứ bao gồm người, vật, tài liệu mang các thông tin về vụ việc
dân sự. Như vậy, nguồn chứng cứ có hai loại chủ yếu là người, vật và tài liệu. Việc
phân biệt các nguồn chứng cứ có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định giá trị
chứng minh của mỗi loại chứng cứ. Thông thường, các chứng cứ được rút ra từ các
vật, tài liệu thì việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng không mấy phức tạp vì chúng
ít bị chi phối bởi ngoại cảnh. Đối với những chứng cứ được rút ra từ con người như
đương sự, người làm chứng việc nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chúng rất phức
tạp. Nét chung nhất của con người với nghĩa là nguồn chứng cứ bị chi phối rất lớn
bởi yếu tố lợi ích, tâm lý, khả năng nhận thức, nhớ và phản ánh lại những gì họ
thấy, sự quan tâm của họ đối với sự kiện v.v… Tất cả những yếu này đều phải tính
đến khi nghiên cứu, đánh giá và sử dụng các chứng cứ được rút ra từ đương sự,
người làm chứng.


Nguồn chứng cứ và phương tiện chứng minh là hai khái niệm khác nhau.
Tuy vậy, trên thực tế chúng thường được hiểu là một. Bởi, trong một số trường hợp,
các phương tiện chứng minh cũng chính là cái có thể rút ra các tin tức về vụ việc
dân sự như vật chứng, tài liệu chứa đựng chứng cứ v.v… tức cũng là nguồn chứng
cứ. Việc phân biệt nguồn chứng cứ với phương tiện chứng minh chẳng qua là do
nhìn chúng trên những phương diện, góc độ khác nhau như là nới rút ra chứng cứ
hay là công cụ được sử dụng để xác định các tình tiết của vụ việc dân sự. Nguồn
chứng cứ được quy định tại Điều 94 BLTTDS năm 2015. Theo các quy định này thì
nguồn chứng cứ bao gồm: các tài liệu đọc được, nghe được, nhìn được, dữ liệu điện
tử; các vật chứng; lời khai của đương sự; lời khai của người làm chứng; kết luận
giám định; biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ; kết quả định giá tài sản, thẩm
định giá tài sản; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng
lập; văn bản công chứng, chứng thực và các nguồn khác mà pháp luật có quy định.
Theo quy định tại Điều 95 BLTTDS năm 2015 thì chứng cứ được xác định trên cơ
sở các nguồn chứng cứ này như sau:
- Tài liệu đọc được nội dung được coi là nguồn chứng cứ nếu là bản chính
hoặc bản sao có công chứng, chứng thực hợp pháp hoặc do cơ quan, tổ chức có
thẩm quyền cung cấp, xác nhận;
- Tài liệu nghe được, nhìn được được coi là chứng cứ nếu được xuất kèm
theo văn bản trình bày của người có tài liệu đó về xuất xứ của tài liệu nếu họ tự thu
âm, thu hình hoặc văn bản có xác nhận của người đã cung cấp cho người xuất trình
về xuất xứ của tài liệu đó hoặc văn bản về sự việc liên quan tới việc thu âm, thu
hình đó;
- Thông điệp dữ liệu điện tử được thể hiện dưới hình thức trao đổi dữ liệu
điện tử, chứng từ điện tử, thư điện tử, điện tín, điện báo, fax và các hình thức tương
tự khác theo quy định của pháp luật về giao dịch điện tử;
- Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc;


- Lời khai của đương sự, lời khai của người làm chứng được coi là chứng cứ
nếu được ghi bằng văn bản, băng ghi âm, đĩa ghi âm, băng ghi hình, đĩa ghi hình,
thiết bị khác chứa âm thanh, hình ảnh hoặc khai bằng lời tại phiên tòa;
- Kết luận giám định được coi là chứng cứ nếu việc giám định đó được tiến
hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Biên bản ghi kết quả thẩm định tại chỗ được coi là chứng cứ nếu việc thẩm
định được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Kết quả định giá tài sản, kết quả thẩm định giá tài sản được coi là chứng cứ
nếu việc định giá, thẩm định giá được tiến hành theo đúng thủ tục do pháp luật quy
định;
- Văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người có chức năng lập tại
chỗ được coi là chứng cứ nếu việc lập văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý
được tiến hành theo đsung thủ tục do pháp luật quy định;
- Văn bản công chứng, chứng thực được coi là chứng cứ nếu việc công
chứng, chứng thực được thực hiện theo đúng thủ tục do pháp luật quy định;
- Các nguồn khác mà pháp luật có quy định được xác định là chứng cứ theo
điều kiện, thủ tục mà pháp luật quy định.
Xét trên phương diện lý luận thì không thể coi tất cả những thứ Điều 94
BLTTDS năm 2015 quy định đều là nguồn chứng cứ vì không phải từ tất cả chúng
đều rút ra được các chứng cứ. Mặt khác, để xác định được chứng cứ thì tòa án và
các chủ thể chứng minh khác cũng phải sử dụng một số phương tiện quy định trong
Điều luật này.
4.Bảo quản chứng cứ
Bảo quản chứng cứ là giữ gìn giá trị chứng minh của chứng cứ. Trong tố
tụng dân sự, việc bảo quản chứng cứ giữ nguyện được giá trị chứng minh của
chứng cứ đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh chóng và đúng đắn. Việc
bảo quản chứng cứ được thực hiện theo theo quy định tại Điều 107 BLTTDS năm
2015.


Chứng cứ phải được bảo quản lâu dài, không để bị mất, thất lạc hoặc giảm
giá trị chứng minh. Chứng cứ có thể do đương sự, tòa án hoặc người nào đó lưu
giữ. Do vậy, về nguyên tắc người nào lưu giữ chứng cứ phải có trách nhiệm bảo
quản chứng cứ. Nếu chứng cứ đã được giao nộp cho Tòa án thì Tòa án có trách
nhiệm bảo quản chứng cứ. Trong trường hợp chứng cứ không thể giao nộp cho Tòa
án được thì người đang lưu giữ chứng cứ đó có trách nhiệm bảo quản. Trường hợp
giao chứng cứ cho người thứ ba thì thẩm phán ra quyết định bằng văn bản và lập
biên bản giao cho người đó bảo quản.
Để xác định được trách nhiệm của người lưu giữ chứng cứ trong việc bảo
quản chứng cứ, khi giao nhận chứng cứ đều phải có biên bản phản ánh lại. Người
nhận bảo quản phải kí tên vào biên bản, được hưởng thù lao và phải chịu trách
nhiệm về việc bảo quản chứng cứ đó.
5. Bảo vệ chứng cứ
Bảo vệ chứng cứ là chống lại các hành vi xâm phạm chứng cứ để giữ gìn giá
trị chứng minh của chứng cứ. Trong tố tụng dân sự, việc bảo vệ chứng cứ giữ được
giá trị chứng minh của chứng cứ đảm bảo việc giải quyết vụ việc dân sự nhanh
chóng và đúng đắn. Việc bảo vệ chứng cứ được thực hiện theo quy định tại Điều
110 BLTTDS năm 2015.
Bảo vệ chứng cứ được thực hiện trong trường hợp có hành vi tiêu hủy, xâm
phạm đến chứng cứ hoặc có nguy cơ chứng cứ bị tiêu hủy. Tòa án ra quyết định bảo
vệ chứng cứ theo yêu cầu của đương sự hoặc khi xét thấy cần thiết. Trong trường
hợp chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu
thập được thì đương sự có quyền làm đơn đề nghị Tòa án quyết định áp dụng các
biện pháp cần thiết để bảo toàn chứng cứ. Trong trường hợp người làm chứng bị đe
dọa, bị khống chế hoặc bị mua chuộc để không cung cấp chứng cứ hoặc cung cấp
chứng cứ sai sự thật thì Tòa án ra quyết định bảo vệ chứng cứ.
Khi Tòa án áp dụng các biện pháp bảo vệ chứng cứ, Tòa án phải ra quyết
định bằng văn bản. Tòa án có thể quyết định áp dụng một hoặc một số trong các


biện pháp niêm phong, thu giữ, chụp ảnh, ghi âm, ghi hình, phục chế, khám
nghiệm, lập biên bản và các biện pháp khác để bảo vệ chứng cứ. Tòa án có quyền
quyết định buộc người có hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc phải chấm
dứt hành vi đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm chứng.
Ngoài ra, Tòa án có thể áp dụng các biện pháp xử lý những người có hành vi
phạm đến chứng cứ theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp hành vi xâm
phạm chứng cứ, đe dọa, khống chế hoặc mua chuộc người làm chứng có dấu hiệu
tội phạm thì Tòa án yêu cầu viện kiểm sát xem xét về trách nhiệm hình sự.
6. Ý nghĩa của chứng cứ
Chứng cứ với tư cách là linh hồn của tố tụng và là nền tảng cơ bản để giải
quyết vụ việc dân sự. Vì vậy chứng cứ có ý nghĩa quan trọng đối với việc giải
quyết các vụ việc dân sự. Chứng cứ là cơ sở duy nhất và cũng là phương tiện duy
nhất để chứng minh các sự kiện tình tiết của vụ việc dân sự. Có thể nói, mọi hoạt
động trong quá trình chứng minh chủ yếu xoay quanh vấn đề chứng cứ, mọi giai
đoạn của tố tụng dân sự mở ra, kết thúc và kết quả đều phụ thuộc phần lớn vào
chứng cứ.; Chứng cứ là phương tiện để người tham gia tố tụng bảo vệ quyền và lợi
ích hợp pháp của mình; Chứng cứ là để Tòa án tái hiện lại đúng các tình tiết và sự
thật của vụ việc dân sự, xác định được quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự;
Chứng cứ là hoạt động mấu chốt của vấn đề chứng minh trong TTDS.
II. THỰC TIỄN THỰC HIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT
NAM HIỆN HÀNH VỀ CHỨNG CỨ.
1. Thực tiễn thực hiện:
1.1. Những ưu điểm đạt được:
Thứ nhất, Pháp luật tố tụng dân sự hiện hành ngày càng khẳng định tầm quạn
trọng về vị trí và vai trò của chứng cứ. Bằng chứng cho thấy là việc BLTTDS năm
2015 các nhà làm luật đã bổ sung thêm các trường hợp là nguồn của chứng cứ vào
điều luật quy định nguồn chứng cứ (Điều 94, BLTTDS) gồm: dữ liệu điện tử; văn
bản công chứng, chứng thực; văn bản ghi nhận sự kiện, hành vi pháp lý do người


có chức năng lập. Điều này có nghĩa là đã mở rộng thêm nguồn chứa đựng chứng
cứ được phép đưa vào quá trình tố tụng dân sự.
Thứ hai, việc quy định chứng cứ chặt chẽ, rõ ràng như vậy là để đảm bảo
quyền lợi chính đáng cho đương sự, bảo đảm cho việc giải quyết của Toà án được
đúng đắn, khách quan và để khắc phục tình trạng tài liệu giả; chứng cứ giả. Trong
thời buổi khoa học, kỹ thuật phát triển như hiện nay, thì việc ghép hình ảnh, lồng
ghép tiếng không khó. Do đó các tài liệu đọc được mà không phải là bản chính
hoặc bản sao nhưng không có chứng nhận của cơ quan Công chứng Nhà nước hoặc
không có xác nhận của cơ quan có thẩm quyền thì tài liệu đó không phải là chứng
cứ. Đối với các tài liệu nghe được, nhìn được mà không có văn bản xác nhận xuất
xứ của tài liệu đó hoặc không có văn bản về sự việc liên quan đến việc thu âm, thu
hình đó thì tài liệu nghe được, nhìn được đó cũng không phải là chứng cứ.
Thứ ba, việc khẳng định vai trò quan trọng của chứng cứ, nguồn chứng cứ
trong việc giải quyết vụ việc dân sự đã làm tăng thêm trách nhiệm cho cả người
tham gia tố tụng và người tiến hành tố tụng. Đối với người tham gia vào quá trình
tố tụng họ có nghĩa vụ giao nộp chứng cứ gắn liền với sự thật khách quan của vụ
án, không được ỷ lại vào người khác hoặc cơ quan tiến hành tố tụng. Đối với sự
tham gia của tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng trong quá trình thu thập
chứng cứ luôn luôn phải là chủ thể tích cực, chủ động trong điều tra và xác minh
chứ không phải là “chỉ điều tra, xác minh khi cần thiết”. Trong quá trình xét xử,
Tòa án có trách nhiệm tìm hiểu xem chứng cứ đó có phản ánh sự thật khách quan
của vụ việc hay không và đưa ra phán quyết sao cho đúng đắn.
Thứ tư, Điều 93 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định, chứng cứ do
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác xuất trình cho Tòa án “trong quá trình tố
tụng”.Về quy định “trong quá trình tố tụng” của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015
đã giải quyết được vấn về lý luận và thực tiễn. Về thực tiễn, quá trình giải quyết vụ
việc dân sự, tránh trường hợp đương sự tưởng rằng với nguyên tắc hai cấp xét xử
nên tài liệu, chứng cứ mà họ cung cấp cho Tòa án chỉ có ý nghĩa ở giai đoạn sơ


thẩm và phúc thẩm. Về lý luận, “trong quá trình tố tụng”, điều đó có nghĩa là
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền cung cấp tài liệu, chứng cứ cho
Tòa án mỗi giai đoạn của quá trình tố tụng dân sự; hay nói một cách cụ thể hơn,
đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác có quyền cung cấp tài liệu, chứng cho
Tòa án mỗi giai đoạn tố tụng về sơ thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm, miễn
sao bảo đảm đúng điều kiện quy định tại Điều 96 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Như vậy, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã xác định rõ về thời điểm đương sự,
cơ quan, tổ chức, cá nhân khác cung cấp tài liệu, chứng cứ. Việc xác định được thời
điểm đương sự cung cấp tài liệu, chứng cứ cho Tòa án là quan trọng, là khâu trung
tâm có ý nghĩa quyết định để đánh giá chứng cứ và chứng minh trong vụ việc dân
sự được khách quan, toàn diện. Mặt khác, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy
định bổ sung các điều kiện, thời điểm về giao nộp tài liệu, chứng cứ của đương sự
cho Tòa án, đồng thời thông báo tài liệu, chứng cứ cho đương sự khác, người đại
diện của đương sự khác đã tạo những điều kiện có thể để bảo đảm quyền lợi của
đương sự, góp phần cho Tòa án có được phán quyết khách quan, chính xác.
Có thể nói chứng cứ có vai trò và ý nghĩa đặc biệt quan trọng, gần như mang
tính chất quyết định trong việc xác định được kết quả thắng – thua của các bên
trong một vụ án. Vì vậy, việc xác định và đánh giá thế nào là chứng cứ và các vấn
đề liên quan đến chứng cứ nhất thiết phải được qui định rõ ràng, chặt chẽ, tránh
tình trạng không phải bất kỳ cái gì, do bất kỳ bên nào đưa ra cũng đều được xem là
chứng cứ
1.2. Những hạn chế còn tồn tại
BLTTDS quy định, nếu xét thấy chứng cứ chưa đầy đủ để giải quyết vụ án
thì Thẩm phán yêu cầu đương sự giao nộp bổ sung chứng cứ. Trong trường hợp
đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết mà vẫn không thể thu thập được
chứng cứ thì có thể yêu cầu Toà án tiến hành thu thập chứng cứ. Như vậy, trong
mọi trường hợp Toà án chỉ được phép yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức cung cấp
chứng cứ khi và chỉ khi đương sự có yêu cầu. Đây là một quy định có mặt tiến bộ


là bảo đảm tính khách quan trong việc giải quyết vụ việc dân sự, tuy nhiên cũng đã
tạo ra một khoảng trống pháp lý làm Toà án khó giải quyết trong việc bảo vệ nền
pháp chế.
Một thực tế hiện nay khi giải quyết các vụ án tranh chấp đất đai khi một
trong các bên đương sự giao nộp cho Toà án các giấy tờ liên quan như giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ), trích lục bản đồ địa chính thì bên đương sự
khác lại cho rằng các giấy tờ tài liệu đó là không đúng với thực tế mà có sự sai sót
của cơ quan quản lý đất đai. Với tình huống này có nơi Toà án không cần xem xét
tính xác thực về lời khai của đương sự mà căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu đó để đưa
ra phán quyết. Ngược lại, có Toà án thì lại đi điều tra xác minh, căn cứ vào lời khai
của đương sự, người làm chứng để phủ nhận giá trị pháp lý của các loại giấy tờ tài
liệu này. Vậy, trong hai cách giải quyết đó cách nào là đúng pháp luật?
Điều 92 BLTTDS còn quy định về những tình tiết, sự kiện mà đương sự
không phải chứng minh trong đó có các tình tiết, sự kiện được xác định trong các
bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc quyết định của cơ quan
nhà nước có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật; những tình tiết, sự kiện đã được
ghi trong văn bản và được công chứng, chứng thực hợp pháp;… Do vậy, trong vụ
án dân sự thì GCNQSDĐ, bản đồ hoặc trích lục bản đồ địa chính là những chứng
cứ quan trọng để Toà án làm căn cứ giải quyết vụ án mà không cần phải chứng
minh tính hợp pháp của nó. Tuy nhiên, các giấy tờ, tài liệu về quản lý đất đai không
phải bao giờ cũng chính xác và hợp pháp. Do đó, trong trường hợp đương sự cho
rằng các giấy tờ, tài liệu đó là không hợp pháp thì Toà án hướng dẫn họ thực hiện
quyền khiếu kiện theo thủ tục hành chính đối với cơ quan quản lý đất đai để có sự
phán quyết về giá trị pháp lý của các tài liệu đó. Trong khi giải quyết vụ án dân sự
Toà án không có quyền đưa ra các phán xét về giá trị pháp lý của các giấy tờ tài
liệu do cơ quan hành chính ban hành mà quyền này chỉ được thực hiện trong vụ án
hành chính.


Trong số các nguồn chứa đựng các chứng cứ thì các tài liệu đọc được, nghe
được, nhìn được chiếm một tỷ lệ tương đối lớn. Nhưng trong nhiều trường hợp các
đương sự lại không có các chứng cứ đó mà lại đang do cá nhân, cơ quan, tổ chức
khác lưu giữ, quản lý. Để bảo đảm cho việc thu thập chứng cứ, Điều 7 của
BLTTDS quy định: Cá nhân, cơ quan, tổ chức trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn
của mình có trách nhiệm cung cấp đầy đủ cho đương sự, Toà án chứng cứ trong vụ
án mà cá nhân, cơ quan, tổ chức đó đang lưu giữ, quản lý khi có yêu cầu của đương
sự, Toà án. Trong trường hợp không cung cấp được thì phải thông báo bằng văn
bản cho đương sự, Toà án biết và nêu rõ lý do của việc không cung cấp được chứng
cứ. Mặt khác, tại khoản 2 Điều 97 và khoản 1 Điều 106 của BLTTDS cũng đã quy
định: Chỉ khi đương sự đã áp dụng các biện pháp cần thiết để thu thập chứng cứ mà
vẫn không thể tự mình thu thập được thì mới có quyền yêu cầu Toà án thu thập.
Thực tế khi giải quyết các vụ án mà có các tài liệu, chứng cứ đang do cơ quan, tổ
chức lưu giữ, quản lý thì việc thu thập chứng cứ không hề đơn giản. Trong rất nhiều
vụ án mặc dù đương sự đã cất công đi lại nhiều lần yêu cầu cơ quan, tổ chức cung
cấp các chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án để họ giao nộp cho Toà án
nhưng đều bị từ chối với đủ mọi lý do và việc từ chối đó cũng chỉ bằng lời nói, thái
độ, cử chỉ. Với cách từ chối nàyđương sự khó có thể chứng minh việc họ đã áp
dụng mọi biện pháp nhưng vẫn không thu thập được chứng cứ để làm cơ sở yêu
cầu Toà án thu thập.
2. Một số kiến nghị hoàn thiện nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các quy định
của pháp luật về chứng cứ
Thứ nhất: Để bảo vệ cho quyền lợi hợp pháp của đương sự được đầy đủ và
toàn diện hơn thì pháp luật tố tụng dân sự không nên quá coi trọng đến mức tuyệt
đối hoá nghĩa vụ cung cấp chứng cứ của đương sự như hiện nay. Bởi lẽ trong quá
trình tố tụng, do thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng hoặc vì nguyên nhân nào đó
mà các đươn g sự không thể đưa ra được tất cả các chứng cứ để chứng minh sẽ
đồng nghĩa với việc các quyền lợi hợp pháp của họ sẽ không được bảo đảm đầy đủ.


Vì vậy, sự tham gia của tòa án với tư cách là cơ quan tiến hành tố tụng luôn luôn
phải là chủ thể tích cực, chủ động tham gia thu thập chứng cứ và điều tra, xác minh
chứ không phải là “chỉ điều tra, xác minh khi cần thiết” như quy định của pháp luật
tố tụng hiện nay. Bên cạnh đó, có những vụ án dân sự phải xử đi xử lại nhiều lần là
do việc các tòa án không thống nhất được việc đánh giá chứng cứ và sử dụng chứng
cứ. Do vậy, việc hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về chứng cứ
hiện nay là rất cần thiết.
Thứ hai: Việc đưa ra các chứng cứ và chứng minh có mối quan hệ biện
chứng với nhau. Nếu chứng cứ đã đầy đủ, nhưng việc chứng minh tại phiên toà lại
bị giới hạn bởi thời gian tranh tụng thì quyền lợi của đương sự có thể không được
bảo đảm đầy đủ. Bởi kéo dài thời gian tranh tụng đồng nghĩa với việc các đương sự
sẽ có nhiều cơ hội để tranh luận trên cơ sở các nguồn chứng cứ mà đương sự
cungcấp. Thực tế hiện nay, trong các phiên tòa dân sự, hoạt động xét hỏi của Hội
đồng xét xử vẫn được coi là hành vi tố tụng "trung tâm" tại phiên toà, Vì vậy, hoạt
động của tòa án như hiện nay chưa phản ánh đúng và đầy đủ "quyền tự định đoạt"
của đương sự trong quá trình tố tụng, đặc biệt là tố tụng tại phiên toà.
Thứ ba: Trong Bộ luật Tố tụng Dân sự đã quy định những tình tiết, sự kiện
không phải chứng minh, nhưng lại không có quy định về những tình tiết sự kiện
phải chứng minh. Điều này "không những làm mất cân đối giữa các quy định của
Bộ luật Tố tụng Dân sự, mà còn làm cho các chủ thể lúng túng trong việc thực hiện
các quyền và nghĩa vụ chứng minh của họ, nhất là các đương sự. Khi tham gia tố
tụng, đương sự chỉ phải chứng minh trong phạm vi yêu cầu hoặc phản đối yêu cầu
của họ là chưa đủ, mà còn phải chứng minh các sự kiện, tình tiết khác của vụ việc
dân sự. Ngoài ra, do thiếu kinh nghiệm tham gia tố tụng nên các đương sự thường
không biết phải chứng minh làm rõ sự kiện, tình tiết gì và vì vậy cũng không xác
định được chứng cứ, tài liệu phải cung cấp cho tòa án để chứng minh cho quyền lợi
hợp pháp của mình. Mặt khác, tại điểm c, Khoản 1, Điều 92 của Bộ luật Tố tụng
Dân sự quy định những tình tiết, sự kiện đã được ghi trong văn bản, và được công


chứng, chứng thực hợp pháp thì không phải chứng minh. Tuy vậy, thực tế cho thấy,
trong trường hợp tòa án có nghi ngờ về tính đúng đắn của việc công chứng, chứng
thực thì những tình tiết đó vẫn phải được xác định lại. Nhưng trong Bộ luật Tố tụng
Dân sự không thấy có quy định là việc đó có phải chứng minh hay không, và ai
phải chứng minh (nếu có).
Thứ tư: Trên thực tế, trong tố tụng hình sự có quy định đầy đủ về các phương
tiện chứng minh, trong khi đó, Bộ luật Tố tụng Dân sự lại không có quy định nào
về phương tiện chứng minh. Vì vậy trong tố tụng dân sự, các chủ thể sẽ sử dụng
những phương tiện nào để chứng minh và chứng minh như thế nào thì được coi là
hợp pháp. Do đó, nếu không được giải thích đầy đủ, các chủ thể sẽ rất dễ nhầm lẫn,
thậm chí là đồng nhất giữa các khái niệm “nguồn chứng cứ”, “phương tiện chứng
minh” và “chứng cứ.

KẾT LUẬN
Như vậy, để đưa ra phán quyết đúng đắn, khách quan, thuyết phục, “thấu
tình, đạt lý” thì Tòa án cần có “chứng cứ” làm căn cứ phán quyết. Điều đó đòi hỏi
người tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng phải nắm vững khái niệm chứng
cứ, các thuộc tính của chứng cứ; phân biệt được chứng cứ với nguồn chứng cứ,
chứng cứ với tài liệu, các văn bản tố tụng; cũng như việc xem xét, đánh giá chứng
cứ đúng đắn, có hiệu quả. Quá trình xem xét, đánh giá, sử dụng chứng cứ phải tuân
theo trình tự, thủ tục luật định, bảo đảm tính công bằng, minh bạch… Để bảo đảm
việc tiến hành thu thập chứng cứ được khách quan thì đối với trường hợp Tòa án
tiến hành thu thập chứng cứ cần cân nhắc, quy định người tiến hành việc thu thập
chứng cứ không phải là thẩm phán được phân công giải quyết vụ án mà phải là một
thẩm phán khác hoặc bộ phận chuyên trách của Tòa án để tránh tình trạng thẩm
phán đã nghiên cứu hồ sơ và chỉ tiến hành thu thập chứng cứ theo nhận thức chủ
quan của mình. Bên cạnh đó, cần cụ thể hóa hơn các quy định về việc xử lý các
hành vi cản trở hoạt động tố tụng của Tòa án, trong đó có việc cản trở hoạt động
thu thập chứng cứ để khắc phục những bất cập trong thực tiễn hiện nay.


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
2. Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Tố tụng Dân sự Việt Nam,Nxb.
CAND, Hà Nội 2017;
3. Bình luận khoa học Bộ luật Tố tụng dân sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam năm 2015, Nxb. Tư pháp, Hà Nội 2017;
4. Nghị quyết 04/2016/NQ-HĐTP hướng dẫn quy định của Bộ luật tố tụng dân sự
92/2015/QH13 về gửi, nhận đơn khởi kiện, tài liệu, chứng cứ và cấp, tống đạt,
thông báo văn bản tố tụng bằng phương tiện điện tử;
5. ThS. Đinh Tuấn Anh Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tạp chí Dân chủ và Pháp
luật, Quy định mới của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về chứng cứ và chứng
minh



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×