Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà 10

1
LỜI NÓI ĐẦU
Nhiều nhà phân tích tài chính đã ví Vốn lưu động của doanh nghiệp như
dòng máu tuần hoàn trong cơ thể con người. Vốn lưu động được ví như vậy
có lẽ bởi sự tương đồng về tính tuần hoàn và sự cần thiết của vốn lưu động
đối với ‘cơ thể’ doanh nghiệp. Trong nền kinh tế thị trường, một doanh nghiêp
muốn hoạt động thì không thể không có vốn. Vốn của doanh nghiệp nói
chung và vốn lưu động nói riêng có mặt trong mọi khâu hoạt động của doanh
nghiệp từ: dự trữ, sản xuất đến lưu thông. Vốn lưu động giúp cho doanh
nghiệp tồn tại và hoạt động được trơn tru.
Tuy nhiên do sự vận động phức tạp và trình độ quản lý tài chính còn hạn
chế ở nhiều doanh nghiệp Việt Nam, vốn lưu động chưa được quản lý, sử
dụng có hiệu quả dẫn đến hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh không cao.
Trong quá trình thực tập tại Công ty Sông Đà 10 em nhận thấy đây là một vấn
đề thực sự nổi cộm và rất cần thiết ở Công ty, nơi có tỷ trọng vốn lưu động
lớn với nhiều hoạt động sản xuất quy mô lớn, phức tạp, vấn đề nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động đang là một chủ đề mà Công ty rất quan tâm.
Với nhận thức như vậy, bằng những kiến thức quý báu về tài chính
doanh nghiệp, vốn lưu động tích luỹ được trong thời gian học tập, nghiên cứu
tại trường Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, cùng thời gian thực tập thiết thực
tại Công ty Sông Đà 10, em đã chọn đề tại: “Một số giải pháp nâng cao hiệu

quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông Đà 10” làm đề tài chuyên đề
thực tập tốt nghiệp.
Chuyên đề gồm có 3 chương:
Chương I. Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp trong nền kinh tế thị trường


2
Chương II. Thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Sông
Đà 10
Chương III. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại Công ty Sông Đà 10
Do những hạn chế về trình độ nhận thức và thời gian thực tập, chuyên đề
này chắc chắn còn nhiều thiếu sót. Em rất mong nhận được những đóng góp
từ phía thầy, cô giáo, các anh chị trong phòng tài chính – kế toán Công ty
Sông Đà 10 để chuyên đề có thể hoàn thiện hơn cũng như giúp em hiểu sâu
hơn về đề tài mà mình đã lựa chọn.


3
CHƯƠNG I. VỐN LƯU ĐỘNG VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN LƯU
ĐỘNG CỦA DOANH NGHIỆP TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Doanh nghiệp và hoạt động của doanh nghiệp
Doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Kinh tế thị trường là một nền kinh tế vận động theo cơ chế thị trường
trong đó người mua và người bán tương tác với nhau để xác định giá cả và
sản lượng của hàng hoá hay dịch vụ. Nền kinh tế thị trường chứa đựng 3 chủ
thể là các hộ gia đình, doanh nghiệp và chính phủ. Trong đó, Doanh nghiệp có
một vai trò to lớn trong sự hoạt động và phát triển của nền kinh tế thị trường.
“Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao
dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm
mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”1 – tức là thực hiện một, một số
hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản
phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lợi.
Nền kinh tế thị trường của nước ta đang xây dựng là một nền kinh tế thị
trường có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là
một nền kinh tế với nhiều thành phần, trong đó thành phần kinh tế quốc doanh
– doanh nghiệp Nhà nước – giữ vai trò chủ đạo. “Doanh nghiệp Nhà nước là
tổ chức kinh tế do Nhà nước đầu tư vốn, thành lập và tổ chức quản lý, hoạt


động kinh doanh hoặc hoạt động công ích nhằm thực hiện các mục tiêu
kinh tế – xã hội do Nhà nước giao”.2 Như vậy ta thấy, có thể phân các doanh
nghiệp Nhà nước làm hai loại: doanh nghiệp hoạt động kinh doanh và
doanh nghiệp hoạt động công ích, khi nghiên cứu về tài chính doanh nghiệp

1
2

Luật doanh nghiệp – ngày12 tháng 6 năm 1999
Luật doanh nghiệp nhà nước – ngày 20 tháng 4 năm 1995


4
chúng ta tập trung vào hệ thống các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh với
mục tiêu thống nhất là tối đa hoá lợi nhuận.
Doanh nghiệp có thể được phân loại theo nhiều tiêu thức khác nhau.
Theo hình thức tổ chức có: doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty
TNHH, doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Phân loại doanh nghiệp theo chủ thể kinh doanh có: kinh doanh cá thể; kinh
doanh góp vốn; công ty. Dựa vào tính chất của lĩnh vực hoạt động, có doanh
nghiệp sản xuất và doanh nghiệp thương mại…Sự phân chia các doanh
nghiệp theo các tiêu thức nói trên nhằm tiện cho việc quản lý và nghiên cứu
tuy nhiên chúng đều mang tính tương đối khi trong một nền kinh tế thị trường
phát triển hình thức, hoạt động của các doanh nghiệp là rất đa dạng, phức tạp.
Hoạt động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Bao quanh doanh nghiệp là một môi trường kinh tế – xã hội phức tạp và
luôn biến động. Để đạt được mức lợi nhuận mong muốn, doanh nghiệp luôn
phải đưa ra hàng loại các quyết định trong quá trình tổ chức các hoạt động
kinh doanh, mọi quyết định đều phải gắn kết với môi trường xung quanh.
Doanh nghiệp phải giải quyết từ khâu nghiên cứu nhu cầu thị trường; xác định
năng lực bản thân; xác định các mặt hàng mà mình sản xuất và cung ứng;
cách thức sản xuất, phương thức cung ứng sao cho có hiệu quả nhất…Dưới
góc độ của nhà quản trị tài chính, để đạt được mục tiêu tối đa hoá giá trị của
doanh nghiệp, một doanh nghiệp luôn phải đối mặt với 3 nhóm quyết định:
- Quyết định đầu tư;
- Quyết định tài trợ;
- Quyết định hoạt động hàng ngày.
Nói một cách khác, quản lý tài chính doanh nghiệp là giải quyết một tập
hợp đa dạng và phức tạp các quyết định tài chính dài hạn và ngắn hạn. Các
quyết định tài chính dài hạn như lập ngân sách vốn, lựa chọn cấu trúc vốn…là


5
những quyết định thường liên quan đến những tài sản hay những khoản nợ dài
hạn, các quyết định này không thể thay đổi một cách dễ dàng và do đó chúng
có khả năng làm cho doanh nghiệp phải theo đuổi một đường hướng hoạt
động riêng biệt trong nhiều năm. Các quyết định tài chính ngắn hạn thường
liên quan đến những tài sản hay những khoản nợ ngắn hạn và thường thì
những quyết định này được thay đổi dễ dàng. Trong thực tế, giá trị các tài sản
lưu động chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng giá trị doanh nghiệp và có một vị
trí quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Một
doanh nghiệp có thể xác định được các cơ hội đầu tư có giá trị, tìm được
chính xác tỷ lệ nợ tối ưu, theo đuổi một chính sách cổ tức hoàn hảo nhưng vẫn
thất bại vì không ai quan tâm đến việc huy động tiền mặt để thanh toán các
hoá đơn trong năm…Do vậy, chuyên đề này đi sâu vào nghiên cứu vốn lưu
động và việc nâng cao hiệu sử dụng vốn lưu động trong doanh nghiệp. Để có
thể hiểu sâu về vốn lưu động trước tiên chúng ta cần có cái nhìn khái lược về
vốn, một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.2. Vốn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.2.1. Khái niệm về vốn
Theo quan điểm của K.Marx, vốn là tư bản, mà tư bản được hiểu là giá
trị mang lại giá trị thặng dư.
Như vậy, hiểu một cách thông thường, vốn là toàn bộ giá trị vật chất
được doanh nghiệp đầu tư để tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh. Vốn
có thể là toàn bộ của cải vật chất do con người tạo ra và tích luỹ được qua thời
gian sản xuất kinh doanh cũng có thể là những của cải mà thiên nhiên ban cho
như đất đai, khoáng sản…
Với sự phát triển vũ bão của nền kinh tế thị trường, các ngành nghề mới
liên tục ra đời, quan niệm về vốn cũng ngày càng được mở rộng. Bên cạnh


6
vốn hữu hình, dễ dàng được nhận biết, còn tồn tại và được thừa nhận là vốn
vô hình như: các sáng chế phát minh, nhãn hiệu thương mại, kiểu dáng công
nghiệp, vị trí đặt trụ sở của doanh nghiệp…Theo cách hiểu rộng hơn, người
lao động cũng được rất nhiều doanh nghiệp coi là một trong những nguồn vốn
quan trọng.
Có thể thấy, vốn tồn tại trong mọi giai đoạn sản xuất kinh doanh, từ dự
trữ; sản xuất đến lưu thông; doanh nghiệp cần vốn để đầu tư xây dựng cơ bản;
cần vốn để duy trì sản xuất và để đầu tư nâng cao năng lực sản xuất… Quyết
định tài trợ, do đó, là một trong 3 nhóm quyết định quan trọng của tài chính
doanh nghiệp và có ảnh hưởng sâu sắc tời mục tiêu cuối cùng của doanh
nghiệp – tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
1.1.2.2. Đặc điểm và phân loại vốn
 Đặc điểm của vốn
Vốn là giá trị toàn bộ tài sản hữu hình (nhà xưởng, máy móc thiết bị…),
tài sản vô hình (sáng chế, phát minh, nhãn hiệu thương mại…) mà doanh
nghiệp đầu tư và tích luỹ được trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm tạo
ra giá trị thặng dư.
Vốn tồn tại trong mọi quá trình sản xuất và được chuyển hoá từ dạng này
sang dạng kia: từ nguyên, nhiên vật liệu đầu vào đến các chi phí sản xuất dở
dang, bán thành phẩm và cuối cùng chuyển hoá thành thành phẩm rổi chuyển
về hình thái tiền tệ.
Vốn luôn gắn liền với quyền sở hữu, việc nhận định rõ và hoạch định cơ
cấu nợ – vốn chủ sở hữu luôn là một nội dung quan trọng và phức tạp trong
quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong nền kinh tế thị trường, vốn còn được coi là một hàng hoá đặc biệt
do có sự tác bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng. Do đó, việc huy động
vốn bằng nhiều con đường: phát hành cổ phiếu, trái phiếu; tín dụng thương


7
mại; vay ngân hàng…đang được các doanh nghiệp rất quan tâm và được vận
dụng linh hoạt.
Do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền sử dụng, sự luân chuyển
phức tạp của vốn nên yêu cầu quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả tránh lãng
phí thất thoát được đặt lên cao.
 Phân loại vốn
Tuỳ theo từng tiêu thức khác nhau, vốn của doanh nghiệp được phân loại
như sau:
 Theo hình thái tài sản, vốn của doanh nghiệp gồm 2 bộ phận
chính: Vốn lưu động và vốn cố định. Vốn lưu động là toàn bộ
giá trị của tài sản lưu động, vốn cố định là toàn bộ giá trị của tài
sản cố định.
 Theo nguồn hình thành, vốn của doanh nghiệp được hình thành
từ hai nguồn chính: Vốn chủ sở hữu và Nợ.
1.1.3. Vốn lưu động của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1. Khái niệm về vốn lưu động
Để tiến hành sản xuất kinh doanh, ngoài các yếu tố con người lao động,
tư liệu lao động còn phải có đối tượng lao động. Trong các doanh nghiệp đối
tượng lao động bao gồm 2 bộ phận: Một bộ phận là những nguyên, nhiên vật
liệu, phụ tùng thay thế…đang dự trữ chuẩn bị cho quá trình sản xuất được tiến
hành nhịp nhàng, liên tục; bộ phận còn lại là những nguyên vật liệu đang
được chế biến trên dây truyền sản xuất (sản phẩm dở dang, bán thành phẩm).
Hai bộ phận này biểu hiện dưới hình thái vật chất gọi là tài sản lưu động của
doanh nghiệp trong dự trữ và sản xuất.
Thông qua quá trình sản xuất, khi kết thúc một chu kỳ sản xuất thì toàn
bộ tư liệu lao động đã chuyển hoá thành thành phẩm. Sau khi kiểm tra, kiểm


8
nghiệm chất lượng thành phẩm được nhập kho chờ tiêu thụ. Mặt khác để sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm doanh nghiệp còn cần một số tiền mặt trả lương
công nhân và các khoản phải thu phải trả khác…Toàn bộ thành phẩm chờ tiêu
thụ và tiền để phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm được gọi là tài sản lưu động
trong lưu thông.
Như vậy xét về vật chất, để sản xuất kinh doanh được tiến hành liên tục,
ngoài tài sản cố định doanh nghiệp còn cần phải có tài sản lưu động trong dự
trữ, trong sản xuất và trong lưu thông. Trong điều kiện nền kinh tế hàng hoá tiền tệ, để hình thành các tài sản lưu động này các doanh nghiệp phải bỏ ra
một số vốn đầu tư ban đầu nhất định. Vì vậy có thể nói: Vốn lưu động của
doanh nghiệp là số vốn tiền tệ ứng trước để đầu tư, mua sắm tài sản lưu
động trong doanh nghiệp.
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm
vận động của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản
lưu động. Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn lưu động không ngừng vận
động qua các giai đoạn của chu kỳ kinh doanh: dự trữ sản xuất, sản xuất và
lưu thông. Quá trình này được diễn ra liên tục và thường xuyên lặp lại theo
chu kỳ và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động. Qua
mỗi giai đoạn của chu kỳ kinh doanh, vốn lưu động lại thay đổi hình thái biểu
hiện: từ hình thái vốn tiền tệ ban đầu chuyển sang hình thái vốn vật tư hàng
hoá dự trữ và vốn sản xuất, rồi cuối cùng lại trở về hình thái vốn tiền tệ.
Tương ứng với một chu kỳ kinh doanh thì vốn lưu động cũng hoàn thành một
vòng chu chuyển.
Vốn bằng tiền

Mua vật tư
hàng hoá

Vốn dự trữ sản
xuất

Tiêu thụ sản phẩm

Sản xuất
sản phẩm

Vốn trong sản
xuất


9
1.1.3.2. Đặc điểm và phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
 Những đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động luân chuyển với tốc độ nhanh. Vốn lưu động hoàn thành
một vòng tuần hoàn sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.
Vốn lưu động trong doanh nghiệp luôn thay đổi hình thái biểu hiện trong
quá trình tuần hoàn luân chuyển. Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ
sản xuất mà không giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu, giá trị của nó được
chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Vốn lưu động vận động theo một vòng tuần hoàn, từ hình thái này sang
hình thái khác rồi trở về hình thái ban đầu với một giá trị lớn hơn giá trị ban
đầu. Chu kỳ vận động của vốn lưu động là cơ sở quan trọng đánh giá hiệu quả
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
 Phân biệt vốn lưu động với vốn cố định
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của tài sản cố định. Đặc điểm khác
biệt lớn nhất giữa vốn lưu động và vốn cố định là vốn cố định chỉ chuyển dần
giá trị của nó vào giá trị sản phẩm theo mức khấu hao trong khi giá trị vốn lưu
động được chuyển dịch toàn bộ một lần vào giá trị sản phẩm.
Do đặc điểm vận động, số vòng quay của vốn lưu động lớn hơn rất nhiều
so với vốn cố định.
1.1.3.3. Phân loại vốn lưu động
Để quản lý, sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cần phải phân loại vốn lưu
động của doanh nghiệp theo các tiêu thức khác nhau phù hợp với yêu cầu
quản lý.


10
1.1.3.3.1. Căn cứ vai trò của vốn lưu động trong quá trình sản xuất
kinh doanh
Theo cách phân loại này vốn lưu động của doanh nghiệp được phân
thành 3 loại:
(1) Vốn lưu động trong khâu dự trữ
Bao gồm các khoản vốn sau:
- Vốn nguyên vật liệu chính: Là giá trị các loại vật tư dùng dự trữ sản
xuất mà khi tham gia vào sản xuất chúng cấu thành thực thể của sản
phẩm.
- Vốn vật liệu phụ: Là giá trị các loại vật tư dự trữ dùng trong sản xuất.
Các loại vật tư này không cấu thành thực thể chính của sản phẩm mà nó
kết hợp với nguyên vật liệu chính làm thay đổi màu sắc, mùi vị, hình
dáng bên ngoài của sản phẩm hoặc tạo điều kiện cho quá trình sản xuất
sản phẩm thực hiện được bình thường, thuận lợi.
- Vốn nhiên liệu: Là giá trị các loại nhiên liệu dự trữ dùng trong hoạt
động sản xuất kinh doanh.
- Vốn phụ tùng thay thế: Là giá trị các loại vật tư dùng để thay thế, sửa
chữa các tài sản cố định dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
- Vốn vật liệu đóng gói: Là giá trị của các vật tư mà khi tham gia vào quá
trình sản xuất nó cấu thành bao bì bảo quản sản phẩm.
- Vốn công cụ, dụng cụ: Là giá trị các công cụ, dụng cụ không đủ tiêu
chuẩn là tài sản cố định, dùng cho hoạt động sản xuất kinh doanh.
Loại vốn này cần thiết để đảm bảo sản xuất của doanh nghiệp được tiến
hành liên tục.
(2) Vốn lưu động trong khâu sản xuất


11
Bao gồm các khoản vốn:
- Vốn sản phẩm đang chế tạo: Là biểu hiện bằng tiền các chi phí sản xuất
kinh doanh đã bỏ ra cho các loại sản phẩm đang trong quá trình sản
xuất.
- Vốn bán thành phẩm tự chế: Đây là phần vốn lưu động phản ánh giá trị
các chi phí sản xuất kinh doanh bỏ ra khi sản xuất sản phẩm đã trải qua
những công đoạn sản xuất nhất định nhưng chưa hoàn thành sản phẩm
cuối cùng (thành phẩm).
- Vốn chi phí trả trước: Là các chi phí thực tế đã phát sinh nhưng có tác
dụng cho nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh nên chưa thể tính hết vào
giá thành sản phẩm trong kỳ này mà còn được tính dần vào giá thành
sản phẩm của một số kỳ tiếp theo như: chi phí nghiên cứu thí nghiệm,
cải tiến kỹ thuật, chi phí xây dựng, lắp đặt các công trình tạm thời, chi
phí về ván khuôn, giàn giáo phải lắp dùng trong xây dựng cơ bản…
Loại vốn này được dùng cho quá trình sản xuất, đảm bảo cho quá trình
sản xuất của các bộ phận sản xuất trong dây truyền công nghệ được liên tục,
hợp lý.
(3) Vốn lưu động trong khâu lưu thông
Loại này bao gồm các khoản vốn:
- Vốn thành phẩm: Là giá trị những sản phẩm đã được sản xuất xong, đạt
tiêu chuẩn kỹ thuật và đã được nhập kho.
- Vốn bằng tiền: Bao gồm tiền mặt tại quỹ, tiền gửi ngân hàng và tiền
đang chuyển. Tiền là một loại tài sản của doanh nghiệp mà có thể dễ
dàng chuyển đổi thành các loại tài sản khác hoặc để trả nợ. Do vậy,
trong hoạt động kinh doanh đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có một
lượng tiền nhất định.


12
- Các khoản đầu tư ngắn hạn: Đầu tư chứng khoán ngắn hạn, cho vay
ngắn hạn…Đây là những khoản đầu tư nhằm một mặt đảm bảo khả
năng thanh toán (do tính thanh khoản của các tài sản tài chính ngắn hạn
được đầu tư), mặt khác tận dụng khả năng sinh lời của các tài sản tài
chính ngắn hạn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
- Các khoản vốn trong thanh toán: các khoản phải thu, các khoản tạm
ứng… Chủ yếu trong khoản mục vốn này là các khoản phải thu của
khách hàng, thể hiện số tiền mà khách hàng nợ doanh nghiệp phát sinh
trong quá trình bán hàng hoá, dịch vụ dưới hình thức bán trước, trả sau.
Khoản mục vốn này liên quan chặt chẽ đến chính sách tín dụng thương
mại của doanh nghiệp, một trong những chiến lược quan trọng của
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Ngoài ra, trong một số
trường hợp mua sắm vật tư, hàng hoá doanh nghiệp còn phải ứng trước
tiền cho người cung cấp từ đó hình thành khoản tạm ứng.
Loại vốn này dùng để dự trữ sản phẩm, bảo đảm cho tiêu thụ thường
xuyên, đều đặn theo nhu cầu của khách hàng.
Việc phân loại vốn lưu động theo phương pháp này giúp cho việc xem
xét đánh giá tình hình phân bổ của vốn lưu động trong từng khâu của quá
trình chu chuyển vốn lưu động. Thông qua đó, nhà quản lý sẽ có những biện
pháp thích hợp nhằm tạo ra một kết cấu vốn lưu động hợp lý, tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
1.1.3.3.2. Theo các hình thái biểu hiện
(1) Tiền và các tài sản tương đương tiền
- Vốn bằng tiền
- Các tài sản tương đương tiền: Gồm các khoản đầu tư tài chính ngắn
hạn.


13
Việc tách riêng khoản mục này giúp cho doanh nghiệp dễ dàng theo dõi
khả năng thanh toán nhanh của mình đồng thời có những biện pháp linh hoạt
để vừa đảm bảo khả năng thanh toán vừa nâng cao khả năng sinh lời của vốn
lưu động.
(2) Các khoản phải thu
Nghiên cứu các khoản phải thu giúp doanh nghiệp nắm bắt chặt chẽ và
đưa ra những chính sách tín dụng thương mại hợp lý, đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng, nâng cao doanh số bán cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng
vốn.
(3) Hàng tồn kho
Là các khoản vốn lưu động có hình thái biểu hiện bằng hiện vật cụ thể
bao gồm:
 Vốn nguyên, nhiên vật liệu
- Vốn nguyên vật liệu chính
- Vốn vật liệu phụ
- Vốn nhiên liệu
 Công cụ, dụng cụ trong kho
 Chi phí sản xuất kinh doanh dở dang
 Thành phẩm tồn kho
 Hàng gửi bán
 Hàng mua đang đi trên đường
Đối với các doanh nghiệp sản xuất, hàng tồn kho có vai trò như một tấm
đệm an toàn giữa các giai đoạn khác nhau trong chu kỳ kinh doanh như dự trữ
- sản xuất – lưu thông khi mà giữa các giai đoạn này các hoạt động không


14
phải lúc nào cũng được diễn ra đồng bộ. Hàng tồn kho mang lại cho bộ phận
sản xuất và bộ phận marketing của một doanh nghiệp sự linh hoạt trong hoạt
động sản xuất kinh doanh như lựa chọn thời điểm mua nguyên vật liệu, lập kế
hoạch sản xuất và tiêu thụ. Ngoài ra hàng tồn kho giúp cho doanh nghiệp tự
bảo vệ trước những biến động cũng như sự không chắc chắn về nhu cầu đối
với các sản phẩm của doanh nghiệp.
(4) Tài sản lưu động khác
 Tạm ứng
 Chi phí trả trước
 Chi phí chờ kết chuyển
 Các khoản thể chấp, ký quỹ, ký cược ngắn hạn
1.1.3.3.3. Theo nguồn hình thành của vốn lưu động
Theo cách phân loại này, vốn lưu động được chia làm 2 loại:
(1) Nguồn vốn chủ sở hữu
Là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, doanh nghiệp có
đầy đủ các quyền chiếm hữu, quyền sử dụng, quyền chi phối và định đoạt.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau mà
vốn chủ sở hữu có nội dung cụ thể riêng: Số vốn lưu động được ngân sách
nhà nước cấp hoặc có nguồn gốc từ ngân sách nhà nước (đối với các doanh
nghiệp nhà nước); số vốn do các thành viên (đối với loại hình doanh nghiệp
công ty) hoặc do chủ doanh nghiệp tư nhân bỏ ra; số vốn lưu động tăng thêm
từ lợi nhận bổ sung; số vốn góp từ liên doanh liên kết; số vốn lưu động huy
động được qua phát hành cổ phiếu.
(2) Nợ phải trả


15
- Nguồn vốn đi vay: Là các khoản vốn lưu động được hình thành từ vốn
vay các ngân hàng thương mại hoặc các tổ chức tài chính khác; vốn
thông qua phát hành trái phiếu.
- Nguồn vốn trong thanh toán: Đó là các khoản nợ khách hàng, doanh
nghiệp khác trong quá trình thanh toán.
Việc phân loại này giúp cho ta có thể thấy được kết cấu các nguồn hình
thành nên vốn lưu động của doanh nghiệp. Từ đó, doanh nghiệp có thể chủ
động và đưa ra các biện pháp huy động, quản lý và sử dụng vốn lưu động hiệu
quả hơn.
1.1.3.4. Kết cấu vốn lưu động và các nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu
vốn lưu động
Kết cấu vốn lưu động là quan hệ tỷ lệ giữa các thành phần vốn lưu động
chiếm trong tổng số vốn lưu động tại một thời điểm nhất định.
Việc nghiên cứu kết cấu vốn lưu động sẽ giúp ta thấy được tình hình
phân bổ vốn lưu động và tỷ trọng mỗi khoản vốn trong các giai đoạn luân
chuyển để xác định trọng điểm quản lý vốn lưu động và tìm mọi biện pháp tối
ưu để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu đồng trong từng điều kiện cụ thể.
Ở các doanh nghiệp khác nhau thì kết cấu vốn lưu động cũng không
giống nhau. Thông qua phân tích kết cấu vốn lưu động theo các tiêu thức
phân loại khác nhau sẽ giúp cho doanh nghiệp hiểu rõ hơn những đặc điểm
riêng về số vốn lưu động mà mình đang quản lý và sử dụng. Mặt khác, thông
qua việc thay đổi kết cấu vốn lưu động của doanh nghiệp qua các thời kỳ khác
nhau có thể thấy được những biến đổi tích cực hoặc hạn chế về mặt chất
lượng trong công tác quản lý, sử dụng vốn lưu động của từng doanh nghiệp.
Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến kết cấu của vốn lưu động, tuy nhiên có
thể chia làm 3 nhóm nhân tố chủ yếu sau đây:


16
- Các nhân tố về sản xuất: đặc điểm kỹ thuật, công nghệ sản xuất của
doanh nghiệp; mức độ phức tạp của sản phẩm chế tạo; độ dài của chu
kỳ sản xuất; trình độ tổ chức quá trình sản xuất…
- Các nhân tố về mặt cung tiêu như: Khoảng cách giữa doanh nghiệp với
nơi cung cấp; khả năng cung cấp của thị trường; kỳ hạn giao hàng và
khối lượng vật tư được cung cấp mỗi lần giao hàng; đặc điểm thời vụ
của chủng loại vật tư cung cấp…
- Các nhân tố về mặt thanh toán: Phương thức thanh toán được lựa chọn
theo các hợp đồng bán hàng; thủ tục thanh toán; việc chấp hành kỷ luật
thanh toán…
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Khái niệm
Hiệu quả là một khái niệm luôn được đề cập trong nền kinh tế thị trường:
các doanh nghiệp luôn hướng tới hiệu quả kinh tế; chính phủ nỗ lực đạt hiệu
quả kinh tế-xã hội.
Theo nghĩa chung nhất, hiệu quả là một khái niệm phản ánh trình độ sử
dụng các yếu tố cần thiết để tham gia vào một hoạt động nào đó với những
mục đích xác định do con người đặt ra. Như vậy, có thể hiểu hiệu quả sử
dụng vốn là một phạm trù kinh tế đánh giá trình độ sử dụng các nguồn vật
lực của doanh nghiệp để đạt kết quả cao nhất trong quá trình sản xuất kinh
doanh với tổng chi phí thấp nhất.
Như đã trình bày ở trên, vốn lưu động của doanh nghiệp được sử dụng
cho các quá trình dự trữ, sản xuất và lưu thông. Quá trình vận động của vốn
lưu động bắt đầu từ việc dùng tiền tệ mua sắm vật tư dự trữ cho sản xuất, tiến
hành sản xuất và khi sản xuất xong doanh nghiệp tổ chức tiêu thụ để thu về
một số vốn dưới hình thái tiền tệ ban đầu với giá trị tăng thêm. Mỗi lần vận
động như vậy được gọi là một vòng luân chuyển của vốn lưu động. Doanh


17
nghiệp sử dụng vốn đó càng có hiệu quả bao nhiêu thì càng có thể sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm nhiều bấy nhiêu. Vì lợi ích kinh doanh đòi hỏi các doanh
nghiệp phải sử dụng hợp lý, hiệu quả hơn từng đồng vốn lưu động làm cho
mỗi đồng vốn lưu động hàng năm có thể mua sắm nguyên, nhiên vật liệu
nhiều hơn, sản xuất ra sản phẩm và tiêu thụ được nhiều hơn. Những điều đó
cũng đồng nghĩa với việc doanh nghiệp nâng cao tốc độ luân chuyển vốn lưu
động (số vòng quay vốn lưu động trong một năm).
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta có thể sử dụng
nhiều chỉ tiêu khác nhau nhưng tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu cơ
bản và tổng hợp nhất phản ánh trình độ sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp.
1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.1. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là một chỉ tiêu tổng hợp đánh giá hiệu
quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Tốc độ luân chuyển vốn lưu
động nhanh hay chậm nói lên tình hình tổ chức các mặt: mua sắm, dự trữ sản
xuất, tiêu thụ của doanh nghiệp có hợp lý hay không, các khoản vật tư dự trữ
sử dụng tốt hay không, các khoản phí tổn trong quá trình sản xuất – kinh
doanh cao hay thấp…Thông qua phân tích chỉ tiêu tốc độ luân chuyển vốn lưu
động có thể giúp cho doanh nghiệp đẩy nhanh được tốc độ luân chuyển, nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động.
(1) Vòng quay vốn lưu động trong kỳ (Lkỳ)
L kyø
Trong đó:

M kyø
VLÑBQ kyø


18
 Mkỳ: Tổng mức ln chuyển vốn lưu động trong kỳ. Trong
năm, tổng mức ln chuyển vốn lưu động được xác định bằng
doanh thu thuần của doanh nghiệp.

Ta có:
L kỳ

Doanhthuthuần
Vốn
lưộng
bìnhquân
trongkỳ

Đây là chỉ tiêu nói lên số lần quay (vòng quay) của vốn lưu động trong
một thời kỳ nhất định (thường là một năm), chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử
dụng vốn lưu động trên mối quan hệ so sánh giữa kết quả sản xuất (tổng
doanh thu thuần) và số vốn lưu động bình qn bỏ ra trong kỳ. Số vòng quay
vốn lưu động trong kỳ càng cao thì càng tốt. Trong đó:
- Vốn lưu động bình qn trong kỳ (VLĐBQkỳ) được tính như sau:
VLĐBQ kỳ

VLĐ đầukỳ VLĐ cuốikỳ
2

- Vốn lưu động bình qn năm:
VLĐ đầutháng
VLĐ cuốitháng
1
12
 VLĐ đầutháng

.
.
.

VLĐ

2
đầu
tháng
12
2
2
VLĐBQ năm
12
Để đơn giản trong tính tốn ta sử dụng cơng thức tính VLĐBQ gần đúng:
VLĐBQnăm

VLĐ đầunăm VLĐ cuốinăm
2

(2) Thời gian ln chuyển vốn lưu động (K)
K
Trong đó:

VLĐBQ kỳN kỳ
M kỳ

hay

K

N kỳ
L kỳ


19
 Nkỳ: Số ngày ước tính trong kỳ phân tích (một năm là 360
ngày, một quý là 90 ngày, một tháng là 30 ngày).
Chỉ tiêu này nói lên độ dài bình quân của một lần luân chuyển của vốn
lưu động hay số ngày bình quân cần thiết để vốn lưu động thực hiện một vòng
quay trong kỳ. Ngược với chỉ tiêu số vòng quay vốn lưu động trong kỳ, thời
gian luân chuyển vốn lưu động càng ngắn chứng tỏ vốn lưu động càng được
sử dụng có hiệu quả.
Để đánh giá, so sánh giữa kỳ này với kỳ trước, trong hạch toán nội bộ
của doanh nghiệp còn sử dụng chỉ tiêu tốc độ luân chuyển của các bộ phận
(dự trữ, sản xuất và lưu thông) của vốn lưu động.
 Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong dự trữ
- Vòng quay của vốn lưu động trong dự trữ
L dt 

M dt
VLÑBQ dt

- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong dự trữ
K dt 

VLÑBQ dt 360
M dt

 Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong sản xuất
- Vòng quay của vốn lưu động trong sản xuất
L sx 

M sx
VLÑBQ sx

- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong khâu sản xuất
K sx 

VLÑBQ sx 360
M sx

 Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động trong lưu thông


20
- Vòng quay của vốn lưu động trong lưu thông
L lt 

M lt
VLÑBQ lt

- Thời gian luân chuyển của vốn lưu động trong khâu lưu thông
K lt 

VLÑBQ lt 360
M lt

Trong đó:
 Ldt, Lsx, Llt: Số lần luân chuyển của vốn lưu động trong khâu
dự trữ, sản xuất và lưu thông trong năm.
 Kdt, Ksx, Klt: Số ngày luân chuyển bình quân của vốn lưu động
ở khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông trong năm.
 VLĐBQdt, VLĐBQsx, VLĐBQlt: Vốn lưu động bình quân ở
khâu dự trữ, sản xuất và lưu thông.
 Mdt, Msx, Mlt: Mức luân chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc
độ luân chuyển vốn lưu động trong khâu dự trữ, sản xuất và
lưu thông.
Khi tính hiệu suất luân chuyển của từng bộ phận vốn lưu động cần phải
dựa theo đặc điểm luân chuyển vốn của mỗi khâu để xác định mức luân
chuyển cho từng bộ phận vốn. Ở khâu dự trữ sản xuất, mỗi khi nguyên, vật
liệu được đưa vào sản xuất thì vốn lưu động hoàn thành giai đoạn tuần hoàn
của nó. Vì vậy mức luân chuyển để tính hiệu suất bộ phận vốn ở đây là tổng
số phí tổn tiêu hao về nguyên, vật liệu trong kỳ. Tương tự như vậy, mức luân
chuyển vốn lưu động dùng để tính tốc độ luân chuyển bộ phận vốn lưu động
sản xuất là tồng giá thành sản xuất sản phẩm hoàn thành nhập kho (giá thành
sản xuất sản phẩm), mức luân chuyển của bộ phân vốn lưu động lưu thông là
tổng giá thành tiêu thụ sản phẩm.


21
1.2.2.2. Mức tiết kiệm vốn do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động
Mức tiết kiệm vốn là chỉ tiêu phản ánh số vốn lưu động có thể tiết kiệm
được do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động ở kỳ này so với kỳ trước. Mức
tiết kiệm vốn lưu động do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động được biểu
hiện bằng 2 chỉ tiêu:
(1) Mức tiết kiệm tuyệt đối
Do tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp có thể tiết
kiệm được một số vốn lưu động để sử dụng vào công việc khác. Nói cách
khác: Với mức luân chuyển vốn không thay đổi song do tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động nên doanh nghiệp cần số vốn ít hơn cũng như có thể tiết
kiệm được một lượng vốn lưu động để có thể sử dụng vào việc khác. Lượng
vốn ít hơn đó chính là mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động.
Mức tiết kiệm tuyệt đối vốn lưu động được tính theo công thức:
Vtktñ 

M1
K 1  VLÑBQ0 VLÑBQ1  VLÑBQ 0
360

Trong đó:
 Vtktđ: Số vốn lưu động tiết kiệm tuyệt đối.
 VLĐBQ0, VLĐBQ1: Lần lượt là vốn lưu động bình quân năm báo
cáo và năm kế hoạch.
 M1: Tổng mức luân chuyển vốn lưu động của năm kế hoạch.
 K1: Thời gian luân chuyển vốn lưu động năm kế hoạch.
(2) Mức tiết kiệm tương đối
Thực chất của mức tiết kiệm tương đối là do tăng tốc độ luân chuyển vốn
lưu động nên doanh nghiệp có thể tăng thêm tổng mức luân chuyển vốn lưu


22
động (tạo ra một doanh thu thuần lớn hơn) song khơng cần tăng thêm hoặc
tăng khơng đáng kể quy mơ vốn lưu động.
Mức tiết kiệm tương đối được xác định theo:
Vtktgđ 

M1
 K 1  K 0 
360

Trong đó:
 Vtktgđ: Vốn lưu động tiết kiệm tương đối do tăng vòng quay vốn
lưu động.
 M1: Tổng mức ln chuyển vốn lưu động (doanh thu thuần) năm
kế hoạch.
 K0, K1: Thời gian ln chuyển vốn lưu động năm báo cáo, năm kế
hoạch.
1.2.2.3. Hệ số đảm nhiệm của vốn lưu động
Vốnlưộng
bìnhquân
Hệsố
đảm
nhiệm
vốn
lưộng

Doanhthuthuần
Hệ số đảm nhiệm vốn lưu động phản ánh số vốn lưu động cần có để đạt
được một đồng doanh thu thuần. Hệ số này càng nhỏ phản ánh hiệu quả sử
dụng vốn lưu động của doanh nghiệp càng cao.
1.2.2.4. Hệ số sinh lợi của vốn lưu động
Lợinhuận
trước
thuế
(hoặc
sauthuế
thunhập)
Hệ
số
sinhlợicủa
vốn
lưộng

Vốnlưộng
bìnhquân
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động có thể tạo bao nhiêu đồng
lợi nhuận trước thuế (hoặc lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp). Hệ số
sinh lợi của vốn lưu động càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn lưu
động càng cao.


23
Với việc nghiên cứu về vốn lưu động, hiệu quả sử dụng vốn lưu động và
các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động chúng ta đã thấy được
tầm quan trọng của vốn lưu động trong hoạt động sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Vốn lưu động có mặt trong mọi giai đoạn của chu kỳ kinh
doanh từ khâu dự trữ (vốn lưu động dự trữ), khâu sản xuất (vốn lưu động sản
xuất) đến khâu lưu thông (vốn lưu động lưu thông) và vận động theo những
vòng tuần hoàn. Tốc độ luân chuyển vốn lưu động là chỉ tiêu tổng hợp đánh
giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu
động sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả hơn: có
thể tiết kiệm vốn lưu động, nâng cao mức sinh lợi của vốn lưu động. Rõ ràng,
qua đó chúng ta phần nào nhận thức được sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động.
1.2.3. Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.3.1. Xuất phát từ mục đích kinh doanh của doanh nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp hoạt động với mục tiêu
xuyên suốt là tối đa hoá giá trị doanh nghiệp. Để đảm bảo mục tiêu này,
doanh nghiệp thường xuyên phải đưa ra và giải quyết tập hợp các quyết định
tài chính dài hạn và ngắn hạn. Quản lý và sử dụng hiệu quả vốn lưu động là
một nội dung trọng tâm trong các quyết định tài chính ngắn hạn và là nội
dung có ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu tối đa hoá giá trị doanh nghiệp.
Với bản chất và định hướng mục tiêu như trên, doanh nghiệp luôn luôn
tìm mọi biện pháp để tồn tại và phát triển. Xuất phát từ vai trò to lớn của vốn
lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động đối với mục tiêu tối đa hoá giá trị
doanh nghiệp khiến cho yêu cầu doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn nói chung và vốn lưu động nói riêng là một yêu cầu khách quan,
gắn liền với bản chất của doanh nghiệp.


24
1.2.3.2. Xuất phát từ vai trò quan trọng của vốn lưu động đối với
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Như đã trình bày, một doanh nghiệp, trong nền kinh tế thị trường, muốn
hoạt động kinh doanh thì cần phải có vốn. Vốn lưu động là một thành phần
quan trọng cấu tạo nên vốn của doanh nghiệp, nó xuất hiện và đóng vai trò
quan trọng trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất kinh doanh.
Trong khâu dự trữ và sản xuất, vốn lưu động đảm bảo cho sản xuất của
doanh nghiệp được tiến hành liên tục, đảm bảo quy trình công nghệ, công
đoạn sản xuất. Trong lưu thông, vốn lưu động đảm bảo dự trữ thành phẩm đáp
ứng nhu cầu tiêu thụ được liên tục, nhịp nhàng đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng. Thời gian luân chuyển vốn lưu động ngắn, số vòng luân chuyển
vốn lưu động lớn khiến cho công việc quản lý và sử dụng vốn lưu động luôn
luôn diễn ra thường xuyên, hàng ngày. Với vai trò to lớn như vậy, việc tăng
tốc độ luân chuyển vốn lưu động, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
trong doanh nghiệp là một yêu cầu tất yếu.
1.2.3.3. Xuất phát từ ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn
lưu động
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tức là có thể tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động, rút ngắn thời gian vốn lưu động nằm trong lĩnh vực dự
trữ, sản xuất và lưu thông, từ đó giảm bớt số lượng vốn lưu động chiếm dùng,
tiết kiệm vốn lưu động trong luân chuyển. Thông qua việc tăng tốc độ luân
chuyển vốn lưu động, doanh nghiệp có thể giảm bớt số vốn lưu động chiếm
dùng mà vẫn đảm bảo được nhiệm vụ sản xuất – kinh doanh như cũ hoặc với
quy mô vốn lưu động không đổi doanh nghiệp vẫn có thể mở rộng được quy
mô sản xuất.
Tăng tốc độ luân chuyển vốn lưu động còn có ảnh hưởng tích cực đối với
việc hạ thấp giá thành sản phẩm, tạo điều kiện cho doanh nghiệp có đủ vốn


25
thoả mãn nhu cầu sản xuất và hoàn thành nghĩa vụ nộp các khoản thuế cho
ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế, xã hội trong cả nước.
1.2.3.4. Xuất phát từ thực trạng hiệu quả sử dụng vốn lưu động ở các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường
Trên thực tế, có rất nhiều nguyên nhân kiến một doanh nghiệp làm ăn
thiếu hiệu quả thậm chí thất bại trên thương trường. Có thể có các nguyên
nhân chủ quan, nguyên nhân khách quan, tuy nhiên một nguyên nhân phổ
biến nhất vẫn là việc sử dụng vốn không hiệu quả trong việc mua sắm, dự trữ,
sản xuất và tiêu thụ sản phẩm. Điều này dẫn đến việc sử dụng lãng phí vốn
lưu động, tốc độ luân chuyển vốn lưu động thấp, mức sinh lợi kém và thậm
chí có doanh nghiệp còn gây thất thoát, không kiểm soát được vốn lưu động
dẫn đến mất khả năng tổ chức sản xuất kinh doanh, khả năng thanh toán.
Trong hệ thống các doanh nghiệp Việt Nam, các doanh nghiệp Nhà nước, do
đặc thù chịu ảnh hưởng nặng nề của cơ chế bao cấp trước đây, có kết quả sản
xuất kinh doanh yếu kém mà một nguyên nhân chủ yếu là do sự yếu kém
trong quản lý tài chính nói chung và quản lý vốn lưu động nói riêng gây lãng
phí, thất thoát vốn.
Ở nước ta, để hoàn thành đường lối xây dựng một nền kinh tế thị trường
theo định hướng xã hội chủ nghĩa với thành phần kinh tế quốc doanh giữ vai
trò chủ đạo, yêu cầu phải nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp
nói chung và của các doanh nghiệp nhà nước nói riêng. Xét từ góc độ quản lý
tài chính, yêu cầu cần phải nâng cao năng lực quản lý tài chính trong đó chú
trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là một nội dung quan trọng
không chỉ đảm bảo lợi ích cho riêng doanh nghiệp mà còn có ý nghĩa chung
đối với nền kinh tế quốc dân.
Các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×