Tải bản đầy đủ

Kế toán thanh toán tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng 789

A. MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong nền kinh tế hội nhập hiện nay công tác kế toán đóng vai trò ngày
càng quan trọng tại các doanh nghiệp bởi nó là một công cụ đắc lực phục vụ cho
công tác quản lý tài chính của nhà quản trị. Nhiệm vụ của kế toán là thu thập, xử
lý thông tin, số liệu kế toán, tham mưu đề xuất các giải pháp phục vụ yêu cầu
quản trị và quyết định kinh tế, tài chính của đơn vị kế toán. Vì vậy đòi hỏi kế
toán tại doanh nghiệp cần có những kiến thức chuyên môn sâu rộng, nhạy bén
để có thể đáp ứng được yêu cầu của công việc.
Trong thời kỳ kinh tế phát triển như hiện nay các hoạt động mua bán, trao
đổi hàng hóa, dịch vụ diễn ra dưới các hình thức phong phú, đa dạng. Mối quan
hệ thanh toán giữa doanh nghiệp với người mua, người bán, với ngân sách phản
ánh quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, thường xuyên phát sinh các nghiệp
vụ thanh toán. Cơ chế thị trường đòi hỏi các doanh nghiệp phải có chiến lược
đúng đắn, kinh doanh có lãi để có thể tồn tại và phát triển trong nền kinh tế thị
trường cạnh tranh gay gắt hiện nay. Vì vậy, người quản lý không chỉ quan tâm
đến doanh thu, chi phí, lợi nhuận, mà còn thường xuyên nắm bắt tình hình thanh
toán, tài chính của doanh nghiệp, phản ánh việc làm ăn có hiệu quả hay không
của doanh nghiệp. Một trong những điều quyết định đến sự tồn tại và phát triển
của doanh nghiệp đó là phải tổ chức tốt các nghiệp vụ kế toán về thanh toán,

phân tích tình hình và khả năng thanh toán của doanh nghiệp để từ đó nắm vững
và làm chủ tình hình tài chính của mình, thông qua đó có những biện pháp tích
cực xử lý tình hình công nợ của doanh nghiệp.
Do đó việc xác định thời hạn thanh toán và quá trình thu nợ các khoản
phải thu là hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp. Trước những thay đổi có
thể nói là liên tục phát triển và mở rộng của quan hệ thanh toán với người mua,
người bán và ảnh hưởng của nó tới tình hình tài chính của mỗi doanh nghiệp dẫn
đến yêu cầu nghiệp vụ đối với kế toán thanh toán cũng vì thế mà cao hơn, kế
1


toán không chỉ có nhiệm vụ ghi chép mà còn phải chịu trách nhiệm thu hồi
nhanh các khoản nợ, tìm nguồn huy động vốn để trả nợ, biết lường trước và hạn
chế được rủi ro trong thanh toán.
Công ty cổ phân tư vấn xây dựng 789 là một doanh nghiệp hoạt động
trong lĩnh vực xây dựng, tư vấn xây dựng. Do đó hoạt động thanh toán có ý
nghĩa vô cùng quan trọng trong hoạt động của doanh nghiệp, nó góp phần duy
trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng đó
em đã chọn đề tài: “Kế toán thanh toán tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng
789” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình.
1.2. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
Thanh toán có vai trò quan trọng trong quá trình quản trị doanh nghiệp. Việc
hoàn thiện công tác kế toán thanh toán gắn với việc tăng cường quản lý công nợ là
việc làm thực sự cần thiết, có ý nghĩa. Tại trường Đại học Hùng Vương, có rất nhiều
đề tài nghiên cứu cấp trường của các giảng viên, sinh viên Khoa kinh tế và Quản trị
kinh doanh và khóa luận tốt nghiệp của các sinh viên các khóa đề cập đến vấn đề
này.
Đề tài: “Thực trạng kế toán thanh toán tại công ty TNHH An Thành” – của tác
giả Phạm Thị Khánh Linh. Tác giả đánh giá thực trạng, chỉ ra một số hạn chế như:
Công tác thu hồi nợ còn nhiều hạn chế, kế toán thanh toán chưa thực hiện hết chức
năng nhiệm vụ của mình. Tác giả đã tìm ra nguyên nhân và đưa ra giải pháp như:
Hằng năm tạo điều kiện nâng cao trình độ nhân viên bằng các lớp ngắn hạn, quản lý
chặt chẽ công tác thu hồi nợ,… để hoàn thiện hơn về công tác kế toán của công ty.
Đề tài: “Kế toán thanh toán tại công ty cổ phần LICOGI 14” của tác giả Đỗ
Văn Hiệp. Tác giả đã nêu lên được đặc điểm, nội dung và phương thức thanh toán tại
công ty và chỉ ra một số hạn chế như: Công tác thu hồi nợ phải thu chưa chặt chẽ, số
lượng nợ lớn, việc luân chuyển chứng từ còn chậm,… Đồng thời tác giả cũng đưa ra
những giải pháp như: Quy định rõ ràng về thời gian luân chuyển chứng từ, có biện
pháp nhằm giảm số lượng nợ và đảm bảo việc thu hồi nợ đúng hạn, thực hiện việc
trích lập dự phòng nợ khó đòi đúng quy định, nhằm khắc phục và hoàn thiện hơn


công tác kế toán thanh toán tại đơn vị.
2


Đề tài: “Kế toán thanh toán tại công ty cổ phần may Vĩnh Phú” - của tác giả
Hoàng Thị Hạnh. Tác giả đã nêu lên được nội dung, phản ánh thực trạng về tình hình
thanh toán của công ty, nêu lên được một số ưu điểm như: Sử dụng hình thức thanh
toán đa dạng; chứng từ, sổ sách đầy đủ, kết cấu đơn giản, dễ hiểu,… đông thời chỉ ra
được một số hạn chế như: Chưa sử dụng về chiết khấu thương mại trong thanh toán,
không trích lập dự phòng phải thu khó đòi,…Tác giả đã đưa ra một số giải pháp như:
Đưa chính sách chiết khấu thương mại vào thanh toán, thực hiện trích lập dự phòng
phải thu khó đòi theo đúng quy định,…nhằm phục vụ những thiếu sót ấy.
Trong các đề tài nghiên cứu trên các tác giả đã trình bày được cơ sở lý luận,
thực trạng kế toán thanh toán trong tác đơn vị cụ thể là công ty TNHH An Thành,
công ty cổ phần LICOGI 14, công ty cổ phần may Vĩnh Phú. Từ đó đánh giá những
ưu điểm, nhược điểm và đề xuất các giải pháp khắc phục. Nhận thức được tầm quan
trọng của kế toán thanh toán em đã chọn nghiên cứu đề tài “Kế toán thanh toán tại
công ty cổ phần tư vấn xây dựng 789” với những nội dung: Kế toán thanh toán với
khách hàng, kế toán thanh toán với nhà cung cấp và phân tích tình hình công nợ và
khả năng thanh toán tại công ty.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1. Mục tiêu chung
Phản ánh và đánh giá thực trạng kế toán thanh toán tại công ty cổ phần tư
vấn xây dựng 789, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế
toán thanh toán tại công ty trong thời gian tới.
2.2. Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về kế toán thanh toán tại doanh nghiệp.
- Phản ánh và đánh giá thực trạng công tác kế toán thanh toán tại Công ty
cổ phần tư vấn xây dựng 789.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác kế toán thanh toán
tại Công ty cổ phần tư vấn xây dựng 789.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
3


- Đối tượng nghiên cứu: Kế toán thanh toán tại Công ty cổ phần tư vấn
xây dựng 789.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: Nghiên cứu thực trạng công tác kế toán thanh toán:
+ Kế toán thanh toán với nhà cung cấp
+ Kế toán thanh toán với khách hàng
+ Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán tại công ty
- Về thời gian: Số liệu nghiên cứu được thu thập trong 3 năm từ năm
2015-2017 số liệu tập trung vào năm 2017.
- Về không gian: Công ty cổ phần tư vấn xây dựng 789.
Địa chỉ: Số 21C, Phố Hà Chương, Phường Gia Cẩm, Thành Phố Việt Trì,
Tỉnh Phú Thọ.
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
Hệ thống hóa về kế toán thanh toán trong doanh nghiệp, từ đó vận dụng
vào công tác kế toán thanh toán để phân tích , nghiên cứu mối quan hệ công tác
kế toán thanh toán tại công ty
4.2. Phương pháp thống kê kinh tế
- Phương pháp thống kê thu thập số liệu từ báo cáo của phòng kế toán.
- Phương pháp xử lý số liệu:
+ Số liệu trong các bảng biểu được xử lý bằng các bảng tính excel.
+ Các thông tin định lượng được xử lý theo phương pháp toán học.
+ Các thông tin định tính được xử lý theo phương pháp lôgic.
- Phương pháp so sánh: Phương pháp này sử dụng lý luận, các kiến thức
đã học và dẫn chứng cụ thể để phân tích sự biến động của các chỉ tiêu liên quan.
Tiến hành so sánh các chỉ tiêu có liên quan của các kỳ với nhau qua đó rút ra
những nhận xét về những nhân tố làm hạn chế hoặc thúc đẩy hoạt động của công
tác kế toán tiền lương và các khoản trích theo lương tại công ty.
4.3. Phương pháp chuyên gia
4


Đây là phương pháp tham khảo ý kiến của các chuyên gia, những người
có kinh nghiệm về lĩnh vực nghiên cứu như Giám đốc, các kế toán của Công ty
và tham khảo các tài liệu có liên quan.
4.4. Phương pháp kế toán
a. Phương pháp chứng từ kế toán
Phương pháp chứng từ kế toán là phương pháp kế toán được sử dụng để
phản ánh các hoạt động (nghiệp vụ) kinh tế tài chính phát sinh và thực sự hoàn
thành theo thời gian, địa điểm phát sinh hoạt động đó vào bản chứng từ kế toán,
phục vụ cho công tác kế toán, công tác quản lý.
b. Phương pháp tài khoản kế toán
Phương pháp tài khoản kế toán là phương pháp kế toán được sử dụng để
phân loại đối tượng kế toán (từ đối tượng chung của kế toán thành đối tượng cụ
thể); ghi chép, phản ánh, kiểm tra một cách thường xuyên, liên tục có hệ thống
tình hình hiện có và sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể nhằm cung
cấp thông tin có sự vận động của từng đối tượng kế toán cụ thể nhằm cung cấp
thông tin có hệ thống về các hoạt động kinh tế, tài chính ở các đơn vị, phục vụ
cho lãnh đạo, quản lý kinh tế, tài chính ở đơn vị và để lập báo cáo kế toán định
kỳ.
c. Phương pháp tính giá
Phương pháp tính giá là phương pháp kế toán sử dụng thước đo tiền tệ để
xác định trị giá thực tế của tài sản theo những nguyên tắc nhất định.
d. Phương pháp tổng hợp cân đối kế toán
Phương pháp tổng hợp - cân đối kế toán là ph ương pháp k ế toán đ ược
sử dụng để tổng hợp từ các sổ kế toán theo mối quan hệ cân đối v ốn có
của đối tượng kế toán nhằm cung cấp các chỉ tiêu kinh tế tài chính cho các
đối tượng sử dụng thông tin kế toán phục vụ công tác quản lý.
Phương pháp tổng hợp - cân đối được biểu hiện thông qua hệ thống
các báo cáo kế toán.
5


5. Kết cấu của bài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung nghiên cứu gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về kế toán thanh toán tại doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác kế toán thanh toán tại công ty cổ phần tư
vấn xây dựng 789.
Chương 3: Một số giải pháp hoàn thiện công tác kế toán thanh toán tại
công ty cổ phần tư vấn xây dựng 789.

6


B. NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN THANH TOÁN
TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. Một số vấn đề chung về thanh toán và kế toán thanh toán trong doanh
nghiệp
1.1.1. Khái niệm
Thanh toán là thuật ngữ ngắn gọn mô tả việc chuyển giao tài sản từ một bên
(người hoặc tổ chức, công ty) sang một bên khác, thường được sử dụng khi trao
đổi sản phẩm hoặc dịch vụ trong một giao dịch có rằng buộc về pháp lý[1, 35].
Trong các doanh nghiệp nghiệp vụ thanh toán là quan hệ giữa doanh nghiệp
với các đối tác như nhà cung cấp, khách hàng, nhà nước, nhân viên, các tổ chức
phát sinh các khoản phải thu và các khoản phải trả trong quá trình hoạt động sản
xuất kinh doanh. Quan hệ thanh toán chỉ thực sự tồn tại khi có sự cam kết, thỏa
thuận giữa chủ nợ và người đi vay về một khoản vay nợ theo đúng quy định của
pháp luật được thông qua các hóa đơn, chứng từ, sổ sách hợp pháp, hợp lệ[1,
35].
1.1.2. Vai trò của kế toán thanh toán trong doanh nghiệp
Đối với các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp cần nhiều vốn như doanh
nghiệp xây dựng thì mối quan hệ thanh toán giữa người mua với người bán giữ
một vị trí vô cùng quan trọng. Thông tin về quan hệ thanh toán với người mua,
người bán có ý nghĩa trong việc quản lý công tác tài chính cũng như trong việc
luân chuyển vốn kinh doanh của công ty. Doanh nghiệp muốn hoạt động ổn định
và an toàn thì việc điều tiết quan hệ thanh toán với người mua, người bán là rất
quan trọng. Mối quan hệ này được điều tiết trên cơ sở cân bằng giữa vốn chiếm
7


dụng và vốn bị chiếm dụng làm sao vừa đảm bảo khả năng thanh toán của công
ty vừa sử dụng tiết kiệm và hiệu quả nhất đối với nguồn vốn bỏ ra, tận dụng
được nguồn vốn chiếm dụng được của nhà cung cấp.
Quan hệ thanh toán với người bán thực chất là việc doanh nghiệp chiếm
dụng vốn của nhà cung cấp nhưng vẫn phải đảm bảo uy tín của công ty trong
việc thanh toán nợ. Tạo uy tín đối với nhà cung cấp giúp công ty có được hàng
hoá đầu vào với chất lượng tốt, giá cả ổn định nhất là trong tình hình giá cả leo
thang như hiện nay. Hàng hoá đầu vào đảm bảo và ổn định sẽ tạo được lợi thế
cạnh tranh cho doanh nghiệp.
Trong quan hệ thanh toán với người mua doanh nghiệp phải đảm bảo làm
sao giữ được khách hàng nhưng cũng đồng thời tránh để cho khách hàng chiếm
dụng vốn không đảm bảo nguồn vốn quay vòng trong kinh doanh, giảm hiệu quả
sử dụng vốn.
Quan hệ thanh toán với nhà nước là việc mà các doanh nghiệp phải thực
hiện nghĩa vụ của mình với Ngân sách nhà nước về thuế như: thuế GTGT, thuế
TNDN, thuế môn bài, phí, lệ phí,… Qua việc thực hiện nghĩa vụ với Ngân sách
nhà nước sẽ biết được tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay
không.
Nhìn chung quan hệ thanh toán với người mua và người bán có ảnh
hưởng trọng yếu đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. Quản lý tốt quan hệ
thanh toán này sẽ giúp doanh nghiệp đảm bảo tình hình tài chính của doanh
nghiệp luôn ổn định và lành mạnh.
1.1.3. Đặc điểm của hoạt động thanh toán
- Trong các nghiệp vụ thanh toán doanh nghiệp vừa có thể là chủ nợ, vừa
có thể là chủ thể chịu nợ.
- Các nghiệp vụ thanh toán có liên quan đến nhiều đối tượng khác nhau
yêu cầu phải theo dõi chi tiết theo từng đối tượng thanh toán.
- Các nghiệp vụ thanh toán diễn ra một cách thường xuyên, liên tục trong
suốt quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Vì vậy doanh nghiệp cần
có những chính sách, chế độ quản lý chặt chẽ.
8


- Các nghiệp vụ thanh toán phát sinh ở cả quá trình mua vật tư, hàng hoá
đầu vào và quá trình tiêu thụ. Đối với doanh nghiệp kinh doanh thương mại thì
nó tham gia vào toàn bộ quá trình kinh doanh (mua hàng và bán hàng).
- Việc thanh toán ảnh hưởng lớn tới tình hình tài chính của doanh nghiệp
nên thường có các quy định rất chặt chẽ trong thanh toán. Vì vậy cần có sự giám
sát, quản lý thường xuyên để các quy tắc được tôn trọng.
1.1.4. Phân loại hoạt động thanh toán trong doanh nghiệp
a. Phân loại theo đối tượng thanh toán
- Thanh toán với nhà cung cấp: Đây là mối quan hệ phát sinh trong quá
trình mua sắm vật tư, tài sản, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ. Thuộc nhóm này bao
gồm các khoản thanh toán với người bán vật tư, hàng hóa, thanh toán với người
nhận thầu XDCB, nhận thầu sửa chữa lớn…
- Thanh toán với khách hàng: phát sinh trong quá trình tiêu thụ sản phẩm,
hàng hoá, lao vụ, dịch vụ ra bên ngoài. Khi khách hàng chấp nhận mua, chấp
nhận thanh toán khối lượng hàng hoá mà doanh nghiệp chuyển giao hoặc doanh
nghiệp đặt trước tiền hàng cho doanh nghiệp sẽ phát sinh quan hệ thanh toán với
người đặt hàng.
- Thanh toán với nhà nước: Doanh nghiệp phải thực hiện nghĩa vụ của
mình với ngân sách nhà nước về thuế và các khoản khác. Các khoản thanh toán
này có thể khác nhau đối với từng doanh nghiệp, tuy nhiên thông thường, các
khoản thuế phải nộp như thuế giá trị gia tăng (GTGT), thuế môn bài, thuế thu
nhập doanh nghiệp, các phí và lệ phí.
- Thanh toán nội bộ: Là quan hệ phát sinh trong nội bộ doanh nghiệp, gồm
thanh toán giữa doanh nghiệp với cán bộ công nhân viên, giữa doanh nghiệp với
các đơn vị trực thuộc về các khoản phân phối vốn, thu hộ, chi hộ lẫn nhau, mua
bán nội bộ.
- Các quan hệ thanh toán khác: Như quan hệ thanh toán với ngân hàng, các
tổ chức tài chính về các khoản tiền vay, quan hệ về thế chấp, ký cước, ký quỹ…
b. Phân loại theo công cụ thanh toán

9


- Thanh toán dùng tiền mặt: Thường áp dụng khi khối lượng thanh toán nhỏ
như thanh toán lương, mua các mặt hàng có giá trị nhỏ. Hình thức thanh toán
này gồm:
+ Thanh toán bằng tiền mặt VND
+ Thanh toán bằng tiền mặt ngoại tệ
+ Thanh toán bằng hối phiếu ngân hàng
+ Thanh toán bằng vàng, bạc hay đá quý
Tiền là phương tiện thực hiện trao đổi hàng hóa, đồng thời là việc kết thúc
quá trình trao đổi, lúc này tiền thực hiện chức năng phương tiện thanh toán. Sự
vận động của tiền tệ có thể tách rời hay độc lập tương đối với sự vận động của
hàng hoá. Tuy nhiên, hình thức này không được an toàn nên các doanh nghiệp
đang cố gắng hạn chế tối đa sử dụng hình thức này.
- Thanh toán không dùng tiền mặt: Hình thức thanh toán không dùng tiền mặt là
xu hướng trong thanh toán hiện nay cùng với sự phát triển của khoa học công
nghệ đang ngày càng phát triển. Hình thức thanh toán này có nhiều ưu điểm so
với việc dùng tiền mặt.
Thanh toán không dùng tiền mặt là các quá trình tiền tệ thực hiện chức năng
phương tiện lưu thông và phương tiện thanh toán không trực tiếp bằng tiền mặt mà
thực hiện bằng cách trích chuyển trên các tài khoản ở Ngân hàng, tổ chức tín dụng
hoặc bù trừ lẫn nhau giữa những người phải thanh toán và những người thụ hưởng.
Thanh toán không dùng tiền mặt chỉ được phát triển và hoàn thiện trong nền
kinh tế thị trường và được áp dụng rộng rãi trong lĩnh vực kinh tế tài chính đối nội
cũng như đối ngoại. Sự phát triển rộng khắp của thanh toán không dùng tiền mặt
hiện nay là do yêu cầu phát triển vượt bậc của nền kinh tế hàng hoá. Kinh tế hàng
hoá phát triển càng cao, khối lượng hàng hoá trao đổi trong và ngoài nước càng lớn
thì cần có những cách thức trả tiền thuận tiện, an toàn và tiết kiệm.
Các hình thức cụ thể của thanh toán không dùng tiền mặt:
+ Ủy nhiệm chi: là một hình thức thanh toán khá phổ biến trong môi
trường kinh tế các nước khi bắt đầu chuyển sang kinh tế thị trường. Việc chuyển
nợ có uỷ quyền như các doanh nghiệp nhờ Ngân hàng trả lương vào tài khoản
10


của công nhân, việc nộp các loại phí bảo hiểm… cũng là một dịch vụ thanh toán
mới tương tự như ủy nhiệm nhưng hình thức luân chuyển thông tin có thể là đĩa
hoặc băng từ hay qua mạng viễn thông.
+ Ủy nhiệm thu: ủy nhiệm thu do người thụ hưởng lập gửi vào Ngân hàng
phục vụ mình để thu tiền hàng đã giao hay dịch vụ đã cung ứng, thông thường là
các dịch vụ điện, nước, điện thoại. Các loại séc chuyển khoản, bảo chi, định
mức, chuyển tiền do người mua phát hành để trả tiền hàng hoá, dịch vụ.
+ Ngân phiếu thanh toán: Thực chất là một lệnh trả tiền đặc biệt của chủ
sở hữu nào đó, việc trả tiền thực hiện theo đúng chứng từ thanh toán. Là một
loại chứng từ thanh toán do ngân hàng phát hành cho một số khách hàng có tiền
gửi tại ngân hàng của mình. Khi có nhu cầu sử dụng, người chủ ngân phiếu sẽ
ghi rõ người nhận và số tiền được nhận lên tấm ngân phiếu đó, người nhận chỉ
cần đem tấm séc đó đến ngân hàng trong thời gian nhất định sẽ lĩnh được tiền.
+ Thư tín dụng (thanh toán thông qua L/C): đối với thanh toán trong nước
được sử dụng ít, chủ yếu được sử dụng trong việc thực hiện các nghiệp vụ kinh
doanh xuất nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ. Theo hình thức này, người mua hàng
phải mở một tài khoản tại ngân hàng để đảm bảo thanh toán cho phía đối tác, khi
bên mua nhận được hàng đúng theo số lượng và chất lượng theo đúng theo hợp
đồng thì ngân hàng sẽ có nghĩa vụ chuyển số tiền trong tài khoản mới được ở
vào tài khoản của người bán tại một ngân hàng đã được xác định trước. Hình
thức này là hình thức thanh toán phổ biến trong thanh toán quốc tế, khi mà các
bên tham gia không hiểu rõ về nhau, hình thức này đảm bảo các nghĩa vụ của
các bên tham gia nhờ có ngân hàng làm trung gian.
+ Thanh toán bằng thẻ tín dụng: Thẻ thanh toán do ngân hàng phát hành
bán cho khách hàng sử dụng để trả tiền hàng hoá, dịch vụ, các khoản thanh toán
khác, rút tiền mặt tại các ngân hàng đại lý thanh toán hay các quầy rút tiền tự
động. Hình thức này mới xuất hiện ở nước ta nên vẫn còn chưa phổ biến rộng rãi.
Việc áp dụng hình thức thanh toán nào cho phù hợp là tùy thuộc vào điều
kiện và hoàn cảnh của từng doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng có thể kết hợp nhiều
phương thức thanh toán khác nhau để tạo thuận lợi cho việc lưu thông hàng hóa.
11


c. Phân loại theo thời hạn thanh toán
- Thanh toán trước: Là hình thức mà người mua sẽ trả tiền trước cho người
bán một thời gian để đảm bảo việc mua hàng. Người bán sẽ có thuận lợi là chắc
chắn bán được hàng và thu được tiền, còn người mua sẽ thiệt thòi hơn khi phải trả
tiền mà chưa nhận được hàng nhưng bù lại họ nhận được một giá thấp hơn những
người mua khác. Trường hợp này cũng được áp dụng khi nguồn hàng là khan
hiếm, để dành được quyền mua người mua sẽ phải trả trước số tiền hàng.
- Thanh toán ngay: Ngay khi bên bán giao hàng cho bên mua thì bên mua
có nghĩa vụ thanh toán tiền hàng cho bên bán. Hình thức này được áp dụng khi
các đối tác chưa tin tưởng vào nhau, hay khi mua những mặt hàng có số lượng
nhỏ, người mua sẽ trả tiền ngay.
- Thanh toán sau: Tức người mua sau khi đã nhận hàng đầy đủ, một thời
gian sau, theo thỏa thuận mới chuyển trả số tiền hàng cho bên bán. Hình thức
này áp dụng khi các bên tham gia đã là đối tác quen thuộc của nhau. Việc thanh
toán sau sẽ làm cho người bán bị chiếm dụng vốn, nhưng bù lại họ có thể bán
được nhiều hàng hóa hơn và có thể thu được một khoản chi phí tài chính qua giá
bán sản phẩm.
1.2. Một số vấn đề về kế toán thanh toán tại doanh nghiệp.
1.2.1. Khái niệm kế toán thanh toán
Kế toán thanh toán là việc lập và luân chuyển chứng từ kế toán, xây dựng
hệ thống sổ sách kế toán, phản ánh nghiệp vụ kinh tế phát sinh vào hệ thống sổ
kế toán chi tiết, sổ tổng hợp để hỗ trợ cho việc theo dõi tình hình phát sinh các
nghiệp vụ thanh toán, định kì lập báo cáo theo quy định.
1.2.2. Vai trò, nhiệm vụ cuả kế toán thanh toán
a. Vai trò của kế toán thanh toán
Kế toán thanh toán là một phần hành kế toán khá quan trọng trong toàn bộ
công tác kế toán của một doanh nghiệp, liên quan đến các khoản nợ phải thu và
các khoản nợ phải trả. Việc quản lý công nợ tốt không chỉ là yêu cầu mà còn là
vấn đề cần thiết ảnh hưởng đến sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp.
Tùy vào đặc điểm, loại hình sản xuất kinh doanh, quy mô, ngành nghề kinh
doanh, trìnhđộ quản lý trong doanh nghiệp và trình độ đội ngũ kế toán để tổ
12


chức bộ máy kế toán cho phù hợp. Tổ chức công tác kế toán thanh toán góp
phần rất lớn trong việc lành mạnh hóa tình hình tài chính của doanh nghiệp.
b. Nhiệm vụ của kế toán thanh toán
Để có được những thông tin chính xác kịp thời tình hình thanh toán với
người mua người bán trong doanh nghiệp thì kế toán đóng vai trò rất quan trọng.
Để làm tốt chức năng thông tin và kiểm tra của mình kế toán thực hiện các
nhiệm vụ sau:
Kế toán phải tổ chức ghi chép nhằm theo dõi chặt chẽ các khoản phải thu,
phải trả chi tiết theo từng đối tượng, từng khoản nợ, từng thời gian, đôn đốc việc
thanh toán kịp thời, tránh bị chiếm dụng vốn.
Đối với những khách nợ có quan hệ mua bán thường xuyên hoặc có số dư
nợ lớn thì định kỳ hoặc cuối niên độ kế toán, kế toán cần tiến hành kiểm tra, đối
chiếu từng khoản nợ phát sinh, số đã thanh toán và số còn nợ. Nếu cần có thể
yêu cầu khách hàng xác nhận nợ bằng văn bản.
Giám sát việc thực hiện chế độ thanh toán công nợ và tình hình chấp hành
kỷ luật thanh toán.
Tổng hợp cung cấp thông tin kịp thời về tình hình công nợ từng loại cho
quản lý đê có biện pháp xử lý.
Kế toán cần tổ chức hệ thống tài khoản, hệ thống sổ kế toán chi tiết, sổ
tổng hợp để phản ánh công nợ phải thu và phải trả. Đồng thời kế toán cũng xây
dựng các nguyên tắc, quy trình kế toán chi tiết, kế toán tổng hợp thanh toán với
người bán, người mua sao cho khoa học hợp lý phù hợp với đặc điểm của doanh
nghiệp mà vẫn đảm bảo tuân thủ quy định và chế độ.
1.2.3. Yêu cầu quản lý và nguyên tắc hạch toán các nghiệp vụ thanh toán
* Yêu cầu quản lý đối với các nghiệp vụ thanh toán
+ Đối với nghiệp vụ thanh toán các khoản phải thu:
- Nợ phải thu được hạch toán chi tiết theo từng đối tượng phải thu, theo
từng nội dung phải thu và ghi chép theo từng lần thanh toán. Đối tượng phải thu
là các khách hàng có quan hệ thanh toán với doanh nghiệp về sản phẩm, hàng
hóa, nhận cung cấp dịch vụ.
13


- Không phản ánh các nghiệp vụ bán sản phẩm, hàng hóa, cung cấp dịch vụ
thu tiền ngay (tiền mặt, sec, hoặc đã thu qua ngân hàng).
- Hạch toán chi tiết, kế toán phải tiến hành phân loại các khoản nợ: nợ
trong hạn, nợ quá hạn, nợ khó đòi hoặc nợ không có khả năng thu hồi để có căn
cứ xác định số trích lập dự phòng phải thu khó đòi hoặc có biện pháp xử lý đối
với khoản nợ phải thu khôn đòi được.
+ Đối với nghiệp vụ thanh toán các khoản phải trả:
- Nợ phải trả cho người bán, người cung cấp dịch vụ cần được hạch toán
chi tiết từng đối tượng phải trả. Đối tượng phải trả người bán, người cung cấp,
có quan hệ kinh tế chủ yếu đối với doanh nghiệp về bán hàng hóa, cung cấp dịch
vụ. Trong chi tiết từng đối tượng phải trả, tài khoản này phản ánh cả số tiền ứng
trước cho người bán, người cung cấp nhưng chưa nhận hàng hóa, lao vụ...ngay
(tiền mặt, sec).
* Nguyên tắc hạch toán nghiệp vụ thanh toán
Để có thể theo dõi, phản ánh một các chính xác, kịp thời các nghiệp vụ về
thanh toán phát sinh, kế toán cần phải tuân thủ các nguyên tắc như sau:
- Các khoản nợ phải thu, phải trả cần được theo dõi chi tiết theo từng đối
tượng và phải thường xuyên tiến hành đối chiếu, kiểm tra, đôn đốc để việc thanh
toán được đúng hạn. Mỗi khoản công nợ phải được theo dõi trên một sổ hoặc
trang sổ riêng. Căn cứ để mở sổ là số lượng chủ nợ, khách nợ và mức độ giao
dịch thường xuyên. Riêng đối với các đối tác có quan hệ thường xuyên, giá trị
giao dịch lớn, thì định kỳ, kế toán cần kiểm tra, đối chiếu từng khoản nợ phát
sinh, số đã thanh toán và số dư nợ cuối kỳ, việc đối chiếu này được lập thành
văn bản để làm căn cứ điều tra.
- Đối với các khoản phải thu, phải trả có gốc là ngoại tệ cần theo dõi cả về
nguyên tệ và quy đổi về đồng Việt nam để ghi sổ kế toán, cuối kỳ phải điều
chỉnh số dư theo tỷ giá thực tế.
- Đối với các khoản phải thu, phải trả bằng vàng, tiền tệ cần theo dõi chi
tiết cả chỉ tiêu giá trị và hiện vật, cuối kỳ phải điều chỉnh số dư theo tỷ giá thực

14


tế. Khoản chênh lệch nếu có được phản ánh vào tài khoản doanh thu hoặc chi
phí tài chính
- Cần phân loại các khoản nợ phải thu, phải trả theo thời gian thanh toán và
theo từng đối tượng để có kế hoạch và biện pháp thanh toán phù hợp.
- Tuyệt đối không bù trừ số dư giữa hai bên Nợ, Có của một số tài khoản
thanh toán như TK 131, TK 331. Mà phải căn cứ vào số dư chi tiết từng bên để
lấy số liệu ghi vào các chỉ tiêu trên bảng cân đối kế toán.
1.2.4. Phương pháp hạch toán các nghiệp vụ thanh toán với khách hàng và
nhà cung cấp trong doanh nghiệp
a. Kế toán thanh toán với khách hàng
* Nội dung hạch toán
Các khoản phải thu của khách hàng là khoản nợ phải thu của công ty với
khách hàng về giá trị hàng hóa đã bán, lao vụ, dịch vụ đã cung cấp nhưng chưa
thu tiền.
Quan hệ thanh toán với khách hàng nảy sinh khi doanh nghiệp bán vật tư,
hàng hoá, tài sản, dịch vụ của mình theo phương thức trả trước. Thông thường
việc bán hàng theo phương thức nêu trên chỉ xảy ra trong các nghiệp vụ bán
buôn hàng hoá hoặc bán hàng của các đại lý của doanh nghiệp.
Các nghiệp vụ thanh toán với khách hàng phát sinh khi doanh nghiệp bán
sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ theo phương thức bán chịu hoặc trong trường hợp
người mua trả trước tiền hàng.
- Không theo dõi khoản tiền bán hàng đã thu trực tiếp tại thời điểm xảy ra
nghiệp vụ bán hàng.
- Phản ánh số tiền doanh nghiệp chấp nhận giảm giá, bớt giá, chiết khấu
cho khách hàng hoặc số phải trả khách hàng khi khách hàng trả lại hàng mua.
- Phản ánh tổng số phải thu của khách hàng (bao gồm số nợ gốc và lãi trả
chậm phải thu) đối với trường hợp bán trả góp.
- Phản ánh số nợ phải thu hoặc số tiền ứng trước phải trả của tất cả các
khách hàng có quan hệ kinh tế chủ yếu với doanh nghiệp về mua sản phẩm,
hàng hoá, dịch vụ và tài sản bán thanh lý khác.
15


* Chứng từ sử dụng
- Hợp đồng kinh tế
- Hóa đơn bán hàng (Mẫu số 02-GTTT-3LL)
- Hóa đơn GTGT do doanh nghiệp lập;
- Giấy nhận nợ hoặc lệnh phiếu do khách hàng lập;
- Biên bản đối chiếu công nợ;
- Biên bản bù trừ công nợ;
- Chứng từ thu tiền: Phiếu thu (Mẫu số: 01-TT), Giấy báo có…
* Tài khoản sử dụng
 Trường hợp khách hàng thanh toán ngay, kế toán không hạch toán
thông qua tài khoản 131 – Phải thu của khách hàng mà hạch toán trực tiếp vào
tài khoản 111 nếu thanh toán bằng tiền mặt hoặc tài khoản 112 nếu thanh toán
bằng tiền gửi ngân hàng.
 Trường hợp khách hàng trả trước hoặc trả sau kế toán sử dụngTK 131Phải thu của khách hàng. Tài khoản này dùng để phản ánh:
- Các khoản nợ phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của
doanh nghiệp với khách hàng về tiền bán sản phẩm, hàng hóa, bất động sản đầu
tư, TSCĐ, cung cấp dịch vụ.
- Các khoản phải thu và tình hình thanh toán các khoản nợ phải thu của
người nhận thầu XDCB với người giao thầu về khối lượng công tác XDCB đã
hoàn thành.
Tài khoản được theo dõi chi tiết theo từng đối tượng khách hàng cụ thể
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản liên quan như: TK 511, TK
515, TK 711, TK 3331, TK 642, TK 229…
* Phương pháp hạch toán
Trường hợp khách hàng thanh toán trả ngay bằng tiền mặt hoặc TGNH.
Kế toán hạch toán trực tiếp ghi tăng tài khoản vốn bằng tiền (TK 111, 112) đồng
thời ghi vào các khoản liên quan như tài khoản doanh thu TK 511, TK 515,
TK711, thuế GTGT đầu ra TK 3331…

16


Trường hợp khách hàng trả trước hoặc trả sau kế toán hạch toán vào TK
TK 131- Phải thu của khách hàng theo sơ đồ sau:

17


TK 131- Phải thu của khách hàng
TK 511, 515

TK 635
(1)

(5)

TK 511
(6)

TK 3331

TK 333(3331)

TK 111, 112, 113
(7)

TK 711

TK 331
(8)

(2)

TK 229, 642

TK 111, 112
(3)

(9)

TK 413

(10)

(4)

TK 413

Sơ đồ 1.1: Sơ đồ hạch toán TK 131 phải thu của khách hàng
18


Giải thích sơ đồ:
(1) Doanh thu của khối lượng xây lắp hoàn thành bàn giao trong kỳ, hàng
hóa xuất bán, dịch vụ đã cung cấp được xác định là tiêu thụ.
(2) Thu nhập khác, số tiền do nhượng bán, thanh lý TSCĐ chưa thu được
(3) Các khoản chi hộ khách hàng.
(4) Chênh lệch tỷ giá tăng khi cuối kỳ đánh giá các khoản thu của khách
hàng bằng ngoại tệ.
(5) Khoản chiết khấu thanh toán phải trả cho người mua.
(6) Khối lượng hàng hóa được chiết khấu thương mại, hoặc số hàng được
giảm giá, bị khách hàng trả lại do số hàng không phù hợp với quy cách.
(7) Khách hàng ứng trước tiền hàng hoặc khách hàng thanh toán tiền.
(8) Bù trừ nợ phải trả người bán nếu khách hàng đồng thời là người bán.
(9) Nếu có khoản Nợ phải thu khó đòi thực sự không thể đòi được, phải
xử lý xóa sổ.
(10) Chênh lệch tỷ giá giảm khi cuối kỳ đánh giá các khoản thu của khách
hàng bằng ngoại tệ.
b. Kế toán thanh toán với nhà cung cấp
* Nội dung hạch toán
Khoản phải trả cho người bán là nghĩa vụ hiện tại của doanh nghiệp phát
sinh từ các giao dịch mua chịu về vật tư, thiết bị, dịch vụ... của nhà cung cấp mà
doanh nghiệp phải thanh toán từ các nguồn lực của mình. Số tiền ghi nhận nợ
nhà cung cấp thông qua các giao dịch phải xác định một cách đáng tin cậy và sẽ
được doanh nghiệp thanh toán bằng tiền, tài sản tiền.
Nghiệp vụ thanh toán với người bán thường xảy ra trong quan hệ mua bán
vật tư, hàng hoá, dịch vụ giữa doanh nghiệp với người bán, nghiệp vụ này phát
sinh khi doanh nghiệp mua hàng theo phương thức thanh toán trả chậm hoặc trả
trước tiền hàng, nghĩa là có quan hệ nợ nần giữa doanh nghiệp và người bán.
Khi doanh nghiệp mua chịu thì sẽ phát sinh nợ phải trả, khi doanh nghiệp ứng
trước sẽ xuất hiện một khoản phải thu của người bán.
19


- Phản ánh các khoản phải trả phát sinh sau khi mua hàng và phải thu do
ứng trước tiền mua hàng với từng nhà cung cấp.
- Tài khoản 331 không theo dõi các nghiệp vụ mua hàng trả tiền ngay trực
tiếp tại thời điểm giao hàng.
- Khi mua hàng đã nhập, đã nhận hàng nhưng cuối kỳ chưa nhận được
chứng từ mua hàng thì số nợ tạm ghi theo giá tạm tính của hàng nhận. Khi nhận
được chứng từ sẽ điều chỉnh theo giá thực tế thoả thuận.
- Phản ánh các nghiệp vụ chiết khấu, giảm giá phát sinh được người bán
chấp thuận làm thay đổi số nợ sẽ thanh toán.
* Chứng từ sử dụng
- Hợp đồng mua bán hàng hóa.
- Hóa đơn GTGT do người bán lập;
- Biên bản kiểm nghiệm vật tư, sản phẩm, hàng hóa;
- Phiếu nhập kho; Biên bản giao nhận TSCĐ…
- Biên bản đối chiếu công nợ.
- Biên bản bù trừ công nợ.
- Các chứng từ thanh toán tiền hàng mua: Phiếu chi; Giấy báo Nợ, ủy
nhiệm chi…
* Tài khoản sử dụng
 Trường hợp mua hàng trả tiền ngay cho người bán không hạch toán
thông qua tài khoản 331– Phải trả người bán mà hạch toán trực tiếp qua tài
khoản 111 nếu trả bằng tiền mặt hoặc TK 112 nếu trả bằng TGNH.
Tài khoản 111, 112 thanh toán với khách hàng phản ánh các khoản công
ty mua hàng trả ngay cho người bán.
 Trường hợp trả trước hoặc trả sau, kế toán sử dụng TK 331- Phải trả người bán
Tài khoản này dùng để phản ánh:
+ Tình hình thanh toán các khoản nợ phải trả của doanh nghiệp cho người
bán vật tư, HHDV, người cung cấp theo hợp đồng kinh tế đã ký kết.
+ Tình hình thanh toán về các khoản nợ phải trả cho người nhận thầu xây
lắp chính, phụ tài khoản được theo dõi cho từng đối tượng phải trả.
20


Tài khoản 331– Phải trả người bán được chi tiết cho từng đối tượng người
bán.
Ngoài ra kế toán còn sử dụng các tài khoản khác liên quan như: TK 111,
TK 112, TK 152, TK 153, TK 211, TK 611…
c. Phương pháp hạch toán
Trường hợp trả ngay cho người bán bằng tiền mặt hoặc TGNH. Kế toán
hạch toán trực tiếp ghi giảm tài khoản vốn bằng tiền (TK 111, 112) và ghi tăng
các tài khoản khác liên quan (TK 152, 153, 211,133…)
Trường hợp trả trước hoặc trả sau kế toán hạch toán vào TK 331 – Phải trả
cho người bán.

21


TK 152, 153,154,
156, 611

TK 331 – Phải trả người bán

TK111,112,311
(1)

(6)

TK 133

TK 511
(2)

TK 211, 213

TK 152, 153,,156,
211,611 1

(7)
(3)
TK 241
(8)

TK 133

TK 133

TK 242, 642
TK 131

(9)
(4)
TK 121
(10)

TK 413

TK 413
(5)

(11)

Sơ đồ 1.2: Hạch toán kế toán với người bán

22


Giải thích sơ đồ:
(1) Khi doanh nghiệp thanh toán tiền cho người bán.
(2) Chiết khấu thanh toán do mua vật tư, HH, TSCĐ trả tiền trước hạn.
(3) Khi doanh nghiệp phát hiện vật tư, HH không đúng quy cách, chất
lượng trả lại cho người bán, hoặc người bán chấp nhận giảm giá hàng bán.
(4) Bù trừ các khoản phải thu, phải trả.
(5) Chênh lệch tỷ giá giảm khi cuối kỳ đánh giá các khoản phải trả người
bán bằng ngoại tệ.
(6) Mua vật tư, hàng hóa nhập kho.
(7) Mua TSCĐ đưa vào sử dụng ngay.
(8) Phải trả người bán, người nhận thầu về mua sắm TSCĐ phải qua lắp
đặt, XDCB hoặc sửa chữa lớn.
(9) Khi mua chịu vật tư, hàng hóa về sử dụng ngay không nhập kho, nhận
dịch vụ, lao vụ (chi phí vận chuyển hàng hóa, điện, nước, điện thoại,…) của
người cung cấp.
(10) Phải trả người bán về mua chứng khoán.
(11) Chênh lệch tỷ giá tăng khi cuối kỳ đánh giá các khoản phải trả người
bán bằng ngoại tệ.
1.3. Phân tích tình hình công nợ và khả năng thanh toán đối với khách hàng
và nhà cung cấp.
1.3.1. Phân tích tình hình công nợ đối với khách hàng và nhà cung cấp
Phân tích tình hình công nợ đối với khách hàng và nhà cung cấp sử dụng
một số chỉ tiêu phân tích sau:
 Tỷ lệ các khoản nợ phải thu khách hàng so với các khoản phải trả nhà cung cấp
Tỷ lệ các khoản nợ phải thu

Tổng số nợ phải thu khách hàng

khách hàng so với các khoản

=

Tổng nợ phải trả nhà cung cấp
phải trả nhà cung cấp
Nội dung: Tỷ lệ các khoản nợ phải thu so với các khoản phải trả phản ánh
các khoản công ty bị chiếm dụng so với các khoản đi chiếm dụng.
Tỷ lệ này <1 số vốn công ty bị chiếm dụng nhỏ hơn số vốn đi chiếm dụng.
23


Tỷ lệ này >1 số vốn công ty bị chiếm dụng lớn hơn số vốn công ty đi chiếm dụng.

 Tỷ lệ nợ phải trả nhà cung cấp trong tổng công nợ phải trả
Tỷ lệ nợ phải trả nhà cung

Tổng nợ phải trả nhà cung cấp

cấp trong tổng nợ phải trả

=

Tổng nợ phải trả

x 100

(%)
Nội dung: Chỉ tiêu này cho thấy mức độ ảnh hưởng công nợ phải trả nhà
cung cấp đối với tổng nợ phải trả trong doanh nghiệp. Do đây là nguồn vốn tín
dụng giá rẻ nên doanh nghiệp cần tận dụng. Khi tỷ lệ công nợ này còn nhỏ,
doanh nghiệp có thể xây dựng kế hoạch tăng cường huy động nguồn vốn từ các
đối tượng này.
 Tỷ lệ khoản nợ phải thu khách hàng trong tổng nợ phải thu:
Tỷ lệ nợ phải thu của khách

Nợ phải thu của khách hàng
x
100
Tổng nợ phải thu
hàng trong tổng nợ phải thu (%)
x
Nội dung: Chỉ tiêu này nhằm đánh giá vị trí của nợ phải thu khách hàng
=

trong tổng nợ phải thu của doanh nghiệp. Nếu tỷ trọng lớn chứng tỏ đối tượng
nợ phải thu chính của doanh nghiệp là khách hàng và trọng tâm của công tác thu
nợ cần phải được đặt vào các đối tượng này.

 Số vòng luân chuyển các khoản nợ phải thu
Số vòng luân chuyển các
khoản nợ phải thu (vòng)
Trong đó:
Số dư bình quân nợ

=

Doanh thu thuần
Số dư bình quân nợ phải thu khách hàng

Tổng số dư nợ phải thu khách hàng đầu kỳ + cuối kỳ
2
phải thu khách hàng
Nội dung: Chỉ tiêu này phản ánh trong kỳ kinh doanh, các khoản phải thu
=

quay được mấy vòng. Các doanh nghiệp thường kỳ vọng số vòng luân chuyển
lớn, vì điều này thể hiện các khoản phải thu khách hàng thu hồi càng nhanh, vốn
càng ít bị chiếm dụng và đây là một kết quả tốt đem lại từ công tác quản lý nợ
phải thu. Ngoài ra, để đánh giá mức độ vốn bị chiếm dụng người ta còn sử dụng
chỉ tiêu về kỳ thu tiền bình quân.

 Kỳ thu tiền bình quân:
24


Kỳ thu tiền bình

360 ngày
Số vòng luân chuyển các khoản phải thu khách hàng
quân (ngày)
Nội dung: Kỳ thu tiền bình quân là chỉ tiêu cho biết phải mất bao nhiêu
=

ngày thì một đơn vị tiền bán hàng đã bán mới được thu hồi. Do đó, nhà quản lý
phải có biện pháp can thiệp trong trường hợp khi kỳ thu tiền bình quân tăng lên
mà doanh thu lợi nhuận không tăng vì vốn bị chiếm dụng nhiều.
1.3.2. Phân tích tình hình khả năng thanh toán tại doanh nghiệp
Phân tích tình hình khả năng thanh toán tại doanh nghiệp sử dụng một số
chỉ tiêu phân tích sau:
 Hệ số khả năng thanh toán tổng quát:
Hệ số khả năng thanh

Tổng tài sản

=

Tổng nợ phải trả
toán tổng quát
Nội dung: Hệ số thanh toán tổng quát phản ánh với toàn bộ giá trị thuần
của tài sản hiện có có đảm bảo khả năng thanh toán bao nhiêu lần các khoản nợ
của công ty.
Chỉ tiêu này lớn hơn 1 chứng tỏ tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp thừa
để thanh toán hết các khoản nợ hiện tại. Tuy nhiên không phải tài sản nào hiện
có cũng sẵn sàng được dùng để trả nợ và không phải khoản nợ nào cũng phải trả
ngay. Do đó việc đánh giá khả năng thanh toán tùy vào từng trường hợp cụ thể.

 Hệ số khả năng thanh toán ngắn hạn:
Hệ số khả năng thanh

Tài sản ngắn hạn
Nợ ngắn hạn
toán ngắn hạn
Hệ số thanh toán nợ ngắn hạn cho biết công ty khả năng thanh toán được
=

bao nhiêu lần các khoản nợ ngắn hạn bằng tài sản ngắn hạn của mình. Chỉ tiêu
này đo lường khả năng thanh toán tạm thời nợ ngắn hạn (những khoản nợ có
thời hạn dưới 1 năm) bằng các tài sản có thể chuyển đổi trong thời gian ngắn
(thường dưới 1 năm). Trị số của chỉ tiêu này tính ra càng lớn thì khả năng thanh
toán các khoản nợ ngắn hạn của doanh nghiệp càng cao và ngược lại.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x