Tải bản đầy đủ

KIEN THUC CO BAN TAY TIEN

Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

BÀI 2: TÂY TIẾN
(Quang Dũng)
I. TÌM HIỂU CHUNG
1. Tác giả
− Tên thật là Bùi Đình Diệm (1921 - 1988)
− Quê quán: Đan Phượng, Hà Tây.
− Ông là một nghệ sĩ đa tài: làm thơ, viết văn, vẽ tranh, soạn nhạc. Bởi vậy, dấu
ấn hội họa và âm nhạc in đậm trong các thi phẩm của Quang Dũng.
− Phong cách thơ Quang Dũng là phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, hào hoa.
2. Tác phẩm
a) Về đoàn quân Tây Tiến và hoàn cảnh sáng tác
− Đoàn quân Tây Tiến:
 Thời gian thành lập: đầu năm 1947.
 Nhiệm vụ: phối hợp với bộ đội Lào, bảo vệ biên giới Việt – Lào và đánh
tiêu hao lực lượng quân Pháp ở Thượng Lào và biên giới Tây Bắc Việt
Nam.
 Địa bàn: Sơn La, Lai Châu, Hòa Bình, miền tây Thanh Hóa (Việt Nam),

Sầm Nưa (Lào)  địa bàn rộng lớn, hoang vu, hiểm trở, rừng thiêng nước
độc.
 Thành phần: phần đông là thanh niên Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh,
sinh viên, điều kiện chiến đấu gian khổ, thiếu thốn về vật chất, bệnh sốt
rét hoành hành dữ dội. Tuy vậy họ vẫn sống rất lạc quan, vẫn giữ cốt cách
hào hoa, lãng mạn.
 Sau một thời gian hoạt động ở Lào, trở về Hòa Bình thành lập trung đoàn
52.
− Hoàn cảnh sáng tác: Cuối năm 1948, Quang Dũng chuyển sang đơn vị khác.
Tại Phù Lưu Chanh, tác giả viết bài thơ “Nhớ Tây Tiến”, về sau, tác giả đổi
thành “Tây Tiến”.
b) Bố cục:
4 đoạn:
− Đoạn 1 (từ đầu – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi): Những cuộc hành quân gian
khổ gắn với khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội và thơ
mộng, trữ tình.
− Đoạn 2 (tiếp – Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa): Những kỉ niệm đẹp về tình
quân dân trong đêm lửa trại và cảnh sông nước miền Tây một chiều sương
giăng hư ảo.
− Đoạn 3 (tiếp – Sông Mã gầm lên khúc độc hành): Chân dung người lính Tây
Tiến.
− Đoạn 4 (còn lại): Lời thề gắn bó với đoàn quân Tây Tiến và mảnh đất miền
Tây.
II. TÌM HIỂU VĂN BẢN
1. Đoạn 1: Những cuộc hành quân gian khổ gắn với khung cảnh thiên nhiên
miền Tây hùng vĩ, hoang sơ, dữ dội và thơ mộng, trữ tình.
1


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

− Mở đầu bài thơ là nỗi nhớ mênh mang, da diết, bật lên thành tiếng gọi:
Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Nhớ về rừng núi nhớ chơi vơi
 Đối tượng của nỗi nhớ là con Sông Mã, con sông gắn liền với chặng
đường hành quân của người lính. Đối tượng nhớ thứ hai là nhớ Tây Tiến,
nhớ đồng đội, nhớ bao gương mặt một thời chinh chiến. Đối tượng thứ ba
của nỗi nhớ đó là “nhớ về rừng núi”. Rừng núi là địa bàn hoạt động của


Tây Tiến với bao gian nguy, vất vả nhưng cũng thật trữ tình, lãng mạn.
 Điệp từ nhớ được nhắc lại hai lần như khắc sâu thêm nỗi lòng của nhà
thơ.
 Đặc biệt tình cảm ấy được Quang Dũng thể hiện bằng ba từ “nhớ chơi
vơi”. “Chơi vơi” là từ láy diễn tả trạng thái lửng lơ, trơ trọi giữa khoảng
không gian rộng. “Nhớ chơi vơi” có thể hiểu là một mình giữa thế giới
hoài niệm mênh mông, bề bộn, không đầu, không cuối, không thứ tự thời
gian, không gian. Đó là nỗi nhớ khiến cho tâm hồn con người ta cứ chênh
chao giữa hai bờ hiện tại và quá khứ, hiện thực và hư ảo.
 Thêm vào đó, hai câu thơ lại kết thúc bằng âm “ơi” - là một âm tiết mở,
khiến cho lời thơ như vang vọng, nỗi nhớ như lan toả mênh mang.
a) Hình ảnh những chặng đường hành quân
− Ở những dòng thơ tiếp theo tác giả đã tái hiện lại khung cảnh núi rừng miền
Tây vừa hiểm trở, hoang sơ, hùng vĩ lại vừa thơ mộng, trữ tình trên cả hai
phương diện không gian và thời gian:
* Hoang sơ, hiểm trở, hùng vĩ
− Tác giả đã liệt kê một loạt những địa danh: Sài Khao, Mường Lát, Pha
Luông, Mường Hịch,… Những địa danh này xa lạ với hầu hết độc giả, bởi
vậy nó gợi cho người ta hình dung về những miền đất xa xôi, hoang vu, heo
hút.
− Ấn tượng đầu tiên hiện ra trong nỗi nhớ của người lính Tây Tiến về mảnh đất
miền Tây là sương núi mịt mù: “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi”. Trên
đỉnh Sài Khao, sương dày đến độ vùi lấp cả đường đi, vùi lấp cả đoàn quân
trong mờ mịt. Đoàn quân hành quân trong sương lạnh giữa núi rừng trùng điệp
không tránh khỏi cảm giác mệt mỏi rã rời. Con người trở nên hết sức bé nhỏ
giữa biển sương dày đặc mênh mông ấy…
− Ấn tượng tiếp theo được tác giả tập trung bút lực để khắc họa là núi cao vực
sâu, là đèo dốc điệp trùng:
Dốc lên khúc khuỷu dốc thăm thẳm
Heo hút cồn mây súng ngửi trời
Ngàn thước lên cao ngàn thước xuống
 Con đường hành quân mở ra với biết bao nhiêu khó khăn gian khổ. Đường
đi toàn dốc cao, vực thẳm được diễn tả với nhiều từ láy tạo hình: “khúc
khuỷu” (quanh co khó đi), “thăm thẳm” (diễn tả độ cao, độ sâu), “heo hút”
(xa cách cuộc sống con người).
 Thêm vào đó là một loạt thanh trắc đi liền nhau “dốc lên khúc khuỷu dốc
thăm thẳm” (bảy chữ mà đã có tới năm chữ là thanh trắc) khiến khi đọc lên
2


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

ta có cảm giác trúc trắc, mệt mỏi như đang cùng hành quân với đoàn binh
vậy.
 Cùng với đó, cách ngắt nhịp ở giữa câu thơ (Dốc lên khúc khuỷu/ dốc thăm
thẳm; Ngàn thước lên cao/ ngàn thước xuống) cũng tạo nên ấn tượng về sự
gấp khúc. Có thể hình dung người lính Tây Tiến vừa leo lên được đỉnh dốc
cao dựng đứng lại phải đổ xuống một con dốc khác sâu thăm thẳm và cứ
thế cuộc hành quân kéo dài với đèo dốc chập chùng.
− Miền Tây hoang vu, dữ dội không chỉ được thể hiện theo chiều không gian
mà còn được khám phá theo chiều dài của thời gian:
Chiều chiều oai linh thác gầm thét
Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người
"chiều chiều" , "đêm đêm" là hai từ láy chỉ thời gian lặp lại mang tính liên
tục. Chiều nào cũng thế, đêm nào cũng vậy, khắp núi rừng miền Tây bị bao
bọc bởi những âm thanh ghê rợn: “thác gầm thét”, “cọp trêu người”. Tất cả
đều gợi lên cái uy lực ghê gớm, đầy rẫy những nguy hiểm rình rập của thiên
nhiên.
* Thơ mộng, trữ tình
− Không chỉ dữ dội, hoang sơ mà thiên nhiên miền Tây của Tổ quốc còn rất đỗi
thơ mộng, trữ tình qua cái nhìn của những người lính Tây Tiến.
 Về đêm, núi rừng miền Tây bị vây bọc bởi tiếng cọp gầm, bởi màn sương mịt
mùng. Nhưng vượt lên trên tất cả, những đoá hoa rừng vẫn nở, vẫn toả hương
thơm ngào ngạt:
Mường Lát hoa về trong đêm hơi.
 Và ở nơi đây, người lính Tây Tiến còn được chứng kiến những cảnh tượng
mà hiếm nơi nào khác có được. Đó là cảnh tượng mưa rừng:
Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi
Dừng chân giữa đèo cao dốc đứng, những người lính phóng tầm mắt ra xa,
những đường rừng nét núi đã bị xóa nhòa đi tất cả chỉ còn lại một màn mưa
bay màu trắng bạc. Giữa thung lũng màu mưa ấy thấp thoáng ẩn hiện
những ngôi nhà của đồng bào như những con thuyền đang bồng bềnh trôi.
Cảnh tượng vừa thơ mộng vừa gợi lên cảm giác ấm áp, yên bình làm trào
dâng nỗi nhớ nhung, xao xuyến trong lòng người xa quê.
 Để thể hiện vẻ thơ mộng của núi rừng miền Tây, Quang Dũng sử dụng liên
tiếp các thanh bằng trong một câu thơ gợi cảm giác nhẹ nhàng, bâng
khuâng, xao xuyến của lòng người.
 Bằng sự kết hợp đan xen giữa bút pháp tả thực và lãng mạn, nhà thơ Quang
Dũng đã làm sống dậy bức tranh về những chặng đường hành quân của đoàn binh
Tây Tiến. Trong bức tranh ấy, chủ đạo là những nét vẽ gân guốc, bạo khoẻ của
dốc cao, vực thẳm, của sương rừng, mưa núi song cũng không thiếu những nét vẽ
mềm mại, uyển chuyển đầy thơ mộng.
b)Hình ảnh người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân:
− Trên nền khung cảnh thiên nhiên miền Tây hùng vĩ, thơ mộng, Quang Dũng
đã phác hoạ những hình ảnh đầu tiên về đoàn quân Tây Tiến. Họ hiện lên với
vẻ đẹp hồn nhiên, tinh nghịch qua cách nói hóm hỉnh “súng ngửi trời”. Nếu
3


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

viết “súng chạm trời”, nhà thơ sẽ chỉ tả được độ cao của đỉnh dốc mà khi
đứng trên đó, mũi súng của người lính Tây Tiến như chạm cả vào nền trời.
Còn “súng ngửi trời” thì lại đem đến cảm nhận là mũi súng như đang ngửi để
thăm dò, nhận biết, thưởng thức cái hương vị của mây trời. Nhờ đó mà thiên
nhiên trở nên gần gũi với con người và người lính được nâng lên một tư thế
rất đỗi tự hào. Đó là tư thế chiến thắng của những người lính trẻ lạc quan yêu
đời, vượt lên trên mọi khó khăn của hoàn cảnh.
− Ngay cả khi đối mặt với những vất vả, mất mát, hi sinh, phong thái của họ
vẫn ngang tàng, kiêu hãnh:
Anh bạn dãi dầu không bước nữa
Gục lên súng mũ bỏ quên đời.
 Có thể hiểu đây là hình ảnh người lính phong trần buông mình vào giấc
ngủ hiếm hoi trong phút dừng chân sau chặng đường hành quân dài “dãi
dầu” nắng mưa, sương gió với núi cao, vực sâu, thác ghềnh dữ dội. Một
giấc ngủ mệt nhọc nhưng vô tư, trẻ trung như quên hết thảy sự đời, quên
hết cả chiến tranh khốc liệt.
 Nhưng cũng có thể hiểu đây là câu thơ miêu tả một thực tế đau xót trên
chiến trường khi người lính kiệt sức, gục ngã không thể bước tiếp cùng
đồng đội. Quang Dũng không né tránh hiện thực đau thương ấy, ông viết
về cái chết của đồng đội như một sự xả thân cho lí tưởng. Người lính Tây
Tiến chết mà “súng mũ” vẫn bên mình, chết trong tư thế lên đường, tư thế
hành quân. Đây là hình ảnh vừa bi vừa hùng làm tỏa sáng vẻ đẹp lí tưởng
của người lính.
− Trên con đường hành quân nhiều gian khổ, hi sinh, người lính Tây Tiến vẫn
luôn tìm thấy niềm vui, niềm hạnh phúc trong tình quân dân ấm áp:
Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi.
 Mở đầu bằng cụm từ cảm thán “Nhớ ôi…”, câu thơ bộc lộ cảm xúc nhớ
nhung dâng trào mãnh liệt. Nhớ về Tây Tiến, người lính không thể quên
tình cảm quân dân trong những tháng ngày hành quân dãi dầu gian khổ.
Trên con đường gian lao, một hôm nào đó người lính đã dừng chân ở một
bản làng giữa rừng sâu. Nơi đây, các anh đã được đồng bào, đặc biệt là các
cô sơn nữ xinh đẹp như những bông hoa rừng đón tiếp niềm nở bằng những
bữa cơm nếp xôi mà khói hương từ đấy cứ thơm ngát mỗi bước quân hành.
 Ở đây, Quang Dũng cũng đã sáng tạo được một kết hợp từ độc đáo: “mùa
em”. Người ta thường nói “mùa hoa”, “mùa quả”… để chỉ thời điểm căng
tràn, đầy ắp sắc hương, vị ngọt của hoa trái. Cách nói “Mai Châu mùa em
thơm nếp xôi” khiến cho Mai Châu không chỉ là một địa danh gắn với kỉ
niệm thơm thảo của xôi nếp đầu mùa, của tình quân dân thắm thiết mà còn
là quê hương của những cô gái miền Tây duyên dáng, căng tràn sức trẻ,
nồng nàn hương sắc. Những thanh bằng trong câu thơ đã gợi tả tinh tế cảm
giác bồng bềnh, xao xuyến tới ngây ngất, đê mê trong tâm hồn những
chàng trai Hà thành hào hoa, lãng mạn.
4


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019


Kết luận: Với sự kết hợp uyển chuyển giữa bút pháp hiện thực và lãng
mạn, giữa chất hoạ và chất nhạc, 14 câu thơ đầu trong bài “Tây Tiến” của Quang
Dũng đã tái hiện sinh động và gợi cảm về mảnh đất miền Tây hiểm trở, khắc
nghiệt mà thơ mộng, kì thú gắn liền với chặng đường hành quân của trung đoàn
Tây Tiến. Đồng thời, phác hoạ được những nét đầu tiên bức chân dung người
lính Tây Tiến. Có thể nói, ngay từ những nét phác hoạ ban đầu này, Quang Dũng
đã thể hiện được vẻ đẹp hào hùng và hào hoa của đoàn quân Tây Tiến.
2. Đoạn 2: Những kỉ niệm đẹp về tình quân dân trong đêm lửa trại và
cảnh sông nước miền Tây một chiều sương giăng hư ảo.
Trong đoạn thơ thứ hai, Quang Dũng đã tái hiện những ấn tượng sâu sắc về một
đêm lửa trại và sau đó là nỗi nhớ của nhà thơ về cảnh và người miền Tây trong
một buổi chiều sương giăng hư ảo. Thông qua những kỉ niệm và nỗi nhớ ấy,
Quang Dũng đã khắc hoạ sinh động vẻ đẹp lãng mạn, hào hoa của chiến sĩ Tây
Tiến.
a) Bốn câu đầu miêu tả những ấn tượng sâu sắc, những cảm nhận tinh tế về
một đêm lửa trại nơi trú quân giữa một bản làng nào đó ở miền Tây
− Trong hoàn cảnh chiến tranh, giữa nơi rừng sâu núi xa, chắc chắn đêm lửa trại
của bộ đội Tây Tiến với đồng bào địa phương cũng chỉ được tổ chức sơ sài.
Nhưng qua ngòi bút lãng mạn, hào hoa của Quang Dũng, nó biến thành một
dạ tiệc tưng bừng như trong huyền thoại, cổ tích.
− Câu thơ đầu tiên tựa như một tiếng reo vui:
Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
 Qua cái nhìn lãng mạn của người lính Tây Tiến, nơi trú quân tạm thời thành
“doanh trại” uy nghi, sang trọng; ánh lửa bập bùng trở thành “đuốc hoa”
của phòng cưới đêm tân hôn.
 Nhà đại văn hào nước Pháp – Huygo có nói: “Chữ nào đặt đúng chỗ là chữ
đó hay nhất”. Với câu thơ đầu tiên của đoạn 2 này thì “bừng” là từ hay
nhất. Nó là một nốt nhấn tươi sáng cho cả câu thơ. Nó không chỉ đem đến
ấn tượng về ánh sáng – thứ ánh sáng chói loà, đột ngột của lửa, của đuốc,
xua đi cái tối tăm, lạnh lẽo của núi rừng mà còn thể hiện được không khí
tưng bừng của đêm hội và niềm vui sướng rạo rực làm bừng sáng mỗi
gương mặt của các chiến sĩ.
− Trên nền khung cảnh lung linh, tưng bừng của đêm “hội đuốc hoa” nổi bật lên
hình ảnh người thiếu nữ miền sơn cước:
Kìa em xiêm áo tự bao giờ
Khèn lên man điệu nàng e ấp
 Từ “kìa” và cụm từ nghi vấn “tự bao giờ” bộc lộ cảm giác vừa ngỡ ngàng thú
vị, vừa ngưỡng mộ trìu mến của các chiến sĩ trước sự xuất hiện của các cô gái
miền Tây.
 Dưới con mắt của những chàng lính trẻ, các cô gái hiện lên với hai ấn
tượng đẹp đẽ: lộng lẫy trong xiêm áo và e ấp, đầy nữ tính trong những điệu
múa phương xa.
 Đằng sau câu thơ, ta như thấy cả những nụ cười, những ánh nhìn tinh
nghịch của những chàng lính trẻ hồn nhiên, yêu đời.
5


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

− Người lính Tây Tiến không chỉ ngỡ ngàng, thú vị trước vẻ đẹp của người
thiếu nữ miền Tây e ấp và duyên dáng mà còn mơ màng trong “man điệu” núi
rừng và đắm say trong tiếng khèn, tiếng nhạc. Ánh sáng rực rỡ của lửa trại;
dáng vẻ lộng lẫy, những điệu múa uyển chuyển, duyên dáng của những người
sơn nữ; âm thanh ngọt ngào, réo rắt của vũ hội, tất cả đều như mê hoặc lòng
người, đưa tâm hồn người phiêu diêu bay bổng trong thế giới mộng mơ để
“xây hồn thơ”:
Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ
Như vậy, chỉ bằng bốn câu thơ, Quang Dũng đã vẽ lên trước mắt người đọc một
bức tranh lễ hội tưng bừng, rực rỡ màu sắc, náo nức âm thanh và chan chứa tình
người. Trong phút chốc, hiện thực gian khổ, tàn khốc của chiến tranh đã bị đẩy
lùi. Đoạn thơ không chỉ cho ta thấy được vẻ đẹp đầy bản sắc văn hóa của đồng
bào miền biên cương phía Tây của Tổ quốc, mà còn cho ta thấy được tình quân
dân đằm thắm keo sơn và tâm hồn lạc quan yêu đời, yêu cuộc sống kháng chiến
gian khổ mà vui tươi của người lính Tấy Tiến.
b) Tới đoạn sau, nhà thơ lại đem tới cho người đọc những cảm xúc bâng
khuâng, xa vắng trong nỗi nhớ về một buổi chia tay trên nền sông nước mênh
mang, hoang vắng, huyền ảo và chứa chan thi vị
- Câu thơ mở đầu gợi lên cảm giác bồng bềnh, như hư như thực:
Người đi Châu Mộc chiều sương ấy
Buổi chia tay diễn ra nơi Châu Mộc vào một chiều sương giăng hư ảo. Thiên
nhiên buổi chiều vốn đã mờ ảo lại càng mờ ảo hơn khi được phủ lên bởi lớp
sương mù bảng lảng. Người đi trong chiều mà cũng là đi trong sương.
- Sau câu thơ mở đầu gợi cảm giác nhớ nhung, bồng bềnh, hư ảo, nhà thơ đã
dùng bút pháp chấm phá để vẽ lên một bức tranh lụa mượt mà. Đầu tiên là nét
gợi về những hàng lau trắng bên bờ sông hoang dại:
Có thấy hồn lau nẻo bến bờ
Phép nhân hoá “hồn lau” kết hợp với cụm từ “nẻo bến bờ” gợi lên một không
gian hoang vu, lặng tờ, hiu quạnh và khiến cho cảnh vật như cũng có linh hồn,
những bông lau trắng như cũng mang nỗi buồn vắng, mênh mang.
- Nổi bật trên dòng sông như nỗi niềm cổ tích ấy là hình ảnh dáng người trên
chiếc thuyền độc mộc và bông hoa trôi theo dòng nước lũ:
Có nhớ dáng người trên độc mộc
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa
 Phép điệp cấu trúc cú pháp “Có thấy…”, “Có nhớ” như lời tự vấn trở đi trở
lại đầy trăn trở, chạm khắc vào lòng người nỗi nhớ nhung da diết, khôn
nguôi.
 Trong màn sương mờ nhoà của chiều sương Châu Mộc và của dòng hoài
niệm, con người miền Tây chỉ hiện lên như một bóng dáng mờ xa, huyền
ảo. Dáng người ấy vừa cứng cỏi, kiên cường trên con thuyền độc mộc băng
băng lướt trên thác lũ, vừa mềm mại, duyên dáng trong hình ảnh ẩn dụ “hoa
đong đưa”.
 Quang Dũng đã rất tinh tế khi dùng từ “đong đưa” thay vì “đung đưa”. Bởi
6


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

“đung đưa” chỉ thuần túy tả chuyển động đưa đi đưa lại mang tính chất vật
lý, còn “đong đưa” vừa tả chuyển động vừa giàu ý nghĩa biểu cảm, làm cho
bông hoa trở thành một sinh thể duyên dáng và rất đa tình. Hoa cũng như
người dường như đang soi mình, đang làm duyên với dòng nước lũ.
 Kết luận:
- Đoạn thơ thể hiện tài năng của Quang Dũng trong việc sử dụng từ ngữ khi
nhà thơ sử dụng đắc địa những từ đặc biệt có giá trị biểu hiện và biểu cảm
như: bừng, kìa, hồn lau, đong đưa,… Đồng thời, tài năng âm nhạc và hội hoạ
của Quang Dũng cũng đã đem đến chất nhạc, chất hoạ cho đoạn thơ. Chỉ bằng
8 câu thơ, Quang Dũng đã đưa người đọc đến với khung cảnh rực rỡ, lung
linh, tưng bừng, náo nức của đêm lửa trại và một bức tranh mờ ảo, tĩnh lặng
như thực như hư với vài nét chấm phá của buổi chiều miền Châu Mộc.
- Đoạn thơ cũng cho ta thấy được tấm lòng của Quang Dũng dành cho con
người và cảnh vật miền Tây Tổ quốc và tâm hồn lạc quan, lãng mạn tài hoa
của tác giả nói riêng, của người lính Tây Tiến nói chung.
3. Đoạn 3: Bức tượng đài bi tráng về đoàn quân Tây Tiến:
Nhà nghiên cứu văn học Phong Lan đã gọi bài thơ Tây Tiến là “bức tượng đài
bất tử về người lính vô danh”. Từ đầu bài thơ dòng nào cũng lấp lánh sáng lên
vẻ đẹp của người chiến binh, nhưng chỉ đến khổ thứ ba này, bức tượng đài về
người lính Tây Tiến mới thực sự được hoàn tất.
a) Ngoại hình phi thường, khác lạ
Nhớ về những người đồng đội trong đơn vị cũ, Quang Dũng không khắc
hoạ một nhân vật cụ thể nào mà tập trung xây dựng một bức tượng đài tập thể
của cả một “đoàn binh”. Bản thân từ Hán Việt “đoàn binh” đã gợi lên hình ảnh
của những con người theo nghiệp “binh đao” – những con người mang vẻ ngoài
dữ dội, mạnh mẽ. Và quả thực theo dòng hoài niệm của Quang Dũng, người
chiến sĩ Tây Tiến hiện lên với ngoại hình phi thường, đặc biệt:
Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Quân xanh màu lá dữ oai hùm.
Trên con đường chiến chinh gian khổ, chiến sĩ Tây Tiến không chỉ phải
vượt qua dốc cao vực sâu hay bom đạn của kẻ thù mà còn phải đối mặt với đói
rét và bệnh tật. Quang Dũng đã không né tránh hiện thực khốc liệt ấy của chiến
tranh. Cái đầu “không mọc tóc” và nước da “xanh màu lá” của các anh chính là
dấu tích của những khó khăn thiếu thốn về vật chất và sự hành hạ của căn bệnh
sốt rét rừng.
Cách nói “Đoàn binh không mọc tóc”, “quân xanh màu lá” đã đưa những
người lính Tây Tiến từ thế bị động chuyển sang thế chủ động, cứ như là các anh
không cần mọc tóc và cố tình để màu da của mình hoà lẫn với màu xanh của lá
nguỵ trang, của rừng xanh bạt ngàn để tiện cho việc chiến đấu vậy. Người lính
Tây Tiến vì thế hiện lên không tiều tuỵ, ốm yếu mà kiêu dũng, ngang tàng.
Nét kiêu dũng, ngang tàng đó được thể hiện sắc nét, ấn tượng hơn ở sự
tương phản giữa ngoại hình và khí chất (“xanh màu lá” – “dữ oai hùm”): trên
những khuôn mặt xanh xao gày ốm vẫn toát lên nét dữ dội, uy nghiêm như
những vị chúa tể rừng xanh.
7


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

Như vậy, có thể thấy chỉ bằng hai hình ảnh thơ, Quang Dũng đã không chỉ
nói được đầy đủ, sâu sắc cuộc sống chiến đấu gian khổ của người lính Tây Tiến
mà còn khắc họa được vẻ đẹp hào hùng, khí phách mạnh mẽ của họ.
b) Lí tưởng cao đẹp và tâm hồn lãng mạn, hào hoa
Trong dòng hồi tưởng của Quang Dũng, đằng sau ngoại hình dữ dội, oai
phong của người lính Tây Tiến không phải là một tâm hồn khô khan, thô ráp mà
là một tâm hồn lắm mộng mơ:
Mắt trừng gửi mộng qua biên giới
Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm
Vũ Quần Phương đã từng nhận xét: “hai câu thơ như chứa đựng cả hai
thế giới” – thế giới của biên cương và thế giới của Hà Nội. Biên cương là chiến
trường lửa đạn, Hà Nội là quê hương ngàn năm văn hiến. Người lính Tây Tiến
dõi về nơi biên giới bằng đôi “mắt trừng”. Đó là ánh mở to, cương nghị, quyết
đoán, dữ dội. Ánh mắt ấy thể hiện giấc mộng chiến công, mộng truy kích quân
thù để bảo vệ non sông. Còn hướng về Hà Nội, giấc mơ của các anh lại chập
chờn những “dáng kiều thơm”. Đó là bóng dáng của những thiếu nữ Hà thành
kiều diễm, thanh lịch. Câu thơ gợi nghĩ đến nỗi nhớ của anh bộ đội trong thơ
Nguyễn Đình Thi:
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu
Chính những “bóng kiều thơm”, những ánh “mắt người yêu” như thế đã trở
thành đôi cánh nâng đỡ tinh thần người lính, giúp các anh vượt qua được mọi
khó khăn gian khổ nơi chiến trường ác liệt.
Như vậy, giấc mộng cho thấy lí tưởng cao đẹp, ý chí chiến đấu mạnh mẽ
còn giấc mơ cho thấy tâm hồn trẻ trung, chan chứa yêu thương của người lính
Tây Tiến. Ở các anh có sự thống nhất hài hoà giữa cái chung và cái riêng, giữa lí
tưởng và tình cảm. Chính tình yêu thương là động cơ đẹp đẽ để các anh lên
đường chiến đấu, còn lí tưởng cách mạng lại khiến tình yêu thêm cao cả, lớn lao.
c) Sự hi sinh đầy bi tráng
− Người xưa từng nói:
“Xưa nay những chốn chiến binh
Hỏi ai đem được thân mình về chưa?
Thế nhưng trong thơ ca cách mạng, các nhà thơ lại thường né tránh nhắc
đến cái chết. Quang Dũng không thế. Ông viết lại theo đúng những gì ông đã
trải nghiệm. Cuộc sống chiến đấu của người lính Tây Tiến có vô vàn khó khăn
gian khổ, cũng có nhiều những phút giây thơ mộng; có lí tưởng cao đẹp, cũng có
tình cảm riêng tư thầm kín. Và… có cả cái chết, không phải một cái chết mà rất
nhiều cái chết:
Rải rác biên cương mồ viễn xứ.
 Người lính Tây Tiến ngã xuống dọc đường hành quân, đồng đội xót lòng để
các anh lại trong những nấm đất hoang lạnh nơi rừng sâu. Rải rác khắp miền
biên giới của Tổ quốc là biết bao nhiêu nấm mồ như vậy.
 Có một điều đặc biệt là trong câu thơ này, cả 4 từ đều gợi lên sự xa cách: “rải
rác” gợi ra khoảng cách của những nấm mồ nằm xa nhau, “biên cương” là nơi
8


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

xa nhất của Tổ quốc, “viễn xứ” là xứ xa, mồ là hình ảnh của cái chết – gợi sự
xa cách sinh – tử, cõi âm – cõi dương,… Phép điệp nghĩa tinh tế này đã đem
đến cảm giác ảm đạm, buồn bã cho cả câu thơ.
− Trần Lê Văn đã từng nhận xét: “Tây Tiến phảng phất nét buồn đau, nhưng
buồn đau mà không hề bi luỵ”. Quả đúng như vậy, cảm xúc bi thương ở câu
trên đã được nâng lên thành bi tráng ở câu sau:
Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh.
 “Chiến trường” là nơi bom đạn khốc liệt, là cái chết cận kề, là dữ dội nguy
nan.
 “Đời xanh” là ẩn dụ chỉ tuổi trẻ, quãng thời gian tươi đẹp và quý giá nhất đối
với mỗi người. Đó cũng là quãng đời mà bao nhiêu tương lai, hạnh phúc, bao
hoa trái ngọt ngào còn ở cả phía trước.
 Quãng đời tươi đẹp, quý giá và thiêng liêng như thế mà những người lính Tây
Tiến vẫn sẵn sàng dâng hiến cho Tổ quốc chẳng hề nuối tiếc, đắn đo. Cách nói
“chẳng tiếc đời xanh” đã làm nổi bật tinh thần sẵn sàng hi sinh và hoàn toàn
tự nguyện của những người lính trẻ Tây Tiến.
 Đó là khí phách của những con người dũng cảm, kiên cường, sẵn sàng gạt
tình riêng vì nghĩa lớn. Bởi vậy, họ đón nhận cái chết bằng một thái độ rất nhẹ
nhàng:
Áo bào thay chiếu anh về đất
 Quang Dũng đã từng tâm sự: “Khi sĩ từ nằm xuống không có đủ manh chiếu
để liệm, nói áo bao thay chiếu là mượn cách nói của thơ trước đây để an ủi
những người đồng chí vừa ngã xuống”.
 Như vậy, hiện thực là tàn khốc: người lính Tây Tiến hi sinh, không có đủ
chiếu để khâm liệm, các anh được khâm liệm trong chính tấm áo của mình.
Thế nhưng bằng bút pháp mĩ lệ hoá của cảm hứng lãng mạn, Quang Dũng đã
biến tấm áo quân phục sờn rách của người lính thành tấm áo bào đẹp đẽ, sang
trọng, thiêng liêng.
 Hình ảnh “áo bào” và việc sử dụng nhiều từ Hán Việt trong đoạn thơ không
chỉ mang đến không khí trang trọng, làm dịu vợi nỗi đau trước hiện thực tàn
khốc của chiến tranh mà còn hàm chứa niềm biết ơn và cảm phục sâu sắc với
sự hi sinh của những chiến sĩ anh hùng.
 Nỗi đau đớn còn được xoa dịu bởi cách nói giảm, nói tránh “anh về đất”. Chết
không phải là ra đi mãi mãi mà chết là “về” với đất, để được đất mẹ bao la
vĩnh hằng ôm ấp chở che, để được thanh thản nghỉ ngơi trong thế giới của
“những người chưa bao giờ khuất – Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất – Những
buổi ngày xưa vọng nói về” (Nguyễn Đình Thi)
− Đoạn thơ kết lại bằng một câu thơ đầy bi tráng:
Sông Mã gầm lên khúc độc hành
Sông Mã đã xuất hiện trong tiếng gọi tha thiết ở đầu bài thơ “Sông Mã xa
rồi Tây Tiến ơi!” như một biểu tượng của mảnh đất miền Tây của Tổ quốc thân
yêu, đến đây sông Mã lại trở lại với âm thanh hào hùng dữ dội trong cảnh tiễn đưa
tử sĩ. Sông Mã thay lời cho cả thiên nhiên, trời đất, núi sông “gầm lên” khúc tráng
9


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

ca tiễn đưa những người con thân yêu trong chuyến đi “độc hành” về với đất của
họ. Ý thơ hào hùng nhưng cũng phảng phất âm hưởng cô đơn, ngậm ngùi. Cảm
xúc ấy là không tránh khỏi khi đứng trước cái chết, khi phải tiễn đưa những người
thân yêu trong chuyến đi cuối cùng luôn luôn là cô độc.
 Kết luận: Đoạn thơ đã thể hiện những nét đặc sắc nhất trong phong cách
nghệ thuật của Quang Dũng. Đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm
hứng lãng mạn, là chất hoạ và chất nhạc đậm nét với giá trị biểu cảm mạnh mẽ,
là chất bi tráng đưa đến những xúc cảm mạnh mẽ trong lòng người đọc. Qua đó,
Quang Dũng đã khắc hoạ sâu đậm hình ảnh người chiến binh Tây Tiến trong cả
cuộc sống chiến đấu gian khổ và sự hi sinh anh dũng, làm hiện lên vẻ đẹp toàn
vẹn trong tâm hồn các anh – những người lính kiêu dũng, ngang tàng và lãng
mạn, hào hoa. Có thể nói, với bài thơ Tây Tiến, đặc biệt là với đoạn thơ thứ ba
này, Quang Dũng đã khắc tạc được bức tượng đài bất tử về anh bộ đội cụ Hồ
trong những năm kháng chiến chống Pháp:
“Tây Tiến biên cương mờ lửa khói
Quân đi lớp lớp động cây rừng
Và con người ấy, bài thơ ấy
Vẫn sống muôn đời cùng núi sông.”
(Giang Nam)
4. Đoạn 4: Khúc vĩ thanh nhớ nhung về miền Tây và Tây Tiến
− Trở về với hiện tại, miền Tây và Tây Tiến đã lùi xa trong kí ức, trong nỗi nhớ
nhung:
Tây Tiến người đi không hẹn ước
Đường lên thăm thẳm một chia phôi
“Người đi” mang ý nghĩa mơ hồ:
 Có thể hiểu đó là những chàng trai Hà Nội năm xưa gác bút nghiên, từ biệt
quê hương, ra nhập đoàn quân Tây Tiến và không hẹn ngày trở về. Khoảng
cách giữa quê hương và Tây Tiến là con đường thăm thẳm, vô định – nghĩa là
các anh xác định sẽ chia phôi mãi mãi với quê nhà. Ý thơ nhấn lại lí tưởng
“quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh” của người lính Tây Tiến. Nhưng giọng thơ
rõ ràng có chút gì đó bùi ngùi, lưu luyến. Người lính Tây Tiến như phải rằn
lòng, kìm nén tình riêng với quê hương vì nghĩa lớn. Cách hiểu này gợi niềm
thương mến, cảm phục và xót xa cho những “người chiến sĩ, mùa xuân ấy, ra
đi từ đó không về”…
 Cũng có thể hiểu “người đi” chính là nhà thơ. Mùa đông năm 1948, tại làng
Phù Lưu Chanh, Quang Dũng bâng khuâng nhớ lại việc mình đã chia xa trung
đoàn Tây Tiến, đã từ biệt miền Tây mà “không hẹn ước” ngày trở lại, bởi
“Đường xa thăm thẳm”. Cách hiểu thể hiện nỗi nhớ nhung tha thiết của nhà
thơ với đồng đội và mảnh đất miền Tây.
− Bài thơ kết lại bằng một lời khái quát:
Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy
Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi
“Ai” cũng lại là một đại từ phiếm chỉ, chỉ tất cả những chàng thanh niên trẻ đã
ra nhập đoàn quân Tây Tiến vào “mùa xuân ấy”. “Mùa xuân ấy” là mùa xuân
10


Tài liệu ôn thi THPT Quốc gia môn Ngữ Văn

Năm học 2018 - 2019

năm 1947 – thời điểm thành lập trung đoàn Tây Tiến, hay là “mùa xuân” –
tuổi trẻ cuộc đời những người lính? Với tất cả những người lính đã từng chiến
đấu trong binh đoàn Tây Tiến, những tháng ngày gắn bó với trung đoàn, với
miền Tây sẽ là khoảng thời gian không bao giờ quên được, bởi họ đã để lại
một phần cuộc đời, một phần linh hồn của mình ở mảnh đất này. Quả đúng
như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:
Khi ta ở chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hoá tâm hồn.
III. TỔNG KẾT
Bài thơ Tây Tiến kết tinh những nét đặc sắc nhất trong phong cách nghệ
thuật của Quang Dũng. Đó là bút pháp tương phản đầy ấn tượng của cảm hứng
lãng mạn, là chất hoạ và chất nhạc đậm nét với giá trị biểu cảm mạnh mẽ, là chất
bi tráng đưa đến những xúc động sâu sắc trong lòng người đọc. Qua đó, nhà thơ
đã dựng lên bức tượng đài bất tử về người lính Tây Tiến một thời với vẻ đẹp
kiêu dũng, ngang tàng và lãng mạn, hào hoa. Đồng thời, vẽ lên bức tranh sống
động về mảnh đất biên cương miền Tây của Tổ quốc với vẻ đẹp hoang sơ, bí ẩn
nhưng cũng rất đỗi thơ mộng, trữ tình
.
MỘT SỐ DẠNG ĐỀ CƠ BẢN
Đề 1: Cảm nhận đoạn 1.
Đề 2: Cảm nhận đoạn 2.
Đề 3: Cảm nhận đoạn 3.
Đề 4: Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến.
Đề 5: Vẻ đẹp của thiên nhiên miền tây Tổ quốc được thể hiện trong bài thơ “Tây
Tiến”
Đề 6: “Xét về phương diện nghệ thuật, cảm hứng lãng mạn và âm hưởng bi
tráng là hai nét đặc sắc cơ bản bao trùm bài thơ”. Anh/ chị hãy phân tích bài thơ
Tây Tiến của nhà thơ Quang Dũng để làm sáng tỏ nhận định trên.

Trọn bộ tài liệu kiến thức cơ bản các tác phẩm Ngữ Văn
12 phục vụ ôn thi THPT Quốc gia, biên soạn công phu.
Ai có nhu cầu, vui lòng liên hệ số điện thoại
0978075007 hoặc email: vinaphone89@gmail. com

11



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×