Tải bản đầy đủ

SKKN hoan chinh 2016 2017

PHÒNG GD VÀ ĐT TRI TÔN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TRƯỜNG THCS LẠC QUỚI

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Lạc Quới, ngày 12 tháng 10 năm 2017

BÁO CÁO
Kết quả thực hiện sáng kiến, cải tiến, giải pháp kĩ thuật, quản lí, tác nghiệp, ứng dụng
tiến bộ kĩ thuật hoặc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng
I- Sơ lược lý lịch tác giả:
- Họ và tên: Nguyễn Quang Đền Giới tính: Nam
- Ngày tháng năm sinh: 1986
- Nơi thường trú: Ấp Vĩnh Hòa, xã Lạc Quới, Tri Tôn, An Giang
- Đơn vị công tác: Trường THCS Lạc Quới
- Chức vụ hiện nay: Giáo viên
- Lĩnh vực công tác: Giảng dạy
II- Tên sáng kiến: “Phương pháp giảng dạy giáo dục môi trường trong sinh học 9 theo

hướng tiếp cận năng lực học sinh”
III- Lĩnh vực: Cải tiến phương pháp giảng dạy
IV- Mục đích yêu cầu của sáng kiến
1. Thực trạng ban đầu trước khi áp dụng sáng kiến:
- Ô nhiễm môi trường là một vấn đề cấp thiết trong cuộc sống hiện nay, nó không chỉ
ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự sống, sinh tồn của các loài sinh vật mà còn ảnh hưởng trực
tiếp đến sức khỏe và sự sống của con người.
- Tình hình ô nhiểm hiện nay tùy theo sự phát triển của một nước mà có mức độ lớn
nhỏ khác nhau, bên cạnh đó khả năng nhận thức của con người củng là yếu tố có thể làm cho
sự ô nhiễm môi trường được cải thiện hơn hay ngày càng nghiêm trọng hơn là vấn đề đang
được quan tâm sâu sắc.
- Là một giáo viên giảng dạy bộ môn sinh học, kiến thức liên quan đến môi trường rất
nhiều. Nhưng từ thực tế giảng dạy và quan sát, tôi nhận thấy các em học sinh chưa có ý thức
cao, hoặc ít quan tâm đến vấn đề ô nhiễm môi trường và hậu quả của tình hình môi trường bị
ô nhiễm đến sức khỏe của bản thân. Cụ thể, các em còn xả rác bừa bãi trong lớp học, sân
1


trường, khạc nhổ…đi vệ sinh chưa dội nước vào bồn cầu…hoặc khu vực khu dân cư, chợ ,
dòng sông xung quanh nơi các em sống vẫn còn rác thải sinh hoạt thải bừa bãi do sự thiếu ý
thức của người dân, lâu ngày dẫn đến một số khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng.
- Mặt khác, một bộ phận học sinh lại là tác nhân gây ra ô nhiễm môi trường trong
cuộc sống hằng ngày, một số lại chưa biết sử dụng thông tin từ các phương tiện thông tin đại
chúng (báo chí, mạng internet, tivi…) để thấy được tình hình những ảnh hưởng và chưa
đánh giá hết mức độ của sự ô nhiễm môi trường dẫn đến không quan tâm hay thờ ơ với vấn
đề này.
- Bên cạnh đó, một số giáo viên khi giảng dạy còn bỏ qua luôn phần liên hệ hay lồng
ghép giáo dục môi trường cho học sinh vì các lí do sau : không bố trí hợp lí thời gian từng
phần, phần liên hệ được coi là phần phụ, giáo viên ít liên hệ kiến thức thực tế của vấn đề. Do
đó, giáo viên giảng dạy sẽ gặp khó khăn vì thiếu sự sinh động, học sinh chán nãn, dẫn đến
khó tiếp thu và học sinh chưa ý thức được sự nghiêm trọng của việc ô nhiễm môi trường.
- Từ những lẻ đó, phải làm sao để nâng cao được ý thức của các em học sinh trong
vấn đề ô nhiễm môi trường để các em tuyên truyền, không thờ ơ với những hành động của
người khác làm ô nhiễm môi trường, và để góp phần làm cho môi trường học tập, cũng như
môi trường sống của các em trở nên trong sạch hơn. Tôi đã áp dụng một số biện pháp trong
giảng dạy giáo dục môi trường sau đây.
2. Sự cần thiết phải áp dụng sáng kiến
- Sinh học là một môn khoa học thực nghiệm có nhiều thành tựu áp dụng trong khoa
học kĩ thuật và đời sống. Giảng dạy bộ môn sinh học trong nhà trường không chỉ đơn thuần
là truyền thụ kiến thức lí thuyết mà còn phải rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cần thiết


để nắm chắc nội dung kiến thức cơ bản: kĩ năng thực hành ở trường, kĩ năng giao tiếp, kĩ
năng tuyên truyền, vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào các trường hợp cụ thể không
những trong thời gian ở nhà trường mà còn tạo điều kiện cho học sinh dễ dàng tham gia vào
cuộc sống lao động sản xuất và kĩ thuật hiện đại sau này.
- Hiện nay như chúng ta đã biết và đã thấy môi trường đang bị hủy hoại nghiêm trọng
do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan gây nên sự biến đổi khí hậu, mất cân
bằng sinh thái, sự ô nhiễm không khí, đất, nguồn nước ở khắp mọi nơi, đã ảnh hưởng lớn
đến chất lượng cuộc sống của nhân loại. Một trong những nguyên nhân cơ bản gây nên
2


tình trạng trên là do tiến trình công nghiệp hoá, sự yếu kém về khoa học và quản lý lỏng
lẻo việc xử lý các loại chất thải, sự thiếu ý thức, thiếu hiểu biết của con người về việc bảo
vệ môi trường.
- Song song với việc hình thành kiến thức và kĩ năng, thì hình thành ý thức, thái độ
của học sinh trước những vấn đề cấp bách, nhất thiết của xã hội cũng góp phần quan trọng
trong giáo dục của bộ môn sinh học, đặc biệt là “ Giáo dục về bảo vệ Môi trường”
- Trong tình hình hiện nay, phương pháp giáo dục “ Lấy học sinh là trung tâm” thật
sự rất cần thiết, vì đó là cơ sở để các em có thể tự học và học tích cực hơn trong quá trình
học tập. Nhưng phần lớn giáo viên chỉ tập trung vào kiến thức trọng tâm của bài học là chủ
yếu, và vô tình đã “ lờ ” đi những kiến thức tích hợp cho học sinh như : tích hợp về dân số,
môi trường, sức khỏe, giáo dục về giới tính hoặc những kĩ năng sống cơ bản...Trong đó, giáo
dục bảo vệ môi trường là một vấn đề cấp bách và mang tính toàn cầu, bởi vì vấn đề ô nhiễm
môi trường hiện nay đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái, gây hậu quả nghiêm trọng cho sức
khỏe của con người...
- Sinh học 9 là một môn học về Di truyền học và Sinh thái học mà lượng tri thức
các em lĩnh hội được qua các tiết học lại gắn với vấn đề ô nhiễm môi trường, cũng như
những hậu quả của ô nhiễm môi trường thực sự là rất nhiều, một số bài thì liên hệ, một số
bài thì tích hợp. Nhưng đa số giáo viên chỉ liên hệ, giới thiệu là chủ yếu, phần lớn thời gian
còn lại là dành cho nội dung kiến thức của bài
- Qua nhiều năm giảng dạy, bản thân tôi nhận thấy kiến thức sinh học 9 dùng để tích
hợp giảng dạy môi trường là rất hữu ích, vì nó đã đề cập tới những nguyên nhân gây ra tình
trạng ô nhiễm môi trường hiện nay như: chặt phá rừng, sản xuất công nghiệp, nông nghiệp,
hoạt động sinh hoạt của con người, giao thông vận tải, dân số tăng nhanh, phong tục tập
quán của con người, săn bắt động vật hoang dã, khai thác tài nguyên thiên nhiên...mà những
nguyên nhân trên đã gây ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường sống của trái đất, mất cân bằng
sinh thái, tài nguyên cạn kiệt, ô nhiễm trở nên trầm trọng, khí hậu thay đổi, lũ lụt , hạn hán,
bệnh và tật di truyền ở con người....ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế xã hội.
- Thế nhưng, các em học sinh thường ít nhận thức, và thấy được những tác hại do ô
nhiễm môi trường gây ra. Vì thế, giảng dạy tích hợp “ Giáo dục môi trường” trong sinh học
là phải làm sao để gây hứng thú, hấp dẫn các em để nâng cao nhận thức, kích thích sự tìm tòi
3


về vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu này ở các em, để những chủ nhân tương lai của đất
nước sau này sẻ làm cho môi trường trở nên xanh-sạch-đẹp hơn. Do đó, bản thân tôi thấy
việc áp dụng một số “Phương pháp Giảng dạy giáo dục môi trường trong sinh học 9 theo
hướng tiếp cận năng lực học sinh”
3.Nội dung sáng kiến
3.1. Tiến trình thực hiện
a) Kế hoạch chung
- Giữa học kì I và đầu học kì II năm học 2015-2016 chọn và nghiên cứu thực hiện
sáng kiến
- Theo dõi, thu thập thông tin về ý thức bảo vệ môi trường của học sinh qua các bài
học
- Tiến hành áp dụng các kinh nghiệm và phương pháp để nghiên cứu các giải pháp
trên đối tượng học sinh
- Đầu năm học 2016-2017 đăng kí tên sáng kiến
- Tiến hành viết sáng kiến và tiếp tục áp dụng cho đối tượng mới để thu thập thông tin
thêm trong quá trình giảng dạy.
- Hoàn thiện sáng kiến và nộp sáng kiến theo quy định
b) Kế hoạch cụ thể
1. Xác định điều kiện học tập của học sinh, trình độ học sinh, đặc điểm tâm sinh lí của học
sinh theo từng đối tượng, từng lứa tuổi. Đặc biệt là khả năng hoạt động tích cực của học sinh
trong giờ học.
2. Tham khảo các tài liệu giảng dạy môn Sinh học 9, kiến thức các môn khác có liên quan
như: địa lí, hóa học, vật lí, lịch sử....để làm nguồn bổ sung kiến thức cho bản thân củng như
cho học sinh khi giảng dạy tích hợp giáo dục môi trường
3. Nghiên cứu thực tế điều kiện thiết bị đồ dùng dạy học hiện có của trường để có thể định
hướng trang bị và tự làm đồ dùng dạy học để phục vụ giờ học . Tự thiết kế mẫu phiếu học
tập, các mẫu báo cáo, tường trình trong các tiết dạy thực hành, tìm hiểu tâm lí học sinh đặc
biệt để giáo dục các học sinh cá biệt trong lớp giúp các em có thể phối hợp với các bạn để
giải quyết hay xử lí các yêu cầu của giáo viên đề ra.

4


4. Nghiên cứu thực tế phương pháp dạy học mới do Sở và phòng giáo dục và hội đồng bộ
môn trong huyện tổ chức.Thực hiện giảng dạy theo chuẩn kiến thức và rèn luyện kĩ năng
sống cho học sinh.
5. Điều tra các khu vực bị ô nhiễm gần khu vực dạy học để học sinh dễ đi thực tế. Xây dựng
các kế hoạch tích hợp giáo dục môi trường ở những bài có liên quan đến nội dung tích hợp
6. Đề xuất , hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu, tìm hiểu các giải pháp cũng như biện
pháp hạn chế tình trạng ô nhiễm môi trường do nhiều tác nhân.
3.2. Thời gian thực hiện
Sáng kiến được áp dụng trong khoảng thời gian của giữa học kì I ở chương IV “ Biến
dị” và học kì II phần “ Sinh vật và môi trường” môn sinh học 9, áp dụng đối với một số bài
có nội dung tích hợp giáo dục môi trường.
3.3. Biện pháp tổ chức:
3.3.1. Xác định yêu cầu tích hợp, địa chỉ tích hợp “giáo dục môi trường” trong từng bài
dạy:
Để giảng dạy tích hợp giáo dục môi trường có hiệu quả, người giáo viên cần tích hợp
một cách có hệ thống các kiến thức giáo dục bảo vệ môi trường với kiến thức môn học thành
nội dung thống nhất, gắn bó chặt chẽ với nhau dựa trên mối liên hệ lí luận và thực tiễn được
đề cập trong bài học. Vì vậy, kiến thức giáo dục môi trường không phải muốn đưa vào lúc
nào cũng được, mà phải căn cứ vào nội dung của bài học có liên quan với vấn đề môi trường
mới có thể tìm chổ thích hợp để đưa vào, mặt khác giáo viên phải xác định được yêu cầu tích
hợp và địa chỉ tích hợp trong từng bài dạy. Thường có 4 dạng yêu cầu như sau:
- Dạng bài yêu cầu liên hệ giáo dục: dạng này thường kiến thức giáo dục môi trường
không được đưa vào chương trình sách giáo khoa, nhưng dựa vào nội dung sách giáo khoa
giáo viên chỉ cần bổ sung, liên hệ, giới thiệu thêm cho học sinh về yêu cầu giáo dục mà
không đi sâu vào nội dung giáo dục này trong giờ lên lớp.(bài 21, 22, 23, 24, 25, 27 và bài
32)
- Dạng bài yêu cầu lồng ghép một phần: dạng này giáo viên sẽ đầu tư soạn giảng, hệ
thống câu hỏi để lồng ghép vào một phần của bài dạy, học sinh phải suy nghĩ, liên hệ kiến
thức thực tế để trả lời giáo viên.(bài 29, 30, 33)

5


- Dạng bài yêu cầu lồng ghép – liên hệ giáo dục: dạng này yêu cầu người giáo viên
phải chuẩn bị hệ thống câu hỏi để giáo dục học sinh, mặt khác cần liên hệ thêm, giới thiệu
hoặc minh họa thêm trong quá trình giảng dạy trở nên sinh động hơn. (bài 41 đến 47, 48, 63
và bài 66)
- Dạng bài yêu cầu lồng ghép toàn phần: dạng này thường kiến thức giáo dục môi
trường được đưa vào chương trình sách giáo khoa, là dạng bài mà giáo viên phải lồng ghép
giảng dạy nội dung tích hợp trong suốt quá trình của tiết học, nội dung được cụ thể hóa trong
giáo án, với cấu trúc hệ thống câu hỏi lôgic về kiến thức với nhau giữa nội dung bài học và
nội dung tích hợp( môi trường, dân số, sức khỏe, bảo vệ rừng, tài nguyên....)
2- Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp “ Trò chơi ”
Trò chơi là một hình thức dạy học kích thích được sự năng động, tích cực của học
sinh, thông qua trò chơi học sinh có thể vận dụng các kiến thức, kĩ năng đã học một cách
linh hoạt sao cho phù hợp với yêu cầu của trò chơi.
Dạy học tích hợp giáo dục bảo vệ môi trường dựa trên trò chơi là một phương pháp
gây nhiều hứng thú cho người học nhưng đòi hỏi tính sáng tạo cao của người dạy. Tùy theo
yêu cầu, vị trí của nội dung tích hợp mà giáo viên chọn nội dung trò chơi sao cho phù hợp
2.1. Trò chơi giải ô chữ
Trò chơi ô chữ là một trong những nguồn tư liệu trò chơi trí tuệ hỗ trợ hữu ích cho
giáo viên và học sinh trong quá trình dạy - học. Đây không chỉ là một trò chơi đơn thuần mà
còn là một hình thức học tập tăng khả năng tư duy của người chơi nếu được thiết lập và sắp
xếp phù hợp với chương trình học. Bên cạnh đó, “hình thức vừa học vừa chơi” mang lại cho
học sinh sự hứng thú, tăng cường khả năng ghi nhớ kiến thức.
Trò chơi này được tổ chức vào cuối tiết học hoặc một phần của bài học để liên hệ các
kiến thức liên quan đến bảo vệ môi trường được liệt kê trong bài học cho học sinh.
Ví dụ: “Bài 29- Bệnh và tật di truyền ở người”
Trò chơi được áp dụng tại phần III- Các biện pháp hạn chế phát sinh tật, bệnh di
truyền
- Yêu cầu để tiến hành trò chơi: giáo viên chuẩn bị hệ thống câu hỏi liên quan đến các
bệnh, tật di truyền hay câu hỏi liên quan đến vấn đề môi trường; chuẩn bị bảng ô chữ trống
để học sinh điền chữ vào; chuẩn bị câu hỏi chủ đề của trò chơi.
6


- Thể lệ chơi: Học sinh được quyền chọn câu hỏi và điền đáp án của mình vào vị trí
của ô chữ, điền đúng được khen ngợi, điền sai thì các bạn trong tổ có thể sửa và bổ sung.
- Cụ thể:
+ GV: treo bảng phụ chứa bảng ô chữ trống và câu hỏi để học sinh lựa chọn tương
ứng với ô chữ
+ HS: hoàn thành từng câu hỏi và giải đáp ừng ô chữ
+ Hệ thống câu hỏi:
Câu 1: Loại biến dị có thể di truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác?(Đột biến)
Câu 2: Một người đi khám bệnh, bác sĩ kết luận trong bộ nhiễm sắc thể của người này
có 3 nhiễm sắc thể 21. Theo kết luận của bác sĩ, em hãy giúp người đó biết là bệnh gì
không?( bệnh đao)
Câu 3: Da và tóc màu trắng, mắt màu hồng là biểu hiện của bệnh gì ở con người và cả
động vật?( bạch tạng)
Câu 4: Trong thời kì chống Mỹ cứu nước, bộ đội ta đóng quân trong những khu rừng
rậm và đã bị quân địch tấn công bằng cách rãi một loại hóa chất xuống rừng, làm cho các
chiến sĩ bộ đội sau này có con đều có biểu hiện bên ngoài khác lạ so với người bình thường.
Từ kiến thức lịch sử em hãy xác định chất hóa học kia có tên là gì?(dioxin)
Câu 5: Một loại bệnh mà trong bộ nhiễm sắc thể giới tính chỉ có 1 nhiễm sắc thể X?
(bệnh tơc-nơ)
Câu 6: Một loại bệnh thường thấy ở con của những người bị nhiễm chất phóng xạ,
chất độc hóa học trong chiến tranh, hoặc không cẩn thận trong sử dụng thuốc trừ sâu và
thuốc diệt cỏ? (Câm điếc bẩm sinh)
Câu 7: Từ những ô chữ trên hãy cho biết nguyên nhân chính dẫn đến các bệnh đã có
trong ô chữ đó? (ô nhiễm)

B

Đ

O

T

B

I

E

B

E

N

H

Đ

A

O

A

C

H

T

A

N

G

Đ

I

O

X

I

N

B

E

N

H

T

O

A

M

Đ

I

E

C

C

N

C

N

O

7


- Sau khi học sinh hoàn thành xong ô chữ, giáo viên cho học sinh thảo luận câu hỏi
chủ đề của phần này: Các bênh và tật di truyền rất nguy hiểm đối với con người, từ những
kiến thức đã biết, em hãy cho biết nguyên nhân và biện pháp để hạn chế các bệnh và tật di
truyền ở người?
- Học sinh thảo luận tích cự và đưa ra đáp án của nhóm.
→ Đáp án học sinh liên hệ:
- Nguyên nhân:
+ Do tác nhân vật lí, hoá học trong tự nhiên.
+ Do ô nhiễm môi trường.
+ Do rối loạn quá trình sinh lí, sinh hoá nội bào.
- Biện pháp:
+ Hạn chế các hoạt động gây ô nhiễm môi trường.
+ Sử dụng hợp lí các loại thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ dại, thuốc chữa bệnh.
+ Hạn chế kết hôn giữa những người có nguy cơ mang gen gây các tật bệnh di truyền.
2.2. Trò chơi hoạt động: Mở rộng, nâng cao kĩ năng xử lí thông tin, thu thập thông tin, rèn
luyện tính tự lập, tinh thần tập thể của các em.
Ví dụ bài 58- Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên
- Trò chơi: “Tài nguyên của tôi”
- Giáo viên sử dụng trò chơi này để hình thành khái niệm các loại tài nguyên, ví dụ
các loại tài nguyên và giáo dục các em có ý thức, thái độ bảo vệ tài nguyên, bảo vệ môi
trường.
- Nội dung trò chơi:
+ Giáo viên chia lớp thành 3 góc với 3 loại tài nguyên như sau: Tài nguyên tái sinh,
tài nguyên không tái sinh, tài nguyên năng lượng vĩnh cửu.
+ Phát cho các bạn tham gia trò chơi những mảnh giấy có ghi tên các tài nguyên theo
bảng 58.1 SGK trang 173.
+ Yêu cầu các bạn tham gia tìm đúng vị trí của mình và đứng đó
+ GV tiến hành kiểm tra, bạn nào sai thì bị phạt hát 1 bài, hoặc múa minh họa theo
bài hát
- Từ đó GV hình thành khái niệm về các loại tài nguyên cho các em

Hoạt động của GV
Hoạt động của HS
Nội dung
- GV yêu cầu HS nghiên cứu - Cá nhân HS nghiên cứu I. Các dạng tài nguyên thiên
8


SGK, tham gia trò chơi và hoàn
thành bài tập bảng 58.1 SGK
trang 173.
- GV nhận xét, thông báo đáp án
đúng bảng 58.1
1- b, c, g
2- a, e. i
3- d, h, k, l.
- GV đặt câu hỏi hướng tới kết
luận:
- Nêu các dạng tài nguyên thiên
nhiên và đặc điểm của mỗi dạng?
Cho VD?
- Yêu cầu HS thực hiện  bài tập
SGK trang 174.
- Nêu tên các dạng tài nguyên
không có khả năng tái sinh ở
nước ta?
- Tài nguyên rừng là dạng tài
nguyên tái sinh hay không tái
sinh? Vì sao?
GV liên hệ GDMT: Tài nguyên
thiên nhiên không phải là vô tận,
chúng ta phải sử dụng tiết kiệm
và hợp lí, vừa đáp ứng nhu cầu
sử dụng tài nguyên của hiện tại,
vừa đảm bảo duy trì lâu dài các
nguồn tài nguyên cho các hế hệ
mai sau Bảo vệ rừng,và cây
xanh trên trái đất sẽ có vai trò rất
quan trọng trong việc bảo vệ đất,
nước và các tài nguyên sinh vật
khác.

thông tin mục I SGK, tham
gia trò chơi và hoàn thành
bảng 58.1.
- Đại diện nhóm trình bày
kết quả, các nhóm khác
nhận xét, bổ sung.

nhiên chủ yếu
- Có 3 dạng tài nguyên thiên
nhiên:
+ Tài nguyên tái sinh: khi sử
dụng hợp lí sẽ có khả năng phục
hồi (tài nguyên sinh vật, đất,
nước…)
+ Tài nguyên không tái sinh là
dạng tài nguyên qua 1 thời gian
- HS dựa vào thông tin và sử dụng sẽ bị cạn kiệt (than đá,
bảng 58.1 để trả lời, rút ra dầu mỏ…)
kết luận:
+ Tài nguyên vĩnh cửu: là tài
nguyên sử dụng mãi mãi, không
- HS tự liên hệ và trả gây ô nhiễm môi trường (năng
lời:
lượng mặt trời, gió..)
+ Than đá, dầu lửa, mỏ
thiếc, sắt, vàng…
+ Rừng là tài nguyên tái
sinh vì bảo vệ và khai thác
hợp lí thì có thể phục hồi
sau mỗi lần khai thác.

3. Phương pháp tạo tình huống có vấn đề (đề xuất mâu thuẩn):

9


3.1. Tình huống tạo ra từ mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới: Loại tình huống
này xuất hiện do sự không phù hợp giữa kiến thức cũ (cái đã biết) và kiến thức mới (cái chưa
biết)
Ví dụ: Vận dụng ở bài 25: Thường Biến, phần I- Sự biến đồi kiểu hình do tác động
của môi trường để hình thành khái niệm “ Thường biến”
 Giáo viên đưa ra tình huống: Môi trường là một trong những yếu tố làm ảnh hưởng
đến kiểu gen của sinh vật, khi môi trường bị thay đổi có thể gây hậu quả là “đột biến gen” từ
các tiết trước các em đã học. Nhưng thực tế một số loài sinh vật khi thay đổi môi trường
sống và bị tác động từ môi trường đã xuất hiện kiểu hình khác không gây hại cho bản thân
Sinh vật đó. Bằng kiến thức đã học em hãy giải thích trường hợp này có phải là một dạng
đột biến gen không?
+ Ví dụ 1:

GV: Quan sát hình và cho biết sự khác biệt ở lá của cây rau mác trong các môi
trường?
HS: Lá trên cạn, trong không khí, trên mặt nước có hình mũi mác; Lá trong nước có
hình bản dài
GV: Lá của cây có phải bị đột biến không?
HS: không phải đột biến. Lá chỉ thay đổi để thích nghi với môi trường sống
GV: Vậy sự thay đổi của lá có tác dụng gì đối với cây?
10


HS: trong nước có bản dẹt để hạn chế bị tác động của sóng, nước chảy để cây không
bị tróc gốc; các trường hợp còn lại để cây nhận ánh sáng nhiều, và đứng vững khi thân ngập
nhiều trong nước.
+ Ví dụ 2: Cùng thuộc một giống su hào thuần chủng, nhưng cây trồng ở luống (A)
được bón phân, tưới nước, và phòng trừ sâu bệnh đúng qui trình kỉ thuật thì có củ to hơn hẵn
so với củ ở những cây trồng ở luống (B) không làm đúng quy trình kĩ thuật.

Hình luống A

Hình luống B

GV: Cây su hào ở luống (A) và luống (B) có phải bị đột biến không?Vì sao?
HS: Không phải đột biến. Vì ở luống A cây sống trong môi trường đầy đủ chất dinh
dưỡng và được chăm sóc tốt nên  củ to. Ở luống B cây sống trong môi trường thiếu chất
dinh dưỡng và không được chăm sóc tốt nên  củ nhỏ.
GV: Vậy muốn cây su hào có củ to hơn nữa chúng ta bón nhiều phân thêm nữa, phun
xịt nhiều thuốc dưỡng nữa có phải không? Vì sao?
HS: không đúng. Vì nếu phun thuốc và bón phân nhiều và quá liều lượng thì có thể
cây trồng sẽ bị ngộ độc và chết, bên cạnh đó sẽ làm ô nhiễm môi trường với dư lượng thuốc
ở ngoài môi trường
GV: Vậy kiểu hình của cây rau mác, cây su hào được biểu hiện ra bên ngoài phụ
thuộc vào yếu tố nào?
HS: Kiểu gen và môi trường
GV: Yếu tố nào trong 2 ví dụ trên được xem là không biến đổi?
HS: Kiểu gen
GV: Trong trường hợp nào thì yếu tố kiểu gen có thể bị biến đổi trong 2 ví dụ trên?
HS: Môi trường bị ô nhiểm, ảnh hưởng của thuốc trừ sâu
11


GV giảng dạy tích hợp GDMT: Trong cải tạo nâng cao năng suất cây trồng, nếu bón
phân hay phun xịt thuốc quá liều lượng có thể không có kết quả mà chất lượng nông sản còn
bị giảm (công nghệ 7). Mặt khác khi bón phân, phun thuốc nhiều quá thì dư lượng còn lại
trong đất làm cho môi trường đất, nước, không khí bị ô nhiễm  ảnh hưởng đến cây trồng
mà nghiêm trọng hơn là sức khỏe của con người.
GV: Trong 2 ví dụ trên, kiểu hình thay đổi khi môi trường sống thay đổi mà kiểu gen
không bị biến đổi, trường hợp này gọi là gì?
HS: Thường biến
GV: Dẫn dắt vào khái niệm thường biến.
3.2. Tình huống tạo ra từ mâu thuẫn giữa lí thuyết và thực tiễn: Tình huống này xuất hiện
khi những biểu hiện của thực tiễn đa dạng, phong phú không hợp lí với lý thuyết khoa học
tương ứng. Mâu thuẫn này đặt ra cho học sinh một nhiệm vụ cần nối nhịp 2 đầu cầu lý
thuyết và thực tiễn một cách phù hợp.
Ví dụ: Bài 21: Đột biến gen - phần vai trò của đột biến gen
- Tình huống 1: Trong giờ học sinh học 9 bạn Hưng nói với bạn Minh là “ Đột biến
gen luôn là có hại cho bản thân sinh vật”, nhưng bạn Minh không đồng ý, bạn Minh cho
rằng “ Đột biến gen cũng có lợi cho sinh vật” vì bạn đã ăn dưa hấu không hạt rất ngon. Các
em hãy giúp 2 bạn trên hiểu rõ hơn về đột biến gen đi nào?
Tình huống này tạo mâu thuẩn giữa việc có lợi và có hại của đột biến gen, giữa lí thuyết và
thực tế bên ngoài của cuộc sống
+ GV: khi nào thì đột biến gen có hại cho sinh vật?
HS: khi môi trường tự nhiên bị ô nhiễm do nhiều lí do, hoặc do sự thay đổi trong cấu
trúc của gen trong cơ thể sinh vật làm cho sinh vật bị biến đổi kiểu hình, không có khả năng
sinh tồn.
GV: khi nào đột biến gen có lợi?
HS: khi con người chủ động gây đột biến theo hướng có lợi cho mục đích của con
người
- GV tích hợp GDMT: khi môi trường trở nên ô nhiễm tác động trực tiếp lên sinh vật
gây biến đổi gen làm cho sinh vật có thể chết hoặc bị biến đổi về hình dạng. Còn trường hợp
đột biến gen có lợi cho sinh vật là do con người chủ động gây đột biến trong thực nghiệm
12


theo hướng sản xuất của con người, từ thực tế các sản phẩm đột biến do con người tạo ra
luôn có phẩm chất và năng suất hơn hẵn các giống trước đó.
3.3. Tình huống tạo ra bởi mâu thuẫn giữa nguyên nhân và kết quả (bất ngờ): Tình
huống này xảy ra khi xuất hiện mâu thuẫn giữa nguyên nhân và kết quả của nó, điều này gây
nên sự bất ngờ, ngoài dự đoán logic của học sinh. Cách giải quyết là làm sáng tỏ nguyên
nhân cơ bản nhất dẫn đến kết quả đó.
Ví dụ: Phần III- Thể đa bội
Sau khi học xong về khái niệm cũng như sự hình thành thể đa bội, bạn Hiền có ý
kiến: Tại sao ở thể dị bội ( 2n+1) thì số lượng nhiễm sắc thể trong tế bào vẫn tăng nhưng lại
gây ảnh hưởng xấu đến sinh vật và con người, còn đa bội thể thì lại có lợi cho sinh vật và
con người? Vận dụng kiến thức mình đã học hãy giúp bạn Hiền hiểu rõ hơn về vấn đề trên.
- Yêu cầu HS:
+ Sự hình thành thể dị bội 2n+1 và thể đa bội
+ Các dạng của thể dị bội và thể đa bội
- GV giải thích:
+ Ở thể dị bội do sự phân li không đồng đều của các cặp nhiễm sắc thể trong giảm
phân dẫn đến và biểu hiện xấu ở cơ thể sinh vật như: bệnh đao ở người có 3 NST 21, bệnh
ung thư máu ở người do mất 1 đoạn nhỏ ở đầu NST.
- Ở thể đa bội, thường do sự không phân li của các NST trong giảm phân làm cho số
NST trong tế bào tăng lên nhiều lần, làm tế bào tăng cường các hoạt động sống tăng kích
thướt và sức chống chịu của cơ thể trong môi trường sống
- GV tích hợp GDMT: Cả hai dạng trên đều chịu sự tác động trực tiếp từ môi trường,
nếu môi trường bị ô nhiễm như việc phun thuốc hóa học không hợp lí, không bảo vệ môi
trường đất, nước thì khả năng xảy ra đột biến có hại là rất cao đối với sinh vật và cả con
người.
4. Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp sơ đồ hóa nội dung tích hợp:
Sử dụng phương pháp này giáo viên có thể cô động lại kiến thức, nội dung tích hợp
giáo dục bảo vệ môi trường bằng sơ đồ(giống như sử dụng sơ đồ tư duy), từ đó học sinh có
thể lĩnh hội kiến thức, nội dung tích hợp một cách nhanh chóng, nhẹ nhàng không khô khan,
nhàm chán. Mặt khác nó làm cho học sinh hứng thú khi tham gia vẽ sơ đồ theo ý của bản
13


thân mà không bị bó buộc theo một khuôn mẫu nào của giáo viên, các em được quyền tự do
sáng tạo và thể hiện ý thức của bản thân trong học tập vấn đề giáo dục bảo vệ môi trường.
Ví dụ: Bài 48 - Quần thể người- Phần III- Tăng dân số và phát triển xã hội
- Chuẩn bị của GV:
+ Các mảnh giấy có ghi các thông tin ở mục  SGK
+ Nam châm lá gắn phía sau mỗi tờ giấy
-GV: yêu cầu HS thực hiện lệnh - Dân số tăng quá nhanh có thể dẫn đến những
trường hợp nào?
- HS thảo luận nhóm và hoàn thành sơ đồ:

Thiếu nơi ở

Chậm phát triển kinh tế

Ô nhiểm môi trường

Chặt phá rừng

Dân số
tăng
nhanh

Thiếu lương thực

Thiếu bệnh viện

Tắt nghẽn giao thông
Thiếu trường học
Bệnh viện

- GV: Tại sao dân số tăng lại dẫn đến ô nhiễm môi trường?
- HS: Viết nhanh sơ đồ biểu thị mối liên hệ trên:

Nơi ở
Thức ăn

Nhu cầu sống của con người
Dân
số
tăng

Chất thải sinh hoạt của con
người

Giao thông
Nông nghiệp

Ô
nhiễm
MT

Công nghiệp
Giao thông

- GV: giảng giải thêm, qua đó tích hợp giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho học
sinh trong vấn đề cơ bản nhất là “ rác thải sinh hoạt” của con người trong các hoạt động sống
hằng ngày.
- GV: Để hạn chế ảnh hưởng của việc tăng dân số quá nhanh và hạn chế ô nhiễm môi
trường mỗi quốc gia cần có biện pháp gì? Liên hệ bản thân, em sẽ làm gì trong vấn đề trên?
14


-HS: Vẽ sơ đồ nhanh ra giấy:
Tạo việc làm
Gia đình từ 1-2 con

Xây dựng khu dân cư

Tuyên truyền giáo dục ý thức

Dân số
hợp lí

Trồng nhiều cây xanh

- GV giảng giải và liên hệ thêm

Quản lí chặt dân số

Hạn chế sự nhập cư
Xây dựng môi
trường trong sạch

5. Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp “ Ceminar ”
- “ Ceminar ” là phương pháp học tập phát huy được tính tích cực học tập cao ở học
sinh, các em tự học, tự nghiên cứu tài liệu theo sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên. Sau đó
các em trình bày kết quả nghiên cứu, tìm tòi của nhóm trước lớp và kết luận vấn đề mà
nhóm đã lĩnh hội được.
- Phương pháp này hình thành cho các em nhiều năng lực và kĩ năng sống trong học
tập như: kĩ năng tự học, tự nghiên cứu, kĩ năng tìm tòi khám phá, kĩ năng phân tích dữ liệu,
kĩ năng nhận xét phán đoán, năng lực tư duy...đây là những kĩ năng, năng lực cần có ở học
sinh trong suốt quá trình giảng dạy theo định hướng giáo dục “ tiếp cận năng lực học sinh”
của Bộ Giáo dục&Đào tạo hiện nay.
- Để quá trình Ceminar được thành công thì khâu tổ chức, hướng dẫn, yêu cầu cho
học sinh của người giáo viên là rất qun trọng, giáo viên nên định hướng, lên kế hoạch cụ thể,
phân chia nhóm làm nhiệm vụ nào phải thật rõ ràng. Chú ý quá trình phân chia nhóm, các
nhóm có số lượng không quá 5 học sinh/nhóm, về trình độ phải có cả giỏi-khá-trung bình; ít
nhất trong mỗi nhóm phải có máy vi tính có kết nối mạng internet để thuận tiện cho việc
nghiên cứu, sưu tầm tài liệu.
Ví dụ: Bài 54- Ô nhễm môi trường(tt)- III. Hạn chế ô nhiễm môi trường
- Chuẩn bị của GV:
+ Bảng phân công nhiệm vụ của mỗi nhóm ( tiết trước khi dạy bài này)
15


 Nhóm 1: Hạn chế ô nhiễm không khí
 Nhóm 2: Hạn chế ô nhiễm nguồn nước
 Nhóm 3: Hạn chế ô nhiễm do thuốc bảo vệ thực vật
 Nhóm 4: Hạn chế ô nhiễm do chất thải rắn
+ Hướng dẫn thực hiện
+ Tổ chức thực hiện:
 Thời gian thực hiện
 Thời gian báo cáo
 Nội dung, yêu cầu ở mỗi nhóm: Nguyên nhân gây ô nhiễm; Hình ảnh(video) minh
họa; Hậu quả; Biện pháp hạn chế ô nhiễm.

Đại diện mỗi nhóm trình bày báo cáo của nhóm được phân công

16


Hình ảnh được chụp từ màn hình bài làm của học sinh ở các nhóm
17


6. Tích hợp giáo dục môi trường bằng phương pháp “ Trải nghiệm thực tế ”
Thực chất của phương pháp này là giao cho học sinh các nhiệm vụ thực tế qua các bài
thực hành về bảo vệ môi trường. Thay vì dạy ở lớp, bản thân tôi cho học sinh tìm hiểu ngay
tại địa phương, nơi các em đang sinh sống sao đó báo cáo lại trước lớp. Hình thức này cũng
gần giống như Ceminar nhưng các em được tham khảo và đi thực tế tại nơi mà bản thân cho
là bị ô nhiễm. Từ đó các em tự đề ra biện pháp xử lí tình trạng ô nhiễm đó.
Ví dụ: Bài 56-57: TH tìm hiểu tình hình môi trường ở địa phương
Giáo viên chọn địa điểm ( khu vực chợ, con kênh, ao hồ, quanh bệnh viện…) gần
trường sau đó thông báo cho học sinh chuẩn bị về phương tiện, vật dụng cần thiết, hướng
dẫn cho học sinh kẻ một số biểu bảng cần thiết như:
Bảng 1:

Nhân tố vô sinh

Nhân tố hữu sinh

Hoạt động của con người trong
môi trường.

Bảng 2:

Các nhân tố

Mức độ ô nhiễm

Nguyên nhân gây

Đề xuất biện pháp

ô nhiễm

khắc phục

gây ô nhiễm

Trong quá trình thực hành, bằng kiến thức gắn liền với điều tra thực tế môi trường,
tuy ở mức độ nhỏ nhưng học sinh cảm nhận được vai trò của việc bảo vệ môi trường tại địa
phương nói riêng và trên toàn cầu nói chung trong giai đoạn hiện nay.
Sau khi hoàn thành các biểu bảng như trên, giáo viên yêu cầu học sinh liên hệ các giải
pháp cụ thể để giải quyết vấn đề ô nhiễm đó trong khả năng của các em.(đây là yêu cầu về
mặt nhận thức ở học sinh). Các chủ đề cụ thể như:
- Rác thải trên khu vực dòng sông nơi các em đang sinh sống ?
- Xác chết của động vật được vứt xuống sông khi các em trông thấy ?
- Hiện tượng nước thải từ việc phun xịt thuốc hóa học đươc thải ra sông, kênh?
- Chăn thả gia cầm (vịt) dưới sông?
- Bãi rác của khu dân cư, trường học bị ô nhiễm.?
18


- Rác thải từ các công trình công cộng, y tế ?
Khi học sinh giải quyết được tất cả các trường hợp trên thì nhận thức của các em đã
được nâng lên đáng kể, bởi lẽ các em đã thấy được tác hại rõ ràng của sự ô nhiễm môi
trường đến sức khỏe cũng như cuộc sống của bản thân, gia đình và của cả cộng đồng xã hội
Trong quá trình học sinh đi khảo sát thực tế, giáo viên cần hình thanh cho các em kĩ
năng tự bảo vệ bản thân, bảo vệ sức khỏe vì các em sẽ tiếp xúc với môi trường ô nhiễm thì
khả năng lây nhiễm mầm bệnh rất cao, hoặc môi trường nước thì rất nguy hiểm đối với học
sinh không biết bơi. Do đó kĩ năng tự bảo vệ bản thân thật sự rất quan trọng trong phương
pháp học tập này
Ví dụ: Bài thường biến - chứng minh thường biến không di truyền được
- GV: yêu cầu học sinh chứng minh “ Thường biến” là biến dị không di truyền được?
- GV: hướng dẫn học sinh tự thực hiện thí nghiệm để chứng minh
+ Chuẩn bị: 2 mẫu rau dừa ở nước và ở cạn
+ Tiến hành thí nghiệm: đem rau dừa mọc ở cạn trồng ở khu vực có nước và ngược
lại, đem rau dừa ở nước lên trồng ở trên cạn, một thời gian sau quan sát và ghi lại kết quả.
Mặt khác, trồng 2 loại cây rau dừa trên ở 2 nơi như sau: bãi rác và vùng nước ô nhiễm
( nước thải sinh hoạt, nông nghiệp, khu dân cư, khu vực chợ...) và cũng quan sát kết quả...
+ Kết quả: cây rau dừa mọc trên cạn đem trồng ở nước sẽ có phao(rễ không khí)
giống cây rau dừa mọc ở nước trước đó; còn cây rau dừa sống ở nước đem trồng ở cạn thì
thân cứng và không còn rễ phao (rễ không khí)như trước nữa
 Kết luận: Thường biến là biến dị không di truyền được
Mặt khác, các cây rau dừa trồng ở nơi bị ô nhiễm thì bị còi cọc, kém phát triển, thậm
chí còn bị chết khô  môi trường bị ô nhiễm ảnh hưởng trực tiếp đến sự sống của sinh vật
 GD ý thức bảo vệ môi trường cho học sinh.
V- Hiệu quả đạt được
1) Đối với bản thân:
- Việc áp dụng các phương pháp nêu trên trong giảng dạy tích hợp giáo dục môi
trường trong môn sinh học 9 làm cho bản thân thấy hứng thú hơn trong giờ dạy bởi tính
năng động, tích cực phát biểu của học sinh khi giải quyết vấn đề mình đặt ra. Mặt khác, từ
việc áp dụng này lại kích thích tính sáng tạo, tư duy của giáo viên để đề xuất được các
19


phương pháp mới trong các tiết dạy nhằm đem lại hiệu quả cao cho tiết dạy của thầy và tiết
học của trò.
- Nâng cao sự hiểu biết của giáo viên về kiến thức thực tế nhất là về ô nhiễm môi
trường, có thể giúp giáo viên phát hiện ra một số nội dung, kiến thức mà trước đây mình
chưa từng biết, hay chưa hiểu hết.
- Quá trình giảng dạy trở nên nhẹ nhàng hơn khi cho học sinh thực hiện “ Cemina”,
tham quan thực tế, xử lí các bài tập tình huống làm cho “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, có
kiểm chứng minh họa. Mặt khác giúp giáo viên chủ động hơn trong thời gian giảng dạy,
không còn sợ phải “cháy” hay “ướt” giáo án nữa.
b) Đối với học sinh:
- Phát huy được tính tích cực, chủ động trong học tập của các em trong giờ học, các
em đã không còn nhàm chán trong giờ học và bắt đầu ham thích tìm hiểu về môi trường.
- Tích cự tham gia sưu tầm, khai thác thông tin từ internet vào lớp để học, thực hành
- Giúp các em học sinh rụt rè, lười phát biểu có thể mạnh dạn và tự tin hơn khi được
chính bản thân mình tìm tòi, đề ra biện pháp tránh ô nhiễm môi trường mà các kiến thức này
rất gần với thực tế từ cuộc sống của các em kết quả học tốt hơn.
- Đã dần dần hình thành được thái độ, thói quen, hành động cụ thể cho học sinh về
vấn đề bảo vệ môi trường như: các em đã đổ rác đúng nơi quy định, vệ sinh và giữ lớp sạch
sẽ từ đầu giờ học đến khi ra về; các em tích cực tham gia trồng cây xanh, hoa kiểng cùng với
nhà trường.
- Học sinh biết lên tiếng, không thờ ơ với các hành động ảnh hưởng xấu đến môi
trường và ô nhiễm môi trường
- Có ý thức tuyên truyền, vận động mọi người cùng tham gia bảo vệ môi trường
sống.
- Phát huy được kĩ năng tự tin, kĩ năng giải quyết vấn đề và trình bày ý kiến trước tập thể của
học sinh. Khắc phục được tình trạng thụ động, ngồi im nghe giáo viên giảng không chịu phát biểu
của một số học sinh bằng cách cho các em thảo luận nhóm giải quyết các vấn đề dễ trước, và mức
độ sẻ tăng dần lên theo cấp số nhân.

Số lượng

Kết quả sau khi áp dụng đề tài (PHỤ LỤC 1)
Tốt
Khá
Trung bình
Chưa nhận thức được
29
32
11
0
20


Tỉ lệ

40.3%

44.4%

15.3%

0%

VI- Mức độ ảnh hưởng
1. Các lĩnh vực, địa chỉ có thể áp dụng sáng kiến
- Các biện pháp tích hợp giáo dục môi trường nêu trên có thể vận dụng vào trong
giảng dạy không chỉ ở bộ môn Sinh học, mà còn có thể vận dụng để giảng dạy tích hợp giáo
dục bảo vệ môi trường ở các môn khác trong trường như: Địa lí, hóa học, Công nghệ 7, Vật
lí, Lịch sử, Ngữ văn, giáo dục công dân
- Các phương pháp này có thể vận dụng vào tất cả các lứa tuổi ở cấp Trung học cơ sở,
chứ không phải chỉ phù hợp với lứa tuổi học sinh lớp 9.
- Có thể vận dụng và có hiệu quả với tất cả các đối tượng học sinh ở mọi vùng miền
của đất nước(vùng biển, vùng núi cao, vùng đồng bằng…)
2. Điều kiện cần để thực hiện các giải pháp của sáng kiến
- Để đạt hiệu quả cao trong giáo dục của môn Sinh học nói chung và giáo dục môi
trường nói riêng thì người giáo viên phải thường xuyên cập nhật thông tin, kiến thức về lãnh
vực môi trường để làm cho bài dạy thêm sinh động, hấp dẫn và thuyết phục hơn.
- Sinh học là môn khoa học thực nghiệm, người giáo viên phải làm cho học sinh thấy
được kiến thức phải gắn liền với thực tiễn. Vì vậy, bên cạnh việc tổ chức cho học sinh tìm
hiểu môi trường trên lớp học mà còn phải cho học sinh quan sát môi trường thực tế, mà
muốn đạt hiệu quả cao thì giáo viên phải đi tìm trước nơi quan sát để tìm hiểu và lên kế
hoạch cho cụ thể.
- Khi giao nhiệm vụ cho nhóm học sinh, thì giáo viên yêu cầu các thành viên trong
nhóm phải tích cực hoạt động đóng góp ý kiến, trao đổi thảo luận để hoàn thành yêu cầu
giáo viên đặt ra nhằm giúp mỗi học sinh có ý thức tốt trước môi trường.
- Giáo viên còn có thể cho học sinh chụp hình, quay phim lại những gì trong lúc quan
sát môi trường, để cho các em thấy rỏ được nguyên nhân hay hậu quả của ô nhiễm môi
trường từ đó các em càng có ý thức bảo vệ môi trường hơn.
- Giáo viên nên tìm hiểu hoàn cảnh học tập của học sinh để có thể chia nhóm thảo
luận, nghiên cứu cho phù hợp, nhóm nào cũng phải có tối thiểu một học sinh ở nhà có máy

21


vi tính và kết nối internet để phục vụ cho kĩ năng tự học, tự khai thác thông tin bổ sung từ
mạng internet.
- Bản thân giáo viên phải chủ động, linh hoạt trong các khâu tổ chức, hướng dẫn, thiết
kế các hoạt động cho học sinh trong vấn đề bảo vệ môi trường. Mặt khác, yêu cầu năng lực
về công nghệ thông tin của giáo viên cũng rất quan trọng (giáo viên sưu tầm hình ảnh, video
để minh họa, liên hệ, lồng ghép) trong các tiết dạy.
- Khi tích hợp ý thức bảo vệ môi trường, giáo viên cần xác định mỗi học sinh là một
tuyên truyền viên tốt về bảo vệ môi trường trong trường học, địa phương để các em có thể
thoải mái, tự tin tiếp nhận nhiệm vụ học tập, tránh trường hợp nặng nề về kiến thức phải học
thuộc và nhớ một cách máy móc mà có thể dẫn đến không nâng cao được nhận thức của học
sinh.
VII- Kết luận
- Trước sự biến đổi ngày càng nghiêm trọng của khí hậu toàn cầu như: sự nóng lên
của trái đất, hiệu ứng nhà kính, hiện tượng elnino, băng tan, thì hậu quả của nó đã xảy ra cho
nhân loại như sóng thần, lũ lụt, hạn hán đã làm thức tỉnh mọi người. Do đó công tác giáo dục
bảo vệ môi trường cho mọi người mà đặc biệt là những học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà
trường phải làm sao để có nhận thức đúng về môi trường và ý nghĩa sống còn của việc bảo
vệ môi trường, thường xuyên quan tâm đến môi trường, hình thành được các kĩ năng bảo vệ
môi trường, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế - xã hội, từng bước nâng
cao chất lượng cuộc sống cho bản thân, gia đình và nhân loại.
- Đối với giáo viên khi thực hiện giảng dạy phần ô nhiễm môi trường cho tất cả các
khối lớp, chúng ta không nên coi là phần phụ mà phải nghiêm túc chuẩn bị nội dung,
phương pháp, cập nhập những thông tin sao cho học sinh thấy đây là vấn đề cấp bách của
con người trong tương lai.
- Mặt khác, ngoài việc sử dụng các phương pháp trên, giáo viên có thể vận dụng kiến
thức của các môn học khác để giáo dục bảo vệ môi trường, hoặc thông qua các hoạt động
ngoại khóa khác do Đoàn- Đội nhà trường tổ chức.
- Qua các phương pháp mà bản thân đã áp dụng, tôi nhận thấy được sự thay đổi trong
nhận thức của học sinh về bảo vệ môi trường như: các em biết tích cực vệ sinh lớp, vệ sinh

22


sân trường, không vứt rác, xã rác bừa bãi trong lớp học; biết đổ rác đúng nơi quy định của
nhà trường; biết tuyên truyền về bảo vệ môi trường cho các bạn học sinh khác…
- Tóm lại, trong thời kì công nghiệp hóa- hiện đại hóa và xu thế hội nhập quốc tế thì
vấn đề mà Đảng và Nhà nước ta quan tâm đó là vấn đề bảo vệ môi trường, vì chỉ có bảo vệ
môi trường mới có thể bảo vệ được sự sống trên trái đất kể cả con người. Chính vì thế giáo
dục bảo vệ môi trường trong môn sinh học, là một nhu cầu không thể thiếu để hình thành
cho các em ý thức đứng đắn trước vấn nạn môi trường ngày càng ô nhiễm nghiêm trọng. Từ
đó các chủ nhân tương lai của đất nước sẽ có cái nhìn đúng đắn và tốt hơn để bảo vệ môi
trường cũng như bảo vệ sự sinh tồn của bản thân, gia đình và cả nhân loại.
Tôi xin cam đoan những nội dung báo cáo là đúng sự thật
Xác nhận của đơn vị áp dụng sáng kiến

Người viết sáng kiến

................................................................
................................................................
................................................................
Nguyễn Quang Đền

23


PHỤ LỤC 1

PHIẾU KHẢO SÁT
Câu 1: Luật Bảo vệ môi trường (BVMT) hiện nay được ban hành ngày tháng năm nào? Có
hiệu lực thi hành kể từ ngày nào?
a) Ngày 29/11/1993, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/1994.
b) Ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2006.
c) Ngày 29/11/2005, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/7/2006.
Câu 2: Luật BVMT giải thích “Ô nhiễm môi trường” là ?
a) Sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi
trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
b) Sự biến đổi của các yếu tố vi khí sáng hậu, vật lý, hoá học … trong môi trường vượt
quá tiêu chuẩn cho phép, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật.
c) Cả a và b đều đúng.
Câu 3: Em có nhận xét gì khi các bạn vô tư ngồi ăn bánh và bỏ rác vào bồn hoa quanh
trường?
a) Thấy bình thường
b) Sẽ có người nhặt thôi
c) Không liên quan đến mình
d) Hành động này không đúng.phải bỏ rác vào sọt rác
Câu 4: Phá rừng góp phần vào bao nhiêu % lượng chất thải khí gây hiệu ứng nhà kín trên toàn cầu?
a) 5%;
b) 10%;
c) 20%;
d) 50%.
Câu 5: Thiết bị điện nào sao đây phát thải nhiều khí CO2 nhất trong 01 giờ sử dụng?
a) Máy vô tuyến truyền hình;
b) Máy vi tính;
c) Máy lạnh;
d) Laptop.
Câu 6: Em có nhận xét gì khi có bạn đi vệ sinh mà không dội nước vào bồn cầu?
a) Không liên quan đến em
b) Không quan tâm
c) Rất nóng giận nhưng rồi thôi
d) Thấy thiếu lịch sự và tế nhị vì làm ô nhiễm không khí quanh phòng học
Câu 7: Năng lượng mặt trời, năng lượng gió, địa năng, năng lượng hạt nhân được coi là
năng lượng có khả năng tái tạo vì?
a) Chúng sạch và dễ sử dụng;
b) Chúng có thể chuyển thành điện và nhiệt một cách dễ dàng;
c) Chúng có thể được tái tạo lại một thời gian ngắn sau khi con người khai thác;
d) Chúng không gây ô nhiễm không khí.
24


Câu 8: Lựa chọn giải pháp năng lượng cho tương lai trước mắt tốt nhất là:
a) Sử dựng tiết kiệm điện và hiệu quả năng lượng, đa dạng hóa các nguồn năng
lượng, tăng cường năng lượng tái tạo
b) Điện hạt nhân và năng lượng tái tạo
c) Năng lượng nhiệt hạch và nền kinh tế Hydrogen
d) Năng lượng mặt trời và địa nhiệt.
Câu 9: Hành động nào sau đây là gây ô nhiễm môi trường nước và nguy hại đến sức khỏe
con người?
a) Vứt rác thải xuống sông
b) Bỏ xác gia xúc, gia cầm bệnh, chết xuống sông
c) Xả nước từ ruộng ra sông khi vừa mới phun thuốc trừ sâu
d) Tất cả các câu trên
Câu 10: Em sẽ làm gì khi thấy có người bỏ rác ở công viên, sân trường...?
a) Nhắc nhở người đó nên bỏ rác đúng nơi qui định
b) Nhặt rác đó bỏ vào thùng
c) Nhặt rác đó bỏ vào thùng rác và nhắc nhở người đó nên bỏ rác đúng nơi qui định
d) Không làm gì cả
Câu 11: Khi có người rủ em hút thuốc lá, em sẽ làm gì?
a) Chấp nhận
b) Từ chối
c) Từ chối và khuyên bạn về tác hại của khói thuốc lá
d) Không trả lời
Câu 12: Em sẽ làm gì khi thấy bạn trong lớp xé giấy và rải khắp lớp?
a) Báo với thầy cô
b) Ghi nhận lại cuối tuần báo với GVCN
c) Nhắc nhở bạn không nên làm vậy và cùng bạn nhặt rác bỏ vào sọt rác
d) Không làm gì cả
Câu 13: Khi nhà trường, địa phương phát động chiến dich thu gom rác ở chợ em sẽ là gì?
a) Tìm cách tránh né không tham gia
b) Lấy lí do bị bệnh không đi được
c) Tích cực tham gia và rủ bạn bè cùng tham gia
d) Cùng đi nhưng không tham gia làm
Câu 14: Khi nhà trường yêu cầu tổng vệ sinh, lao động trường lớp em sẽ:
a) Hưởng ứng
b) Không hưởng ứng
c) Tích cực tham gia và rủ bạn bè cùng tham gia
d) Không làm gì cả
Câu 15: Đến tuần lớp mình trực lao động vệ sinh sân trường em sẽ:
a) Cố tình đi học trể để không làm
b) Để các bạn vi phạm làm vì em không có vi phạm
c) Tham gia nhưng không làm
d) Tích cực làm cùng các bạn để sân trường sạch đẹp

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×