Tải bản đầy đủ

PHUONG PHAP NGUYEN CUU KHOA HOC

PHƯONG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC

Câu 1. Khái niệm và ý nghĩa của khoa học ?
Trả lời:
Khái niệm: Khoa học là một hệ thống tri thức của nhân loại về các quy luật tự nhiên, xã hội và
tư duy, hệ thống tri thức này được tích luỹ trong lịch sử và không ngừng phát triển trên cơ sở thực
tiễn xã hội.
Ý nghĩa: Khoa học giải thích và chứng minh đúng đắn nguồn gốc và quá trình phát triển của sự
vật, sự việc trong đời sống hiện thực, phát hiện những mối liên hệ bản chất của các hiện t ượng.
Khoa học giúp con người có được những tri thức về quy luật khách quan của tự nhiên, xã hội, từ đó
con người áp dụng các quy luật khách quan để tự hoàn thiện mình và cải tạo, hoàn thiện thế giới
hiện thực.
Khoa học được chia thành hai lĩnh vực lớn và cơ bản đó là khoa học tự nhiên và khoa học xã
hội. Khoa học có ý nghĩa và vị trí đặc biệt quan trọng trong mọi xã hội. Có thể nói, không có khoa
học tự nhiên thì không có sự biến đổi lớn lao trong kỹ thuật, công nghệ, không có khoa học xã hội
thì xã hội hiện đại ngày nay sẽ không có được sự cải tạo mạnh mẽ và tiến bộ.
Câu 2. Điều kiện phát triển khoa học ?
Trả lời:
Mục đích và phương hướng phát triển của khoa học do đời sống xã hội quy định. Khoa học bao
giờ cũng tồn tại và phát triển trong những điều kiện cụ thể của lịch sử, trong những điều kiện của
phương thức sản xuất nhất định. Chính vì vậy, sự phát triển của khoa học không những do sự phát

triển của lực lượng sản xuất mà còn có sự phát triển của quan hệ sản xuất quyết định. Những quy
luật phát triển kinh tế, đặc biệt đối với một hình thái kinh tế xã hội nhất định quyết định điều kiện
phát triển, phổ biến và sử dụng tri thức khoa học. Lịch sử kỹ thuật đã chứng minh rằng khi quan hệ
sản xuất mâu thuẫn với sự phát triển của lực lượng sản xuất khi kìm hãm sự nguyên cứu và sử
dụng những phát minh khoa học, và trái lại quan hệ sản xuất nào phù hợp với trình độ đã đạt được
của lực lượng sản xuất, thì tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển nhanh chóng của khoa học, và
cho sử dụng khoa học một cách rộng rãi.
Đời sống thực tế xã hội và yếu tố lịch sử là tiêu chuẩn chân lý của tri thức khoa học, kích thích
phát triển khoa học. Thực tiễn và lịch sử là nền móng cho ý tưởng khoa học được hình thành cùng
với những nhiệm vụ mà khoa học phải giải quyết, điều kiện này là sự quyết định phát triển của một
ngành tri thức nào đó.
Sự phát triển của khoa học gắn liền với mọi phương diện của đời sống xã hội và trước hết là sản
xuất. Hoạt động sản xuất của con người ảnh hưởng trực tiếp đến khoa học, là nhu cầu để phát triển
khoa học, khoa học phát triển là động lực thúc đẩy đời sống xã hội văn minh và hiện tại.
Câu 3. Khái niệm nghiên cứu khoa học ? Mục đích và yêu cầu của nghiên cứu khoa học ?
Trả lời:
Khái niệm nghiên cứu khoa học: Từ bản chất của nghiên cứu khoa học người ta có thể hiểu
nghiên cứu khoa học là:
+ Nghiên cứu khoa học là sự tìm kiếm là những điều mà khoa học chưa biết; hoặc là sự phát
hiện bản chất sự vật, phát triển nhận thức khoa học về thế giới; hoặc là sáng tạo phương pháp mới.
+ Nghiên cứu khoa học là tìm hiểu, xem xét, điều tra có phương pháp khoa học để từ những dữ
liệu đã có muốn đạt đến một kết quả nghiên cứu mới hơn, cao hơn, giá trị hơn
+ Nghiên cứu khoa học hiểu theo khía cạnh công nghệ: Là quá trình thu nhập, xử lý và chế biến
thông tin, như vậy thông tin, dữ liệu là nguyên liệu chính của nghiên cứu khoa học.
Mục đích: Hoàn thiện nhận thức về thế giới khách quan, góp phần làm giàu tri thức của nhân
loại và để cải tạo thế giới.
Nguyễn Văn Nam – Cam Ranh – Khánh Hoà


PHƯONG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC

Khám phá, tìm kiếm, sáng tạo các giá trị nhận thức mới, phương pháp mới, công nghệ mới để
tăng năng suất lao động, cải tạo xã hội, hoàn thiện nhân cách con người, phát triển nền văn minh
nhân loại.
Mục tiêu cơ bản của nghiên cứu khoa học là tạo ra các giá trị mới bao gồm cả nhận thức và
phương pháp.
Nghiên cứu khoa học không chỉ dừng lại ở phạm vi nhận thức, những tri thức đã được khẳng
định, điều quan trọng hơn cả đó là việc tổng kết thực tiễn, tìm ra cái mới, sáng tạo ra cái mới để
thực hiện rộng rãi trong đời sống xã hội.
Yêu cầu: Nghiên cứu khoa học là một loại nghề nghiệp, hoạt động trí óc, bằng những phương


pháp nhất định để tìm kiếm, chỉ ra một cách chính xác và có mục đích những gì mà con ng ười chưa
biết đến. Như vậy sản phẩm của nghiên cứu khoa học là những kiến thức mới khách quan. Muốn
tạo ra những sản phẩm khoa học hay kiến thức mới các nhà khoa học phải là những người được
đào tạo một cách có hệ thống, có trình độ hiểu biết nhất định về lĩnh vực khoa học cần nghiên cứu,
điều quan trọng là phải có phương pháp và đạo đức nghiên cứu.
Sản phẩm của nghiên cứu khoa học có thể là sự khám phá ra các quy luật, định luật mới, hoặc
sang tạo ra bộ môn, ngành khoa học mới; cũng có thể là những công trình có giá trị ứng dụng thực
tiễn với những nguyên lý, nguyên tắc hoặc phương pháp mới và cũng có thể là những kiến nghị,
giải pháp, biện pháp để đáp ứng nhu cầu của thực tiễn…Nhưng tất thẩy mọi sản phẩm này là
những sản phẩm có giá trị mới về nhận thức hoặc phương pháp.
Câu 4. Có bao nhiêu cách phân loại nghiên cứu khoa học ?
Trả lời:
Có nhiều cách phân loại nghiên cứu khoa học. Phân loại theo giai đoạn nghiên cứu, theo
phương pháp nghiên cứu và theo chức năng nghiên cứu.
Phân loại theo giai đoạn: Theo các giai đoạn nghiên cứu người ta chia thành nghiên cứu cơ
bản, nghiên cứu ứng dụng và nghiên cứu triển khai.
+ Nghiên cứu cơ bản: Là loại hình nghiên cứu nhằm tìm, khám phá các quy luật của tự nhiên,
kết quả của nghiên cứu cơ bản có thể làm thay đổi các quan niệm, hệ thống lý thuyết, các quy trình
công nghệ có trước đó thậm chí làm thay đổi cả một hệ thống kiến thức để hình thành một bộ môn
khoa học mới, ngành sản xuất mới hoặc một phương pháp mới. Nghiên cứu cơ bản được chia làm 2
nhóm: Nghiên cứu cơ bản thuần tuý và nghiên cứu cơ bản có định hướng trước.
+ Nghiên cứu ứng dụng: Dựa trên kết quả của nghiên cứu cơ bản để ứng dụng vào nghiên cứu
một vấn đề cụ thể, nhằm đáp ứng nhu cầu thiết thực cho đời sống thực tiễn. Giá trị cụ thể của
nghiên cứu ứng dụng còn phụ thuộc vào một phần của nghiên cứu triển khai thực nghiệm.
+ Nghiên cứu triển khai: Là loại hình nghiên cứu nhằm áp dụng các kết quả nghiên cứu ứng
dụng đưa ra áp dụng trong đời sống thực tế xã hội. Đó là sự áp dụng các nguyên lý, các quy trình,
triển khai các giải pháp để tạo ra các hình mẫu cần thiết phục vụ sản xuất và đời sống.
Phân loại theo phương pháp nghiên cứu: Căn cứ vào các phương pháp nghiên cứu người ta
phân loại nghiên cứu thành các loại nghiên cứu như: Nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu lý thuyết,
nghiên cưứ phi thực nghiệm, nghiên cứu thực nghiệm.
Phân theo phương pháp, được sử dụng cho bản thân người nghiên cứu lựa chọn cách thức tiến
hành công việc cụ thể nghiên cứu của mình.
Phân loại theo chức năng nghiên cứu: + Nghiên cứu mô tả: Là những nghiên cứu ở mức độ mô
tả sự vật, hình thái và cấu trúc, quy luật vận động của sự vật.
+ Nghiên cứu giải tích: Là những mô tả nhằm cắt nghĩa căn nguyên của sự vật, căn nguyên sự
hình thành, hình thái và cấu trúc của sự vật, sự vận động của sự vật.
Nguyễn Văn Nam – Cam Ranh – Khánh Hoà


PHƯONG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC

+ Nghiên cứu giải pháp: Hiểu theo khía cạnh kỹ thuật, nghiên cứu giải pháp là nghiên cứu sáng
chế tạo ra cái trước đây chưa có sẵn trong thế giới vật chất.
+ Nghiên cứu dự báo: Là nghiên cứu nhằm nhìn trước sự vận động, diễn biến và trạng thái của
sự vật tại một thời điểm nào đó trong tương lai.
Câu 5. Phương pháp luận trong phương pháp khoa học là gì ?
Trả lời:
Phương pháp luận được hiểu như là một cách thức, quy tắc tổ chức một phép chứng minh (luận
chứng) nhằm vạch rõ mối quan hệ logic tất yếu giữa các căn cứ của lý thuyết và thực tiễn để giải
quyết vấn đề khoa học mà người nghiên cứu cần đạt được đó là mục tiêu nghiên cứu.
Phương pháp luận phải được hình thành từ những căn cứ lý thuyết của khoa học và thực tiễn.
Lý thuyết và thực tiễn được người nghiên cứu đặt, xem xét phân tích trong một hệ thống và được
đảm bảo bởi tính logic và biện chứng khách quan trong mối quan hệ chung của hệ thống.
Trước khi thực hiện một đề tài khoa học. Người nghiên cứu phải tìm cho được đầy đủ những
căn cứ để lập luận và chứng minh rằng vấn đề nghiên cứu của tôi đ ược giải quyết theo hướng nào
và các nội dung nghiên cứu được tiến hành theo một trật tự (logic nào), đó là cách xác định một
phương pháp luận trong nghiên cứu khoa học cho một đề tài. Phương pháp luận đóng vai trò chủ
đạo đối với công việc nghiên cứu. Mục tiêu nghiên cứu của một đề tài khoa học chỉ đạt được khi có
một phương pháp luận đúng và khoa học (logic và biện chứng).
Phương pháp luận như là những con đường dẫn đến đích cuối cùng là mục tiêu nghiên cứu.
Người nghiên cứu có thể tìm ra được nhiều đường đi để đến đích, nhưng không phải muốn đi đến
đích là phải đi tất cả mọi con đường mà ở đây phải chọn lấy một con đường tốt nhất và phù hợp
nhất để đi. Đứng trước những con đường khác nhau dẫn đến cùng một mục đích, phương pháp luận
sẽ chỉ cho ta con đường nào là con đường ngắn nhất và tốt nhất.
Câu 6. Các phương pháp của nghiên cứu khoa học cụ thể ?
Trả lời:
Trong những phương pháp nghiên cứu cụ thể được sử dụng trong nghiên cứu khoa học nói
chung, người ta chia thành các nhóm phương pháp sau:
+ Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Là phương pháp nghiên cứu sự kế thừa kết quả nghiên cứu
của những người nghiên cứu trước đó đã được công bố.
+ Phương pháp lý thuyết: Là phương pháp được sử dụng cho tất cả các khoa học tự nhiên, xã
hội và các khoa học khác. Đây chính là phương pháp nghiên cứu mà chất liệu cho nghiên cứu chỉ
gồm những khái niệm, quy luật, tư liệu, số liệu…đã có sẵn từ trước đó không tiến hành bất kỳ một
quan sát hoặc thực nghiệm nào, chẳng hạn như nghiên cứu toán học, hình học. Nghiên cứu lý
thuyết là thuần tuý dựa trên khái niệm, phán đoán và suy luận để đưa ra những giải pháp giải quyết
vấn đề.
+ Phương pháp nghiên cứu phi thực nghiệm: Là phương pháp cũng dựa vào sự quan sát các sự
vật hoặc hiện tượng đang diễn ra, nhưng không có bất cứ sự can thiệp hay kích tác nào gây biến đổi
trạng thái thực sự của đối tượng nghiên cứu. Đây là phương pháp được áp dụng trong các cuộc
phỏng vấn, hội thảo, điều tra.
+ Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Được thực hiện bởi những quan sát các sự vật hoặc
hiện tượng diễn ra trong thực tế, và trong điều kiện có kích tác theo chủ định của người nghiên
cứu. Nói cách khác, nghiên cứu thực nghiệm là quan sát tại hiện trường hoặc trên mô hình do
người nghiên cứu tạo ra, với những tham số đã được khống chế trước.

Nguyễn Văn Nam – Cam Ranh – Khánh Hoà


PHƯONG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC

+ Phương pháp nghiên cứu trắc nghiệm: Là những phương pháp nghiên cứu dựa vào sự quan
sát các phản ứng của đối tượng khảo sát trước những biến đổi môi trường, trong đó người nghiên
cứu không gây biến đổi trạng thái của đối tượng quan sát.
Tất cả các phương pháp nêu trên luôn có sự liên hệ và tương hỗ nhau trong quá trình sử dụng
vào việc nghiên cứu hoặc thực hiện một nhiệm vụ khoa học cụ thể nào đó. Vì vậy trong khi nghiên
cứu, đòi hỏi người nghiên cứu phải coi trọng và rèn luyện tất cả các phương pháp mới có thể hoàn
thiện được mình trong nghề nghiệp.
Câu 8. Các bước trình tự triển khai một đề tài nguyên cứu khoa học ?
Trả lời:
Tìm và lựa chọn đề tài nghiên cứu: Để tìm và lựa chọn được một đề tài, người nghiên cứu cần
cần phải thường xuyên tìm đến các nguồn đề tài phong phú sau đây:
+ Thực tiễn xã hội, thực tiễn luôn xuất hiện những mâu thuẫn cần được giải quyết. Đây là
nguồn đề tài phong phú nhất cho các nhà nghiên cứu tìm chọn.
+ Sự tiếp xúc các nguồn thông tin, các tư liệu, tài liệu, sách vở, báo chí làm xuất hiện các nhu
cầu tìm hiểu, khám phá, cần có sự bổ sung hoàn thiện cũng là nguồn đề tài đa dạng và lý thú.
+ Quá trình thâm nhập cơ sở, tiếp xúc với các nhà hoạt động thực tiễn làm nảy sinh các vấn đề
gây cấn, đòi hỏi có sự tham gia của khoa học cũng làm xuất hiện các đề tài khoa học. Ở dạng này,
thường trong các cuộc hội thảo, hội nghị khoa học có vai trò to lớn trong việc hình thành lên các đề
tài nghiên cứu.
Nguồn đề tài có thể có rất nhiều và vô hạn, tuy nhiên còn phụ thuộc vào sự nhạy cảm, lòng say
mê khoa học, sự thôi thúc của người nghiên cứu, cũng như các điều kiện khác kèm theo mới có thể
trở thành một đề tài đưa vào hoạt động nghiên cứu. Vì vậy, để lựa chọn được một đề tài đưa vào
nghiên cứu, cần thiết phải xem xét kỹ một số điều kiện sau:
+ Đó là vấn đề mới, mọi người cũng như người nghiên cứu đều chưa biết hoặc biết chưa đầy
đủ, nhưng có thể tìm hiểu được.
+ Đó là những vấn đề mà lý luận và thực tiễn đang cần.
+ Đó là vấn đề nghiên cứu có đủ các điều kiện chủ quan và khách quan đáp ứng nhu cầu của
quá trình nghiên cứu (kinh phí, phương tiện làm việc, con người…nhất là trí tuệ và lòng say mê,
tính tự giác của nhà khoa học).
Tuy nhiên, chẳng có gì hoàn hảo ngay từ đầu cho bất kỳ một công việc nào, không thể và không
hề có sẵn mọi thứ như ta mong muốn, vì vậy cần phải có sự nổ lực của cả khách quan và chủ quan,
chỉ có như vậy mới đảm bảo cho việc triển khai nghiên cứu đi đến cùng như ta mong muốn.
Đặt tên đề tài: Sau khi chọn được đề tài để nghiên cứu, việc đặt tên cho đề tài đã chọn cần phải
chú trọng. Khi đặt tên, cần nhớ và phải chọn cho được một cái tên đầy đủ nghĩa, nó phản ánh một
cách cô đọng nhất nội dung nghiên cứu của đề tài và tên đề tài chỉ được mang một nghĩa không
được phép hiều hai hoặc nhiều nghĩa.
Xây dựng đề cương nghiên cứu: Dựa vào cấu trúc của một báo cáo khoa học gồm có 5 phần
chính (Đặt vấn đề, Tổng quan tài liệu, Nội dung và phương pháp nghiên cứu, Kết quả nghiên cứu,
Kết luận và Kiến nghị) để người nghiên cứu soạn thảo đề cương.
Sau khi chọn được đề tài, người nghiên cứu phải tiến hành viết đề cương nghiên cứu. Đề cương
nghiên cứu như là những nét phát hoạ cơ bản của một bức tranh, nó là bộ khung cơ thể của đề tài.
Vì vậy đề cương nghiên cứu cần phải được soạn thảo cụ thể, có cấu trúc hợp lý, đầy đủ các phần,
chương, mục, tiểu mục rõ ràng.
Lập kế hoạch nghiên cứu: Kế hoạch nghiên cứu là công việc xác định cụ thể các bước thực hiện
có trong suốt thời gian nghiên cứu. Để lập được kế hoạch nghiên cứu, đòi hỏi người thực hiện đề
Nguyễn Văn Nam – Cam Ranh – Khánh Hoà


PHƯONG PHÁP NGUYÊN CỨU KHOA HỌC

tài phải hình dung được đầy đủ các bước thực hiện cho từng nội dung nghiên cứu có trong phần kết
quả nghiên cứu của đề tài. Khối lượng công việc có trong phần kết quả nghiên cứu là phần nội
dung chính của công việc nghiên cứu và được chia làm 3 giai đoạn phải thực hiện đó là:
+ Thu nhập các thông tin tư liệu, số liệu.
+ Xử lý, tổng hợp thông tin.
+ Viết kết quả nghiên cứu.
Dựa vào nhiệm vụ nghiên cứu của 3 giai đoạn này, khối lượng công việc nghiên cứu ở từng giai
đoạn có thể nhiều hoặc ít tuỳ theo từng đề tài. Vì vậy thời gian dành cho nghiên cứu ở mỗi giai
đoạn rất cần có một kế hoạch cụ thể và bố trí sao cho hợp lý.
Thực hiện nghiên cứu một đề tài khoa học: Khi đề cương và kế hoạch nghiên cứu đã được xác
định, người/nhóm người nghiên cứu bắt tay vào thực hiện công việc nghiên cứu đề tài của mình.
Quá trình thực hiện nghiên cứu bao gồm 3 giai đoạn đó là:
+ Giai đoạn thu nhập các thông tin dữ liệu.
+ Giai đoạn tổng hợp và xử lý tư liệu, số liệu.
+ Giai đoạn viết báo cáo khoa học.
Câu 7. Sản phẩm của nguyên cứu khoa học ?
Trả lời:
Yếu tố tạo thành sản phẩm khoa học có giá trị: Một sản phẩm khoa học có giá trị khoa học và
giá trị kinh tế xã hội chỉ khi sản phẩm đó hội tụ được đầy đủ cả hai yếu tố cơ bản sau:
+ Thể hiện đầy đủ tính hữu ích cho khoa học và cho xã hội hay có giá trị lý luận và thực tiễn.
+ Sản phẩm phải được ra đời từ các phương pháp nghiên cứu khoa học.
Sản phẩm khoa học: Sản phẩm nghiên cứu khoa học được thể hiện dưới nhiều loại hình như:
+ Các phát minh, phát hiện, sáng chế, các bí quyết, lời giải đáp có giá trị khoa học.
+ Các mô hình, sơ đồ và chương trình, quy trình kỹ thuật công nghệ cho các sản phẩm mới
được chế tạo.
+ Các bài báo khoa học được công bố, phổ biến các kết quả nghiên cứu, các thành tựu mới.
+ Các bản tổng kết, tổng luận, dự báo khoa học hoặc các bài tranh luận về học thuật hay kỹ
thuật ứng dụng, các tham luận trong các hội nghị khoa học, các bài giảng, tài liệu hướng dẫn, các
bản hướng dẫn hay giải trình.
+ Các tiểu luận, luận văn, luận án, đề án, đồ án.

Nguyễn Văn Nam – Cam Ranh – Khánh Hoà



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×