Tải bản đầy đủ

Xây dựng chiến lược quản trị kinh doanh ngành dược phẩm tại việt nam

Xây dựng chiến lược Quản trị kinh doanh ngành
Dược phẩm tại Việt Nam

Dược phẩm là một loại hàng hóa có tính chất đặc biệt, ảnh hưởng đến sức khỏe và
tính mạng con người, là hàng hóa thiết yếu đối với bất kỳ quốc gia nào. Phạm vi và nhu
cầu sử dụng thuốc là vô cùng lớn. Việt Nam là nước có dân số khá đông với gần 90triệu
người, khí hậu nhiệt đới gió mùa, dễ dẫn tới nhiều dịch bệnh - một thị trường rộng lớn và
nhiều tiềm năng hứa hẹn thị trường dược Việt Nam là một điểm nóng cho các nhà đầu tư
trong nước và khu vực. Bởi vậy, hiện nay lĩnh vực dược phẩm Việt Nam được đánh giá là
thị trường hấp dẫn với các nhà đầu tư, kể cả đầu tư nước ngoài bởi nhu cầu khám chữa
bệnh cũng như chi phí bình quân tiền thuốc/đầu người/năm ngày càng cao.
I. Tổng quan về ngành dược Việt Nam
Trang 1 of 20


1. Tình hình kinh tế Việt Nam
Năm 2011-2012 nền kinh tế thế giới bị chao đảo trước cơn bão tài chính toàn cầu
Bước vào năm 2013, tuy tình hình có cải thiện hơn, nhưng về cơ bản nền kinh tế đang đối
diện với 4 thách thức ngắn hạn như sau :
Thứ nhất, nguy cơ tái lạm phát cao kèm theo sự trì trệ của thị trường sẽ làm cho tình
hình khó khăn thêm. Mặc dù CPI 8 tháng đầu năm 2013 chỉ tăng 3,53% so với tháng

12/2012, nhưng nguy cơ lạm phát vẫn “rình rập” khi mà nguyên nhân bên trong của nền
kinh tế chưa được giải quyết.
Thứ hai, tình hình nợ xấu chưa được cải thiện, nên dòng tín dụng vẫn bị tắc nghẽn, nền
kinh tế không hấp thụ được vốn.
Thứ ba, khả năng kéo giảm lãi suất cho vay không nhiều; khó đáp ứng sự mong đợi của
DN, do hoạt động kém hiệu quả của DN lẫn hệ thống ngân hàng thương mại.
Thứ tư, những nỗ lực để làm “ấm” thị trường bất động sản chưa thể mang lại kết quả,
nên thanh khoản của thị trường này khó được cải thiện.
Cộng với đó là, trong năm 2013 tình hình kinh tế thế giới còn diễn biến thất
thường, có tác động bất lợi đối với những nền kinh tế có độ mở lớn như nền kinh tế Việt
Nam.
Năm 2014 nền kinh tế vẫn chưa thể ra khỏi giai đoạn trì trệ. Những khó khăn đặt
ra trong năm 2013 vẫn sẽ tiếp tục kéo dài trong năm 2014. Nền kinh tế tiếp tục tăng
trưởng, song tốc độ chậm. Tuy nhiên, bức tranh chung của nền kinh tế năm 2014 vẫn
sáng hơn 2 năm 2012-2013. Do đó, có thể dự báo trong năm 2014 tốc độ tăng GDP
khoảng 5,5% và CPI tăng khoảng 7%. Nhiệm vụ chính trong năm 2014-2015 vẫn là giữ
ổn định kinh tế vĩ mô, đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu nền kinh tế và quan trọng nhất là
khôi phục lại niềm tin của thị trường.
2. Ngành dược Việt Nam hiện nay.
Trang 2 of 20


Kết quả khảo sát các nhà đầu tư tư nhân trong và ngoài nước của Grant Thornton Việt
Nam trong quý II/2013 và 2 lần trước đó đều cho thấy Y tế và Dược phẩm là lĩnh vực hấp
dẫn đầu tư nhất.
Sự quá tải của các bệnh viện ở Việt Nam, nhất là bệnh viện của nhà nước với 2 - 3
bệnh nhân cùng nằm một giường bệnh, đang là vấn đề cần giải quyết. Tiềm năng phát
triển cùng với nhu cầu chuyên môn ngày càng cao và sự thuận lợi về dân số đã tạo ra cơ
hội đầu tư hấp dẫn cho các nhà đầu tư.

Thị trường dược phẩm Việt Nam vẫn đang trên đà tăng trưởng và ngày càng hội
nhập sâu rộng với thế giới, nhưng tỷ trọng đóng góp GDP vẫn còn khá khiêm tốn. Thị
trường dược phẩm Việt Nam chịu tách động của các yếu tố đặc biệt là yếu tố về con
người và yếu tố kinh tế như tỷ giá, lãi suất, lạm phát…Phân khúc thị trường đa dạng chia
làm hai mảng đông dược và tây dược. Riêng mảng tây dược còn được chia làm:
Theo cách thức sử dụng thuốc
-

Thuốc OTC (hàng không kê toa, bán chủ yếu ở các nhà thuốc bán lẻ).
Thuốc điều trị (không có kê toa, sử dụng trong bệnh viện và các trung tâm y tế)



Tại Việt Nam:
-

Thuốc phân phối vào hệ thống bệnh viện
Trang 3 of 20


-

Thuốc phân phối ra thị trường

Theo bản quyền chế tác thuốc
-

Thuốc generic (theo công thức có sẵn của thuốc nước ngoài đã chứng minh hiệu quả

-

và hết thời hạn bản quyền)
Thuốc patent (có bản quyền)

Hiện nay, ngành dược trong nước đang chủ yếu sản xuất thuốc generic có giá trị không
cao và chiếm tới 69% tổng thị trường thuốc với các chủng loại liên quan nhiều đến thuốc
kháng sinh, thuốc thông thường (vitamin, giảm đau, hạ sốt). Theo WHO và UNCTAD
(United Nations Conference on Trade and Development (Hội nghị thường niên về thương
mại và phát triển của Liên Hợp Quốc), ngành công nghiệp dược được phân theo 4 cấp:
Cấp 1: Hoàn toàn nhập khẩu
Cấp 2: Sản xuất được 1 số generic và đa số nhập khẩu
Cấp 3: Có công nghiệp dược nội địa sản xuất generic xuất khẩu một số sản phẩm dược.
Cấp 4: Sản xuất dược nguyên liệu và phát minh thuốc mới.
Theo đó, ngành công nghiệp Dược Việt Nam đang phát triển cấp độ 2,5-3. Đây là
mức độ đánh giá nền kinh tế có ngành công nghiệp dược, đã sản xuất được thuốc generic
nhưng đa phần vẫn nhập khẩu. Đây là khó khăn lớn của ngành dược Việt Nam hiện nay,
khi vẫn chưa tự chủ động được nguồn nguyên liệu phục vụ cho sản xuất trong nước, với
trung bình hơn 90% nguyên liệu vẫn phải nhập khẩu, chiếm 50% giá thành sản xuất. Các
dược liệu được nhập chủ yếu là nguyên liệu kháng sinh, vitamin và chiếm trên 80% giá
trị nhập khẩu.
II. Môi trường chung ngành Dược - Phân tích mô hình PEST

Trang 4 of 20


1. Chính trị - Pháp luật
Sự ổn định về chính trị: Việt Nam được đánh giá là nước có môi trường chính trị,
xã hội, an ninh ổn định. Chính phủ đã có những nỗ lực trong việc thể chế hóa hệ thống
luật pháp, cải cách hành chính tạo điều kiện tốt cho hoạt động kinh doanh của các doanh
nghiệp trong và ngoài nước nói chung, các doanh nghiệp trong ngành dược nói riêng.
Chính sách: Ngành dược là ngành chịu tác động mạnh bởi các chính sách quản lý
của nhà nước
Thứ nhất, quản lý giá bán. Theo quy định của Cục quản lý Dược, các doanh nghiệp phải
đăng ký giá bán thuốc với Cục quản lý. Cục quản lý Dược dựa trên chi phí sản xuất cho
từng năm. Nếu có biến động mạnh về giá nguyên liệu đầu vào thì các công ty có thể trình
Sở Y Tế địa phương để xin điều chỉnh giá thuốc, việc điều chỉnh này chỉ được thực hiện
nếu được sự chấp thuận của Sở Y Tế.
Giá dược phẩm chiếm 5,4% trong công thức tính CPI. Tuy chỉ số giá thuốc và
dược phẩm (MPI) có xu hướng tăng giảm khá giống như giá tiêu dùng (CPI), nhưng giá
dược phẩm không có sự dao động lớn bằng. Năm 2010, tỷ lệ tăng của giá thuốc (5%)
Trang 5 of 20


thấp hơn hẳn so với tỷ lệ tăng của CPI do Bộ Y tế siết chặt hơn các quy chế quản lý giá
thuốc.
Thứ hai, quản lý kinh doanh. Theo WHO ngành dược phải đáp ứng 5 tiêu chuẩn quy định
về ngành dược:
-

Thực hành tốt sản xuất thuốc (GMP)
Thực hành tốt kiểm nghiệp thuốc (GLP)
Thực hành tốt bảo quản thuốc (GSP)
Thực hành tốt phân phối thuốc (GDP)
Thực hành tốt nhà thuốc (GPP)

Tới năm 2013, tất cả các quầy thuốc phải áp dụng nguyên tắc GPP. Riêng 1/7/2007 tất cả
các nhà thuốc quận nội thành của 4 thành phố lớn: Hà Nội, TP. HCM, Đà Nẵng, Cần Thơ
phải áp dụng tiêu chuẩn này.
Các quy định này dẫn đến 1 sự thanh lọc trong ngành dược. Cuối năm 2008, đã có
52% các doanh nghiệp dược (bao gồm cả tân và đông dược) đạt tiêu chuẩn GMP-WHO.
Các doanh nghiệp còn lại khi đến thời hạn nếu không đạt được GMP-WHO sẽ phải thu
hẹp phạm vi sản xuất và chuyển sang gia công cho các doanh nghiệp đạt tiêu chuẩn. Số
doanh nghiệp được tiêu chuẩn GLP và GSP lần lượt là 51% và 63%.
Các đạo luật liên quan: Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật cạnh tranh, Luật
thương mại và Luật sở hữu trí tuệ cũng đã được Quốc hội thông qua, được kỳ vọng sẽ tạo
ra môi trường đầu tư – kinh doanh – cạnh tranh thông thoáng, minh bạch, bình đẳng và
lành mạnh cho các doanh nghiệp. Trong giai đoạn hoàn thiện khung pháp lý, các thay đổi
của luật và các văn bản dưới luật có thể tạo ra rủi ro về pháp luật cho các doanh nghiệp
trong ngành dược.
Vị thế cơ quan đầu ngành: Các cơ quan trực tiếp quản lý ngành dược là Cục
quản lý Dược đươc thành lập vào năm 1996 theo quyết định số 547/TTg. Đây là cơ quan
quản lý chuyên ngành dược thuộc Bộ Y tế, giúp Bộ trưởng Bộ Y tế thực hiện chức năng
Trang 6 of 20


quản lý Nhà nước và thực thi pháp luật, điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ
về lĩnh vực dược và mỹ phẩm trên phạm vi cả nước.
2. Các yếu tố kinh tế
Thứ nhất, tốc độ tăng trưởng: Trong giai đoạn 2003-2007, kinh tế Việt Nam đạt tốc
độ tăng trưởng khá cao và ổn định, trung bình từ 7.5-8.5%/năm. Từ năm 2008 tới nay, do
ảnh hưởng của cuộc suy thoái kinh tế thế giới, mức tăng trưởng GDP của Việt Nam giảm
xuống. Năm 2013 là năm thứ 6 nền kinh tế Việt Nam rơi vào trì trệ nhưng có những dấu
hiệu phục hồi như: GDP tăng trưởng 5,42% tuy thấp hơn mục tiêu tăng 5,5% đặt ra
nhưng cao hơn 5,25% của năm 2012. Tốc độ tăng trưởng của ngành dược các năm 20122013 khoảng 20% tính theo VNĐ.
Ngành dược cũng là một ngành phụ thuộc vào sự phát triển kinh tế. Khi nền kinh tế
tăng trưởng mạnh và đời sống nhân dân nâng cao thì nhu cầu về dược phẩm, đặc biệt là
thuốc bổ, thuốc đặc trị,..cũng tăng theo. Do đó làm tăng doanh thu và lợi nhuận của
ngành dược.
Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái, đời sống và thu nhập của người dân giảm thì
nhu cầu về dược phẩm cũng giảm theo làm doanh thu và lợi nhuận ngành dược giảm. Tuy
nhiên, do dược phẩm là nhóm sản phẩm thiết yếu nên mức giảm sẽ thấp hơn mức giảm
của nền kinh tế.
+ Tiêu dùng thuốc tăng:
Ngành dược Việt Nam đạt mức tăng trưởng bình quân từ 18-20%/năm trong giai
đoạn 2011-2013, cao hơn so với thế giới (4-7%) và châu Á (12.6%). Sự phát triển của
ngành Dược những năm qua là nhờ nhu cầu về thuốc ngày càng tăng và tỷ trọng sản xuất
trong nước được cải thiện với khả năng cạnh tranh hơn.
+Tăng trưởng sản xuất:
Trang 7 of 20


Do nhu cầu gia tăng, nên giá trị sản xuất thuốc trong nước cũng tăng dần qua các
năm. Sản xuất trong nước tăng trung bình 20% mỗi năm, riêng năm 209 và 2010, sản
xuất nội địa tăng đột biến 37.6% và 43.35%. Kim ngạch sản xuất năm 2010 đặt 1,2 tỷ
USD và đáp ứng được 50% nhu cầu về thuốc trong nước. Theo báo cáo của IMS, từ quý
II/2012 đến quý II/2013, trong tổng tiền thuốc tiêu thụ toàn thị trường dược Việt Nam thì
thuốc nhập khẩu chiếm 65%, thuốc nội địa chiếm 35%. Sản xuất được phục hồi dần so
với năm 2011.
Thứ hai, Lạm phát
Lạm phát cao dẫn đến chi phí đầu vào của các doanh nghiệp gia tăng, ảnh hưởng
hiệu quả kinh doanh và tốc độ tăng trưởng của các doanh nghiêp, từ đó ảnh hưởng đến
doanh thu, lợi nhuận của công ty.
Trong khi các ngành trọng điểm đều bị ảnh hưởng thì ngành dược lại ít bị tác động
vì đây là ngành thiết yếu và chịu sự sự giám sát chặt chẽ của Nhà nước về giá bán. Chính
vì vậy, năm 2012-2013 mức lạm pháp đã giữ được mức dưới hai con số là 6,6%, lãi suất
tín dụng năm 2013 giảm khá mạnh ở mức 7-9% so với mức 12-15% trong năm 2012.
Dù chịu sự kiểm soát giá của Nhà nước, nhưng giá dược phẩm cũng sẽ được điều
chỉnh tăng theo đà tăng của CPI, nhưng mức tăng chậm hơn. Theo công bố chính thức
của tổng cục thống kê, chỉ số giá nhóm hàng dược phẩm và y tế tháng 5/2013 tăng so với
tháng 4/2013, là một trong những nhóm hàng có tốc độ tăng trưởng không cao trong khi
chỉ số tiêu dùng nói chung tăng 2,21%. So với cùng kỳ năm trước, chỉ số giá hàng dược
phẩm và y tế tăng 6,2%, thấp hơn rất nhiều so với mức tăng chung gần 19,8%.
Thứ ba, giá nguyên vật liệu, tỷ giá ngoại tệ và lãi suất.
+ Biến động giá cả nguyên vật liệu: đối với hoạt động kinh doanh dược phẩm Việt Nam
hiện nay, nguồn nguyên liệu đầu vào của hầu hết các đơn vị sản xuất trong nước đều phụ
thuộc rất lớn vào nguồn nhập khẩu nước ngoài (hơn 90%). Trong khi giá nguyên vật liệu
Trang 8 of 20


luôn biến động. sự biến động của giá nguyên vật liệu đã tác động đến giá thuốc và làm
ảnh hưởng đến tâm lý người tiêu dùng. Đây là nhân tố rủi ro ảnh hưởng nhiều đến giá
thành sản xuất và khả năng sinh lời của các công ty dược nói chung.
Năm 2008, các nguyên liệu nhập khẩu chính như kháng sinh tăng bình quân 2%,
vitamin tăng 34% và nguyên liệu của thuốc giảm đau, hạ sốt tăng 80% dẫn tới chi phí sản
xuất tăng cao
+ Tỷ giá và lãi suất
Các yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận các doanh nghiệp. Hiện tại, tây
dược vẫn chiếm tỷ lệ lớn hơn so với nhiều sản phẩm đông dược (hơn 90% trong thị
trường dược phẩm), và nhập khẩu hơn 90% nguyên phụ liệu và thành phẩm, nên chỉ cần
một thay đổi nhỏ về tỷ giá cũng ảnh hưởng tới chi phí của các doanh nghiệp dược. Ước
tính, khi tỷ giá tăng 3,36% thì chi phí của doanh nghiệp được tăng thêm 3,024%.
Lãi suất cho vay với doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh ở mức 7-9%, giảm so với
mức cho vay năm 2012.
Trong năm 2009 tỷ giá hối đoái USD/VNĐ tiếp tục được điều chỉnh tăng 9,3% và
đến năm 2012 vẫn duy trì ở mức này. Năm 2013 điều chỉnh tăng 1%, và duy trì biên độ
giao động các NHTM ở mức +/-1%.
3. Các yếu tố xã hội
Thứ nhất, Dân số
Việt Nam với dân số đông, gần 90 triệu người, với hơn 90% dân số ở độ tuổi lao
động, tỷ lệ sinh duy trì mức cao nên nhu cầu về thuốc chữa bệnh là rất lớn. Ngoài ra, tăng
trưởng GDP hàng năm của Việt Nam vào khoảng 8%/năm, mức sống của người dân ngày
càng nâng cao nên nhu cầu sử dụng các loại thuốc bổ dưỡng, vitamin, tăng cường sức
khỏe là cần thiết.
Trang 9 of 20


Việt Nam là một nước nông nghiệp, trên 70% dân số sinh sống tại khu vực nông
thôn, có mức sống thấp hơn khu vực thành thị, nhu cầu dùng thuốc có giá thành rẻ cao.
Đây là một thị trường to lớn cho các doanh nghiệp sản xuất dược phẩm nội địa, do ngoại
trừ một số thuốc biệt dược, chuyên khoa cần phải nhập ngoại, đa số thuốc generic sản
xuất trong nước đều đáp ứng nhu cầu điều trị trong khi giá rẻ hơn.
Thứ hai, thói quen sử dụng hàng hóa của người tiêu dùng.
Phần lớn người Việt Nam dùng thuốc không cần kê toa của bác sĩ đối với bệnh
thông thường. Họ cho rằng nếu vào bệnh viện để lấy đơn thuốc vì những bệnh thông
thường thì vừa mất thời gian vừa tốn tiền. Do đó họ thường ra hiệu thuốc tây khai bệnh.
Khi mức sống ngày một cao, hiện tượng lạm dụng thuốc bổ trong thói quen sử dụng
thuốc của người tiêu dùng ngày một phổ biến. Cuộc sống ngày càng bận rộn với nhiều áp
lực, nhu cầu bổ sung vitamin và khoáng chất để duy trì sức khỏe cho cơ thể ngày càng
được quan tâm. Do vậy, thị trường thuốc bổ cung cấp vitamin và khoáng chất đang được
phát triển rất nhanh, “miếng bánh” tương đối lớn cho các doanh nghiệp dược phẩm để
mắt tới. Hiện nay, trong danh mục sản phẩm cung ứng ra thị trường các doanh nghiệp sản
xuất dược phẩm hầu như đều có các loại thuốc bổ dưới hình thức như: viên sủi bọt, viên,
siro…
4. Các yếu tố kỹ thuật, công nghệ
Ở bất kỳ quốc gia nào, khoa học công nghệ đều được xem là một lĩnh vực quan
trọng quyết định năng lực cạnh tranh cũng như hiệu quả tăng trưởng của nền kinh tế quốc
gia.
Tại Việt Nam, trình độ công nghệ lạc hậu và ngành dược Việt Nam không nằm
ngoài nhóm nước đang phát triển lạc hậu về khoa học. Trình độ kỹ thuật, công nghệ sản
xuất thuốc còn thấp và chưa được đầu tư đúng đắn, đang diễn ra tình trạng đầu tư dây
chuyền trùng lặp.
Trang 10 of 20


Tại các nước phát triển, hoạt động nghiêm cứu và phát triển (R&D) trong ngành
dược rất được chú trọng. Tuy nhiên ở Việt Nam là một nước đang phát triển với chi phí
nhân công rẻ nhưng đầu tư nước ngoài trong hoạt động R&D chưa tương xứng với tiềm
năng của ngành. Các doanh nghiệp Việt Nam thiếu chuyên môn cũng như nguồn tài chính
để hỗ trợ cho công tác R&D. Thay vào đó, Việt Nam là nơi để các công ty đa quốc gia
tiến hành thử nghiệm lâm sàng.
Việc đầu tư cho một nghiên cứu mới vô cùng tốn kém, trung bình phải mất 10 năm
với chi phí từ 12-15 triệu USD. Hơn nữa, các doanh nghiệp chạy theo nhu cầu trước mắt
của thị trường và hạn chế về trình độ nhân lực, công nghệ nên chỉ nhập công nghệ để sản
xuất thuốc thông thường. Do đó, chi phí R&D mà các doanh nghiệp Việt Nam công bố
thường tập trung vào các sự án mua sắm máy móc thiết bị mới. Chi phí dành cho R&D
chỉ khoảng dưới 3% doanh thu, đây là một tỷ lệ thấp so với các nước Châu Á dân số đông
(khoảng 5%) và so với thế giới (12-16%). Để tồn tại và phát triển các doanh nghiệp Việt
Nam cần phải đầy mạnh phát triển nghiên cứu khoa học công nghệ bào chế, công nghệ
sinh học sản xuất thuốc mới, thuốc thành phẩm.
5. Toàn cầu hóa
 Thuận lợi:
Môi trường đầu tư: Việt Nam gia nhập WTO sẽ mang lại cho các ngành kinh tế nói
chung và ngành dược phẩm nói riêng một môi trường đầu tư, kinh doanh thông thoáng,
minh bạch và thuận lợi hơn, được tiếp cận với nhiều thị trường lớn, đa dạng với các điều
kiện kinh doanh, cạnh tranh công bằng.
Công nghệ: Ngành dược Việt Nam sẽ có nhiều thuận lợi trong tiếp cận với các đối
tác kinh doanh để hợp tác sản xuất, chuyển giao công nghệ.
Vốn: Sau khi Việt Nam gia nhập WTO, công nghiệp dược phẩm là một lĩnh vực
háp dẫn thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư nước ngoài với số lượng doanh nghiệp
Trang 11 of 20


đăng ký hoạt động tăng mạnh. Do vậy ngành dược sẽ đón một lượng vốn đầu tư lớn từ sự
gia nhập của các tập đoàn dược phẩm nước ngoài vào Việt Nam.
 Khó khăn
Năng lực cạnh tranh: Năng lực cạnh tranh của ngành dược Việt Nam còn thấp, ngành
dược Việt Nam chỉ mới sản xuất được thuốc gốc, xuất khẩu được một số dược phẩm, đa
số phải nhập khẩu.
Các quy định về sở hữu trí tuệ: Sở hữu trí tuệ cũng là một thách thức cho ngành dược khi
Việt Nam gia nhập WTO. Tự do hóa sẽ làm gia tăng các nguy cơ tranh chấp pháp lý về
quyền sở hữu công nghiệp giữa các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước
ngoài. Khi gia nhập WTO, ngành dược Việt Nam phải cam kết bảo mật dữ liệu thử
nghiệm lâm sàng có trong hồ sơ đăng ký của các thuốc mới trong thời hạn 5 năm.
Vốn: Tiền thân của các doanh nghiệp dược là các xí nghiệp với quy mô vừa và
nhỏ. Khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp sẽ phải đối đầu với các tập đoàn
dược phẩm nước ngoài với tiềm lực tài chính mạnh.
Kỹ thuật và công nghệ: Trình độ kỹ thuật và công nghệ sản xuất thuốc của Việt
Nam còn thấp, vẫn dựa vào bào chế thuốc gốc là chủ yếu, chưa có khả năng sản xuất
thuốc có hàm lượng công nghệ cao. Thêm vào đó, hoạt động nghiên cứu và phát triển
chưa được chú trọng và đầu tư hợp lý.
Hàng rào thuế quan: Giảm thuế nhập khẩu là thách thức cho các doanh nghiệp sản
xuất dược trong nước trong việc cạnh tranh với thuốc nhập khẩu từ nước ngoài. Các
nguyên liệu làm thuốc nhập khẩu sẽ được miễn giảm đến 0% tạo điều kiện giảm chi phí
giá vốn, tuy nhiên cũng ảnh hưởng đến một số doanh nghiệp sản xuất nguyên liệu của
Việt Nam.
 Đánh giá các yếu tố bên ngoài
Trang 12 of 20


Ma trận đánh giá các yếu tố bên ngoài được hình thành khi phân tích môi trường vĩ mô và
môi trường vi mô. Các yếu tố cơ hội và de dọa trong ma trận được nhóm chọn ra từ nội
dung phân tích môi trường bên ngoài ngành Dược phẩm. Trọng số được cho theo mức độ
quan trọng của các yếu tố đến sự thành công của các công ty trong ngành. Điểm đánh giá
được cho theo mức độ phản ứng của các công ty với cơ hội và đe dọa từ môi trường bên
ngoài theo thang điểm từ 1 đến 4: Phản ứng rất yếu=1, khá yếu=2, khá tốt=3, phản ứng
rất tốt=4.

STT

Các yếu tố bên ngoài

Trọng
số

Điểm

Điểm có
trọng số

Biến động tỷ giá đang tác động xấu đến
1

việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất

0,08

2

0,16

0,11

2

0,22

0,1

2

0,2

0,12

3

0,36

0,13

3

0,39

0,09

2

0,18

0,1

4

0,4

thuốc.
2

3

4

Người tiêu dùng trong nước còn mang
tâm lý thích thuốc ngoại.
Áp lực cạnh tranh từ các doanh nghiệp
nước ngoài gia tăng.
Nhu cầu tiêu dùng thuốc của người dân
có xu hướng tăng.
Gia nhập WTO, mở rộng quan hệ hợp tác

5

tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến
thế giới.

6
7

Nguồn nhân lực tay nghề cao còn ít,
chưa đáp ứng yêu cầu.
Sức ép từ khách hàng là không đáng kể.
Trang 13 of 20


8

9
10

Người tiêu dùng Vn đòi hỏi nhiều hơn về
chất lượng thuốc.
Thách thức từ việc lệ thuộc nhập khẩu
nguyên liệu nước ngoài.
Rào cản gia nhập ngành vẫn còn cao.
Tổng

0,08

3

0,24

0,09

2

0,18

0,1

4

0,4

1

2,74

Nhận xét: Tổng điểm có trọng số 2,74 cho thấy khả năng phản ứng của ngành dược trước
cơ hội đe dọa từ bên ngoài ở mức trung bình cận khá tốt. Với những phản ứng tích cực:
sức ép từ khách hàng không đáng kể, nhu cầu tiêu dùng thuốc của người dân có xu hướng
tăng, gia nhập WTO mở rộng quan hệ hợp tác tạo điều kiện tiếp cận công nghệ tiên tiến
trên thế giới, người tiêu dùng Việt Nam ngày càng đòi hỏi nhiều hơn về chất lượng thuốc.
Bên cạnh các phản ứng tích cực còn những phản ứng chưa tốt đó là: biến động của tỷ giá
đang tác động xấu đến việc nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thuốc ngoại, người tiêu dùng
trong nước còn mang tâm lý thích sử dụng thuốc ngoại, gia nhập WTO áp lực cạnh tranh
từ các doanh nghiệp nước ngoài gia tăng, nguồn nhân lực tay nghề cao còn ít, chưa đáp
ứng yêu cầu, thách thức từ việc lệ thuộc nhập khẩu nguyên liệu nước ngoài.
III. Môi trường ngành – Phân tích 5 lực lượng cạnh tranh
1. Chu kỳ sống ngành Dược
Trong khi khủng hoảng kéo dài theo sự đi xuống của hầu hết các ngành kinh tế,
ngành dược phẩm vẫn ghi nhận tăng trưởng ngược dòng với tốc độ trung bình
18,8%/năm trong giai đoạn 2009-2013. Nhân tố chính tác động đến xu hướng này là do
bản thân dược phẩm là sản phẩm không thể thay thế, sự nhận thức về chăm sóc sức khỏe
của người Việt cũng tăng cao.
Tuy vậy, một sự thật mà ngành dược Việt Nam không thể phủ nhận là tỉ lệ
nhập khẩu dược phẩm đang còn quá cao, chiếm đến hơn 60% tổng nhu cầu của người tiêu
dùng nội địa. Trong khi đó, dù cung cấp được 50% nhu cầu nhưng thị trường nội địa chỉ
Trang 14 of 20


đáp lại 38%, các doanh nghiệp trong nước chuyển sang hướng xuất khẩu. Tuy nhiên, kim
ngạch xuất khẩu còn quá thấp, do sản phẩm của doanh nghiệp nội địa mới chỉ là những
công thức thuốc thông thường mà nguồn cung trên thị trường quốc tế vẫn đang rất dồi
dào, cộng với việc 90% nguyên dược liệu phải nhập khẩu, khiến mặt hàng của Việt Nam
thiếu tính cạnh tranh. Vì vậy, theo dự báo của BMI, mặc dù Bộ Y Tế đang khuyến khích
doanh nghiệp vay vốn với lãi suất ưu đãi để xây dựng các dự án mới, trong vòng 5 năm
tới, doanh nghiệp dược Việt Nam cũng chưa thể có những sự phát triển bức phá. Kết quả
là cán cân thương mại ngành dược phẩm của Việt Nam vẫn chưa thể có sự tiến triển tích
cực.
Ngành công nghiệp dược vẫn đang trong giai đoạn đầu của thời kì phát
triển. Danh mục sản phẩm của ngành vẫn còn thưa thớt, nhưng vẫn đang có xu hướng
tăng lên. Hơn nữa, hầu hết các doanh nghiệp tham gia có quy mô nhỏ, vốn đầu tư chưa
lớn nên số lượng đạt tiêu chuẩn GMP WHO theo lộ trình của Bộ Y Tế mới đạt được 8090%. Nạn thuốc giả còn tràn lan do chính sách và sự kiểm soát còn tương đối lỏng lẻo. Vì
vậy, trong những năm tới đây, ngành dược phẩm mong muốn có sự thay đổi về chiến lược
cũng như khung pháp lý để tạo điều kiện thuận lợi cho ngành phát triển.
2. Các lực lượng cạnh tranh của ngành Dược
a)
Mức độ cạnh tranh trong nội bộ ngành dược
Thứ nhất, Ngành dược là một trong những ngành có môi trường cạnh tranh nội bộ
cao. Hiện nay, cả nước có 180 doanh nghiệp sản xuất thuốc bao gồm cả tân dược và đông
dược, trong đó 100 doanh nghiệp sản xuất tân dược, 80 doanh nghiệp sản xuất đông
dược.
Những doanh nghiệp dẫn đầu như dược Hậu Giang (DHG) chiếm 6.15% thị phần,
Demesco chiếm 4,67%, Imexpharm chiếm 3,72% thị phần.
Thứ hai, cạnh tranh với các công ty nước ngoài: Hiện nay có 500 doanh nghiệp
nước ngoài cung cấp thuốc cho thị trường Việt Nam. Số lượng các công ty và số thuốc
nước ngoài đăng ký vượt 29% lên 8500 thuốc sau khi Việt Nam gia nhập WTO và thuế
nhập khẩu giảm 15-20% xuống còn 5.2%.
Trang 15 of 20


Như vậy trong cạnh tranh nội bộ ngành dược, không chỉ có sự cạnh tranh giữa các
công ty nội địa về cùng loại sản phẩm mà còn có sự cạnh tranh giữa Đông và Tây dược
và khó khăn hơn cả là sự cạnh tranh lớn mạnh của các công ty dược có vốn đầu tư nước
ngoài. Các công ty dược lớn nhất Việt Nam gồm Sanofi Aventis Group (8,8% tổng tiêu
thụ) và GlaxoSmithKline (7,8%), DHG (5%). Chính điều đó làm cho môi trường cạnh
tranh trong ngành dược ngày càng gay gắt.
b)
-

Mối đe dọa từ các đối thủ tiềm năng
Rào cản gia nhập: việc gia nhập ngành của các công ty dược phẩm mới tương đối

khó khăn. Chi phí nghiên cứu và phát triển cho việc chế tạo ra thuốc mới của các công ty
dược phẩm là rất đáng kể. Chính vì dược phẩm là hàng hóa ảnh hưởng trực tiếp đến sức
khỏe, thậm chí tính mạng con người, nên sau 1 quá trình đánh giá mới nhận được quyền
sáng chế sản phẩm mới.
Quy định về thử nghiệm lâm sàng: thử nghiệm lâm sàng thuốc là một quá trình
nghiên cứu phức tạp đòi hỏi sự đầu tư thích đáng, lâu dài về thời gian, công sức và kinh
phí. Trung bình đối với một nghiên cứu thuốc mới thời gian nghiên cứu lâm sàng từ 5-10
năm.
Các quy trình chủ yếu trong quá trình thực hiện nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng
tại Việt Nam
+ Đăng ký nghiên cứu thứ thuốc trên lâm sàng
+ Xây dựng hồ sơ nghiên cứu
+ Nộp hồ sơ nghiên cứu thứ thuốc trên lâm sàng
+ Thẩm định, phê duyệt các nghiên cứu trên lâm sàng
c) Mối đe dọa của sản phẩm thay thế
Áp lực từ sản phẩm thay thế đối với ngành Dược là không đáng kể. Vì nhu cầu dược
phẩm là một nhu cầu thiết yếu không có sản phẩm nào có thể thay thế thuốc chữa bệnh.
d)

Năng lực trả giá của khách hàng

Khách hàng là một áp lực cạnh tranh có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản
xuất kinh doanh. Khách hàng được phân làm 2 nhóm:

Trang 16 of 20


+ Khách hàng nhỏ lẻ: là người tiêu dùng. Người tiêu dùng tiêu thụ thuốc qua 2 kênh
chính là sự kê toa của bác sĩ ở các phòng khám, bệnh viện hoặc mua lẻ các nhà thuốc. Sự
tiêu dùng các loại thuốc phụ thuộc vào sự kê toa của các bác sĩ, dược sĩ.
+ Người tiêu dùng có tổ chức: là các Bệnh viện, phòng khám, trung tâm y tế, nhà thuốc
tư. Những nơi này giống như các đại lý, với số lượng thuốc mua vào lớn để phân phối lại
cho các nhà tiêu dùng nhỏ lẻ.
e) Nhà cung cấp
Nhà cung cấp cho ngành Dược phẩm bao gồm: Nhà cung cấp về nguyên vật liệu chế biến
thuốc, nhà cung cấp về nguồn lao động.
+ Trong ngành Dược lực lượng lao động đóng vai trò quan trọng, vì ngành đòi hỏi lực
lượng lao động phải có trình độ cao và có kinh nghiệm thực tế. Tuy nhiên, trong thực
trạng ngày nay thì nguồn nhân lực có trình độ cao còn ít, chưa đáp ứng được nhu cầu của
ngành.
+ Về nguồn nguyên vật liệu cho ngành Dược: Hiện nay sức mạnh của các nhà cung cấp
nguyên vật liệu chế biến thuốc đối với ngành còn cao vì sức ép từ phía các nhà cung cấp
này lên ngành là cao. Tuy hiện nay có một số doanh nghiệp Dược đã xây dựng được
nguồn nguyên liệu riêng do đã chủ động được một phần nguyên liệu sản xuất thuốc
nhưng tỷ lệ này là rất thấp. Đa số nguồn nguyên liệu dùng cho việc sản xuất thuốc chủ
yếu nhập từ các nước Châu Á như Áo, Ý, Hà Lan, Ấn Độ, Trung Quốc…Trong đó 2 quốc
gia Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu dược nhiều nhất vào Việt
Nam với tỷ trọng tương ứng là 25% và 21% (năm 2008). Với hơn 90% nguồn nguyên
liệu để sản xuất thuốc nhập khẩu từ nước ngoài, thì sự lệ thuộc về nguyên liệu của các
công ty sản xuất thuốc trong nước là rất lớn và sẽ gặp khó khăn khi các nhà cung cấp này
tăng giá.
 So sánh cạnh tranh (CPM)
Trang 17 of 20


Đối thủ cạnh tranh của ngành dược Việt Nam là: Sanofi – Aventis (Pháp). GSK (Anh),
Servier (Pháp)…
So sánh sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp dược trong nước và nước ngoài:

T

Các nhân tố

Trọng

T

thành công

số

1

Khả năng kiểm

DHG
Điểm

Sanofi

Trọng
số

Điểm

Trọng
số

Domesco
Điểm

Trọng
số

Imepharm
Điểm

Trọng
số

0,1

4

0,4

4

0,4

3

0,3

3

0,3

0,17

3

0,51

4

0,68

3

0,51

3

0,5

0,18

4

0,72

2

0,36

3

0,54

2

0,36

0,15

3

0,45

4

0,6

3

0,45

3

0,45

soát nguồn dược
liệu ổn đinh
2

Sản phẩm chất
lượng, an toàn

3

Kênh phân phối
sản phẩm

4

Năng lực nghiêm
cứu phát triển
thuốc mới

5

Marketing tốt

0,13

3

0,39

4

0,52

3

0,39

3

0,39

6

Năng lực sản

0,15

4

0,6

4

0,6

4

0,6

2

0,3

0,12

4

0,48

4

0,48

3

0,36

2

0,24

xuất
7

Năng lực tài
chính

10

Tổng

1

3,55

3,64

3,15

2,55

Bảng trên cho thấy Công ty Sanofi (2,64) đang dẫn đầu ngành; Công ty DHG (3,45) cũng
khá mạnh đứng vị trí số 2; Domesco đứng thứ 3 (3,15); Imexpharm yếu hơn công ty trên(
Trang 18 of 20


2,55). Điểm mạnh của Sanofi đây là công ty Dược nước ngoài, có khả năng kiểm soát
nguồn nguyên liệu, năng lực nghiên cứu phát triển và dịch vụ khách hàng.
IV. Dự báo sự thay đổi tính hấp dẫn của ngành Dược trong thời gian tới.
Theo BMI dự báo, năm 2014, doanh thu thị trường dược Việt Nam đạt khoảng 80.193 tỉ
đồng, tăng 16% so với năm 2013, chỉ tiêu tiền thuốc bình quân đạt 42, 59%, chiếm
khoảng 2%GDP ước tính năm 2014. Tuy nhiên, tăng trưởng thực tế ngành dược phụ
thuộc vào:
+ Chính sách của Nhà nước đối với lĩnh vực dược phẩm y tế
+ Kết quả đàm phán hiệp định TPP: nếu đạt được sẽ giảm sức cạnh tranh của doanh
nghiệp dược trong nước do tăng doanh số nhập khẩu thuốc từ các doanh nghiệp tham gia
hiệp định TPP. Trong khi, Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu từ các nước không
tham gia TPP.
+ Cạnh tranh với các thuốc hiệu ngoại nhập: Chiếm hơn 50% số lượng và hơn 70% về giá
trị thuốc tiêu thụ tại Việt Nam, các doanh nghiệp ngoại nhập có lợi thế về thương hiệu,
chất lượng và có mức chiết khấu cao hơn cho các nhà thuốc, bệnh viện.
+ Diễn biến về tỉ giá: Việt Nam nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu dược, vì vậy diễn biến
giá nguyên liệu thế giới và tỉ giá gây nhiều tác động đến hoạt động của doanh nghiệp
trong nước.
+Triển vọng của các công ty dược : Ngành dược tiếp tục duy trì được tốc độ tăng trưởng
cao mang lại triển vọng khả quan cho các công ty ngành dược. Tuy nhiên cạnh tranh giữa
các doanh nghiệp dược trong nước (trong phân khúc generics phổ thông) và với các
doanh nghiệp ngoại (đối với dòng sản phẩm đặc trị) tiếp tục gia tăng. Vì vậy, các doanh
nghiệp có năng lực sản xuất, hệ thống phân phối tốt và thương hiệu sản phẩm được nhận

Trang 19 of 20


diện tốt như DHG, TRA, DMC…sẽ tiếp tục là nhân tố dẫn dắt tăng trưởng mạnh của
ngành.
Ngành dược hấp dẫn đối với các khoản đầu tư dài hạn: Cổ phiếu ngành dước có tính
phòng vệ trước những biến động chung của thị trường, tốc độ tăng trưởng ngành cao và
ổn định nên cổ phiếu dược thích hợp cho đầu tư dài hạn. Trong đó đáng chú ý là cổ phiếu
của các doanh nghiệp có năng lực sản xuất, hệ thống phân phối và tăng trưởng tốt như:
DHG, TRA, và DMC.

Tài liệu tham khảo:
http://vietnamnet.vn/vn/doi-song/suc-khoe/155524/thi-truong-duoc-pham-viet-nam-hap-dannhieu-nha-dau-tu.html
http://www.imexpharm.com/Download/File%202014/TL%20DHCD%202013/04%20BC
%20cua%20Ban%20dieu%20hanh.pdf
http://doc.edu.vn/tai-lieu/bao-cao-phan-tich-nganh-duoc-tong-quan-nganh-duoc-2010-va-trienvong-nam-2011-30579/
http://doan.edu.vn/do-an/tieu-luan-mot-vai-co-hoi-va-thach-thuc-ma-nganh-duoc-viet-nam-danggap-phai-sau-khi-chung-ta-gia-nhap-wto-11517/

Trang 20 of 20



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×