Tải bản đầy đủ

KỀ HOẠCH NHÂN sự CHO một CÔNG TY ĐÓNG tàu PHÀ RỪNG

KỀ HOẠCH NHÂN SỰ CHO MỘT CÔNG TY ĐÓNG TÀU PHÀ RỪNG
I. Phần Mở Bài
Khoa học công nghệ đã có bước phát triển vượt bậc, đang tạo ra những cơ
hội và thách thức đối với doanh nghiệp. Vấn đề nguồn lực con người nói chung và
Quản trị nguồn nhân lực nói riêng sẽ là một chủ đề đang được các nhà quản lý xã
hội và doanh nghiệp hết sức quan tâm bởi nó là một trong những nhân tố quyết định
đến sự phát triển của xã hội và của doanh nghiệp. Quản trị nguồn lực là một lĩnh
vực khó và phức tạp vừa là sự kết hợp một cách hài hòa giữa các định chế pháp lý,
vừa mang tính chất khoa học, tính chính trị và tính văn hóa - nghệ thuật, có thể nói
nó là những vấn đề có lên quan đến các hệ thống giá trị, chuẩn mực của đời sống xã
hội. Chính vì vậy nhà quản trị nhân sự phải là những người có khả năng phân tích
và đưa ra được các giải pháp thiết kế một tổ chức tối ưu nhất để thực hiện những
mục tiêu chiến lược cho sự phát triển của doanh nghiệp và đi đến khẳng định
thương hiệu doanh nghiệp. Trong bất kỳ thời đại nào, nguồn nhân lực cũng đóng
vai trò hết sức quan trọng, đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại với sự bùng nổ của
nền kinh tế thế giới và sự bùng nổ của khoa học công nghệ thì vai trò của nguồn
nhân lực càng đóng vai trò quan trọng. Nguồn nhân lực nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao vừa là nguồn lực to lớn, vừa là động lực tăng năng suất lao động, là điều
kiện quyết định để các tổ chức có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh. Do
đó trong các tổ chức, lập kế hoạch nhân sự, công tác đào tạo và phát triển, đánh giá
hiệu quả công việc của nhân viên cần phải được thực hiện một cách có tổ chức và

có kế hoạch.Với sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học kỹ thuật, công
nghệ và xu hướng phát triển kinh tế tri thức việc cập nhật và trang bị kiến thức cho
người lao động để họ hoàn thành tốt công việc được giao là một yêu cầu tất yếu. Do
đó các nhà quản trị cần phải xây dựng và thực hiện kế hoạch nhân sự như là một bộ
phận trong các kế hoạch tổng thể của doanh nghiệp
Trong khuân khổ bài luận này nhóm chúng tôi xin lập bản kế hoạchchuẩn bị
nhân sự cho công ty Đóng Tàu Phà Rừng trong năm 2015


II. Phân tích
2.1 Giới thiệu chung
Công ty đóng tàu Phà Rừng thành lập ngày 25 thánh 03 năm 1984 với diện
tích đất sử dụng là 45 ha, diện tích đất xây dựng là 40 ha. Là công ty chuyên đóng
mới và sửa chữa các loại tàu biển, tàu chuyên dụng đòi hỏi kỹ thuật cao. Hiện nay,
trụ sở chính của công ty tại Thị trấn Minh Đức – Thủy Nguyên – Hải Phòng – Việt
Nam.
Công ty Đóng tàu Phà Rừng trước đây là Nhà máy Sửa chữa tàu biển Phà
Rừng là công trình hợp tác giữa chính phủ Việt Nam và Cộng hoà Phần Lan được
đưa vào hoạt động từ ngày 25 tháng 3 năm 1984. Ban đầu, Công ty được xây dựng
để sửa chữa các loại tàu biển có trọng tải đến 15.000 tấn. Trải qua hơn 20 năm hoạt
động, Công ty đã sửa chữa được gần ngàn lượt tàu trong nước và của các quốc gia
danh tiếng trên thế giới như: Liên bang Nga, Đức, Hy Lạp, Hàn Quốc, Singapore...
đạt chất lượng cao. Công ty là một trong những đơn vị đi đầu trong việc sửa chữa
các loại tàu biển đòi hỏi kỹ thuật cao như tàu chở khí gas hoá lỏng, tàu phục vụ
giàn khoan... Công ty Đóng tàu Phà Rừng là một trong những cơ sở hàng đầu của
Việt Nam có thương hiệu và uy tín trong lĩnh vực sửa chữa tàu biển.
Những năm gần đây, Công ty bắt đầu tham gia vào thị trường đóng mới.
Công ty đã bàn giao cho khách hàng gần chục tàu có trọng tải từ 6500 tấn đến
12500 tấn. Đó là tiền đề để Công ty Đóng tàu Phà Rừng thực hiện các hợp đồng
đóng mới các loại tàu có tính năng kỹ thuật cao để xuất khẩu như tàu chở dầu/hoá
chất 6500 tấn cho Hàn Quốc, tàu chở hàng vỏ kép 34.000 tấn cho Vương Quốc Anh
hiện đang được triển khai tại Công ty. Sản lượng và doanh thu năm 2014 của Công
ty cao hơn 10 lần so với năm 2005. Kế hoạch năm 2015 Công ty phấn đấu giá trị
tổng sản lượng đạt 1500 tỷ đồng, doanh thu trên 1.000 tỷ đồng.
Thực hiện chiến lược phát triển kinh tế biển của Đảng, Nhà nước và của Tập
đoàn Công nghiệp tàu thuỷ Việt Nam, Công ty đang thực hiện dự án xây dựng
Công ty Đóng tàu Sông Giá có thể đóng tàu trọng tải đến 100.000 tấn, xây dựng
cụm công nghiệp Vinashin Đình Vũ bao gồm hệ thống cảng biển và khu công
nghiệp phụ trợ, xây dựng nhà máy đóng tàu và sửa chữa tàu tại Yên Hưng - Quảng
Ninh...


Hiện tại Công ty đóng tàu Phà Rừng bao gồm công ty mẹ, 5 công ty trách
nhiệm hữu hạn một thành viên, 5 công ty cổ phần có vốn góp chi phối của Công ty


Sản phẩm của công ty
Sản phẩm đóng mới đầu tay của Phà Rừng là Ụ nổi 4.200 tấn để phục vụ công việc
sửa chữa tàu ngay tại mặt bằng Công ty, tiếp theo là đóng mới thành công chở hàng
6.300 DWT cho chủ tàu Vinashinline. Nối tiếp các thành công đó, Phà Rừng đã sản
xuất thành công hàng loạt các tàu đóng mới hiện đại cho các chủ tàu trong nước và
nước ngoài như: seri tàu chở hàng rời 6500 DWT, 12.500 DWT, 20.000 DWT cho
chủ tàu Vinaline, Vinashinline; seri tàu chở dầu/hóa chất 6.500 DWT cho Chủ tàu
Hàn Quốc; seri tàu chở dầu/hóa chất 13.000 DWT cho Chủ tàu Hy Lạp; seri tàu chở
hàng 34.000 DWT cho Chủ tàu Anh, Ý; seri tàu đánh cá, tàu lai dắt, tàu kéo đẩy, tàu
tuần tra hải quân…
Các sản phẩm sau khi bàn giao và đi vào khai thác đều được các chủ tàu đánh giá
cao về chất lượng. Với thành công tại 2 seri tàu chở dầu/hóa chất 6.500DWT và
13.000 DWT, Phà Rừng được các bạn hàng biết đến như là một đơn vị có uy tín và
giàu kinh nghiệm trong việc đóng mới tàu chở dầu/hóa chất.
Tổng diện tích hiện đang sử dụng: 112 ha.


2.2. Đánh giá thực trạng nguồn nhân lực hiện có.
2.2.1. Về số lượng lao động:
Tính đến thời điểm ngày 31/08/2014, tổng số lao động trong công ty là 2648
người trong đó có 233 lao động nữ.
Ban quản lý có kinh nghiệm được đào tạo tại Phần Lan, Ba Lan và Nhật Bản.
Kỹ sư công nghệ, chuyên gia kỹ thuật được đào tạo trong nước và nước ngoài.
Công nhân lành nghề. Công nhân hàn có các chứng chỉ 3G, 4G và 6G của các cấp
đăng kiểm VR, KR, NK, GL-DNV, BV…
Có các chương trình đào tạo nâng cao tay nghề và trình độ công nhân viên thường
niên.


Để tiện cho công tác đánh giá và lập kế hoạch nhân sự, lực lượng lao động
trong công ty được phân chia thành các nhóm: lao động quản lý, lao động phục vụ
sản xuất và lịch sử trực tiếp sản xuất.
Thuộc nhóm lao động quản lý là các cán bộ lãnh đạo chủ chốt, những người
trực tiếp điều hành các hoạt động của công ty như: Tổng giám đốc, các Phó Tổng
Giám đốc, cán bộ lãnh đạo các phòng, ban chuyên môn, nghiệp vụ….Hiện tại trong
công ty có 49 người thuộc nhóm này.
Thuộc nhóm lao động phục vụ sản xuất của công ty là nhân viên của các
phòng ban trực thuộc: phòng Tổ chức - Cán bộ - Lao động, phòng Tài chính – Kế
toán, phòng Vật tư, phòng Kinh doanh…. ; những người làm việc trong các lĩnh
vực hậu cần, chăm sóc sức khỏe và đời sống công nhân như bếp ăn, phòng y tế;
những người thuộc phòng bảo vệ; thuộc bộ phận lái xe…Hiện tại có 403 lao động
thuộc nhóm phụ vụ sản xuất của công ty.
Cuối cùng là những lao động trực tiếp sản xuất: đó là lực lượng lao động chủ
yếu, chiếm đại đa số trong tổng số lao động của công ty, hầu hết những người này
là công nhân kỹ thuật và cán bộ kỹ thuật. Tính đến thời điểm 31/08/2014, tổng số
lao động trực tiếp tham gia sản xuất của công ty đống tàu Phà Rừng là 2520 lao
động.


Trên cơ sở đáng giá tổng số lao động đang làm việc, Công ty sẽ biết được
lực lượng lao động mà công ty nắm trong tay là bao nhiêu người, mối quan hệ tỷ lệ
giữa số lượng lao động trực tiếp sản xuất với số lượng cná bộ quản lý và số lao
động phục vụ sản xuất. Tỷ lệ này đã hợp lý hay chưa, là nhiều hay ít, nếu nhiều thì
nên cắt giảm lao động ở bộ phận nào, nếu thiếu thì thiếu ở bộ phận nào, cần bổ
sung là bao nhiêu lao động.
2.2.2.Về chất lượng (trình độ) lao động
Cùng với đánh giá số lượng lao động, thì việc đánh giá chất lượng nguồn lao
động là một việc làm vô cùng quan trọng. Với đặc thù là một công ty đóng mới và
sửa chữa tàu thì vấn đề chất lượng lao động càng phải đặt lên hàng đầu vì trong gia
đoạn hiện nay, việc đào tạo ra được một lao động có đầy đủ các phẩm chất kỹ thuật,
đáp ứng được yêu cầu của công việc là một việc làm không hề dễ chút nào.
Khi đánh giá nguồn nhân lực theo khía cạnh chất lượng, công ty cũng chia ra
làm 2 nhóm: nhóm lao động quản lý và nhóm công nhân kỹ thuật.
Để tiện cho việc so sánh, đánh giá về tỷ lệ, cơ cấu lao động, công ty lại chia
những người thuộc nhóm lao động quản lý ra thành 2 bộ phận nhỏ. Đó là những
người cán bộ hoạt động trong lĩnh vực kỹ thuật và các cán bộ kinh tế. Để đánh giá
chất lượng nhóm lao động này, công ty dựa vào trình độ học vấn và bằng cấp của
từng người: có bao nhiêu cán bộ có trình độ trên đại học: thạc sỹ, tiến sỹ. bao nhiêu
cán bộ có trình độ đại học, bao nhiêu người có trình độ cao đẳng, trung học.
Đối với công nhân kỹ thuật, tiêu chí đánh giá chất lượng công nhân của công
ty là trình độ bậc thợ. Công ty chia lượng công nhân kỹ thuật này ra thành từng loại
thợ, ngành nghề khác nhau. Trong từng nhóm nhỏ này, sẽ có phân chia và đánh giá
theo trình độ bậc thợ. Trong công ty, thì bậc 7/7 là bậc có trình độ tay nghề cao
nhất, còn bậc 1/7 là thấp nhất. Hiện tại, vẫn có sự chênh lệch rất lớn gữa các nhóm
bậc thợ: những bậc thợ có trình độ tay nghề cao (bậc 6 và bậc 7) là rất ít trong khi
số lượng công nhân có trình độ tay nghề bậc hai lại rất nhiều, chiếm đa số trong
tổng số lao động kỹ thuật của công ty.
Trên cơ sở đánh giá chất lượng và số lượng lao động, công ty sẽ biết được
mối quan hệ giữa chất lượng và số lượng lao động, lao động có trìn độ như thế nào
chiếm đa số trong công ty, lượng lao động kỹ thuật đã đáp ứng đủ yêu cầu của sản
xuất kinh doanh trong thời gian tới chưa. Bộ phận nào là thiếu nhiều nhất, thiếu


những người có trình độ như thế nào… Từ đó, công ty sẽ xác định được nhu cầu về
nhân lực của mình trong thời gian tới.
Số cán bộ khoa học kỹ thuật có trình độ đại học (kỹ sư,cử nhân) của công ty được
thể hiện dưới bảng số liệu sau đây:
Bảng 1: Cán bộ nhân viên công ty đóng tàu Phà Rừng.
(Nguồn: Phòng Nhân sự)
Ngành nghề
Vỏ tàu thủy
Hàn tàu thủy

Đại học
63
3

Ngành nghề

Đại học

Bảo đảm ATHH

2

Điều khiển tàu biển

5

Máy tàu thủy

86

Kỹ thuật điều khiển

1

Điện tàu thủy

25

Kỹ thuật môi trường

2

Điện khí hóa và dân dụng

20

Kế toán

20

Chế tạo máy

11

Kinh tế vận tải biển

21

Gia công áp lực

1

Kinh doanh công nghiệp

5

Máy xếp dỡ

14

Quản trị kinh doanh

15

Cơ giới hóa xếp dỡ

6

TCKT ngân hàng

4

Cơ khí tàu thuyền

21

Tiếng Anh,Nga, Pháp

7

Ôtô

1

Y khoa

1

Xây dựng, công trình

24

Công nghệ thông tin

1

Toán thống kê tin học

2

Thông tin học

1

Đúc kim loại

1

Kinh tế ngoại thương

2

Cơ dệt

1

Chính trị tư tưởng

1

Bảo hộ lao động

2

Khai thác thủy sản

1


Với tổng số công nhân kỹ thuật là 2104 người,công ty đã phân cụ thể ra từng loại
thợ và ngành nghề khác nhau:
 Thợ lắp ráp (sắt) tàu thủy;
 Thợ hàn tàu thủy;
 Thợ máy tàu thủy;
 Thợ điện tàu thủy...
Trong tổng số 2104 công nhân được phân cấp theo trình độ bậc thợ: bậc1/7, 2/7,
3/7, 4/7, 5/7, 6/7, 7/7.Số thợ bậc 1 chiếm 218 người, bậc 2 chiếm 1104 người, bậc 3
chiếm 246 người,bậc 4 là 184 người, bậc 5 là153 người, bậc 6 là 84 người, bậc 7 là
28 người.Như vậy số công nhân kỹ thuật có trình độ bậc 2 chiếm nhiều nhất và thợ
bậc 7 chiếm ít nhất.Công ty vẫn thường xuyên mở các lớp thực hành và đào tạo
nhằm nâng cao tay nghề bậc thợ cho công nhân kỹ thuật Theo số liệu thông kê trên
cho ta thấy trình độ tay nghề của công nhân trong công ty còn chưa cao.Vì thế việc
đào tạo thường xuyên cho công nhân là một việc làm rất cần thiết để nâng cao hiệu
quả hoạt động sản xuất của công ty.
Theo báo cáo tình hình đáp ứng nguồn nhân lực 6 tháng đầu năm 2014 của
công ty cho thấy:
Về cán bộ kỹ thuật: Số kỹ sư mới ra trường nên còn thiếu kinh nghiệm thực
tế,Trưởng các đơn vị có phân công người kèm cặp đào tạo tiếp trong thực tế sản
xuất theo Quy định tuyển dụng 62- QĐ1 và nội dung thực tập đối với kỹ sư mới ra
trường của công ty đã ban hành..Đặc biệt là việc đào tạo kiến thức về hàn,xử lý
biến dạng nhiệt cho kỹ sư-đốc công mới.
Riêng kỹ sư vỏ tàu thủy vẫn chưa đáp ứng đủ cho các đơn vị,do số lượng kỹ sư
vỏ tàu thủy vừa tốt nghiệp của trường Đại học Hàng hải có hạn,chưa đáp ứng kịp
nhu cầu phát triển quá nóng của nghành CNTT.
Để thu hút kỹ sư chuyên nghành đóng tàu,vừa qua Tổng giám đốc công ty đã liên
kết với khoa đóng tàu trường Đại học hàng hải tổ chức tiếp xúc giao lưu với sinh
viên năm thứ 3,4 của khoa đóng tàu.Công ty đã áp dụng trợ cấp ăn giữa ca và đi lại
cho sinh viên khoa đóng tàu về thực tập tại công ty.Với nhiều chính sách ưu đãi đối
với sinh viên khoa đóng tàu như thế này để tạo điều kiện thuận lợi cho sinh viên có
điều kiện học tập tốt sau này sẽ về công ty làm việc và cống hiến cho công ty.Đây


sẽ là một nguồn lực lớn các kỹ sư tốt nghiệp ra trường có trình độ kỹ thuật cao góp
phần nâng cao năng suất sản phẩm của công ty sau này.
Công ty đã có chế độ trợ cấp 200.000 đ/tháng cho số kỹ sư,cử nhân mới ra
trường có bậc lương 1/8.
Công ty đang có kế hoạch liên kết với khoa đóng tàu trường Đại học hàng hải để
đào tạo tại chức lớp kỹ sư vỏ bằng 2 tại công ty.
Tóm lại với nhiều các chính sách và các chế độ trợ cấp đối với các kỹ sư và cử
nhân mới ra trường,cùng với các sinh viên chuẩn bị tốt nghiệp ra trường của trường
Đại học hàng hải, công ty đã tạo điều kiện tốt góp phần nâng cao về mặt đời sống
vật chất cũng như tinh thần hàng ngày cho mọi người trong công ty,tạo động lực
thúc đẩy mọi người càng có tinh thần làm việc tốt hơn nữa.
Về công nhân kỹ thuật: Công ty đã thực hiện kiểm tra, sát hạch đối với công nhân
mới tuyển dụng theo nội dung đào tạo, tiêu chuẩn bậc thợ do công ty quy định.Việc
làm này của công ty giúp cho việc tuyển dụng công nhân của công ty với chất
lượng đầu vào phù hợp với nhu cầu nguồn lực còn thiếu của công ty cũng như đảm
bảo về trình độ kỹ thuật đáp ứng cho mọi hoạt động của công ty
Công ty đã đào tạo cấp chứng chỉ đăng kiểm DNV cho: 85 thợ hàn...Mở lớp đào
tạo công nghệ hàn thép trắng cho 15 thợ hàn ống và 25 thợ hàn.Ngoài ra công ty
còn mở lớp đào tạo xử lý,nắn biến dạng phân,tổng đoạn trong đóng mới cho 87
người.
Tuy nhiên về mặt cơ sở vật chất kỹ thuật hạ tầng của công ty còn nhiều hạn chế
do điều kiện mặt bằng, nhà xưởng chật hẹp, thiết bị công cụ lao động chưa
đủ...Chính vì thế mà các đơn vị chưa thể tiếp nhận lao động mới vào để đào tạo bổ
sung cho cơ sở 2 theo kế hoạch của công ty.Đây cũng là nguyên nhân tỷ lệ tuyển
dụng công nhân kỹ thuật của 6 tháng đầu năm 2014 đạt thấp.Ngoài ra hiện nay còn
115 thợ hàn công ty đã kiểm tra sức khỏe đủ tiêu chuẩn nhưng chưa bố trí sắp xếp
được công việc.
2.3. Xây dựng kế hoạch nhân sự 2015
2.3.1.Căn cứ để xây dựng
Để xây dựng được bản kế hoạch bổ sung nhân sự, công ty phải dựa vào các
yếu tố sau:


-

Kế hoạch sản xuất kinh doanh hàng năm, trong đó đặc biệt chú trọng đến

các chỉ tiêu:


Giá trị tổng sản lượng



Doanh thu tiêu thụ kỳ kế hoạch



Số lượng, cơ cấu sản phẩm
 Số lượng loại tàu sửa chữa đóng mới
 Loại tàu: tàu chở hàng, tàu chở dầu, hóa chất…

 Trọng tải từng loại tàu: 6.500 tấn, 13.500 tấn, 20.000 tấn,
34.000 tấn…
-

Kế hoạch quy mô phát triển của công ty


Mở rộng cơ sở, năng lực sản xuất hiện có



Phát triển mới:
 Xây dựng thêm cơ sở mới
 Năng lực, thiết bị, công nghệ

-

Mức tăng trưởng lao động hàng năm (tỷ lệ % lao động tăng thêm hàng

-

Số lao động giảm tự nhiên hàng năm: nghỉ hưu;chết;lao động bị thương

năm)

mất sức lao động; lao động nghỉ việc …
Số lao động chuyển chỗ làm mới
Căn cứ vào tình hình sản xuất kinh doanh năm 2014 và tổ chức các đơn vị
thành viên của công ty đóng tàu Phà Rừng và kế hoạch của sản xuất kinh doanh của
Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam. Công ty đóng tàu Phà Rừng lập kế hoạch
sản xuất kinh doanh năm 2015 như sau:
Các chỉ tiêu kế hoạch cơ bản của toàn công ty đóng tàu Phà Rừng năm2015:
Bao gồm công ty đóng tàu Phà Rừng, 3 công ty TNHH TTV ( chi nhánh cũ)
và 5 cty cổ phần có góp vốn cổ phần chi phối của công ty đóng tàu Phà Rừng
1. Nộp nghĩa vụ :

50.504.416.000 đồng ~103 % so với năm 2014

2. Thu nhập doanh nghiệp: 12.950.148.000 đồng ~214 % so với năm 2014


3. Sản lượng :

1.497.548.295.000 đồng ~ 205.4 % so với năm 2014

4. Doanh thu :

1.131.907.819.000 đồng ~191 % so với năm 2014

Ngoài ra công ty còn căn cứ vào việc xây dựng tiền lương năm 2015 để có
kế hoạch bổ sung lao động. Căn cứ vào kết quả thực hiện LĐTL năm 2014 và điều
kiện thực tế của công ty năm 2015,công ty Đóng tàu Phà Rừng xây dựng mức chi
phí tiền lương năm 2015 trình tổng công ty như sau:
Bảng 2: Xây dựng mức chi phí tiền lương năm 2015
Sô TT

Tên chỉ tiêu

Doanh thu

Lao động

Qũy lương

Chi phí

1.000đồng

Người

Đồng

đ/1.000đ

I.

Sản xuất chính

848.000.000

2.958

86.915.000.000

102,5

1.

Sửa chữa tàu

43.000.000

308,0

9.030.000.000

210,0

2.

Đóng mới

803.000.000

2.594,0

76.285.000.000

95,0

3.

Sửa chữa nội bộ

2.000.000

56,0

1.600.000.000

800,0

II.

Sản xuất kinh doanh

3.000.000

7,0

1650.000.000

55,0

851.000.000

2.965

87.080.000.000

102

khác
III.

Cộng tổng

(Nguồn: Phòng Nhân sự)
Hàng năm công ty xây thêm nhiều các cơ sở sản xuất cũng như việc mở rộng
nhiều nhà xưởng để phục vụ cho quá trình hoạt động sản xuất. Ngoài ra việc mua
sắm thêm rất nhiều các trang thiết bị mới và áp dụng nhiều các tiến bộ khoa học kỹ
thuật nhằm cải thiện đáng kể năng suất của hoạt động của công ty.
Việc lập kế hoạch bổ sung lao động của công ty còn căn cứ vào vấn đề hàng năm
số lao động của công ty: nghỉ hưu, chết, bỏ việc...hoặc là số lao đông chuyển đi nơi
khác làm việc.
2.3.2. Tính toán, xác định nhu cầu lao động cần bổ sung để đáp ứng nhiệm vụ
sản xuất kinh doanh
Dựa vào những căn cứ như trên công ty sẽ xác định được nhu cầu về nguồn
nhân lực của mình trong kỳ kế hoạch. Công ty xác định được trong các bộ phận của
mình bộ phận nào đang thiếu lao động, đó là những lao động như thế nào, tay nghề
của lao động ra sao: bậc cao hay thấp, trình độ đại học hay trên đại học… Nhu cầu


bổ sung lao động của công ty cũng được phân chia thành 2 nhóm: nhóm lao động
quản lý và nhóm công nhân kỹ thuật. Mỗi nhóm lại có những yêu cầu riêng, cụ thể.
Với lao động quản lý sẽ là những cán bộ khoa học kỹ thuật và cán bộ kinh tế, tiêu
chí đưa ra sẽ là những yêu cầu về trình độ học vấn, công ty sẽ cần những cán bộ có
trình độ như thế nàp. Với công nhân kỹ thuật thì nhu cầu về nguồn lao động này sẽ
được phân chia theo bậc thợ.
2.3. 3. Nguồn cung cấp lao động
- Trường đào tạo cán bộ quản lý có trình độ đại học và trên đại học được cung
cấp từ các trường: Đại học Hàng hải, Đại học Bách khoa, Đại học Kinh tế quốc
dân, Học viện tài chính…
- Trường đào tạo công nhân kỹ thuật:
+ Trường Cao đẳng nghề Giao thông vận tải Trung ương II;
+ Trường Cao đẳng Hàng hải I;
+Trường đào tạo nghề CNKT Công nghiệp tàu thủy I;
+ Trường Trung học Thủy sản…
2.4. Kế hoạch đào tạo phát triển nguồn nhân lực
Ngoài việc lập kế hoạch lao động còn phải lập kế hoạch đào tạo phát triển
nguồn nhân lực của công ty.Bao gồm các nội dung sau:
2.4.1. Phân tích nhu cầu đào tạo
Về nhu cầu đào tạo
Công ty thường áp dụng phương pháp xác định nhu cầu đào tạo dựa vào tổng
thời gian hao phí lao động cho từng công trình, từng sản phẩm xây dựng của Công
ty.
Đào tạo mới, đào tạo thêm nghề: Áp dụng với những lao động mới tuyển
dụng do nhu cầu nhân lực thiếu hoặc những người từ bộ phận khác chuyển sang
chưa làm quen với công việc. Nhu cầu đào tạo mới được xác định thông qua việc
cân đối số lao động hàng năm:
Số lao động cần tuyển = Nhu cầu lao động cần có năm sau đó – Số lao động
hiện có trong năm trước.


Với những nhân viên mới tuyển, công ty đặc biệt chú ý đến công tác đào tạo
với hình thức hướng dẫn trực tiếp do những người có kinh nghiệm dày dặn trong
công việc dẫn dắt, cũng có thể căn cứ vào mục tiêu sắp tới của công ty mà cho nhân
viên mới tham gia những khoá đào tạo khác. Hàng năm số lao động cần tuyển mới
của công ty là vào khoảng 25 người, trong đó 70% là công nhân kỹ thuật xây dựng
và 30% là cán bộ công nhân viên quản lý.
Căn cứ vào số lao động làm việc trong các phòng ban để phát hiện ra số lao
động thừa thiếu và có biện pháp sử dụng lao động hợp lý nhất. Công ty cân đối
nhân lực trong các phòng ban bằng cách chuyển lao động từ các phòng thừa sang
các phòng thiếu, kết hợp với việc tiến hành đào tạo cho số lao động này. Hàng năm
công ty cũng thuyên chuyển lao động giữa các phòng, ban quản lý để tận dụng hết
nguồn nhân lực trong công ty.
Các phương pháp sử dụng trong việc đánh giá nhu cầu đào tạo bằng phương
pháp bảng hỏi, phỏng vấn và sử dụng các kết quả trong biểu đánh giá công việc hầu
như không được áp dụng mà thường là sử dụng phương pháp quan sát và thông qua
ý kiến tập thể.
Về đối tượng đào tạo:
Thực trạng xác định đối tượng đào tạo là lao động gián tiếp: Công ty thường
xuyên cử cán bộ đi học các lớp lí luận chính trị cao cấp. Tiêu chuẩn để tham gia các
khoá đào tạo này bao gồm: cán bộ phải là Đảng viên, có trình độ bậc Đại học trở
lên (chính quy hoặc tại chức), có kinh nghiệm công tác, độ tuổi trên 35. Dựa vào
những tiêu chuẩn đó mà hàng năm công ty xác định số lượng người tham gia các
khóa đào tạo (thường là 8 -10 người).
Đối với kỹ sư, cử nhân, nhân viên thì công ty cũng có những chính sách
quan tâm đến việc đào tạo phát triển những đối tượng này. Công ty thường cử họ đi
đào tạo các lớp ngắn hạn hoặc do những người có trình độ cao trong công ty trực
tiếp chỉ bảo, kèm cặp. Hàng năm công ty cũng tổ chức mở các lớp học ngắn hạn
3lần/năm để tại điều kiện cho người lao động học tập và nâng cao trình độ được liên
tục.


Đối với đối tượng đào tạo là công nhân kĩ thuật: Vì công ty hoạt động trong
lĩnh vực xây dựng nên đặc biệt phải chú ý tới việc đào tạo công nhân. Công tác đào
tạo diễn ra chủ yếu với công nhân là đào tạo lại nghề và nâng cao tay nghề cho
người lao động. Trước khi tiến hành công tác đào tạo thì công ty cũng phải tổ chức
kì thi giữ bậc, công nhân phải đạt tiêu chuẩn về tiêu chuẩn thời gian giữ bậc và tiêu
chuẩn thi nâng bậc, nếu qua phần thi này thì mới được tham gia cuộc thi nâng bậc.
Hình thức chủ yếu của các cuộc thi này gồm hai phần: lí thuyết và thực hành. Với
bất kì người lao động tham gia thì đều phải tuân thủ nguyên tắc, quy định của cuộc
thi đề ra.
2.4.2. Xác định mục tiêu đào tạo và nội dung phương pháp đào tạo
Về mục tiêu đào tạo:
Với những khóa đào tạo nhằm nâng cao trình độ chuyên môn thì chất lượng
đội ngũ lao động sau đào tạo được đặt lên hàng đầu, đánh giá thông qua số lượng
lao động ở trình độ Đại học, Cao Đẳng, Trung cấp và tăng cấp bậc của Công nhân.
Công ty đánh giá cao chất lượng đội ngũ lao động vì khi trình độ người lao động
được nâng lên thì hiệu quả làm việc, năng suất lao động cũng tăng lên, giá trị sản
lượng gia tăng và người lao động sẽ có hứng thú trong công việc hơn và kích thích
người lao động bằng khoản tiền lương, tiền công được trả nhiều hơn.
Với khóa đào tạo thêm nghề, đào tạo mới nhằm bổ sung kiến thức, kĩ năng
ban đầu cần thiết cho người lao động thuyên chuyển công tác hoặc nhân viên mới
tuyển vào Công ty: mục đích của khoá đào tạo này là tạo điều kiện cho người lao
động nắm bắt, làm quen với công việc và hoàn thành kế hoạch sản xuất kinh doanh
trong từng thời kì.
Về phương thức đào tạo:
Công ty áp dụng phương pháp đào tạo chủ yếu là đào tạo nghề, kèm cặp chỉ
bảo và cử đi học ở các trung tâm. Tỷ lệ số người được đào tạo bằng tất cả các
phương pháp do Công ty áp dụng so với tổng số công nhân được đào tạo chiếm một
tỷ lệ tương đối cao nhưng xu hướng giảm dần qua các năm: năm 2012 chiếm
66,23%, năm 2013 chiếm 42,71%, năm 2014 chiếm 41,49%.


Phương pháp đào tạo ở các trung tâm: Công ty gửi lao động đến những trung
tâm đào tạo nghề chuyên nghiệp để theo học. Theo phương pháp này thì các học
viên tiếp thu kiến thức dễ dàng và có hệ thống hơn nhưng nó lại đòi hỏi chi phí đào
tạo lớn hơn.
Phương pháp đào tạo theo kiểu chỉ bảo, kèm cặp: phương pháp này áp dụng
với cả cán bộ và công nhân. Số lao động được đào tạo theo hình thức này rất lớn
nhưng có xu hướng giảm qua các nước năm 2012 là 157 người, năm 2013 là 63
người, năm 2014 là 53 người. Nguyên nhân sự thay đổi này là trong quá trình đào
tạo người lao động không được tiếp thu kiến thức một cách hệ thống, dễ bị lặp theo
những khuyết thiếu, sai sót của người hướng dẫn, không tạo được môi trường lao
động sáng tạo cho công nhân, đặc biệt là không nắm bắt được những kiến thức hiện
đại của khoa học kĩ thuật.
Phương pháp đào tạo không tập trung: phương pháp này chủ yếu áp dụng
đối với cán bộ công nhân viên, thường là các khóa đào tạo ngắn hạn. Các lớp bồi
dưỡng chuyên môn nghiệp vụ để nâng cao kiến thức cho cán bộ công nhân viên
trước sự thay đổi của chính sách trong quản lí hay sự thay đổi của môi trường kinh
doanh. Số lao động đào tạo theo phương pháp này gảim đi qua các năm là do Công
ty đã dần ổn định đi vào hoạt động theo hình thức cổ phần hóa (Năm 2012: 28
người, năm 2014: 25 người), số lao động được cử đi đào tạo kiến thức về cổ phần
hoá chiếm tỷ lệ lớn.
2.4.3. Xác định kinh phí đào tạo
Chi phí học tập cho quá trình đào tạo nguồn nhân lực bao gồm có: Tiền
lương cho người đi học.Chi phí đào tạo gồm tiền thù lao cho người dạy, chi phí tài
liệu, ăn ở, chi phí phục vụ khóa học…
Dựa vào tất cả các nội dung về kế hoạch phát triển nguồn nhân lực đã nêu
trên và kế hoạch đào tạo nhân sự của công ty đóng tàu Phà Rừng được thể hiện ở
bảng sau đây:
Bảng 3: Kế hoạch đào tạo nhân sự của công ty đóng tàu Phà Rừng.
(Đơn vị 1.000.000)
STT

Nội dung

Đối

Đơn vị

Số

Thời

Chi phí đào tạo (VNĐ)


hình

tượng

Đào

thức đào tạo

Đào tạo

tạo

Lượng

gian

Chi

Đào tạo

phí

Ngắn và

156

Lương

Cộng

Đào tạo
CBQL & NV
I.

Thừa hành

70
CBNV

CT+BN

Chuyên môn
Và nghiệp vụ

CBNV

CT+BN

296

Dài hạn

Bồi dưỡng về
1.

140

20

Ngắn hạn

60

40

100

40

46

Áp dụng
2.

Tiến bộ &
Chuyển giao

Bên
CBNV

ngoài

20

Ngắn hạn

6

CN mới
3.

Đào tạo nâng
Cao trình độ

CBNV

Bên
ngoài

30

Đào tạo công
II.

Nhân kỹ

Ngắn và
Dài hạn
Ngắn và

90

CNKT

CT+BN

2.000

CNKT

Công ty

800

Ngắn hạn

160

CNKT

Công ty

250

Ngắn hạn

500

CNKT

CT+BN

400

CNKT

CT+BN

300

thuật

Dài hạn

2.545

60
1.245

150

3.790

Huấn luyện
ban
1

đầu CN tuyển

17,5

177,5

dụng mới
2

3

4

Nâng bậc hàng
năm
Đào tạo lại và
Nâng cao
Cấp chứng chỉ
Đăng kiểm

Ngắn và

775

1.275

400

800

93

1.353

Dài hạn
Ngắn hạn

1.260


Áp dụng tiển
bộ
5

KHKT&

CNKT

CT+BN

150

Ngắn hạn

225

CNKT

Công ty

-

Ngắn hạn

-

52,5

277,5

-

-

chuyển
Giao CN
6
III

Đào tạo mới
Đào tạo nhận
Thức về ISO

CBCNV

Cộng (I+II+III)

Công ty

2.200

Ngắn hạn

28,6
2.729,6

80

1.465

108,6
4.194,6

III. Phần Kết
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp thường xuyên phải đối mặt
với các quy luật của thị trường vì vậy những dấu hiệu thị trường là cơ sở để các


doanh nghiệp thực hiện hành vi sản xuất kinh doanh của mình. Tuy vậy, kế hoạch
hóa vẫn là cơ chế quản lý cần thiết, hữu hiệu của các doanh nghiệp.
Trong doanh nghiệp kế hoạch nhân sự là một phần hết sức cần thiết ảnh
hưởng trực tiếp đến doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp.Các vấn đề về tăng,
giảm nhân sự trong doanh nghiệp, chất lượng, số lượng của nhân viên trong doanh
nghiệp như thế nào? Đây là một vấn đề hết sức quan trọng được tất cả các nhà kế
hoạch quan tâm. Kế hoạch hóa nhấn sự cho phép các nhà quản lý và bộ phận nhân
sự dự báo các nhu cầu tương lai về nhân sự của doanh nghiệp và khả năng cung
ứng lao động.Nếu doanh nghiệp không thỏa mãn được nhu cầu nhân sự về số lượng
và loại lao động thì có thể mục tiêu chiến lược và tác nghiệp sẽ không thực hiện
được.
Vì vậy việc thực hiện tốt kế hoạch nhân sự là một trong những yếu tố cơ bản
cho việc thực hiện thành công chiến lược của doanh nghiệp.
TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Bài giảng học phần Quản trị nguồn nhân lực

2. Giáo trình Quản trị nhân lực - Nhà xuất bản lao động xã hội. Chủ biên: Th.s
Nguyễn Vân Điềm - PGS.TS. Nguyễn Ngọc Quân
3. Hồ sơ năng lực Công ty đóng tàu Phà Rừng 2014 – Phòng Tổ chức hành
chính
4.

Báo cáo công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực của Công ty đóng tàu
Phà Rừng năm 2013, 2014



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×