Tải bản đầy đủ

TomtatLATSNghiên cứu khả năng tích lũy và trao đổi carbon trong rừng ngậ

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY LỢI

HÀ THỊ HIỀN

NGHIÊN CỨU KHẢ NĂNG TÍCH LŨY VÀ TRAO ĐỔI CARBON
TRONG RỪNG NGẬP MẶN TRỒNG TẠI
VƯỜN QUỐC GIA XUÂN THỦY

Chuyên ngành: Môi trường đất và nước
Mã số chuyên ngành: 9 44 03 03

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ KỸ THUẬT

HÀ NỘI, NĂM 2018
1



Công trình được hoàn thành tại Trường Đại học Thủy lợi

Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS. Nguyễn Thị Kim Cúc

Phản biện 1: PGS. TS. Lê Xuân Tuấn
Phản biện 2: PGS. TS. Phạm Minh Toại
Phản biện 3: PGS. TS. Dương Thị Thủy

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án họp tại ………….., Trường
Đại học Thủy lợi vào lúc … giờ … phút ngày ……. tháng …..năm ……………

Có thể tìm hiểu luận án tại thư viện:
- Thư viện Quốc gia
- Thư viện Trường Đại học Thủy lợi
2


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng ngập mặn (RNM) là các thảm thực vật, gồm các loài ưa mặn, phân bố tại
vùng cửa sông, ven biển vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới [1]. Hệ sinh thái RNM
đóng vai trò như một lá chắn bảo vệ vùng ven biển khỏi các tác động của thiên
tai như mưa bão, lốc xoáy, sóng biển, ngập lụt và các thảm họa thiên nhiên tiềm
tàng khác như sóng thần [4], [5]. Bên cạnh vai trò bảo vệ đường bờ biển, HST
RNM còn cung cấp nhiều giá trị dịch vụ HST và các giá trị thương mại khác [6]–
[8]. Cùng với vai trò và các giá trị quan trọng của RNM, trong vài thập kỉ gần
đây, RNM được ghi nhận là HST quan trọng trong chu trình carbon. Hệ sinh thái
RNM đóng vai trò như một bể chứa CO2 của khí quyển và là nguồn carbon hữu
cơ và vô cơ vùng ven biển.
Một số nghiên cứu về carbon trong RNM trồng tại khu vực phía Bắc Việt Nam đã
được tiến hành bởi Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Thị Kim Cúc và Nguyễn Thị Hồng
Hạnh [10]–[13]. Các tác giả đã xác định được trữ lượng carbon trong đất và trong
sinh khối của rừng Trang trồng (Kandelia obovata; < 13 tuổi). Tuy nhiên, hiện chưa
có nghiên cứu cụ thể nào về carbon trao đổi và tích lũy trong rừng Trang trồng tại
khu vực phía Bắc ở lứa tuổi cao hơn (~ 20 tuổi). Và, cũng chưa có nghiên cứu cụ
thể, đồng thời sự tích lũy và trao đổi carbon của HST RNM qua việc đo lượng khí
CO2 phát thải từ giao diện đất rừng, giao diện nước vào khí quyển cũng như tính
toán sự trao đổi carbon giữa RNM và môi trường nước xung quanh.
Để tiếp nối các kết quả nghiên cứu đã có với rừng Trang dưới 13 tuổi, nghiên
cứu này được thực hiện trên diện tích rừng Trang trồng tại Vườn Quốc gia Xuân


Thủy (VQGXT) và hoàn thiện bức tranh về khả năng tích lũy carbon trong RNM
tại phía Bắc Việt Nam từ thời điểm mới trồng cho đến 20 tuổi, cũng như đánh
giá khả năng tích lũy khí nhà kính của RNM. Vì vậy, đề tài luận án “Nghiên cứu
khả năng tích lũy và trao đổi carbon trong rừng ngập mặn trồng tại Vườn
Quốc gia Xuân Thủy” là nghiên cứu có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cao, góp
3


phần quan trọng trong việc định lượng trữ lượng carbon ứng với mỗi giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của rừng trồng. Bên cạnh đó, carbon trao đổi giữa HST
RNM và môi trường xung quanh (không khí, nước) cũng được tính toán để hoàn
thiện chu trình carbon trong rừng Trang trồng và đánh giá chức năng lưu trữ
carbon của RNM trong việc quản lý bền vững HST rừng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu trong đề tài của luận án là định lượng khả năng tích lũy carbon
trong rừng Trang (K. obovata) trồng theo thời gian. Ngoài ra, nghiên cứu tính toán
lượng trao đổi carbon và cân bằng carbon giữa các thành phần môi trường tại khu
vực RNM VQGXT, tỉnh Nam Định. Các mục tiêu chính của luận án cụ thể như sau:
i. Định lượng được lượng carbon tích lũy trong rừng Trang trồng (18 – 20 tuổi),
cụ thể là carbon tích lũy trong sinh khối thực vật và carbon tích lũy trong đất.
Từ đó làm rõ mối quan hệ giữa tuổi rừng và khả năng tích lũy carbon trong
RNM theo từng độ tuổi;
ii. Định lượng carbon trao đổi giữa HST RNM và môi trường xung quanh (nước,
không khí);
iii. Xác định mối quan hệ giữa carbon tích lũy trong đất, trong sinh khối và các
dạng carbon chuyển dịch, từ đó hoàn thiện chu trình carbon trong RNM tại
VQGXT.
3.
3.1.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là khả năng tích lũy và trao đổi carbon trong
rừng Trang trồng (K. obovata; 18-20 năm tuổi) tại khu vực vùng đệm VQGXT,
tỉnh Nam Định.
3.2.

Phạm vi nghiên cứu

Nghiên cứu được thực hiện trên diện tích rừng Trang (K. obovata) trồng sinh
trưởng và phát triển quanh một con lạch triều nối với kênh chính (20o13’37.6” N
4


Vĩ độ Bắc và 106o31’42.0”E Kinh độ Đông, Hình 2.1) tại khu vực vùng đệm
VQGXT tỉnh Nam Định. Nghiên cứu định lượng carbon tích lũy trong đất và
trong sinh khối cây cũng như lượng carbon trao đổi từ giao diện đất – không khí,
đất – nước theo phương thẳng đứng và phương ngang của rừng Trang trồng từ
18-20 tuổi. Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 năm 2016 đến hết
tháng 4 năm 2018, tương ứng với rừng trồng 18, 19 và 20 năm tuổi. Tại khu vực
lựa chọn, kết quả khảo sát cấu trúc rừng cho thấy Trang (K. obovata) là loài
chiếm khoảng 95% tổng số cá thể đo đếm được tại diện tích rừng trồng, còn lại
là tỉ lệ nhỏ của Đâng (Rhizophora stylosa). Do đó, khu vực nghiên cứu được xác
định là diện tích rừng Trang trồng (gọi chung là RNM).
Diện tích rừng trồng sinh trưởng và phát triển quanh con lạch triều kết nối trực
tiếp với kênh chính trong khu vực. Dòng thủy triều lên xuống hàng ngày mang
theo các chất dinh dưỡng cho diện tích rừng trồng, đồng thời dòng thủy triều
cũng cuốn theo các vật rụng và các chất dinh dưỡng từ sàn rừng ra môi trường
nước đại dương khi nước rút. Vì vậy, phạm vi chuyên môn của luận án sẽ tính
toán giá trị carbon tích lũy và trao đổi trong diện tích rừng trồng bao quanh con
lạch triều. Vì nghiên cứu giới hạn về trang thiết bị đo đạc, nên luận án không tính
đến lượng carbon trao đổi (CO2) từ cây RNM vào khí quyển và ngược lại.
4. Nội dung nghiên cứu
Từ mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, các nội dung chính nghiên cứu như sau:
i. Nghiên cứu sinh khối tích lũy trong rừng Trang bao gồm: sinh khối trên mặt
đất và sinh khối dưới mặt đất, lượng carbon tồn lưu trong cây và đất RNM
theo độ tuổi. Từ giá trị sinh khối tích lũy và carbon tích lũy trong đất, nghiên
cứu xác định tốc độ tích lũy carbon trong sinh khối và tốc độ tồn lưu carbon
trong đất theo thời gian;
ii. Nghiên cứu năng suất sơ cấp của rừng Trang trồng và giá trị carbon mang ra
môi trường nước qua lượng rơi (macro-export) thông qua việc thu thập các
mẫu lượng rơi hàng tháng tại diện tích nghiên cứu trong hai năm liên tục. Đo
và tính dòng khí CO2 phát thải từ rừng Trang vào khí quyển, từ rừng Trang
5


vào môi trường nước xung quanh thông qua các thông số DOC, POC và DIC
theo chu kì thủy triều. Từ các kết quả thu được, nghiên cứu tính toán cân bằng
carbon trong RNM trồng;
iii. Phân tích và xác định mối tương quan giữa các kết quả trong nội dung nghiên cứu
số (i) và số (ii) để hoàn thiện chu trình hợp phần carbon trong rừng Trang trồng.
Từ kết quả đo đạc và phân tích được, nghiên cứu sẽ tập trung làm sáng tỏ các nội
dung đặt ra với các luận điểm bảo vệ chính như sau:
(1) carbon tích lũy trong sinh khối và trong đất tăng dần theo tuổi rừng;
(2) carbon trao đổi vào môi trường không khí và môi trường nước xung quanh
phụ thuộc vào giá trị carbon tích lũy trong đất và các yếu tố khí hậu, thủy triều,
thủy văn và các đặc tính của cây Trang trồng.
5.
5.1.

Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn
Ý nghĩa khoa học

Kết quả thu được của luận án hoàn thiện việc định lượng trữ lượng cacbon tích
lũy của RNM theo độ tuổi (18-20 tuổi). Nghiên cứu cũng góp phần bổ sung các
luận chứng và cơ sở khoa học cho việc tính toán khả năng hấp thụ khí nhà kính
(CO2) của rừng trồng, và khả năng này biến đổi như thế nào trong mỗi giai đoạn
sinh trưởng và phát triển của cây. Từ kết quả đó luận giải quá trình trao đổi
cacbon giữa các giao diện đất – nước – không khí và làm rõ vai trò của RNM
như một bể chứa khí nhà kính (CO2), làm giảm thiểu khí nhà kính phát thải ra
môi trường.
5.2.

Ý nghĩa thực tiễn

Kết quả hoàn thiện của luận án cung cấp các số liệu định lượng về trữ lượng
cacbon tích lũy trong RNM trưởng thành, làm cơ sở khoa học cho việc xây dựng
và phát triển các dự án trồng RNM vùng ven biển. Các kết quả định lượng của
luận án có thể được sử dụng làm dữ liệu cơ sở cho đánh giá chi trả dịch vụ HST
về chức năng lưu trữ carbon/năng suất của HST RNM và quản lý bền vững HST
6


này. Qua đó có kế hoạch phục hồi, bảo vệ và phát triển RNM trong khu vực
nghiên cứu cho nhiệm vụ giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu.
Luận án cũng cung cấp các dẫn liệu trong việc giảng dạy các môn học thuộc lĩnh
vực môi trường và sinh thái học cũng như một số chuyên ngành liên quan khác
trong các trường Đại học, Cao đẳng.
6. Cấu trúc luận án
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận án bao gồm 03 chương:
Chương 1: Tổng quan các nghiên cứu về tích lũy và trao đổi carbon trong rừng
ngập mặn
Chương 2: Địa điểm và phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU VỀ TÍCH LŨY VÀ
TRAO ĐỔI CARBON TRONG RỪNG NGẬP MẶN
1.1

Giới thiệu chung về rừng ngập mặn

Rừng ngập mặn phân bố tại các vùng cửa sông dọc bờ biển chủ yếu ở các vùng
xích đạo và nhiệt đới hai bán cầu, trải dài từ 25o Bắc tới 25o Nam [14]. Rừng
ngập mặn tại các vùng trên thế giới có sự đa dạng rất lớn về cấu trúc và chức
năng, đây là kết quả của các yếu tố tổng hợp bao gồm địa hình vùng đất, thể nền,
vĩ độ và chế độ thủy triều, thủy văn, khí hậu [20]. Do sự đa dạng về chiều cao và
đường kính thân nên sinh khối thực vật trên mặt đất cũng biến động rất lớn, từ
khoảng 8 Mg ha-1 ở các vùng RNM thấp lùn tới trên 500 Mg ha-1 ở các vùng
RNM gần cửa sông tại vùng Ấn Độ – Thái Bình Dương [21].
Tương tự sự biến động của sinh khối thực vật, hàm lượng carbon tích lũy trong
đất RNM cũng có các giá trị hoàn toàn khác nhau phụ thuộc vào thành phần loài,
hình thái và cấu trúc rừng. Các nghiên cứu đã cho thấy, RNM tích lũy carbon
nhiều nhất trong lớp đất có độ sâu từ bề mặt tới khoảng 3 m dưới mặt đất, và trữ
7


lượng carbon trong đất chiếm từ 49 – 98% trong tổng trữ lượng carbon của các
HST này [15].
Ngoài việc tập trung nghiên cứu trữ lượng carbon trong HST RNM trên qui mô
toàn cầu, một số nghiên cứu còn đánh giá các dạng chuyển dịch của carbon từ
HST RNM ra các vùng nước biển ven bờ. Vì diện tích RNM phân bố ở nhiều
vùng khác nhau với các yếu tố môi trường rất đa dạng nên carbon hữu cơ dịch
chuyển từ RNM ra môi trường xung quanh và ngược lại phụ thuộc vào rất nhiều
yếu tố: địa hình địa mạo, biên độ triều, khí hậu, loài thực vật, ảnh hưởng của các
yếu tố sinh học, vv… Chính các yếu tố tác động này làm cho năng suất sinh học
và giá trị carbon tích lũy cũng như trao đổi của RNM biến đổi vô cùng đa dạng.
1.2

Tổng quan các nghiên cứu về tích lũy carbon trong rừng ngập mặn

Trong vài thập kỉ qua, trữ lượng carbon của HST RNM thuộc các vùng trên toàn
cầu đã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu. Các kết quả thu được về sinh
khối tích lũy trên mặt đất (AGB), sinh khối tích lũy dưới mặt đất (BGB) và một
số kết quả nghiên cứu carbon tồn lưu dưới mặt đất của các diện tích RNM phân
bố theo vĩ độ. Các vĩ độ càng gần xích đạo có giá trị carbon tích lũy càng cao.
Ở phía Bắc Việt Nam, từ đầu những năm 2000 một số nghiên cứu về carbon tích
lũy trong sinh khối và đất đã được tiến hành ở các vùng RNM mới trồng bởi
Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Thị Kim Cúc và Nguyễn Thị Hồng Hạnh [10]–[12].
Kết quả nghiên cứu cho thấy tổng carbon tích lũy trên mặt đất và dưới mặt đất
biến động tăng dần theo độ tuổi. Các kết quả nghiên cứu chỉ tính các diện tích
rừng trồng đến 13 tuổi, chưa có kết quả cho các giai đoạn tuổi cao hơn của rừng
ở khu vực này.
1.3

Tổng quan các nghiên cứu về trao đổi carbon trong rừng ngập mặn

Một phần carbon tích lũy trong đất RNM bị khoáng hóa và hình thành các khí nhà
kính, trong đó có khí CO2. Khí này có thể phát thải trực tiếp vào không khí qua
giao diện đất – khí, hoặc hòa tan trong nước và theo dòng chảy ngầm ra vùng nước
kênh rạch xung quanh dưới các dạng DOC, DIC, POC [3], [30], [83]. Các quá trình
8


sản sinh và dịch chuyển carbon trong các thành phần môi trường có biến động
mạnh trong đất RNM, phụ thuộc vào nhiều yếu tố như thành phần loài thực vật,
tuổi rừng, vị trí địa hình của rừng và mối liên quan tới biên độ và chu kì thủy triều,
các nguồn thải nhân tạo mà RNM nhận được, khí hậu trong năm (mùa mưa/khô,
nhiệt độ) [3], [82], [84]–[86]. Những ước tính mới nhất của Bouillon và cs. (2008)
[3] về cân bằng carbon trong RNM cho thấy nhiều biến động. Kết hợp các nguồn
hấp thụ carbon khác nhau trong RNM, vận chuyển, tồn lưu và khoáng hóa chỉ
chiếm ~ 50% lượng carbon cố định bởi RNM qua quá trình quang hợp.
Tại khu vực phía Bắc Việt Nam, từ năm 2010 tới nay, chưa có nghiên cứu cụ thể
nào tính toán đồng thời giá trị carbon tích lũy và trao đổi trong RNM phía Bắc,
và cũng chưa có nghiên cứu xác định lượng khí CO2 phát thải từ giao diện đất
rừng, giao diện nước vào khí quyển cũng như tính toán sự trao đổi carbon giữa
RNM và môi trường nước xung quanh dưới các dạng tồn tại của chúng (DOC,
POC, DIC và carbon mang ra từ lượng rơi). Do đó, giả thuyết đặt ra cho nghiên
cứu trong luận án này là tính toán được carbon tích lũy, tồn lưu; tính toán và xác
định được các dạng chuyển dịch của carbon để hoàn thiện chu trình carbon cho
một vùng nghiên cứu với thành phần loài thực vật và hình thái rừng cụ thể.
1.4

Kết luận chương 1

Carbon tích lũy, tồn lưu trong HST RNM tại các vùng vĩ độ trên thế giới và tại
Việt Nam đã được nghiên cứu cụ thể tại các địa điểm khác nhau. Carbon trao đổi
và chuyển dịch từ RNM ra môi trường xung quanh đã được công bố trong một
số nghiên cứu; tuy nhiên kết quả nghiên cứu còn hạn chế và chưa tính toán được
đầy đủ các dạng trao đổi và chuyển dịch. Hiện đã có một số nghiên cứu về các
yếu tố ảnh hưởng tới sự phát thải khí CO2 từ giao diện đất- không khí tại sàn
RNM khi thủy triều xuống thấp [67], [82], [84]. Tuy nhiên vẫn còn thiếu các
nghiên cứu về dòng khí CO2 phát thải tại các khu vực khác nhau trên thế giới
cũng như tại các hình thái rừng khác nhau (rừng trồng và rừng tự nhiên). Các tác
giả đã dự đoán dạng chuyển dịch của carbon trong HST RNM, nhưng chưa có
đầy đủ số liệu để hoàn thiện chu trình carbon cho một vùng nghiên cứu cụ thể.
9


Tại Việt Nam, vì phần lớn diện tích RNM hiện có là RNM trồng (~ 66%) [80],
và đã có một số nghiên cứu đánh giá trữ lượng carbon tích lũy trong sinh khối
và trong đất. Tuy nhiên, vẫn chưa có các nghiên cứu toàn diện để đánh giá trọn
vẹn về carbon tích lũy và trao đổi trong HST RNM trồng tại lứa tuổi trưởng
thành, đặc biệt tại vùng phía Bắc Việt Nam. Vì vậy, rất cần có các nghiên cứu cụ
thể để đánh giá carbon tích lũy và trao đổi trong HST này. Nghiên cứu lựa chọn
trong luận án sẽ giải quyết nội dung còn thiếu hụt trong việc đánh giá cụ thể tổng
carbon tích lũy, tồn lưu và trao đổi trong HST RNM trồng, từ đó hoàn thiện chu
trình carbon cho vùng RNM trồng tại phía Bắc Việt Nam.
CHƯƠNG 2
2.1

ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Địa điểm nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu là vùng
RNM thuộc VQGXT nằm tại vị trí
bờ Nam của cửa sông Hồng, tỉnh
Nam Định, miền Bắc Việt Nam.
RNM tại VQGXT là thảm thực vật
hỗn giao của rừng trồng và rừng
tái sinh tự nhiên với ba loài cây
chính: Trang (K. obovata), Bần
chua (S. caseolaris) và Đâng (R.
stylosa). Khu vực nghiên cứu nằm
tại vùng đệm của VQGXT, nơi
RNM được trồng từ năm 1998.
Các ô nghiên cứu (ô tiêu chuẩn)
được lựa chọn và thiết lập tại khu
vực RNM trồng bao quanh một
con lạch triều nối với kênh chính
(rừng Trang 18 tuổi, 2016; 19 tuổi,
2017; và 20 tuổi, 2018; Hình 2.1).

Hình 2.1. Bản đồ khu vực nghiên cứu và
vị trí lấy mẫu tại RNM thuộc VQGXT.
10


2.2

Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận án là sự tích lũy và trao đổi carbon trong rừng
Trang trồng (18-20 năm tuổi) tại khu vực vùng đệm VQGXT, tỉnh Nam Định.
Trang là loài cây thân gỗ nhỏ, sinh trưởng và phát triển ở Việt Nam, Trung Quốc,
Đài Loan, Nhật Bản và tại quần đảo Natuna, Indonesia. Cây Trang sinh trưởng
trên bùn xốp và bùn cát có độ mặn thay đổi. Đây là loài có khả năng chịu được
biên độ nhiệt và độ mặn khá rộng. Ở miền Bắc Việt Nam, Trang là loài cây ngập
mặn phân bố với tỉ lệ lớn (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) bên cạnh tỉ lệ nhỏ của
Bần và Đâng.
2.3

Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ tháng 2 năm 2016 đến hết tháng 4 năm
2018. Trong mỗi năm nghiên cứu, tiến hành xác định carbon tích lũy trong đất
và trong sinh khối của rừng Trang. Đồng thời, carbon phát thải từ đất, nước (CO2)
và carbon trao đổi (DIC, DOC, POC) từ rừng Trang và vùng nước ven bờ (và
ngược lại) cũng được xác định trong hai mùa chính: mùa mưa và mùa khô để
đánh giá lượng carbon chuyển dịch và phát thải từ đó tính toán cân bằng carbon.
Trong mỗi mùa, nghiên cứu được tiến hành vào hai chu kì thủy triều nước lớn
và nước ròng để tính toán các giá trị carbon chuyển dịch trong mỗi chu kì.
Lấy mẫu lượng rơi tại rừng Trang mỗi tháng một lần trong khoảng thời gian từ
tháng 4/2016 đến tháng 5/2018. Tương tự, mẫu lượng rơi mang từ rừng Trang ra
lạch triều và vùng nước xung quanh được thu thập mỗi tháng một lần để tính
tổng carbon mang ra (macro-export).
2.4

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học
của các tác giả trong cùng lĩnh vực đã công bố trong các bài báo, các sách chuyên
khảo, các báo cáo kết quả nghiên cứu về lý thuyết và thực tiễn ở trong và ngoài
nước. Bên cạnh đó, phương pháp thu thập và xử lý số liệu, thông tin từ các nguồn
thông tin sơ cấp và thứ cấp từ những tài liệu nghiên cứu đã có nhằm xây dựng
11


cơ sở luận cứ để chứng minh các giả thuyết của nghiên cứu. Phương pháp phân
tích tổng hợp các kết quả nghiên cứu định lượng cũng được áp dụng để xây dựng
chu trình carbon trong RNM trồng.
Đề tài nghiên cứu là tổng hợp kiến thức của nhiều ngành khoa học (sinh học,
sinh thái học, hóa học, thổ nhưỡng học và môi trường) vừa có tính tổng hợp, vừa
mang tính chuyên sâu; do đó kết quả nghiên cứu cần sự đóng góp của nhiều nhà
khoa học trong các chuyên ngành. Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia trong đề
tài nghiên cứu thông qua các hội nghị khoa học, các hội thảo đã được thực hiện
để hoàn thiện chính xác các nội dung trong luận án.
Nghiên cứu cũng áp dụng phương pháp khảo sát điều tra, đo đạc tại hiện trường
để lựa chọn địa điểm nghiên cứu, đo đạc cấu trúc rừng trồng trong từng năm
nghiên cứu, đo đạc dòng khí CO2 trao đổi giữa các giao diện môi trường cũng
như các tính chất lí hóa và carbon của dòng triều mang vào và mang ra khỏi diện
tích RNM. Các mẫu đất, mẫu nước và mẫu sinh khối thực vật được thu thập, bảo
quản và phân tích theo các phương pháp chuẩn tại phòng thí nghiệm.
Tất cả số liệu tính toán được sau quá trình thí nghiệm được phân tích và xử lý số liệu
theo các phương pháp phân tích phương sai một biến, hai biến (ANOVA – analysis
of variance), phương pháp T-test, phương pháp phân tích hồi qui đa biến, phương
pháp phân tích thành phần chính (PCA -principal component analysis). Tất cả các
phép phân tích, xử lý số liệu được thực hiện bằng phần mềm R (Phiên bản R.3.3.2).
CHƯƠNG 3
3.1

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Sinh khối trên mặt đất của rừng ngập mặn

Căn cứ vào khối lượng khô của các thành phần trong mẫu cây thu thập được tại
địa điểm nghiên cứu trong ba năm, kết hợp với kết quả trong công bố của Nguyễn
Thị Kim Cúc và cs. (2007) [103], nghiên cứu tính được mối tương quan giữa
khối lượng của các thành phần wL&P, wS&B, wT (tương ứng với khối lượng lá và
trụ mầm, thân và cành, sinh khối tổng) với các thông số kích thước cây D0,32·H.
Các phương trình tương quan giữa wL&P, wS&B, wT và D0,32·H như sau:
12


Lá và trụ mầm (g):
wL&P = 5,464 × (D0,32·H)0,8943 (R2 = 0,94; P < 0,0001)

(3-1)

Thân và cành (g):
wS&B = 28,120 × (D0,32·H)0,9655 (R2 = 0,96; P < 0,0001)

(3-2)

Sinh khối tổng (g):
wT = 33,931 × (D0,32·H)0,9585 (R2 = 0,96; P < 0,0001)

(3-3)

Trong các phương trình trên, D0,3 là đường kính thân cây đo ở độ cao khoảng 30
cm phía trên bề mặt đất (cm); H là chiều cao cây (m) và w là khối lượng khô của
từng thành phần (g). Phương trình tương quan giữa D0,32·H và wT (wT = 33,931
× (D0,32·H)0,9585) trong nghiên cứu này gần như tương đồng với phương trình
công bố trong nghiên cứu của Khan và cs. (2005) với cây Trang ở vùng đất ngập
nước Manko, tỉnh Okinawa, Nhật Bản (wT (g) = 32,03 × ( D0,12·H)1,058 ) [118];
với loài Vẹt dù (wT (g) = 28,04 × ( D0,12·H)1,063) trong nghiên cứu của Deshar và
cs. (2012) [119]; với RNM ở Vườn quốc gia Biscayne, bang Florida, Mỹ [120].
Sử dụng các phương trình từ 3-1 đến 3-3 để tính toán và qui đổi sang sinh khối
của rừng Trang từ 18 đến 20 tuổi trong 1 ha diện tích RNM (Bảng 3.3).
Bảng 3.3. Sinh khối thành phần, sinh khối tổng và carbon tích lũy trong sinh
khối của cây Trang trồng từ 18 - 20 tuổi.
Tuổi cây
(năm)

Lá và trụ mầm
(Mg ha-1)

Thân và cành
(Mg ha-1)

Sinh khối tổng
(Mg ha-1)

Carbon trong sinh
khối (MgC ha-1)

18

9,55 ± 0,82

70,40 ± 5,41

79,95 ± 6,31

35,44 ± 2,79

19

9,95 ± 1,55

73,86 ± 11,36

83,81 ± 13,03

37,15 ± 5,78

20

10,05 ± 0,79

77,61 ± 10,79

87,66 ± 10,54

39,16 ± 5,20

Giá trị sinh khối tổng của cây Trang tăng dần theo độ tuổi, từ giá trị 79,95 Mg
ha-1 (rừng 18 tuổi) tới 87,66 Mg ha-1 (rừng 20 tuổi). Tương ứng, giá trị carbon
tích lũy trong sinh khối cũng tăng dần, từ 35,44 ± 2,79 MgC ha-1 ở rừng Trang
18 tuổi tới tới 39,16 ± 5,20 MgC ha-1 ở rừng Trang 20 tuổi.
Nghiên cứu đã xây dựng được các phương trình tương quan giữa sinh khối và tuổi
cây, trong đó t là tuổi cây (năm):
13


Sinh khối lá và trụ mầm (Mg ha-1): wL&P = 0,51 × t + 0,23 (R2 = 0,98)
-1

2

Sinh khối thân và cành (Mg ha ): wS&B = 3,85 × t + 0,54 (R = 0,99)
-1

Sinh khối tổng (Mg ha ):

2

wT = 4,44 × t + 0,53 (R = 0,99)

(3-4)
(3-5)
(3-6)

Mối quan hệ tuyến tính và tăng dần đều của sinh khối tổng với tuổi của cây Trang
cho thấy ở độ tuổi thứ 20, cây Trang vẫn đang trong quá trình phát triển. Tỉ lệ lá
và trụ mầm tính được trong nghiên cứu này ở các độ tuổi khác nhau của cây
Trang cũng khá ổn định (~ 12%) và tương đồng với các kết quả đã công bố ở các
vùng RNM tự nhiên và RNM trồng khác nhau trên thế giới [3].
Kết quả tính toán sinh khối và carbon tích lũy trên mặt đất cho thấy giá trị tích
lũy sinh khối và carbon tăng dần theo tuổi rừng. Tốc độ tích lũy sinh khối ở rừng
Trang trồng thuộc khu vực phía Bắc Việt Nam đạt giá trị trung bình là 4,60 Mg
ha-1 năm-1 và có tốc độ tích lũy ở mức trung bình so với các loài cây ngập mặn
thuộc các vùng khác nhau trên thế giới [55], [58], [59], [61]. Nghiên cứu thiết
lập được phương trình tuyến tính và tương quan thuận giữa sinh khối thành phần
và tổng sinh khối tích lũy theo tuổi của cây Trang. Phương trình tương quan tính
được có thể sử dụng để ước tính sinh khối và carbon tích lũy trong các diện tích
rừng Trang trồng ở khu vực phía Bắc Việt Nam.
3.2

Năng suất lượng rơi của rừng ngập mặn

Năng suất lượng rơi tính được trong bẫy lưới của RNM khá ổn định trong hai năm
nghiên cứu với giá trị tương ứng là 5,98 ± 1,28 và 6,83 ± 1,89 Mg ha-1 năm-1. Tính
trung bình cho cả hai năm, năng suất lượng rơi mỗi năm là 6,41 ± 1,59 Mg ha-1
năm-1, tương ứng với giá trị carbon là 2,32 ± 0,57 MgC ha-1 năm-1. So sánh với
sinh khối lá và trụ mầm của rừng Trang ở độ tuổi tương ứng (18-20 tuổi), năng
suất lượng rơi chiếm khoảng 65% tổng sinh khối của lá và trụ mầm (~ 10 Mg ha1

năm-1, Bảng 3.3).

Lượng rơi mang từ sàn RNM ra vùng nước lạch triều cũng biến động theo cùng
xu hướng với lượng rơi thu được trên các bẫy lưới trong RNM. Tính trong hai
năm, giá trị lượng rơi thu được tương ứng là 0,77 và 0,83 Mg ha-1 năm-1, với giá
14


trị trung bình là 0,80 Mg ha-1 năm-1. Chuyển đổi từ khối lượng sản phẩm lượng rơi
thu thập được trong lạch sang giá trị OC mang từ RNM ra vùng nước xung quanh
thu được giá trị trung bình là 0,26 MgC ha-1 năm-1 (Hình 3.8).
Lượng rơi trong RNM
2,47
3

2,17

Lượng rơi mang ra khỏi RNM

2,32

2

1

0
2016-2017 2017-2018

Lượng rơi mang ra (MgC ha-1 năm-1)

Lượng rơi (MgC ha-1 năm -1)

4

0.4

0.3

0,27

0,26

2017-2018

TB

0,26

0.2

0.1

0.0

TB

2016-2017

Hình 3.8. Carbon trong sản phẩm lượng rơi của RNM và lượng rơi mang từ
RNM ra vùng nước xung quanh trong hai năm nghiên cứu.
So sánh với năng suất lượng rơi của rừng Trang trồng ở giai đoạn 18 – 20 tuổi
(2,32 MgC ha-1 năm-1), giá trị lượng rơi mang từ rừng Trang ra vùng nước lạch
(0,26 MgC ha-1 năm-1) chỉ chiếm tỉ lệ bằng 11,21% năng suất lượng rơi của RNM.
Giá trị lượng rơi mang ra vùng nước xung quanh thấp có thể do cấu trúc rừng Trang
khá dày đặc (~ 20.000 cá thể ha-1). Kết quả cho thấy phần lớn sản phẩm lượng rơi
(88,79%) nằm lại trong sàn RNM, một phần được động vật giáp xác (cua, cáy)
tiêu thụ làm nguồn thức ăn, sau đó thông qua các xáo trộn sinh học và tồn lưu
trong các lớp đất, phần còn lại tích lũy trong đất và phân hủy dần cũng như cung
cấp sản phẩm hữu cơ cho đất RNM.
3.3
3.3.1

Carbon tích lũy dưới mặt đất của rừng ngập mặn
Carbon tích lũy trong sinh khối rễ

Kết quả phân tích sinh khối rễ của rừng Trang tại VQGXT cho thấy hàm lượng
carbon trung bình trong sinh khối rễ của RNM phân bố không đồng đều trong
các tầng đất. Nhìn chung, hàm lượng carbon trong sinh khối rễ giảm dần theo độ
15


sâu của đất, giá trị cao nhất ghi nhận được trong các tầng đất từ 20 - 60 cm và
thấp nhất trong các tầng đất sâu (70 - 100 cm). Tính trung bình trong cả ba ô thí
nghiệm, ở tầng đất mặt từ độ sâu 0 - 60 cm, tỷ lệ carbon hữu cơ trong rễ chiếm
tới 86% tổng carbon hữu cơ trong sinh khối rễ tới độ sâu 100 cm. Ở rừng Trang
19 tuổi, sinh khối rễ tăng cao hơn rừng 18 tuổi trong lớp đất có độ sâu 40 - 100
cm. Kết quả thu được trong nghiên cứu này về xu hướng biến động sinh khối rễ
theo độ sâu hoàn toàn tương đồng với kết quả công bố về xu hướng biến đổi sinh
khối rễ tại nhiều vùng RNM khác nhau trên thế giới [10], [11], [49], [131], [132].
Đặc biệt, sinh khối rễ chết tăng cao trong rừng Trang 20 tuổi so với rừng 18 và
19 tuổi. Xét tới độ sâu 100 cm, tổng carbon hữu cơ trong sinh khối dưới mặt đất
của rừng Trang tăng dần theo độ tuổi, với giá trị từ 12,67 MgC ha-1 (rừng 18
tuổi) tới 15,35 MgC ha-1 (rừng 19 tuổi) và 16,71 MgC ha-1 (rừng 20 tuổi; Bảng
3.7).
Bảng 3.7. Sinh khối rễ trong rừng Trang từ 18 - 20 tuổi tại VQGXT, tỉnh Nam
Định.
Tuổi rừng

Rễ sống
(MgC ha-1)

Rễ chết
(MgC ha-1)

Tổng carbon
(MgC ha-1)

18
19
20

6,69
7,40
7,37

5,98
7,95
9,34

12,67
15,34
16,71

Tổng sinh khối
dưới mặt đất (Mg ha-1)
38,07
45,90
50,37

Tốc độ tích lũy carbon trong sinh khối rễ của rừng Trang trong giai đoạn từ 18 - 20
tuổi tính được là 2,38 MgC ha-1 năm-1. Rừng càng nhiều tuổi thì tỉ lệ tích lũy sinh
khối trong rễ càng cao.
3.3.2 Carbon tích lũy trong đất của rừng ngặp mặn
Xu hướng phân bố carbon hữu cơ trong đất rừng Trang 19 và 20 tuổi theo độ sâu
cũng biến động tương tự như xu hướng của rừng Trang 18 tuổi, với các giá trị hàm
lượng carbon phân tích được cao nhất trong các tầng đất từ 0 – 60 cm. Giá trị carbon
tồn lưu trong đất rừng Trang 19 và 20 tuổi tăng nhanh ở các độ sâu từ 30 - 60 cm
phía dưới mặt đất. Tính chung cả phẫu diện tới độ sâu 100 cm, giá trị carbon tồn lưu
trong đất ở rừng Trang 19 và 20 tuổi có sự tăng nhẹ so với rừng 18 tuổi (Bảng 3.9).
16


Bảng 3.9. Carbon tích lũy dưới mặt đất theo các thành phần (MgC ha-1) của
rừng Trang trồng từ 18 - 20 tuổi.
Tuổi rừng

Rễ sống

Rễ chết

Đất

Carbon tổng số

Đất trống (2016)

-

-

87,59

87,59

Đất trống (2017)

-

-

89,83

89,83

Đất trống (2018)

-

-

91,14

91,14

18 tuổi

6,69

5,98

146,78

159,45

19 tuổi

7,40

7,95

151,31

166,66

20 tuổi

7,37

9,34

152,31

169,02

Với đất trống, giá trị cao nhất ghi nhận được là trong lớp đất có độ sâu 20 cm và
giá trị thấp nhất ghi nhận được là trong lớp sâu nhất của phẫu diện (100 cm). Số
liệu thống kê cho thấy có sự khác biệt lớn về hàm lượng carbon hữu cơ giữa các
tầng đất trong phẫu diện (P < 0,01). Tính tới độ sâu 100 cm của đất trống bìa
rừng, số liệu nghiên cứu cho thấy tổng carbon hữu cơ là 87,59 ± 1,08 MgC ha-1
tại bìa rừng Trang 18 tuổi, và giá trị này tăng dần theo thời gian, đạt tới 91,14 ±
6,84 MgC ha-1 cho vùng đất trống bìa rừng 20 tuổi (Bảng 3.9).
Kết quả thu được trong nghiên cứu này đối với rừng Trang 18 - 20 tuổi cho thấy
carbon tồn lưu trong đất có cùng xu hướng biến đổi với sinh khối rễ theo độ sâu
của phẫu diện đất. Carbon tích lũy tăng dần theo độ tuổi, với giá trị cao nhất ghi
nhận được ở rừng Trang 20 tuổi (152,31 MgC ha-1). Carbon tích lũy dưới mặt đất
là tổng của carbon trong sinh khối rễ và carbon tồn lưu trong đất. Carbon tồn lưu
trong đất chiếm tới ~ 90% tổng carbon hữu cơ tích lũy dưới mặt đất, trong khi
carbon tích lũy trong sinh khối rễ chỉ chiếm ~10%. Kết quả nghiên cứu cho thấy
carbon tồn lưu trong đất có nguồn gốc một phần từ sinh khối rễ, một phần từ carbon
trong lượng rơi của RNM và một phần carbon mang tới từ trầm tích sông, biển.
3.3.3 Tốc độ tồn lưu carbon dưới mặt đất
Số liệu phân tích thống kê cho thấy có mối quan hệ mật thiết giữa carbon hữu cơ
tích lũy dưới mặt đất và tuổi rừng. Xu hướng biến đổi của tốc độ tích lũy carbon
17


tính toán được thể hiện trong phương trình (3.7), trong đó C và t tương ứng với
carbon tích lũy dưới mặt đất (MgC ha-1 năm-1) và tuổi rừng (năm).
C = 48,524 × e0,0646 × t

(3-7)

Kết quả thu được giá trị tồn lưu carbon phía dưới mặt đất rất cao trong suốt quá
trình sinh trưởng và phát triển 20 năm của cây Trang (7,08 MgC ha-1 năm-1). Tốc
độ tồn lưu tính được cao hơn trong những năm đầu (5 - 8 tuổi), ở giai đoạn sau
tốc độ tồn lưu ổn định hơn. Ở giai đoạn tuổi rừng từ 18 - 20 tuổi, tốc độ tồn lưu
trung bình là 6,91 MgC ha-1 năm-1. Tốc độ tồn lưu carbon khá ổn định trong giai
đoạn tuổi rừng từ 18 - 20 cho thấy carbon tồn lưu trong đất có nguồn gốc từ năng
suất sản phẩm lượng rơi của RNM (2,32 MgC ha-1 năm-1), từ carbon trong sinh
khối rễ của cây (2,38 MgC ha-1 năm-1). Tuy nhiên, tổng của hai thành phần này
(4,70 MgC ha-1 năm-1) vẫn nhỏ hơn tốc độ tồn lưu carbon trong đất (6,91 MgC
ha-1 năm-1). Vì vậy, carbon tồn lưu trong đất sẽ có nguồn gốc một phần từ trầm
tích sông, biển.
3.4

Sự phát thải khí CO2 từ đất rừng ngập mặn vào khí quyển

Dòng khí CO2 phát thải từ bề mặt đất biến động mạnh trong cả hai địa điểm đo
đạc của đất RNM và đất trống. Ở điều kiện thường, dòng khí CO2 biến động
trong khoảng từ 37,16 ± 14,60 tới 228,43 ± 78,50 mmol m-2 ngày-1 với đất RNM;
trong khi ở địa điểm đất trống, giá trị này biến động từ 16,34 ± 14,33 tới 87,87
± 32,71 mmol m-2 ngày-1. Dòng khí CO2 trung bình trong RNM (95,53 ± 89,28
mmol m-2 ngày-1) lớn hơn trên hai lần dòng khí CO2 đo được trong đất trống
(42,42 ± 32,73 mmol m-2 ngày-1). Sau khi gạt nhẹ khoảng 2 mm lớp đất trên bề
mặt, dòng khí CO2 đo được cao hơn so với trong điều kiện thường ở cả hai địa
điểm. Dòng khí CO2 đo được trong đất RNM cao gần gấp đôi giá trị đo được
trong đất trống, tương ứng với các giá trị trung bình là 122,22 ± 90,25 mmol m2

ngày-1 và 73,76 ± 39.85 mmol m-2 ngày-1. Số liệu phân tích thống kê phương sai

cho thấy có sự khác biệt lớn về giá trị dòng khí CO2 đo được giữa hai địa điểm
đất RNM và đất trống, khi có lớp màng sinh học (P < 0,001), và không có lớp
màng sinh học (P < 0,01 (Hình 3.21).
18


55

300

50

250

45

200

40

150

35

100

30

50

25

0

Nhiệt độ đất (oC)

Nồng độ CO2 (mmol CO2·m-2·ngày-1)

350

20
MÙA KHÔ
Nhiệt độ

MÙA MƯA
FCO2 (WB)

FCO2 (WoB)

Hình 3.21. Mối quan hệ giữa thông số nhiệt độ đất và biến động dòng CO2
phát thải (mmol m-2 ngày-1) khi có (FCO2 (WB)) và không có (FCO2(WoB))
lớp màng sinh học vào mùa mưa và mùa khô tại VQGXT, tỉnh Nam Định.
Sử dụng phương pháp phân tích hồi qui đa biến, nghiên cứu đã xác định được
mối tương quan thuận giữa dòng khí CO2 phát thải và nhiệt độ đất cũng như hàm
lượng hữu cơ trong đất trước và sau khi loại bỏ lớp màng sinh học trên bề mặt
đất. Các phương trình trương quan tính toán được thể hiện dưới đây:
FCO2_WB (có lớp màng sinh học) =
8,809 × Tđất +121,135 × TOC – 301,689 (R= 0,61; P < 0,001)

(3-8)

FCO2_WoB (không có lớp màng sinh học) =
10,990 × Tđất + 127,209 × TOC - 338,021 (R= 0,74; P < 0,0001)

(3-9)

Với F là dòng khí CO2 phát thải từ đất (mmol m-2 ngày-1), T là nhiệt độ đất (⁰C),
TOC là hàm lượng carbon hữu cơ trong đất (%).
Tóm lại, tổng carbon tích lũy của đất RNM cao hơn so với đất trống là nhân tố
chính góp phần vào việc phát thải cao hơn của dòng khí CO2 từ đất RNM vào khí
quyển. Nghiên cứu đã xác định được tổng lượng CO2 phát thải hàng năm từ đất
RNM và đất trống vào khí quyển tương ứng là 1,75 ± 0,76 MgC ha-1 năm-1 và
19


0,93 ± 0,52 MgC ha-1 năm-1. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng dòng khí CO2 phát
thải tăng lên cùng với sự gia tăng của nhiệt độ không khí và nhiệt độ đất, với giá
trị Q10 tính toán được cho đất RNM là 2,63 và cho đất trống là 2,75. Các giá trị
Q10 xác định được trong nghiên cứu này có giá trị tương đương với nhiều nghiên
cứu đã được công bố ở nhiều vùng trên thế giới, với giá trị biến động trong
khoảng từ 1,70 - 4,05 [67], [70], [153]–[155]. Sự biến động của dòng khí CO2
không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố vô sinh mà còn phụ thuộc vào các yếu tố hữu
sinh, trong đó lớp màng sinh học có vai trò như một lớp bảo vệ và hạn chế sự
phát thải của khí CO2 từ bề mặt đất vào khí quyển.
3.5

Sự trao đổi carbon giữa rừng ngập mặn và môi trường nước xung quanh

Giá trị CO2 phát thải từ môi trường nước vào khí quyển có liên quan chặt chẽ với
các thông số lí hóa của nước, đặc biệt là thông số DIC, DO và pH. Nồng độ khí
CO2 phát thải từ giao diện nước - không khí tăng cao khi thủy triều xuống thấp
và nồng độ CO2 phát thải ổn định khi thủy triều lên và thủy triều cao. Kết quả
tính toán và đo đạc cho thấy khí CO2 phát thải từ giao diện nước – không khí
diễn ra mạnh mẽ vào chu kì nước lớn, đặc biệt là vào mùa mưa, với lượng phát
thải carbon dưới dạng khí CO2 từ giao diện nước-không khí trung bình là 0,15
MgC ha-1 năm-1. Kết quả so sánh cho thấy tổng lượng CO2 phát thải từ bề mặt
nước vào khí quyển thấp hơn 11,67 lần lượng phát thải từ bề mặt đất vào khí
quyển (1,75 MgC ha-1 năm-1).
Carbon mang vào RNM được tính theo nồng độ trung bình của các chất khi thủy
triều lên và lưu lượng nước triều vào. Carbon mang ra khỏi RNM được tính bằng
phương pháp tương tự khi triều xuống. Nhìn chung, tổng carbon hữu cơ (DOC
và POC) mang vào RNM từ dòng nước triều lớn hơn so với giá trị carbon mang
ra khỏi RNM tới các kênh rạch và sau đó ra vùng nước biển ven bờ. Ngược lại,
carbon vô cơ (DIC) mang ra khỏi RNM có giá trị lớn hơn tổng carbon vô cơ
mang vào. Giá trị carbon mang vào và mang ra khỏi RNM theo chu kì thủy triều
và theo các mùa trong năm được trình bày trong Hình 3.34.
20


C mang ra khỏi RNM
(MgC ha-1)
6,68

C mang vào RNM
(MgC ha-1)

13,39
1,70
18,53
22,59
1,77
DIC

DOC

POC

DIC

DOC

POC

Hình 3.34. Carbon mang vào và mang ra khỏi RNM qua môi trường nước.
DIC: carbon vô cơ hòa tan, DOC: carbon hữu cơ hòa tan, POC: carbon hữu
cơ lơ lửng.
Carbon hữu cơ mang vào 1 ha RNM trong một năm là 15,16 MgC ha-1, trong đó
POC là 13,39 MgC ha-1 và DOC là 1,77 MgC ha-1. Khi thủy triều rút xuống,
carbon hữu cơ mang ra tương ứng là 6,68 và 1,70 MgC ha-1. Kết quả so sánh cho
thấy, tổng lượng carbon hữu cơ bị giữ lại trong 1 ha RNM là 6,78 MgC ha-1,
trong đó carbon hữu cơ lơ lửng (POC) chiếm 6,71 MgC ha-1 (98,97%) và carbon
hữu cơ hòa tan (DOC) chỉ chiếm 0,07 MgC ha-1 (1,03%). Ngược lại với xu hướng
lưu giữ carbon hữu cơ trong đất RNM, carbon vô cơ (DIC) mang ra khỏi RNM
lớn hơn giá trị carbon vô cơ mang vào với giá trị là 4,06 MgC ha-1. Giá trị DIC
đặc biệt tăng cao sau khi lớp nước mặt thoát ra hết khỏi bề mặt sàn rừng, thời
điểm này nước mang ra khỏi diện tích RNM chủ yếu là nước lỗ rỗng.
Khi so sánh với các nghiên cứu tương tự đã công bố trên thế giới, kết quả thu
được trong nghiên cứu này tương đồng với kết quả của Romigh và cs. (2006)
[165]. Các tác giả đã công bố nồng độ DOC mang vào và mang ra khỏi RNM
chịu ảnh hưởng của yếu tố thời gian (mùa) và bị tác động mạnh mẽ bởi lưu lượng
nước sông cũng như biên độ thủy triều. Tuy nhiên, theo Alongi (2014) [31],
carbon mang ra khỏi RNM khi tốc độ triều xuống mạnh hơn so với tốc độ triều
lên, và trong hầu hết các trường hợp, do nồng độ carbon trong nước RNM cao
21


hơn so với trong nước triều ngoài đại dương dẫn đến sự chênh lệch về giá trị
carbon mang ra lớn hơn mang vào.
Nhìn chung, chế độ thủy văn thủy triều và biên độ thủy triều là các yếu tố quan
trọng ảnh hưởng đến giá trị carbon hữu cơ và vô cơ mang ra khỏi RNM. Carbon
hữu cơ mang vào RNM lớn hơn lượng carbon hữu cơ mang ra, và thành phần
chính mang vào dưới dạng POC (6,71 MgC ha-1 năm-1). Ngược lại, DIC mang ra
vùng nước biển ven bờ vượt trội so với DIC mang vào (4,06 MgC ha-1 năm-1) và
chiếm thành phần lớn nhất trong tất cả các dạng carbon mang ra khỏi HST RNM.
3.6

Chu trình carbon trong rừng ngập mặn

Carbon tích lũy trong HST RNM bao gồm hai thành phần: carbon từ năng suất
sản phẩm của RNM và carbon mang vào từ dòng nước triều (POC, DOC và
DIC). Sau khi đã tính toán tỉ lệ mang vào và mang ra trong diện tích rừng trồng
qua lạch triều, lượng carbon mang vào RNM bao gồm DOC và POC với các giá
trị trung bình tương ứng là 0,07 và 6,71 MgC ha-1 năm-1 (Bảng 3.18).
Bảng 3.18. Tổng carbon mang vào và mang ra khỏi HST RNM. Giá trị trung
bình và độ lệch chuẩn tính theo đơn vị MgC ha-1 năm-1.
Thành phần
đầu vào

Trung
bình

Độ lệch
chuẩn

Trung
bình

Độ lệch
chuẩn

Lượng rơi

2,32

0,21

Sinh khối gỗ

2,03

0,18

Lượng rơi mang ra

0,26

0,01

Tồn lưu trong đất

6,91

0,98

Sinh khối rễ

2,38

DOC

0,07

0,40

CO2 phát thải từ đất

1,75

0,76

0,11

CO2 phát thải từ nước

0,15

0,03

POC
Tổng đầu vào

6,71

4,70

DIC

4,06

3,49

13,51

5,60

Tổng đầu ra

13,13

5,27

Thành phần đầu ra

Như vậy, tổng carbon mang vào RNM hàng năm là 13,51 MgC ha-1 năm-1, trong
đó carbon trong năng suất sinh khối rừng là 6,73 MgC ha-1 năm-1 (49,82%) và
carbon từ dòng nước triều là 6,78 MgC ha-1 năm-1 (50,18%). Carbon mang ra
khỏi HST RNM bao gồm nhiều thành phần: carbon mang ra theo dòng nước triều
(micro export: DIC, DOC, POC), carbon mang ra từ lượng rơi (macro export) và
22


carbon phát thải dưới dạng khí CO2 qua giao diện đất – không khí và giao diện
nước – không khí. Theo kết quả tính toán được trong Bảng 3.18, tổng giá trị
carbon mang ra từ RNM hàng năm là 6,22 MgC ha-1 năm-1. DIC là thành phần
mang ra khỏi RNM với tỉ lệ lớn nhất, tương ứng với giá trị tính toán được là 4,06
± 3,49 MgC ha-1 năm-1 (chiếm 65,70% tổng carbon mang ra), sau đó đến carbon
phát thải từ bề mặt đất vào không khí dưới dạng khí CO2 với giá trị trung bình là
1,75 ± 0,76 MgC ha-1 năm-1 (chiếm 28,32% tổng carbon mang ra). Carbon mang
ra khỏi RNM dưới dạng lượng rơi tính được là 0,26 ± 0,01 MgC ha-1 năm-1 và
nhỏ nhất là carbon phát thải từ bề mặt nước (0,15 ± 0,03 MgC ha-1 năm-1). Như
vậy DIC và CO2 phát thải từ đất là hai thành phần chính (94%) phát thải carbon
vào môi trường nước và không khí xung quanh, và chỉ còn lại một phần nhỏ (6%)
carbon phát thải trên bề mặt nước và carbon mang ra theo lượng rơi.
Từ các kết quả phân tích được, nghiên cứu đã tổng hợp thành chu trình hợp
phần carbon trong rừng Trang tại VQGXT, tỉnh Nam Định trong Hình 3.35.

Hình 3.35. Tóm tắt một số hợp phần chính của carbon trong HST RNM tại
VQGXT, tỉnh Nam Định. Nghiên cứu sử dụng hình ảnh chu trình carbon của
Buoillon và cs. (2008) [3].
Khi tính toán tổng carbon tồn lưu trong đất (6,91 ± 0,98 MgC ha -1 năm-1 )
với tổng carbon mang ra từ các thành phần (6,22 ± 3,99 MgC ha -1 năm-1 ) có
thể thấy rằng tỉ lệ carbon tồn lưu trong đất cao hơn so với carbon mang ra.
Tổng hai giá trị này tương ứng là 13,13 ± 5,27 MgC ha-1 năm-1 vẫn thấp hơn
23


tổng carbon tích lũy trong HST RNM và carbon mang vào từ dòng nước
triều (13,51 ± 5,60 MgC ha-1 năm-1). Sau khi tính toán các dạng carbon mang
vào và mang ra khỏi RNM, carbon tích lũy trong đất và sinh khối rừng Trang
còn lại là 7,29 MgC ha-1 năm-1.
3.7

Kết luận chương 3

Kết quả nghiên cứu trong luận án đã tính toán được giá trị carbon tích lũy trong
sinh khối, tồn lưu carbon trong đất rừng Trang trồng cũng như tốc độ tích lũy,
tồn lưu carbon của rừng theo thời gian. Các kết quả về carbon trao đổi giữa RNM
và môi trường xung quanh (đất, nước, không khí) đã được hoàn thiện với các số
liệu cụ thể cho mỗi dạng carbon trao đổi và chuyển dịch. Nghiên cứu đã tính toán
cân bằng carbon trong HST RNM và tốc độ tồn lưu, tích lũy thực tế theo thời
gian. Từ kết quả tính toán được, nghiên cứu đã xây dựng, hoàn thiện được chu
trình hợp phần carbon trong RNM. Chu trình carbon trong rừng Trang trồng đã
khái quát được toàn bộ cân bằng carbon trong HST RNM tại VQGXT. Trong
chu trình này, carbon tồn lưu trong đất chiếm tỉ lệ lớn nhất (6,91 MgC ha-1 năm1

) trong giai đoạn rừng Trang (18-20 tuổi).

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Những kết quả đạt được của luận án
(1) Nghiên cứu đã xác định được phương trình tương quan giữa các thành phần
của sinh khối và kích thước cây. Tổng sinh khối tích lũy trong rừng Trang tăng
dần theo thời gian và theo tuổi rừng, giá trị cao nhất đạt tới 138,03 Mg ha-1 (87,66
và 50,37 tương ứng với sinh khối trên mặt đất và dưới mặt đất) ở rừng Trang 20
tuổi, và dự đoán giá trị này vẫn tiếp tục tăng lên trong những năm tiếp theo.
Carbon hữu cơ tích lũy cũng tăng dần trong đất rừng từ 18 tới 20 tuổi, tương ứng
là 159,45 MgC ha-1 và 169,03 MgC ha-1, trong đó carbon tồn lưu trong đất chiếm
trên 90% và carbon tích lũy trong sinh khối rễ chiếm tỉ lệ dưới 10%. Tỉ lệ T/R
giảm dần theo tuổi cây cũng cho thấy rằng, tốc độ tích lũy sinh khối tăng nhanh
phía dưới mặt đất và quá trình này vẫn tiếp diễn sau hai thập kỉ sau khi trồng.
24


Tốc độ gia tăng tích lũy sinh khối trên mặt đất đạt giá trị trung bình là 4,60 Mg
ha-1 năm-1, tương ứng với carbon hữu cơ tích lũy là 2,03 MgC ha-1 năm-1. Tính
riêng đối với giai đoạn cây Trang từ 18 -20 tuổi, giá trị tích lũy sinh khối rễ trung
bình theo năm tính được là 2,38 MgC ha-1 năm-1.
(2) Giá trị lượng rơi trung bình trong hai năm quan trắc tại rừng Trang 18-20
tuổi đạt 6,41 ± 1,59 Mg ha-1, tương ứng với carbon trong lượng rơi trung bình
là 2,32 ± 0,57 MgC ha-1 năm-1. Lượng rơi mang ra khỏi diện tích RNM qua
dòng nước triều trung bình là 0,26 ± 0,01 MgC ha-1 năm-1. Như vậy, carbon
trong lượng rơi còn lưu giữ lại trong RNM tương ứng với 2,06 MgC ha-1 năm1

. Tổng lượng carbon phát thải từ bề mặt đất rừng dưới dạng khí CO2 là 1,75

± 0,76 MgC ha-1 năm-1, và tại vùng đất trống tương ứng là 0,93 ± 0,52 MgC
ha-1 năm-1. Giá trị carbon phát thải từ giao diện đất –không khí cao hơn nhiều
lần so với lượng carbon phát thải từ giao diện nước – không khí (0,15 ± 0,03
MgC ha-1 năm-1).
(3) Kết quả nghiên cứu chỉ ra RNM có khả năng giữ lại một lượng carbon
hữu cơ lơ lửng rất lớn trên một đơn vị diện tích, giá trị POC bị giữ lại đạt tới
6,71 ± 4,70 MgC ha-1 năm-1, trong khi DOC bị giữ lại không đáng kể 0,07 ±
0,11 MgC ha-1 năm-1. Ngược lại, carbon vô cơ hòa tan (DIC) mang ra khỏi
sàn RNM hàng năm tương đối lớn, giá trị đạt tới 4,06 ± 3,49 MgC ha-1 năm1

. Giá trị DIC mang ra khỏi RNM nhiều nhất vào chu kì thủy triều nước lớn

và chiếm tỉ lệ lớn nhất trong tất cả các dạng carbon mang ra khỏi RNM. Sau
khi tính toán cân bằng carbon trong rừng Trang trồng, carbon tích lũy trong
đất và sinh khối của của rừng Trang đạt giá trị trung bình 7,29 MgC ha-1 năm1

, trong đó tỉ lệ lớn là giá trị carbon tích lũy dưới mặt đất.

2. Những đóng góp mới của luận án
- Định lượng được lượng carbon tích lũy và xây dựng được phương trình tương
quan giữa sinh khối, đất rừng trồng theo tuổi rừng.

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×