Tải bản đầy đủ

TOM TAT LUAN AN nghiên cứu nồng độ IL 6, IL 17 và TNF α huyết thanh ở bệnh n

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh viêm mạn tính hệ
thống đặc trưng bởi tình trạng sưng khớp, đau khớp và phá hủy màng
hoạt dịch khớp, dẫn đến tàn phế nặng nề và tử vong sớm.
Từ lâu, tiểu quần thể tế bào lympho T helper típ 1 (Th1) được cho
là đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT.
Gần đây, người ta phát hiện tiểu quần thể tế bào Th17, đóng vai trò
quan trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT.
Các tế bào Th17 hoạt hóa là nguồn gốc chế tiết các cytokine tiền
viêm, như IL-17, IL-6 và TNF-α. Trong đó, IL-6 và TNF-α điều tiết
quá trình viêm mạn tính ở màng hoạt dịch, phá hủy sụn khớp, bào
mòn xương. Do vậy, nồng độ IL-6 và TNF-α huyết thanh có thể liên
quan với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT.
IL-17 hoạt hóa các đại thực bào, tế bào màng hoạt dịch và tế bào
sụn sản xuất các cytokine, như IL-6, TNF-α. Do đó, IL-17 dường như
liên quan gián tiếp các tổn thương của bệnh VKDT, cho nên nồng độ
IL-17 huyết thanh cũng có thể liên quan với các đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT.
Vì vậy, đề tài “Nghiên cứu nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α
huyết thanh ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp” được tiến hành

với hai mục tiêu:
1. Khảo sát nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh và đặc điểm
lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp.
2. Đánh giá mối liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết
thanh với đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp.


2
*Ý nghĩa khoa học
Nghiên cứu này góp phần tìm hiểu vai trò của IL-6, TNF-α, đặc
biệt là IL-17 trong có chế bệnh sinh của bệnh VKDT.
*Ý nghĩa thực tiễn
Xác định được nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh của
bệnh nhân VKDT là người Việt Nam, và mối liên quan với các đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT.
* Những đóng góp mới của luận án
- Trung bình, trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân
VKDT là 19,06 ± 22,94 và 10,49 (pg/mL), cao hơn so với nhóm
chứng (p = 0,042, test Mann-Whitney).
- Trung bình, trung vị nồng độ TNF-α huyết thanh của bệnh nhân
VKDT là 2,37 ± 2,69 và 1,68 (pg/mL), thấp hơn so với nhóm chứng
(p < 0,001, test Mann-Whitney).
- Sự thay đổi nồng độ IL-17 liên quan mật thiết với sự thay đổi
nồng độ IL-6 và TNF-α, với 36,60% bệnh nhân tăng nồng độ IL-17
kèm theo với tăng nồng độ IL-6 và/hoặc TNF-α.
* Bố cục của luận án: Luận án gồm 121 trang (chưa kể tài liệu
tham khảo và phụ lục) trong đó: Đặt vấn đề: 02 trang, Chương 1
Tổng quan: 29 trang, Chương 2 Đối tượng và phương pháp nghiên
cứu: 21 trang, Chương 3 Kết quả nghiên cứu: 30 trang, Chương 4
Bàn luận: 36 trang, Kết luận: 02 trang, Kiến nghị: 01 trang. Luận án
có 30 bảng, 14 biểu đồ, 13 hình và 150 tài liệu tham khảo (14 tài liệu
tiếng Việt và 136 tài liệu tiếng Anh).


3
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Bệnh viêm khớp dạng thấp
1.1.1. Khái niệm bệnh viêm khớp dạng thấp
VKDT là một bệnh viêm mạn tính, tự miễn dịch hệ thống, không


rõ nguyên nhân, đặc trưng bởi viêm nhiều khớp ngoại vi đối xứng.
1.1.2. Lâm sàng bệnh viêm khớp dạng thấp
Triệu chứng tại hệ vận động
Các triệu chứng lâm sàng phổ biến của bệnh bao gồm cứng khớp
buổi sáng, viêm nhiều khớp đối xứng ở bàn tay, bàn chân, cổ tay, cổ
chân, khuỷu, gối, vai, háng. Giai đoạn muộn bệnh nhân có thể có các
biến dạng mạn tính ở bàn tay, bàn chân.
Triệu chứng ngoài hệ vận động
Các biểu hiện ngoài khớp hay gặp như sốt nhẹ, thiếu máu mạn
tính, ít gặp như hội chứng Sjögren thứ phát, hạt dưới da.
Cận lâm sàng viêm khớp dạng thấp
Để chẩn đoán VKDT cần làm xét nghiệm CRP, tốc độ lắng hồng
cầu (TĐLHC), RF, anti-CCP, chụp X quang bàn tay tư thế thẳng. Bên
cạnh đó còn sử dụng siêu âm và cộng hưởng từ khớp.
1.1.3. Tiến bộ trong chẩn đoán viêm khớp dạng thấp
Chẩn đoán VKDT dựa vào tiêu chuẩn ACR 1987. Gần đây, tiêu
chuẩn ACR/EULAR 2010 được sử dụng để chẩn đoán sớm VKDT
ngay từ khi mới bệnh khởi phát bệnh.
1.1.4. Điều trị viêm khớp dạng thấp
Điều trị nội khoa VKDT bao gồm điều trị không dùng thuốc và
dùng thuốc. Điều trị bằng thuốc có nhiều bước tiến nổi bật trong thời
gian gần đây. Cho tới nay, có hai nhóm thuốc điều trị VKDT, các
thuốc chống viêm, gồm NSAIDs và glucocorticoid, và các thuốc điều


4
trị cơ bản cải thiện tiến triển của bệnh (Disease-Modifying Antirheumatic Drugs - DMARDs).
Có hai nhóm thuốc điều trị cơ bản, DMARDs không sinh học và
DMARDs sinh học. Trong các DMARDs thì MTX là lựa chọn hàng
đầu, là nền tảng của điều trị cơ bản.
1.1.5. Đánh giá mức độ hoạt động bệnh viêm khớp dạng thấp
Đánh giá mức độ HĐB của bệnh nhân VKDT là một vấn đề hết
sức quan trọng trong tiên lượng diễn biến của bệnh VKDT, là cơ sở
để quyết định lựa chọn điều trị cơ bản phù hợp. Quá trình này được
tiến hành thường xuyên ở bệnh nhân VKDT.
Bên cạnh các chỉ tiêu đơn lẻ như SLKS28, SLKĐ28, thời gian
cứng khớp buổi sáng, nồng độ CRP, TĐLHC; ACR và EULAR
khuyến cáo sử dụng các chỉ số kết hợp đánh giá mức độ hoạt động
bệnh bao gồm DAS, DAS28, CDAI, SDAI.
1.2. Cơ chế bệnh sinh bệnh viêm khớp dạng thấp
VKDT là một bệnh viêm mạn tính tự miễn dịch hệ thống do phá
vỡ cơ chế tự dung nạp miễn dịch, dẫn đến hình thành các tự kháng
thể đáp ứng với các kháng nguyên tự thân.
Bên cạnh đó, người ta còn nhấn mạnh vai trò của các tế bào
lympho T tự phản ứng trong điều khiển đáp ứng viêm mạn tính ở
màng hoạt dịch. Hai tiểu quần thể Th1 và Th17 đóng vai trò quan
trọng trong cơ chế bệnh sinh của bệnh VKDT.
Mặt khác, giảm số lượng và chức năng tế bào lympho T điều hòa,
dẫn đến không bất hoạt được các tế bào lympho T đáp ứng với các
kháng nguyên tự thân cũng được đề cập trong cơ chế bệnh sinh bệnh
VKDT.
Th17 tiết ra các cytokine tiền viêm bao gồm IL-17, IL-21, IL-22,
TNF-α, IL-26, IL-6, và yếu tố kích thích tạo cụm bạch cầu hạt-đại thực
bào (granulocyte-macrophage colony-stimulating factor - GM-CSF).


5
Các cytokine tiền viêm, như IL-1, IL-6, IL-17 và TNF cộng
hưởng tác dụng, trong đó IL-17 dường như đóng vai trò nhạc trưởng,
điều tiết tương tác giữa các cytokine, cùng với các phức hợp miễn
dịch điều khiển đáp ứng viêm mạn tính ở màng hoạt dịch.
Các cytokine tiền viêm, như IL-1, IL-6, IL-17 và TNF-α, có vai
trò quan trọng thúc đẩy quá trình mất xương, giảm tạo xương thông
qua hệ thống RANK/RANKL/OPG và thúc đẩy quá trình hình thành
panus ở màng hoạt dịch.
1.3. Vai trò của IL-6, IL-17 và TNF-α trong bệnh sinh viêm khớp
dạng thấp
1.3.1. Vai trò của IL-6, IL-17 và TNF-α trong quá trình viêm mạn
tính ở màng hoạt dịch
TNF-α, IL-1, IL-6 và IL-17 là các cytokine chìa khóa trong quá
trình viêm màng hoạt dịch, thông qua việc chúng kích thích quá trình
hóa ứng động các tế bào viêm vào màng hoạt dịch, hình thành tân
mạch và tăng sinh các tế bào màng hoạt dịch.
1.3.2. Vai trò của IL-6, IL-17 và TNF-α trong quá trình phá hủy
khớp
Các cytokine TNF-α, IL-1, IL-6, và IL-17 tăng cường trình diện
RANKL trong các khớp, do vậy thúc đẩy quá trình biệt hóa của tiền
hủy cốt bào thành hủy cốt bào. Đồng thời, TNF-α đóng vai trò chìa
khóa ức chế quá trình tạo xương do thúc đẩy sản xuất dickkopf-1.
Các cytokine tiền viêm TNF-α, IL-1 và IL-17 kích thích các tế
bào màng hoạt dịch sản xuất các proteinases như là matrix
metalloproteinases (MMPs) vào trong dịch khớp. Mặt khác, IL-6
cũng kích thích quá trình sản xuất các chất ức chế MMP nội sinh
(tissue inhibitor of MMP - TIMP)).
1.4. Các nghiên cứu trong nước và ngoài nước
1.4.1. Các nghiên cứu ở nước ngoài


6
1.4.1.1. Các nghiên cứu về nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α
Theo các tác giả Chung S.J. và cs (2011), do Prado A.D. và cs
(2016) nồng độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân VKDT tăng cao so
với người khỏe mạnh.
Tương tự như vậy, Metawi S.A. và cs (2011) và Hanan M.A. và cs
(2016) thấy rằng nồng độ IL-17 huyết thanh của bệnh nhân VKDT
tăng cao so với người khỏe mạnh.
Kết quả nghiên cứu của Hanan M.A. và cs (2016) và do Prado
A.D. và cs (2016), cho thấy nồng độ TNF-α huyết thanh ở bệnh nhân
VKDT tăng cao so với nhóm chứng.
Ngược lại, Tekeoglu I. và cs (2016) thấy rằng nồng độ IL-6 huyết
thanh của bệnh nhân VKDT là 14,32 ± 9,21 (pg/mL) không khác
biệt so với người khỏe mạnh (13,45 ± 2,52 (pg/mL)).
Kết quả nghiên cứu của Kokkonen H. và cs (2010) cho thấy trung
vị nồng độ IL-17 huyết thanh của bệnh nhân VKDT là là 6,0
(pg/mL) thấp hơn so với những người khỏe mạnh (p = 6,1 x 10 -5).
Tương tự như vậy, kết quả nghiên cứu của Selaas O. và cs (2015)
cho thấy nồng độ TNF-α huyết thanh của bệnh nhân VKDT thấp hơn
ở người khỏe mạnh.
1.4.1.2. Các nghiên cứu về mối liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17
và TNF-α với các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân
viêm khớp dạng thấp
Theo Chung S.J. và cs (2011) nồng độ IL-6 huyết thanh không
tương quan với chỉ số DAS28 ESR.
Kết quả nghiên cứu của Xia T. và cs (2015) cho thấy nồng độ IL-6
huyết thanh tương quan với chỉ số DAS28 ESR (r = 0,380; p < 0,05).
do Prado A.D. và cs (2016) quan sát thấy nồng độ TNF-α huyết thanh
không tương quan với SLKĐ28, SLKS28, nồng độ CRP huyết thanh
và TĐLHC, chỉ số DAS CRP và DAS28 ESR.


7
1.4.2. Các nghiên cứu ở Việt Nam
Cho tới nay, ở Việt Nam còn ít nghiên cứu về nồng độ IL-6, IL-17
và TNF-α huyết thanh ở bệnh nhân VKDT được công bố.
Tác giả Nguyễn Ngọc Châu (2004) nghiên cứu một số yếu tố
miễn dịch ở 32 bệnh nhân VKDT, thấy rằng số lượng tế bào bạch cầu
và lympho trong máu ngoại vị, nồng độ TNF-α và RF huyết thanh
tăng có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng (p < 0,001).
Kết quả nghiên cứu của Võ Tam và Phạm Thị Thu Trâm (2016) ở
42 bệnh nhân VKDT cho thấy trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh của
bệnh nhân VKDT là 36,4 (pg/ml), cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng.
CHƯƠNG 2. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Đối tượng nghiên cứu
86 bệnh nhân VKDT hoạt động và 30 người khỏe mạnh.
2.1.1. Tiêu chuẩn lựa chọn
* Nhóm bệnh:
- Chẩn đoán VKDT theo tiêu chuẩn Hội thấp Mỹ - ACR 1987.
- DAS28 CRP ≥ 2,6.
* Nhóm chứng:
- Người khỏe mạnh cùng phân bố giới tính với nhóm bệnh, độ tuổi từ
35 đến 50 tuổi.
2.1.2. Tiêu chuẩn loại trừ
- Không đồng ý tham gia nghiên cứu.
- Bệnh nhân VKDT đã hoặc đang dùng các tác nhân sinh học.
- Đối tượng nghiên cứu mắc các bệnh ảnh hưởng tới nồng độ
cytokine, như các bệnh lý nhiễm trùng, các bệnh ác tính, các bệnh lý
nội khoa nặng, cấp tính (nhồi máu cơ tim cấp, đột quỵ não cấp, suy
thận cấp, suy tim NYHA III, IV…).


8
2.1.3. Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ tháng 5 năm 2012 đến tháng 06 năm 2016, tại Khoa Khớp và
Nội tiết, Bệnh viện Quân y 103.
2.2. Phương pháp nghiên cứu
2.2.1. Thiết kế nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích, so sánh
trước và sau điều trị.
2.2.2. Phương pháp chọn mẫu: Ngẫu nhiên, thuận tiện.
2.2.3. Quy trình nghiên cứu
2.2.3.1. Trước khi điều trị chuẩn
- Bệnh nhân được tiến hành hỏi, khám lâm sàng thu thập các chỉ tiêu
nghiên cứu theo mẫu bệnh án thống nhất (phụ lục 1) và định lượng
nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh.
- Điều trị : bệnh nhân được điều trị theo phác đồ chuẩn cho bệnh
nhân VKDT theo khuyến cáo của Hội Thấp học Mỹ và Hội Thấp học
Việt Nam trong thời gian 3 tháng.
2.2.3.2. Theo dõi và đánh giá sau khi điều trị chuẩn
- Theo dõi các chỉ tiêu lâm sàng, xét nghiệm thường qui theo mẫu
bệnh án thống nhất (phụ lục 2), và nồng độ các cytokine IL-6, IL-17
và TNF-α huyết thanh sau 3 tháng điều trị chuẩn.
Nhóm chứng: được khảo sát các chỉ tiêu theo mẫu bệnh án thống nhất
(phụ lục 3), và định lượng nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh.
2.2.4. Phương pháp thu thập số liệu
2.2.4.3. Nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh
Nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh được định lượng bằng kỹ
thuật hấp phụ miễn dịch vi hạt huỳnh quang (Fluorescence covalent
microbead immunosorbent assay-FCMIA), theo nguyên lý phản ứng miễn
dịch huỳnh quang, sử dụng bộ kít Magnetic Luminex Sceening Assays,
cataloge number: LXSAHM-3 (TNF-α, IL-6, IL-17A), do hãng R&D
system (Mỹ) sản xuất và cung cấp, trên hệ thống Luminex 200 của hãng


9
Luminex (Mỹ) chế tạo và cài đặt, thực hiện tại Bộ môn Miễn dịch - Học
viện Quân y.
2.4. Phương pháp xét nghiệm cytokine
2.4.1. Vật liệu xét nghiệm
Lấy 4 ml máu tĩnh mạch của các đối tượng nghiên cứu cho vào
ống xét nghiệm không có chất chống đông. Sau khi lấy mẫu đưa đến
phòng xét nghiệm trong vòng 30 phút. Để trong tủ ấm 37 độ cho tới
khi co cục máu. Ly tâm với tốc độ từ 3500 đến 5000 vòng/phút. Tách
huyết thanh và lưu tủ -800 C đến khi làm xét nghiệm định lượng
cytokine. Bỏ các mẫu xét nghiệm bị vỡ hồng cầu.
2.5. Các tiêu chuẩn sử dụng trong nghiên cứu
2.5.1. Tiêu chuẩn phân loại ACR 1987
- Thời gian cứng khớp buổi sáng ít nhất một giờ.
- Viêm khớp ở ít nhất 3 trong 14 vị trí: khớp liên đốt gần bàn tay,
khớp bàn ngón tay, khớp cổ tay, khớp khuỷu, khớp gối, khớp cổ chân,
khớp bàn ngón chân (2 bên).
- Viêm khớp ít nhất 1 trong 3 vị trí (khớp liên đốt gần bàn tay, khớp
bàn ngón tay, khớp cổ tay).
- Viêm khớp đối xứng.
- Hạt thấp dưới da.
- Yếu tố thấp huyết thanh dương tính.
- Tổn thương X quang điển hình (hình ảnh bào mòn xương và/hoặc
loãng xương cạnh khớp ở bàn tay/khớp cổ tay).
Chẩn đoán viêm khớp dạng thấp: khi có từ 4 tiêu chí trở lên và
các tiêu chí từ 1 đến 4 diễn biến trong thời gian ít nhất 6 tuần [13].
2.5.3. Tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoạt động bệnh của bệnh nhân
viêm khớp dạng thấp: Sử dụng chỉ số DAS28 CRP
2.5.4. Tiêu chuẩn đánh giá đạt mục tiêu điều trị


10
Thời gian mắc bệnh < 6 tháng: lui bệnh (DAS28 < 2,6); thời gian
mắc bệnh ≥ 6 tháng: hoạt động bệnh mức độ thấp (DAS28 < 3,2).
2.5.5. Tiêu chuẩn EULAR đánh giá đáp ứng điều trị của bệnh
nhân viêm khớp dạng thấp.
2.6. Phác đồ điều trị cho bệnh nhân viêm khớp dạng thấp: Theo
khuyến cáo của Hội thấp học Việt Nam và Hội thấp học Mỹ.
2.7. Xử lý số liệu
- Các số liệu thu được đã được xử lý theo phương pháp thống kê y
học bằng phần mềm thống kê SPSS 18.0.
- Xác định ngưỡng giá trị bình thường của nồng độ IL-6, IL-17 và
TNF-α huyết thanh bằng đường cong ROC.
2.8. Sơ đồ nghiên cứu
86 bệnh nhân VKDT

Sau điều trị: 18 BN

30 người khỏe mạnh

Trước điều trị: 86 bệnh nhân

- Khảo sát các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng.
- Định lượng nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh

Định lượng nồng độ IL-6, IL17, TNF-α huyết thanh

Phân tích xử lý số liệu:
- So sánh nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh giữa
nhóm bệnh và nhóm chứng
- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT

Mục tiêu 2

Mục tiêu 1

Kết luận

Hình 2.6. Sơ đồ thiết kế nghiên cứu


11
CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
Bảng 3.1. Tuổi

đời, tuổi khởi phát bệnh và thời gian bị
bệnh của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

Chỉ tiêu

Nữ (n = 75)

Nam (n = 11)

Tuổi đời

53,76 ± 7,09

51,27 ± 8,66

(năm)

53,44 ± 7,30

Tuổi khởi phát bệnh

49,32 ± 9,38

(năm)

48,33 ± 9,69

49,19 ± 9,37

Thời gian bị bệnh

4,49 ± 5,58

(năm)

2,94 ± 3,05
4,29 ± 5,34

Bảng 3.2 và 3.3. Nhóm tuổi đời, tuổi khởi phát bệnh nhiều nhất
trong nghiên cứu là 50 - 59 với tỷ lệ lần lượt là 47,6% và 38,4%
Biểu đồ 3.1 và 3.4. Thời gian mắc bệnh < 6 tháng là 20%; ≥ 6
tháng là 80%. Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân điều trị bằng glucocorticoid
và DMARDs cổ điển trước khi vào nghiên cứu lần lượt là 50,60% và
4,7%.
Biểu đồ 3.2 và 3.3. So sánh tuổi đời, giới của nhóm bệnh và nhóm
chứng
Chỉ tiêu

Nhóm bệnh

Tuổi (năm)
(Trung bình ± SD)

Nhóm chứng

54,44 ± 7,30

41,6 ± 4,57

Giới tính

Nam

12,79

13,33

(%)

Nữ

87,21

86,67

p
< 0,05*
> 0,05

*: Test T không ghép cặp
Trung bình tuổi đời của nhóm chứng nhỏ hơn nhóm bệnh (p <
0,05, test T không ghép cặp).


12
3.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ IL-6, IL-17,
TNF-α huyết thanh ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
3.2.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp
Bảng 3.4 và 3.5. Một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Chỉ tiêu

Trung bình±SD

Trung vị

SLKĐ28

10,52 ± 7,38

9,00

SLKS28

14,13 ± 9,08

12,00

Thời gian CKBS (phút)

37,25 ± 33,82

30,00

ĐGBN (cm)

7,16 ± 2,25

7,50

ĐGBS (cm)

5,65 ± 1,92

6,00

Trung bình nồng độ CRP huyết tương, TĐLHC, nồng độ anti-CCP
huyết tương, số lượng hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố, số lượng bạch
cầu có giá trị lần lượt là 68,20 ± 47,19 (mg/L), 81,10 ± 44,35 (mm/h),
109,02 ± 76,56 (IU/mL), 4,10 ± 0,52 (T/L), 113,03 ± 16,58 (g/L) và
9,18 ± 2,46 (G/L).
Bảng 3.6, phụ lục 4, phụ lục 5. Trung bình nồng độ CRP huyết
tương của nhóm bệnh và nhóm chứng lần lượt là 68,20 ± 47,19 và
0,52 ± 0,36 (mg/L), trung bình TĐLHC giờ đầu của bệnh nhân
VKDT và nhóm chứng lần lượt là 81,10 ± 44,35 và 7,76 ± 3,93
(mm/L). Trung vị nồng độ CRP và TĐLHC giờ đầu của nhóm bệnh
cao hơn nhóm chứng (p < 0,001, test Mann-Whitney). Trung bình các
chỉ số kết hợp DAS28 CRP, DAS28 ESR, SDAI, CDAI lần lượt là:
6,19 ± 1,36; 6,66 ± 1,55; 44,18 ± 19,83; 37,27 ± 18,55.
Biểu đồ 3.5, 3.6, và phụ lục 6. Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT
có tổn thương X quang theo phân loại Steinbroker giai đoạn 1, 2 và


13
3,4 lần lượt là 62,20% và 30,80%; trong đó giai đoạn 2, 3, 4 là
55,10%. 79,50% bệnh nhân VKDT có DAS28 CRP > 5,1.
Bảng 3.7. Số lượng hồng cầu, nồng độ hemoglobin của bệnh nhân
VKDT thấp hơn nhóm chứng có ý nghĩa thống kê (p < 0,05).
3.2.2. Đặc điểm nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh của
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Bảng 3.8.

So sánh nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α của
các đối tượng nghiên cứu

Nồng độ cytokine
(pg/mL)
IL-6
xx ± SD
Trung vị
IL-17

xx ± SD
Trung vị

TNF-α

xx ± SD

Bệnh nhân
n = 82
19,06 ± 22,94

Nhóm chứng
n = 30
9,19 ± 8,43

0,042*

10,49
0,59 ± 0,92

7,18
0,62 ± 0,94

0,879

0,30
2,37 ± 2,69

0,27
3,87 ± 2,11

< 0,001*

1,68

3,69

Trung vị

p

*: Test Mann – Whitney

Trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân VKDT cao hơn
nhóm chứng, ngược lại trung vị nồng độ TNF-α thấp hơn nhóm
chứng có ý nghĩa thống kê.
Bảng 3.9, biểu đồ 3.7, 3.8, 3.9. Đặc điểm nồng độ IL-6, IL-17 và
TNF huyết thanh ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Cytokine

Bình thường

Se

Sp

AUC

p

Tăng

(pg/mL)

(%)

IL-6

< 12,37

0,46

0,80

0,63

0,042

46,30

IL-17

< 0,21

0,67

0,44

0,51

0,88

56,10

TNF-α

< 2,87

0,70

0,79

0,74

< 0,001

20,70

Se: Độ nhạy; Sp: Độ đặc hiệu; AUC: Diện tích dưới đường cong


14
Kết quả của bảng 3.6 cho thấy tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT
có tăng nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh lần lượt là 46,30;
56,01 và 20,70%.
Biểu đồ 3.10, 3.11. Phân bố bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

theo nồng độ cytokine
Phân bố bệnh nhân
theo nồng độ
cytokine

Phân bố bệnh nhân
theo nồng độ IL-17
huyết thanh

Bình thường
Tăng nồng độ một cytokine
Tăng nồng độ hai cytokine
Tăng nồng độ ba cytokine
Bình thường
Tăng đơn độc IL-17
Tăng kết hợp IL-17 với IL-6
và/hoặc TNF-α
Tăng IL-6 hoặc TNF-α hoặc
IL-6 và TNF-α

26,80%
30,50%
35,40%
7,30%
26,80%
19,50
36,60%
17,10%

Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ IL-17 là
56,10%, trong đó có 36,60% bệnh nhân tăng kết hợp IL-17 với IL-6
và/hoặc TNF-α.
Bảng 3.10. So sánh nồng độ IL-6 và TNF-α huyết thanh
theo phân nhóm nồng độ IL-17 huyết thanh
Nồng độ IL-17
IL-6

xx ± SD

Bình thường

Tăng

n = 36

n = 46

16,70 ± 23,19

20,68 ± 22,86

(pg/mL)

Trung vị

6,81

12,87

TNF-α

xx ± SD

1,81 ± 2,53

2,81 ± 2,76

(pg/mL)

Trung vị

1,06

2,24

p
0,068*
< 0,05*

*: Test Mann-Whitney; IL-6: Nồng độ interleukin-6 huyết thanh; TNF-α:
Nồng độ tumor necrosis factor alpha huyết thanh


15
Biểu đồ 3.12, 3.13. Tương quan giữa

nồng độ IL-6, IL-17 và

TNF-α
Cytokine
TNF-α

IL-6

IL-17

r

p

r

p

0,233*

0,035

0,25*

0,023

*: Hệ số tương quan Spearman’s

3.3. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp
3.3.1. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
một số đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Bảng 3.11, 3.12, 3.13, 3.15, 3.16: Không có sự khác biệt về trung
vị nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α theo SLKĐ28, SLKS28 và chỉ số
DAS28 CRP, tình trạng sử dụng glucocorticoid trước khi vào nghiên
cứu và thời gian mắc bệnh.
Bảng 3.14 và biểu đồ 3.14: Không có sự khác biệt của các đặc
điểm lâm sàng như SLKĐ28, SLKS28, ĐGBN, ĐGBS và chỉ số
DAS28 theo nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh.
3.3.2. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
một số đặc điểm cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp

Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17 và
TNF-α huyết thanh với tổn thương trên X quang ở
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp có tăng nồng độ IL17
Bảng 3.17.

Nồng độ cytokine
(pg/mL)
IL-6

xx± SD

Steinbroker

Steinbroker giai

giai đoạn 1, 2

đoạn 3, 4

23,09 ± 18,97

14,53 ± 14,06

p
> 0,05*


16
Trung vị
IL-17

xx± SD
Trung vị

TNF-α

xx± SD
Trung vị

IL 17
TNF 

xx± SD
Trung vị

15,54
0,89 ± 0,75

9,74
1,11 ± 1,34

0,60
3,34 ± 2,93

> 0,05*

0,70
1,60 ± 1,48

2,67

1,06

0,48 ± 0,99

0,75 ± 0,49

0,16

0,66

0,05*
≤ 0,05*

*: Test Mann-Whitney
Kết quả của bảng 3.17 cho thấy trung vị nồng độ TNF-α huyết
thanh của nhóm bệnh nhân VKDT có tổn thương X quang
Steinbroker giai đoạn 1, 2 cao hơn nhóm bệnh nhân VKDT có tổn
thương X quang Steinbroker giai đoạn 3, 4 (p = 0,05).
Bảng 3.18. Không có sự khác biệt về trung vị nồng độ CRP huyết
tương, TĐLHC giờ đầu, số lượng hồng cầu, nồng độ huyết sắc tố, số
lượng bạch cầu, nồng độ anti-CCP giữa hai nhóm bệnh nhân VKDT
có nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α tăng hoặc bình thường.
Bảng 3.19. Nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh không
tương quan với SLKĐ28, SLKS28, thời gian CKBS, ĐGBN, ĐGBS,
nồng độ CRP huyết tương, TĐLHC giờ đầu, các chỉ số DAS28,
SDAI, CDAI.
3.3.3. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
điều trị chuẩn ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Bảng 3.20. Tuổi đời trung bình là 54,28 ± 7,52 (năm), thời gian bị
bệnh trung bình 2,81 ± 3,41 (năm), liều methylprednisolone là 11,33
± 6,02 (mg/24h).
Bảng 3.21. Trung bình SLKĐ28, SLKS28, ĐGBN, ĐGBS, nồng
độ CRP huyết tương và chỉ số DAS28 CRP có giá trị lần lượt là 14,11


17
± 8,52; 11,61 ± 7,96; 6,94 ± 2,16; 5,79 ± 1,63; 73,44 ± 56,28 (mg/L);
6,29 ± 1,26.
Bảng 3.22. Phác đồ điều trị cơ bản được sử dụng nhiều nhất là
Methotrexate kết hợp Chloroquin (16/18 bệnh nhân), hai phác đồ sử
dụng Methotrexate đơn trị liệu và kết hợp ba thuốc Methotrexate với
Sulfasalazine và Chloroquine có cùng tỷ lệ là 1/18 bệnh nhân.
Bảng 3.23, 3.24. Tỷ lệ bệnh nhân đáp ứng điều trị tốt, trung bình,
không đáp ứng lần lượt là 12/16, 2/16 và 2/16 bệnh nhân. Sau 03
tháng điều trị chuẩn có 3/17 bệnh nhân VKDT đạt mục tiêu điều trị.
Bảng 3.25. 3.26. Sau 03 tháng điều trị, giảm có ý nghĩa thống kê
một số đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm của bệnh nhân VKDT, như
SLKĐ28, SLKS28, ĐGBN, ĐGBS, nồng độ CRP huyết tương, và
các chỉ số kết hợp như DAS28 CRP, SDAI, CDAI (p < 0,01).
Bảng 3.27. Thay đổi nồng độ các cytokine huyết thanh
của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp sau điều trị chuẩn
Chỉ tiêu

T0

T3

p

Nồng độ IL-6

26,23 ± 31,25

10,94 ± 11,79

0,018*

Nồng độIL-17

0,64 ± 1,04

0,79 ± 0,71

0,32*

Nồng độTNF-α

2,97 ± 3,30

2,11 ± 2,18

0,163*

*: Test Wilcoxon, T0: Thời điểm bắt đầu điều trị chuẩn, T3: Thời điểm sau
khi điều trị 3 tháng

Bảng 3.28. Tỷ lệ bệnh nhân VKDT giảm nồng độ IL-6, IL-17 và
TNF-α sau điều trị chuẩn lần lượt là 13/18, 8/18, 13/18 bệnh nhân.
Bảng 3.29. Đánh giá sự thay đổi của các chỉ số kết hợp DAS CRP,
SDAI, CDAI sau 3 tháng điều trị chuẩn. Kết quả nghiên cứu cho thấy
trung bình các chỉ số DAS28 CRP, trung vị chỉ số SDAI ở thời điểm T3,
của nhóm bệnh nhân VKDT có nồng độ IL-6 huyết thanh ở thời điểm


18
T0 nhỏ hơn 26,23 (pg/ml), thấp hơn hơn nhóm có nồng độ IL-6 huyết
thanh lớn hơn hoặc bằng 26,23 (pg/ml) (p < 0,05).
Bảng 3.30. Đánh giá sự thay đổi nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α
huyết thanh sau 3 tháng điều trị chuẩn. Kết quả nghiên cứu cho thấy
trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh, của nhóm bệnh nhân VKDT có
nồng độ IL-6 huyết thanh ở thời điểm T0 nhỏ hơn 26,23 (pg/ml), thấp
hơn hơn nhóm có nồng độ IL-6 huyết thanh lớn hơn hoặc bằng 26,23
(pg/ml) (p < 0,05).
CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN
4.1. Đặc điểm chung của các đối tượng nghiên cứu
86 bệnh nhân VKDT có tỷ lệ phần trăm nữ giới và nam giới lần
lượt là 87,21% và 12,79%; trung bình tuổi đời là 53,44 ± 7,30 (năm),
tương tự nghiên cứu của Hoàng Trung Dũng (2011).
Trung bình thời gian mắc bệnh là 4,29 ± 5,34 (năm), chủ yếu từ 6
tháng trở lên (80,0%), tương tự nghiên cứu của Hữu Thị Chung (2008).
Nhóm chứng có phân bố giới tính như nhóm bệnh, trung bình tuổi
đời là 41,60 ± 4,57 (năm), thấp hơn trung bình tuổi đời của nhóm bệnh,
nhưng phù hợp với độ tuổi khởi phát bệnh phổ biến của bệnh nhân
VKDT là độ tuổi trung niên, đồng thời giảm thiểu những đối tượng bị
thoái hóa khớp sớm, là bệnh có thể ảnh hưởng tới nồng độ các cytokine,
như IL-1β và TNF-α.
4.2. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và nồng độ IL-6, IL-17,
TNF-α huyết thanh ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
4.2.1. Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng
Trung bình SLKS28, SLKĐ28 có giá trị là 10,52 ± 7,38 và 14,13 ±
9,08; tương tự nghiên cứu của Hoàng Trung Dũng (2011). Trung bình
ĐGBN và ĐGBS có giá trị lần lượt là 7,16 ± 2,25 và 5,65 ± 1,92.
ĐGBN cao hơn ĐGBS như nhận định của Smolen S.J. và cs (2016).


19
Trung bình thời gian CKBS là 37,25 ± 33,82 (phút), thấp hơn kết
quả nghiên cứu của Hoàng Trung Dũng (2011). Do cơ chế của CKBS
chưa được hiểu biết rõ ràng, phụ thuộc nhiều vào hiểu biết của bệnh
nhân, cho nên thay đổi giữa các nghiên cứu khác nhau.
Trung bình nồng độ CRP huyết tương của bệnh nhân VKDT là
68,20 ± 47,19 (mg/L), cao hơn so với nhóm chứng (p < 0,001). Kết
quả này cao hơn của Hoàng Trung Dũng (2011), do mức độ hoạt
động bệnh của bệnh nhân trong nghiên cứu này cao hơn.
Trung bình TĐLHC giờ đầu của bệnh nhân VKDT là 81,10 ±
44,35 (mm/h), trung vị TĐLHC của nhóm bệnh cao hơn nhóm chứng
(p < 0,001). Trung bình chỉ số DAS28 CRP là 6,19 ± 1,36; tỷ lệ phần
trăm bệnh nhân VKDT chỉ số DAS28 CRP > 5,1 là 79,5%.
Tổn thương trên X quang theo phân loại Steinbroker giai đoạn 1,
2 và giai đoạn 3, 4 lần lượt là 69,20% và 30,80%, trong đó có
55,10% bệnh nhân ở giai đoạn 2, 3, 4 và chỉ có 44,90% bệnh nhân ở
giai đoạn 1.
4.2.2. Đặc điểm nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh của
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Bằng đường cong ROC xác định giá trị cut-off của nồng độ IL-6,
IL-17 và TNF-α huyết thanh lần lượt là 12,37; 0,21 và 2,87 (pg/mL).
Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ IL-6, IL-17 và
TNF-α huyết thanh lần lượt là 46,30; 56,01 và 20,70%.
7,30% bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ của cả ba cytokine (IL6, IL-17 và TNF-α); 30,50% bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ của
hai trong ba cytokine; 30,50% bệnh nhân VKDT tăng nồng độ của
một trong ba cytokine; 26,80% bệnh nhân VKDT có nồng độ của cả
ba cytokine trong giới hạn bình thường.
4.2.2.1. Đặc điểm nồng độ IL-6 huyết thanh


20
Trung bình và trung vị nồng độ IL-6 lần lượt là 19,06 ± 22,94 và
10,49 (pg/mL). Trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân
VKDT cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (p = 0,042). Trong đó, có
46,30% VKDT tăng nồng độ IL-6 huyết thanh.
Kết quả này tương tự như kết quả Võ Tam và Phạm Thị Thu Trâm
(2016), do Prado A.D. và cs (2016). Tuy vậy, cơ chế gây tăng nồng
độ IL-6 huyết thanh ở bệnh nhân VKDT còn nhiều điều chưa sáng tỏ,
do vậy theo kết quả nghiên cứu của Tekeog˘lu I. và cs (2016), nồng
độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân VKDT không tăng so với những
người khỏe mạnh.
Nồng độ IL-6 huyết thanh tương quan thuận với nồng độ TNF-α
huyết thanh (r = 0,233; p = 0,035). Kết quả này tương tự như kết quả
nghiên cứu của Manicourt D.H. và cs (1993).
4.2.2.2. Đặc điểm nồng độ TNF-α huyết thanh
Trung bình và trung vị nồng độ TNF-α huyết thanh có giá trị lần
lượt là 2,37 ± 2,69 và 1,68 (pg/mL). Trung vị nồng độ TNF-α huyết
thanh của bệnh nhân VKDT thấp hơn nhóm chứng (p < 0,001), tương
tự kết quả nghiên cứu của Selaas O. và cs (2015). Tỷ lệ phần trăm
bệnh nhân VKDT tăng nồng độ TNF-α là 20,70%.
Tuy nhiên, nghiên cứu của Kokkonen H. và cs (2010) ở bệnh nhân
VKDT trung bình thời gian mắc bệnh là 7,7 ± 3,6 (tháng)), cho thấy
nồng độ TNF-α huyết thanh của 69 bệnh nhân VKDT không khác
biệt so với nhóm chứng cùng tuổi cùng giới (p = 0,223)
Kết quả nghiên cứu này cho thấy nhóm bệnh nhân VKDT ở giai
đoạn sớm, với tổn thương X quang theo phân loại Steinbroker ở giai
đoạn 1, 2, có nồng độ TNF-α cao hơn so với nhóm bệnh nhân VKDT
ở giai đoạn muộn, với Steibroker giai đoạn 3, 4.


21
Như vậy, dường như thời gian mắc bệnh dài là một yếu tố làm
giảm nồng độ TNF-α huyết thanh của bệnh nhân VKDT. Bên cạnh
đó, kết quả nghiên cứu này cũng cho thấy nồng độ TNF-α huyết
thanh tương quan thuận với nồng độ IL-6 và IL-17 huyết thanh.
4.2.2.3. Đặc điểm nồng độ IL-17 huyết thanh
Trung bình, trung vị nồng độ IL-17 huyết thanh ở bệnh nhân
VKDT có giá trị lần lượt là 0,59 ± 0,92 và 0,30 (pg/mL), không có sự
khác biệt về trung vị nồng độ IL-17 huyết thanh giữa bệnh nhân
VKDT và nhóm chứng (p = 0,879), tương tự như kết quả nghiên cứu
của Kokkonen H. và cs (2010). Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT có
tăng nồng IL-17 huyết thanh là 56,10%.
Mặt khác, nồng độ IL-17 huyết thanh tương quan thuận với nồng
độ TNF-α huyết thanh (r = 0,25, p = 0,023),tương tự kết quả nghiên
cứu của Zhao P.W. và cs (2014).
Bên cạnh đó, sự thay đổi nồng độ IL-17 liên quan tới sự thay đổi
của nồng độ IL-6 và TNF-α huyết thanh. Thực vậy, kết quả của biểu
đồ 3.11 cho thấy tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT tăng kết hợp IL17 với IL-6 và/hoặc TNF-α là 36,60%, so với 17,10% bệnh nhân tăng
nồng độ của IL-6 hoặc TNF-α hoặc IL-6 và TNF-α huyết thanh mà
không tăng nồng độ IL-17.
Đồng thời, kết quả của bảng 3.10 cho thấy trung vị nồng độ TNFα huyết thanh của nhóm bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ IL-17
huyết thanh cao hơn nhóm có nồng độ IL-17 bình thường (p < 0,05).
Như vậy, những kết quả trong nghiên cứu này cho thấy nồng độ IL-17
huyết thanh tăng liên quan chặt chẽ với tăng nồng độ IL-6 và TNF-α huyết
thanh. Kết quả này tương đồng với quan điểm của Miossec P. (2007), IL-


22
17 dường như có vai trò trung tâm trong cơ chế bệnh sinh của bệnh
VKDT.
4.3. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với đặc
điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
4.3.1. Liên quan giữa nồng độ IL-6 huyết thanh với đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Kết quả nghiên cứu này cho thấy không có liên quan giữa nồng
độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân VKDT với một số đặc điểm lâm
sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT.
4.3.2. Liên quan giữa nồng độ TNF-α huyết thanh với đặc điểm
cận lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy nồng độ TNF-α huyết thanh
của nhóm bệnh nhân VKDT với tổn thương X quang ở giai đoạn 3, 4,
theo phân loại Steinbroker, thấp hơn nhóm bệnh nhân VKDT có
Steinbroker ở giai đoạn 1, 2.
4.3.3. Liên quan giữa nồng độ IL-17 huyết thanh với đặc điểm cận
lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
Kết quả của nghiên cứu này cho thấy nồng độ IL-17 huyết thanh
của bệnh nhân VKDT không liên quan với một số đặc điểm lâm sàng,
cận lâm sàng đánh giá mức độ HĐB của bệnh nhân VKDT. Tuy
nhiên, ở giai đoạn muộn của bệnh VKDT, nồng độ IL-17 huyết thanh
có xu hướng giảm chậm hơn nồng độ TNF-α huyết thanh.
4.3.4. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
điều trị chuẩn ở bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
4.3.4.2. Thay đổi nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α sau điều trị chuẩn ở
bệnh nhân viêm khớp dạng thấp


23
Nồng độ IL-6 huyết thanh giảm có ý nghĩa thống kê (p = 0,018),
tuy nhiên không có sự thay đổi nồng độ IL-17 và TNF-α huyết thanh
sau 03 tháng điều trị chuẩn. Kết quả này tương tự như kết quả nghiên
cứu của Kremer J.M. và cs (2016), cho thấy giảm dần có ý nghĩa
thống kê nồng độ IL-6 huyết thanh trong 36 tháng điều trị.
KẾT LUẬN
1. Nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh và đặc điểm lâm
sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân khớp dạng thấp
1.1. Đặc điểm lâm sàng của bệnh nhân viêm khớp dạng thấp
- Thời gian mắc bệnh trung bình 4,29 ± 5,34, với 80% bệnh nhân
bị bệnh từ 6 tháng trở lên.
- Trung bình SLKĐ28: 14,13 ± 9,08; SLKS28: 10,52 ± 7,38,
ĐGBN: 7,16 ± 2,25; ĐGBS: 5,65 ± 1,92, nồng độ CRP huyết thanh:
68,19 ± 47,19 (mg/l); TĐLHC: 79,68 ± 44,37 (mm/h).
- Trung bình chỉ số DAS28 CRP: 6,19 ± 1,36; trong đó 79,55%
bệnh nhân VKDT có DAS28 CRP lớn hơn 5,1.
- Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT có tổn thương X quang theo
phân loại Steinbroker giai đoạn 1, 2 và giai đoạn 3, 4 lần lượt là
69,20 và 30,80%.
1.2. Nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh ở bệnh nhân viêm
khớp dạng thấp
- Trung bình, trung vị nồng độ IL-6 huyết thanh của bệnh nhân
VKDT là 19,06 ± 22,94 và 10,49 (pg/mL), cao hơn so với nhóm
chứng (p = 0,042, test Mann-Whitney).
- Trung bình, trung vị nồng độ TNF-α huyết thanh của bệnh nhân
VKDT là 2,37 ± 2,69 và 1,68 (pg/mL), thấp hơn so với nhóm chứng
(p < 0,001, test Mann-Whitney).


24
- Trung bình, trung vị nồng độ IL-17 huyết thanh của bệnh nhân
VKDT là 0,59 ± 0,92 và 0,30 (pg/mL), không có sự khác biệt so với
nhóm chứng (p = 0,879, test Mann-Whitney).
- Nồng độ TNF-α huyết thanh tương quan thuận với nồng độ IL-6
và nồng độ IL-17 huyết thanh với r, p lần lượt là (0,233; 0,035) và
(0,25; 0,023), hệ số tương quan Spearman’s.
- Tỷ lệ phần trăm bệnh nhân VKDT có tăng nồng độ IL-6, IL-17
và TNF-α huyết thanh lần lượt là 46,30; 56,01 và 20,70%.
- Sự thay đổi nồng độ IL-17 liên quan mật thiết với sự thay đổi
nồng độ IL-6 và TNF-α, với 36,60% bệnh nhân tăng nồng độ IL-17
kèm theo với tăng nồng độ IL-6 và/hoặc TNF-α.
2. Liên quan giữa nồng độ IL-6, IL-17, TNF-α huyết thanh với
một số đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân viêm khớp
dạng thấp
- Bệnh nhân VKDT có tổn thương X quang theo phân loại
Steinbroker ở giai đoạn 1, 2, có trung vị nồng độ TNF-α là 2,67 (pg/mL),
cao hơn nhóm bệnh nhân VKDT có tổn thương X quang theo phân loại
Steinbroker ở giai đoạn 3, 4 (p = 0,05, test Mann-Whitney).
- Nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α không tương quan với một số
đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của bệnh nhân VKDT
- Sau điều trị chuẩn 03 tháng giảm có ý nghĩa thống kê nồng độ IL-6
huyết thanh, không thay đổi nồng độ IL-17 và TNF-α huyết thanh.
KIẾN NGHỊ
Tiếp tục khảo sát nồng độ IL-6, IL-17 và TNF-α huyết thanh ở
bệnh nhân VKDT có mức độ hoạt động bệnh nhẹ và trung bình trong
giai đoạn sớm của bệnh VKDT.


25
Nghiên cứu sự ảnh hưởng của các DMARDs, đặc biệt là
DMARDs sinh học, lên sự thay đổi của nồng độ IL-6, IL-17 và TNFα huyết thanh ở bệnh nhân VKDT.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×