Tải bản đầy đủ

Đo lường sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

LÊ TUẤN ANH

ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI
DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO
TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
______________________

LÊ TUẤN ANH


ĐO LƯỜNG SẮC THÁI NGÔN NGỮ CỦA NỘI
DUNG THÔNG TIN MANG TÍNH CHẤT DỰ BÁO
TRONG BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC
CÔNG TY NIÊM YẾT
Chuyên ngành: Tài chính – Ngân hàng
Mã số: 8340201

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. TRẦN THỊ HẢI LÝ

TP. Hồ Chí Minh – Năm 2018


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, được sự hướng dẫn của
người hướng dẫn nghiên cứu khoa học là PGS.TS. Trần Thị Hải Lý. Các nội dung
nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố
trong bất cứ công trình nào.
Những số liệu trong các bảng biểu phục vụ cho việc phân tích, nhận xét, đánh
giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi trong phần tài liệu
tham khảo. Ngoài ra, trong luận văn còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá cũng như
số liệu của các tác giả khác và đều có chú thích nguồn gốc sau mỗi trích dẫn để dễ tra
cứu, kiểm chứng.

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày …… tháng …… năm 2018
Tác giả

Lê Tuấn Anh


MỤC LỤC
TRANG PHỤ BÌA
LỜI CAM ĐOAN
MỤC LỤC .................................................................................................................. 4
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT.................................................................................... 6
DANH MỤC BẢNG BIỂU ....................................................................................... 7
TÓM TẮT .................................................................................................................. 8


CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU............................................................................................. 1
1.1. Giới thiệu .......................................................................................................1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu ..................................................2
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu .................................................................2
1.4. Phương pháp nghiên cứu ...............................................................................2
1.5. Đóng góp điểm mới của đề tài.......................................................................3
1.6. Bố cục luận văn .............................................................................................3
CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU 4
2.1. MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên ......................4
2.3. Các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên tại Việt Nam ...............20
2.3. Các cách đo lường sắc thái ngôn ngữ trong báo cáo thường niên .................21
2.3. Tổng quan các nghiên cứu về sắc thái thông tin ............................................22
2.4. Những yếu tố tác động đến sắc thái thông tin ................................................32
CHƯƠNG 3: NGUỒN DỮ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ......... 35
3.1. Mẫu nghiên cứu ...........................................................................................35
3.1. Xây dựng các biến số nghiên cứu ................................................................37
3.2. Mô hình nghiên cứu thực nghiệm................................................................42
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN KẾT QUẢ .......... 44
4.1. Phân tích thống kê mô tả .............................................................................44
4.2. Tương quan Pearson – mối quan hệ đơn biến giữa các biến số ..................49
4.3. Phân tích hồi qui ..........................................................................................52


4.3.1. Phân tích các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến sắc thái ngôn ngữ báo cáo
thường niên........................................................................................................52
4.3.2. Khả năng dự báo thu nhập trong tương lai của sắc thái ngôn ngữ .......54
4.3.3. Khả năng dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của sắc thái ngôn
ngữ…................................................................................................................58
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN ...................................................................................... 59
5.1. Kết luận ........................................................................................................59
5.2. Hạn chế của bài nghiên cứu .........................................................................59
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 61
PHỤ LỤC


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
MD&A (Manage ment’s Discussion and Analysis of Financial Condition and Results
of Operations): những nhận định, phân tích của ban lãnh đạo về điều kiện tài chính,
kết quả hoạt động của công ty có trong báo cáo thường niên
SEC (Securities and Exchange Commission): Ủy ban chứng khoán Mỹ
GAAP (Generally Accepted Accounting Principles): các nguyên tắc kế toán chấp
nhận chung
IAS (International Accounting Standards): chuẩn mực kế toán quốc tế


DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 4.1.1 Kết quả thống kê mô tả ...........................................................................44
Bảng 4.1.2 Tỷ trọng các nhóm TONE ......................................................................47
Bảng 4.1.3 Trung bình các nhóm TONE qua các năm .............................................48
Bảng 4.2.1 Tương quan Pearson – mối tương quan đơn biến giữa các biến số ........50
Bảng 4.3.1 Phương trình xem xét các yếu tố dự báo giá trị TONE ..........................53
Bảng 4.3.2 Phương trình dự báo thu nhập trong tương lai .......................................54
Bảng 4.3.3 Phương trình dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai .....................58


TÓM TẮT
Bài nghiên cứu phân tích các nội dung thông tin, cụ thể là sắc thái ngôn ngữ
mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công ty niêm yết có mối
tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty này ở Việt Nam trong giai đoạn
từ tháng 1 năm 2012 đến tháng 12 năm 2016. Cụ thể, bài viết sẽ tìm cách trả lời các
câu hỏi sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử dụng
trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo thành
quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
Sử dụng phương pháp hồi quy đa biến, bài nghiên cứu tìm thấy:
Thứ nhất, lợi nhuận sau thuế, quy mô công ty thể hiện qua giá trị vốn hoá thị
trường của công ty càng cao thì công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự
báo mang sắc thái tích cực về tương lai. Ngược lại, khi dòng tiền từ hoạt động kinh
doanh giảm, hoặc mức độ biến động tỷ suất sinh lợi của công ty tăng thì công ty ít
công bố các thông tin dự báo tích cực.
Thứ hai, các công ty càng có xu hướng đưa ra các thông tin dự báo tích cực về
tương lai thì lợi nhuận tương lai của công ty càng cao. Như vậy, các thông tin có tính
dự báo trong báo cáo thường niên thực sự là một nguồn thông tin hữu hiệu giúp nhà
đầu tư gia tăng khả năng dự báo lợi nhuận trong tương lai của công ty.
Thứ ba, mặc dù các thông tin có tính dự báo trong báo cáo thường niên có thể
dự báo lợi nhuận trong tương lai nhưng lại không dự báo được dòng tiền hoạt động
trong tương lai của công ty. Thay vào đó, các nhà đầu tư có thể sử dụng lợi nhuận để
dự báo dòng tiền hoạt động trong tương lai của công ty.
Từ khóa: MD&A, sắc thái ngôn ngữ, thông tin có tính dự báo tích cực/tiêu cực.


1

CHƯƠNG 1: MỞ ĐẦU
1.1.

Giới thiệu
Trong xu thế phát triển hiện nay của các quốc gia đang phát triển nói chung

và của Việt Nam nói riêng, thị trường chứng khoán đang ngày càng trở nên quan
trọng trong các nền kinh tế. Đây không chỉ là kênh chu chuyển vốn quan trọng từ nơi
vốn nhàn rỗi sang nơi thiếu vốn trong nền kinh tế, mà thị trường chứng khoán cũng
đang là một kênh đầu tư đầy hấp dẫn cho các nhà đầu tư, bao gồm cả các nhà đầu tư
tổ chức và nhà đầu tư cá nhân.
Thị trường chứng khoán là nơi phản ánh kỳ vọng của nhà đầu tư về triển vọng
tương lai của nền kinh tế. Một trong những yếu tố quan trọng hình thành kỳ vọng của
nhà đầu tư là thông tin, chẳng hạn như là thông tin từ các báo cáo của doanh nghiệp,
từ các nhà phân tích, quỹ đầu tư, công ty chứng khoán…
Nhu cầu về thông tin của các nhà đầu tư trên thị trường luôn tồn tại như là một
yếu tố tất yếu trên các thị trường chứng khoán ở tất cả các quy mô và mức độ trưởng
thành của thị trường. Tham gia vào thị trường chứng khoán đòi hỏi các nhà đầu tư
cần có những sự am hiểu về các báo cáo tài chính, báo cáo thường niên của các doanh
nghiệp được niêm yết trên thị trường chứng khoán.
Một báo cáo thường niên tốt sẽ giúp doanh nghiệp có nhiều cơ hội để tiếp cận
và thu hút được những nguồn vốn mới dài hạn, với điều kiện doanh nghiệp xem báo
cáo thường niên như là một cơ hội để chia sẻ và trao đổi thông tin với các nhà đầu tư,
đồng thời là công cụ để nhà quản lý giải trình sâu hơn các thông tin về tình hình quản
trị, quản lý rủi ro và đặc biệt là doanh nghiệp đang tích hợp các yếu tố môi trường,
xã hội và quản trị vào trong quá trình sản xuất và quyết định kinh doanh như thế nào.
Chính vì vậy, đề tài nghiên cứu này sẽ xem xét về các sắc thái ngôn ngữ của
nội dung thông tin mang tính chất dự báo ở trong báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết trên sàn chứng khoán Hà Nội (HNX) và sàn chứng khoán thành phố Hồ
Chí Minh (HOSE). Trên cơ sở đó, tác giả sẽ đưa ra những phân tích để phát hiện xem
các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang tính chất dự báo có mối tương


2

quan như thế nào đến các đặc điểm của các công ty. Ngoài ra, tác giả cũng sẽ đi sâu
vào phân tích xem mức độ tương quan của sắc thái thông tin và đặc điểm của các
công ty có sự khác biệt theo tính chất tích cực/ tiêu cực của dự báo hay không?
1.2.

Mục tiêu nghiên cứu và câu hỏi nghiên cứu
Bài nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu xem xét các sắc thái ngôn ngữ

của nội dung thông tin mang tính chất dự báo trong báo cáo thường niên của các công
ty niêm yết có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty. Đồng thời
xem xét khả năng thông tin văn bản của báo cáo thường niên chứa đựng những thông
tin quan trọng về thành quả tương lai của doanh nghiệp.
Để cụ thể hóa cho các mục tiêu nghiên cứu này, tác giả sẽ tập trung trả lời
một số câu hỏi nghiên cứu của đề tài như sau:
Thứ nhất, những yếu tố nào giải thích cho sắc thái ngôn ngữ được sử dụng
trong báo cáo thường niên?
Thứ hai, sắc thái ngôn ngữ của báo cáo thường niên có giúp dự báo thành
quả tương lai của doanh nghiệp hay không?
1.3.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng trong bài nghiên cứu là mối quan hệ giữa các sắc thái ngôn ngữ của

nội dung thông tin mang tính chất dự báo từ báo cáo thường niên và các đặc điểm của
công ty.
Về phạm vi nghiên cứu, bài nghiên cứu được thực hiện tại Việt Nam trong giai
đoạn năm 2012 đến năm 2016 và dựa vào báo cáo thường niên của 30 công ty niêm
yết trên sàn chứng khoán Hà Nội và sàn chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh.
1.4.

Phương pháp nghiên cứu
Trong nghiên cứu này, tác giả sử dụng hồi quy đa biến, ước lượng bằng

phương pháp phân tích hồi quy bình phương bé nhất thông thường (OLS) để phát
hiện mối quan hệ giữa đặc điểm các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin mang


3

tính chất dự báo trên các báo cáo thường niên của công ty và đặc điểm của các công
ty.
1.5.

Đóng góp điểm mới của đề tài
Thứ nhất, bài nghiên cứu khai thác một hướng nghiên cứu mới ở Việt Nam,

đó là xem xét các sắc thái ngôn ngữ của nội dung thông tin trong báo cáo thường niên
có mối tương quan như thế nào đến các đặc điểm của công ty và có tác động như thế
nào đến thành quả trong tương lai của công ty.
Thứ hai, bài nghiên cứu cho thấy xu hướng đánh giá, dự báo của bản thân các
lãnh đạo công ty niêm yết ở Việt Nam như thế nào trong giai đoạn từ năm 2012 đến
năm 2016.
Thứ ba, kết quả nghiên cứu của luận văn cho thấy thực sự các sắc thái ngôn
ngữ của nội dung thông tin văn bản có tính dự báo trong báo cáo thường niên có tác
động tới lợi nhuận tương lai của doanh nghiệp. Điều này giúp các nhà đầu tư có thêm
một hướng phân tích mới về triển vọng tương lai của doanh nghiệp thông qua việc
xem xét tính chất tích cực hay tiêu cực trong các nội dung thông tin văn bản có tính
dự báo của báo cáo thường niên.
1.6.

Bố cục luận văn
Bài nghiên cứu này có bố cục 5 phần với các nội dung của từng chương như

sau: Chương 1 là chương mở đầu của luận văn. Chương 2 là chương tổng quan khung
lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm ở trong và ngoài nước. Chương 3 bao gồm các
nội dung về nguồn dữ liệu nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu và mô hình nghiên
cứu của luận văn. Chương 4 là kết quả nghiên cứu của tác giả. Cuối cùng, chương 5
là chương kết luận và một số hạn chế của luận văn.


4

CHƯƠNG 2: KHUNG LÝ THUYẾT VÀ TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU
2.1. MD&A và các yêu cầu về nội dung trong báo cáo thường niên
Báo cáo thường niên của doanh nghiệp là một tài liệu xuất bản hàng năm mà
một công ty đại chúng phải cung cấp cho các cổ đông nhằm mô tả hoạt động và tình
hình tài chính của công ty. Xét tổng quan, nội dung thông tin được cung cấp trong
báo cáo thường niên gồm 2 phần: (1) các phần thông tin định lượng (dạng số, có cấu
trúc) và (2) phần thông tin định tính (hay còn gọi là thông tin văn bản). Báo cáo
thường niên là một phương tiện truyền tải thông tin về các hoạt động kinh doanh, lợi
nhuận và các hoạt động liên quan của doanh nghiệp trong suốt một năm qua cũng
như kế hoạch kinh doanh, lợi nhuận, phát triển của doanh nghiệp trong thời gian tới.
Thông qua báo cáo thường niên, doanh nghiệp sẽ thể hiện sự minh bạch trong
cung cấp thông tin đến cộng đồng các nhà đầu tư, thể hiện trách nhiệm của mình với
cổ đông hiện hữu, thu hút sự quan tâm của các tổ chức đầu tư, nhà đầu tư cá nhân
mới,…
Để đạt được những điều này, năm 1980, Ủy ban chứng khoán Mỹ (SEC) đã
yêu cầu các công ty niêm yết phải đưa vào báo cáo thường niên những nhận định,
phân tích của ban lãnh đạo về điều kiện tài chính, kết quả hoạt động của công ty
(MD&A). Nội dung của MD&A bao gồm khả năng thanh toán, nguồn vốn, hoạt động
kinh doanh của công ty mà nhà đầu tư có thể đọc hiểu được. Mục tiêu của SEC là yêu
cầu công ty công bố các thông tin về các sự kiện và xu hướng tương lai mà có thể ảnh
hưởng đến hoạt động của công ty.
SEC đã nhấn mạnh sự cần thiết phải công bố thông tin trong MD&A, và
thường khuyến khích các công ty công bố thông tin trong MD&A về các kế hoạch và
dự báo của nhà quản lý, chẳng hạn như về xu hướng, nhu cầu, sự kiện, cam kết và sự
không chắc chắn được biết đến mà có ảnh hưởng đến tính thanh khoản, nguồn vốn
hoặc các hoạt động trong tương lai của công ty. Tuy nhiên, sau đó SEC đã kiểm tra
các báo cáo hàng năm của Fortune 500 công ty vào năm 2002 (sau vụ bê bối Enron)
và nhận thấy các công ty vẫn còn thiếu các thông tin về dự báo, mặc dù SEC đã ban


5

hành các hướng dẫn cụ thể tại nhiều thời điểm khác nhau (xem Garmong, 2007). Sự
chỉ trích của SEC về MD&A trong báo cáo thường niên của các công ty là MD&A
thường bao gồm các tuyên bố từ chối công bố thông tin vì lý do bản quyền và thay
vào đó là các chi tiết không quan trọng với ít thông tin chất lượng. Đặc biệt, SEC đã
lo ngại rằng có quá ít thông tin có tính dự báo trong MD&A.
Ngoài nội dung đầy đủ và thông tin minh bạch trong bố cục để chuyển tải hiệu
quả các các thông điệp về phân tích, đánh giá cũng như tạo ấn tượng trong thiết kế để
thu hút người đọc từ trang đầu đến trang cuối cũng là một công tác chuẩn bị khá quan
trọng trong việc xây dựng báo cáo thường niên. Nó thể hiện sự tôn trọng, hiểu biết,
quan tâm và đầu tư đúng mức của doanh nghiệp trong công tác quan hệ với nhà đầu
tư. Tuy nhiên, các nghiên cứu trước đây cho thấy các thông tin trong báo cáo thường
niên không hẳn là dễ đọc đối với họ.
Smith và Smith (1971) nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo
thường niên của các công ty trong danh sách Fortune 50 và kết luận rằng mức độ dễ
đọc của các ghi chú này là rất thấp.
Healy (1977) nghiên cứu tính dễ đọc của các chú thích trong báo cáo thường
niên của 50 công ty New Zeal. Lebar (1982) nghiên cứu báo cáo thường niên 10-K,
báo cáo hàng năm và thông cáo báo chí của 10 công ty NYSE năm 1978 và so sánh
sự khác biệt về chủ đề và thông tin giữa chúng. Kết luận chung từ các nghiên cứu này
là báo cáo thường niên của công ty là khá khó đọc và có thể được phân loại là tài liệu
kỹ thuật, trong đó phân loại những thông tin “không thể tiếp cận được đối với một tỷ
lệ lớn các cổ đông tư nhân”.
Một số nghiên cứu khác cũng cho thấy các báo cáo thường niên đã trở nên khó
đọc hơn theo thời gian (ví dụ: Soper và Dolphin, 1964; Barnett và Leoffler, 1979;
Jones và Shoemaker, 1994).
Vậy thực tế các nhà đầu tư có sử dụng được những thông tin trong báo cáo
thường niên để ra quyết định đầu tư hay không? Rogers, Rodney K., và Julia Grant
(1997) đã đánh giá các báo cáo thường niên của công ty để xác định cách các nhà


6

phân tích sử dụng chúng để viết báo cáo nghiên cứu của họ. Rogers, Rodney K., và
Julia Grant (1997) thấy rằng các báo cáo phân tích bên bán chủ yếu dựa vào các phần
tường thuật của báo cáo thường niên, với phần thảo luận và phân tích chứng minh là
nguồn thông tin duy nhất và lớn nhất. Họ cũng thấy rằng khoảng một nửa báo cáo
phân tích dựa trên thông tin không có trong báo cáo thường niên. Kết quả cho thấy
rằng nhu cầu thông tin của các nhà phân tích có thể được phục vụ tốt hơn bởi các báo
cáo thường niên được sửa đổi.
Do đó, tháng 10 năm 1998, SEC ban hành các hướng dẫn về nội dung tiếng
Anh đơn giản trong việc công bố các nội dung trong báo cáo thường niên của các
doanh nghiệp. Mục tiêu là giúp các nhà đầu tư có thể hiểu được các thông tin được
công bố trong các báo cáo của doanh nghiệp. SEC khẳng định rằng các thông tin
trong MD&A sẽ cung cấp cho nhà đầu tư và những người dùng khác thông tin minh
bạch về tình hình tài chính và kết quả hoạt động của doanh nghiệp, đặc biệt chú trọng
vào triển vọng của doanh nghiệp trong tương lai.
Phần lớn các nghiên cứu trước năm 1990 đều tập trung vào các biến định lượng
như thu nhập, doanh thu hoặc giá trị sổ sách của vốn chủ sở hữu. Sau đó, đã có một
số lượng lớn các bài nghiên cứu về nội dung trong MD&A, điều đang ngày càng được
nhấn mạnh bởi SEC.


7

Ví dụ, Core (2001) lưu ý điểm này và nhấn mạnh tầm quan trọng của việc
nghiên cứu nội dung thông tin chi tiết trong các tài liệu công bố thông tin tự nguyện.
Một số nghiên cứu bị giới hạn về mẫu nhỏ đã kiểm tra kết quả của nội dung và chất
lượng của các thông tin trong MD&A.
Sự nhấn mạnh của SEC về tầm quan trọng của MD&A và những nghiên cứu
trước đây cho thấy rằng các doanh nghiệp có thể hưởng lợi từ việc nâng cao sự công
bố thông tin trong MD&A. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu sau đó cho thấy tình hình
cung cấp thông tin trong MD&A có vẻ không cải thiện. MD&A có thể không chứa
nhiều thông tin quan trọng vì nhiều lý do khác nhau.
Thứ nhất, mặc dù thông tin trong MD&A có thể không truyền tải kịp thời
nhưng các kênh truyền thông cung cấp cho công ty cơ hội giải thích chiến lược hoạt
động và triển vọng tương lai của họ một cách toàn diện hơn các con đường khác như
thông cáo báo chí.
Thứ hai, các công ty có thể không tiết lộ thông tin liên quan do các lo ngại về
chi phí phát sinh của việc chuẩn bị công bố thông tin và sự kiểm tra thông tin của nhà
đầu tư có thể ảnh hưởng tiêu cực đến giá cổ phiếu (Verrechia, 1983).
Thứ ba, các nhà đầu tư có thể không phụ thuộc nhiều vào MD&A bởi vì
MD&A không được kiểm toán (Hufner, 2007).
Thứ tư, MD&A có thể chứa nhiều thông tin chung chung, không quan trọng,
thiếu chi tiết (SEC (2003)). Để chứng minh quan điểm này, Pava và Epstein (1993)
đã chọn ngẫu nhiên 25 công ty từ Danh sách Sổ tay Cổ phiếu Phổ thông của Moody's
và cho thấy hầu hết 25 công ty mà họ nghiên cứu đã mô tả chính xác các sự kiện lịch
sử, nhưng rất ít công ty cung cấp các dự báo hữu ích và có tính chính xác trong
MD&A. Danh sách này đánh giá các công ty đại chúng theo định kỳ hàng quý, gồm
đánh giá hoạt động tài chính và giá cổ phiếu, và quan trọng nhất là liệt kê các sự kiện
(xung đột lao động, cạnh tranh, v.v.). Để xác định mức độ chính xác của thông tin
được công bố trong MD&A của các công ty được chọn, các tác giả đã xem xét các
thông tin này có liên quan đến tình hình thực tế của công ty sau một năm hay không.


8

Nếu thông tin dự báo trong MD&A là chính xác và có giá trị, các tác giả sẽ đánh giá
mối tương quan là chặt chẽ. Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong khi hầu hết các công
ty đã làm tốt công việc mô tả các sự kiện lịch sử, rất ít công ty cung cấp các dự báo
hữu ích và chính xác. Ngoài ra, các tác giả cũng đã thấy MD&A chứa nhiều thông tin
dự báo tích cực hơn là tiêu cực. Để định lượng kết quả kiểm tra, các tác giả đã phân
loại tất cả các sự kiện kinh tế quan trọng mà Moody báo cáo là có ảnh hưởng đến
từng công ty được chọn. Sau đó, các tác giả phân loại từng sự kiện cụ thể cho công
ty, ngành hoặc nền kinh tế tổng thể. Ví dụ, doanh số bán hàng của một nhà sản xuất
đồ chơi giảm do hội đồng quản trị muốn giảm tỷ trọng đồ chơi này thì thông tin này
được phân loại là của công ty cụ thể. Nếu giảm doanh số bán hàng giảm là do sự quan
tâm của người tiêu dùng với trò chơi nói chung giảm, nó được phân loại theo ngành
cụ thể. Và nếu sự sụt giảm doanh số bán hàng là do suy thoái kinh tế nói chung, nó
được phân loại là thuộc nền kinh tế. Các tác giả cũng phân loại từng sắc thái thông
tin là tích cực hoặc tiêu cực dựa trên tác động của nó đối với hoạt động của công ty.
Cuối cùng, các tác giả so sánh chất lượng của MD&A thông qua hiệu quả hoạt động
thực tế của công ty trong năm liền kề sau đó.
Do đó, các nội dung trong MD&A có cung cấp thông tin hữu ích cho thị trường
vốn hay không là một câu hỏi thực nghiệm cần được xem xét kỹ hơn.
Nhiều nghiên cứu tiếp theo cho thấy MD&A vẫn đóng vai trò quan trọng trong
báo cáo thường niên của công ty và được nhà đầu tư quan tâm. Ví dụ, nghiên cứu của
Tavcar (1998) cho thấy MD&A là nội dung được đọc nhiều nhất và quan trọng nhất
trong phần tài chính của công ty. Knutson (1993), Rogers và Grant (1997) cũng cho
rằng các nhà phân tích thường dựa nhiều nhất vào MD&A để lấy thông tin.
Lang, Mark, và Russell Lundholm (1993) đã phân tích các yếu tố quyết định
việc công bố thông tin một cách chủ động bằng điểm số được chấm bởi Liên đoàn
Báo cáo Tài chính (Financial Analyst Federation) về việc công bố thông tin. Kết quả
cho thấy các công ty có điểm số cao có kết quả hoạt động tốt, tỷ suất sinh lợi của cổ
phiếu cao. Những công ty lớn có mức độ tương quan giữa lợi nhuận và tỷ suất sinh
lợi của cổ phiếu kém hơn. Mối tương quan giữa điểm số công bố thông tin và biến


9

động tỷ suất sinh lợi là thấp, đặc biệt sau khi kiểm soát các yếu tố khác như quy mô
công ty. Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy điểm số tăng với quy mô công ty.
Lang, Mark, và Russell Lundholm (1996) đã phân tích mối quan hệ giữa việc
công bố thông tin của công ty, số lượng bài phân tích về công ty và các đặc điểm của
phân tích dự báo thu nhập. Sử dụng dữ liệu từ FAF Report 1985-89, các tác giả cung
cấp bằng chứng cho thấy những công ty có chính sách công bố thông tin nhiều hơn
có số lượng phân tích đi theo nhiều hơn, các dự báo về thu nhập chính xác hơn, ít sự
phân tán giữa các phân tích cá nhân và ít biến động về phân tích thu nhập. Bài nghiên
cứu cũng cho thấy vai trò của các nhà phân tích trong thị trường vốn. Ngoài ra, các
tác giả cũng cho rằng tiềm năng từ việc công bố thông tin là tăng số lượng nhà đầu
tư theo dõi cổ phiếu, giảm rủi ro ước lượng và giảm bất cân xứng thông tin, từ đó làm
giảm chi phí vốn của công ty.
Barron, Orie E., Charles O. Kile, và Terrence B. O’Keefe (1999) đã kiểm định
mối liên hệ giữa các thuộc tính của các dự báo thu nhập và các đặc điểm hoạt động
của công ty trong MD&A, trong đó chất lượng MD&A được đo bởi Ủy ban Giao
dịch Chứng khoán (SEC). Bài nghiên cứu cho thấy xếp hạng MD&A càng cao thì các
dự báo thu nhập của các nhà phân tích càng chính xác sau khi kiểm soát nhiều ảnh
hưởng khác trên dự báo của các nhà phân tích. Bài nghiên cứu cũng cho thấy các hệ
số hồi quy ước lượng được phù hợp với thông tin MD&A có ảnh hưởng đáng kể đến
dự báo thu nhập. Những phát hiện này phù hợp với đề xuất của nhiều cơ quan (kể cả
SEC) rằng loại thông tin được tìm thấy trong MD&A chất lượng cao có liên quan đặc
biệt đến việc dự đoán thu nhập.
Levine, Carolyn B., và Michel J. Smith, (2006) đã xây dựng cơ sở dữ liệu lớn
về việc công bố thông tin theo yêu cầu của các chính sách kế toán và cung cấp số liệu
thống kê mô tả và phân tích các thành phần ảnh hưởng đến chính sách kế toán. Các
tác giả xác định 25 chính sách quan trọng khác nhau, phổ biến nhất trong số đó là
chứng khoán có thể bán, sự suy giảm tài sản và cách ghi nhận doanh thu. Là một phần
của quy trình pháp lý, SEC yêu cầu các công ty nhận xét về các đề xuất của SEC


10

trước khi tạo công bố quyết định cuối cùng. Thông thường, không có đủ thông tin để
đưa ra kết luận và các ý kiến bằng văn bản phản ánh quan điểm hoặc phỏng đoán. Ví
dụ, đề xuất yêu cầu: “Có bao nhiêu ước tính kế toán mà một công ty thường xác định
là ước tính kế toán quan trọng theo định nghĩa được đề xuất?” Các công ty trong mẫu
của các tác giả công bố thông tin từ 0 đến 17 chính sách kế toán quan trọng, với trung
bình là 6. Phân tích của các tác giả cho thấy chính sách về công bố thông tin có vai
trò quan trọng, liên quan đến độ lớn hiện tại và tương lai của tài sản, rủi ro kiện tụng
của công ty và các kế hoạch tài chính trong tương lai. Các khoản mục tài sản khác
trong bảng cân đối kế toán cũng có tương quan cùng chiều đến việc công bố thông
tin, cho thấy rằng các chính sách quan trọng có thể phụ thuộc vào sự liên quan giữa
các khoản mục kế toán. SEC hỏi: “Thông tin bổ sung được đề xuất liệu có hữu ích
cho các nhà đầu tư và những người dùng khác không?” Các tác giả cung cấp bằng
chứng cho rằng thị trường đặt trọng số thấp hơn vào thu nhập của các doanh nghiệp
có nhiều thông tin có tính dự báo so với trọng số trước đó để khuyến nghị SEC yêu
cầu công bố thông tin có tính dự báo. Các tác giả cho rằng trọng số thấp hơn này phù


11

hợp với việc gia tăng cung cấp thông tin dự báo cho các nhà đầu tư về sự không chắc
chắn trong việc dự báo thu nhập.
Bryan (1997) xem xét bảy chủ đề mà SEC yêu cầu các công ty thảo luận trong
MD&A của họ cho một mẫu 250 công ty trong năm 1990 và thấy rằng việc công bố
thông tin có liên quan đến thu nhập ngắn hạn và dài hạn cũng như các dự báo của các
nhà phân tích. Cụ thể, kết quả cho thấy các nội dung trong MD&A, đặc biệt là các
nội dung về hoạt động trong tương lai và kế hoạch chi tiêu vốn, có tương quan với
hiệu quả hoạt động trong tương lai ngắn hạn và các quyết định đầu tư. Tuy nhiên,
mối tương quan dài hạn thì không có ý nghĩa thống kê. Nghiên cứu này còn cho thấy
rằng, cùng với các báo cáo tài chính, các nội dung của MD&A trong báo cáo thường
niên, đặc biệt là các nội dung có tính dự báo, có thể hỗ trợ đánh giá triển vọng tương
lai của doanh nghiệp trong ngắn hạn.
Barron et al. (1999) kiểm tra điểm chất lượng MD&A được chỉ định bởi nghiên
cứu của SEC năm 1987 cho một mẫu nhỏ các công ty và thấy rằng chất lượng MD&A
có liên quan đến sai số và mức độ phân tán trong các dự báo của các nhà phân tích.
Gregory S. Miller và Joseph D. Piotroski (2000) đã xác định các yếu tố giúp
thúc đẩy việc công bố thông tin và mối quan hệ với thu nhập tương lai, những công
bố thông tin này tác động đến giá thị trường do tác động đến dự báo thu nhập trong
tương lai. Các tác giả xem xét một tập hợp các doanh nghiệp phải đối mặt với tình
trạng thu nhập hiện tại thấp, những lo ngại về định giá thấp, sự bỏ bê của nhà đầu tư
và đã nhận thấy sự thay đổi đáng kể của các yếu tố khi các công ty này công bố thông
tin về dự báo thu nhập trong tương lai. Phù hợp với lý thuyết hiện có, các công ty có
thông tin về thu nhập mạnh hơn và bền vững hơn có nhiều khả năng công bố nhiều
thông tin hướng tới tương lai hơn. Hơn nữa, các tác giả thấy rằng các doanh nghiệp
hoạt động trong ngành có tính tranh tụng cao, tính độc quyền mạnh, có thù lao dựa
trên quyền chọn cổ phiếu là lớn và đối mặt với các bên liên quan mà không nắm cổ
phần lớn có nhiều khả năng cung cấp nhiều thông tin hơn. Ngoài ra, các tác giả tìm
thấy bằng chứng cho thấy việc sử dụng các cơ chế tài chính thay thế (mua lại cổ phần


12

và tăng cổ tức) làm giảm xác suất mà người quản lý sẽ thực hiện việc công bố thông
tin có tính dự báo. Các thử nghiệm dựa trên thị trường cho thấy rằng thông tin được
công bố có liên quan đến giá cố phiếu. Thị trường phản ứng một cách tích cực đáng
kể với dự báo thu nhập (tức là các báo cáo có tính dự báo được cung cấp ngoài các
thông báo về thu nhập) cũng như các báo cáo dự báo đi kèm trong thông báo thu nhập
hiện tại (sau khi kiểm soát thông tin thu nhập của kỳ hiện tại). Hơn nữa, những phản
ứng này có tương quan tích cực với những thay đổi trong tương lai được điều chỉnh
theo mùa trong thu nhập, cho thấy sự công bố thông tin là có hiệu quả.
Lý thuyết kinh tế cung cấp các lập luận hấp dẫn rằng cam kết của công ty về
việc tăng mức độ công bố thông tin sẽ làm giảm bất cân xứng thông tin của công ty.
Tuy nhiên, việc kiểm định mối quan hệ này lại rất khó khăn. Leuz, Christian, và
Robert E. Verrecchia (2000) đã nghiên cứu mẫu các công ty ở Đức áp dụng các tiêu
chuẩn kế toán MS hoặc GAAP của Hoa Kỳ trong báo cáo tài chính hợp nhất. Tiêu
chuẩn này buộc các công ty phải tăng mức độ công bố thông tin đáng kể. Hơn nữa,
mức độ công bố thông tin ở Đức theo GAAP của Đức được mô tả là thấp. Vì những
lý do này, thử nghiệm nghiên cứu của các tác giả có vẻ đặc biệt phù hợp với việc ghi
lại các kết quả kinh tế của việc công bố thông tin tăng lên. Bằng chứng của các tác
giả phù hợp với khái niệm rằng các công ty cam kết tăng mức độ công bố thông tin
thu được lợi ích đáng kể về mặt kinh tế và các kiểm định có ý nghĩa thống kê. Các
tác giả đã cho thấy chính sách công bố thông tin của quốc tế có liên quan đến chênh
lệch chi phí thấp hơn và lợi nhuận cổ phiếu cao hơn khi các tác giả kiểm soát các đặc
tính khác nhau của doanh nghiệp (ví dụ: hiệu suất, quy mô doanh nghiệp…). Đối với
biến động giá cổ phiếu, các tác giả không tìm thấy sự giảm giá theo giả thuyết. Các
tác giả cũng chỉ tìm thấy sự khác biệt nhỏ giữa các công ty tuân theo GAAP (các
nguyên tắc kế toán chấp nhận chung) của Hoa Kỳ và các công ty tuân theo IAS (chuẩn
mực kế toán quốc tế). Trong khi so sánh này dựa trên một mẫu tương đối nhỏ, và do
đó chỉ được xem là tham khảo, nó phù hợp với khái niệm rằng cam kết gia tăng công
bố thông tin không phải là tiêu chuẩn hay là điều quan trọng của công ty. Một mở
rộng khác của nghiên cứu là đã bao gồm các công ty từ các quốc gia khác mà có áp


13

dụng IAS hoặc GAAP của Hoa Kỳ cho báo cáo tài chính của họ. Trong khi một
nghiên cứu xuyên quốc gia rõ ràng là làm tăng mẫu đáng kể, nó có thể làm trầm trọng
thêm vấn đề kiểm soát bởi vì nhiều quy định thể chế khác nhau (như quy định thị
trường vốn).
Miller, Gregory S. (2002) đã xem xét việc công bố thông tin toàn diện từ một
mẫu các công ty trải qua một khoảng thời gian gia tăng thu nhập điều chỉnh. Tác giả
nghiên cứu cách các công ty này điều chỉnh công bố thông tin để đáp ứng với thu
nhập tăng lên, cách các công ty này điều chỉnh công bố thông tin khi giai đoạn tỷ suất
sinh lời mạnh gần kết thúc và cách công ty công bố thông tin trong giai đoạn thu nhập
giảm. Tác giả thấy có sự gia tăng công bố thông tin trong thời gian thu nhập tăng.
Mức tăng này phổ biến trên tất cả các loại hình công bố thông tin và có xu hướng đi
kèm với thông báo về thu nhập. Thị trường phản ứng tích cực với sự công bố thông
tin này. Các công ty tiếp tục công bố thông tin ở mức cao khi họ thấy thu nhập sụt
giảm. Tuy nhiên, họ chuyển sang công bố thông tin tập trung vào các kết quả ngắn
hạn tích cực và không thảo luận về sự sụt giảm sắp xảy ra. Thị trường dường như
không dự đoán thu nhập tiếp theo sẽ giảm. Khi các công ty thông báo thu nhập giảm,
mức độ công bố thông tin trở lại mức trước khi thu nhập tăng lên.
Hirshleifer, D., và S. Teoh (2003) đã xem xét mối quan hệ của cách tiếp cận
thông tin, chính sách báo cáo tài chính và giao dịch thị trường. Cách tiếp cận của các
tác giả giải quyết vấn đề tại sao giới chuyên môn quan tâm đến các hình thức công
bố thông tin. Những lựa chọn như vậy có thể ảnh hưởng đến nhận thức của nhà đầu
tư và giá thị trường của công ty. Trong cách tiếp cận của các tác giả, các nhà đầu tư
đôi khi bỏ qua các khía cạnh liên quan của môi trường kinh tế, chẳng hạn như các ưu
đãi của các công ty. Các tác giả đã tập trung vào phần báo cáo thị trường của báo cáo
tài chính và sự công bố thông tin, thay vì các vấn đề như hiệu quả hoạt động, thuế và
vấn đề chính trị (xem thêm Watts và Zimmerman, 1986; Lambert (2001)). Trọng tâm
của các tác giả không chủ yếu là phân tích thu nhập (mặc dù nghiên cứu của các tác
giả có xem xét đến thu nhập được báo cáo) mà là về lựa chọn giữa các bản trình bày
thông tin tương đương và về hiệu ứng nội dung của các lựa chọn này đối với nhà đầu


14

tư. Vì chi phí vốn có ảnh hưởng đến quyết định đầu tư, cách tiếp cận của các tác giả
cho thấy rằng cách tiếp cận thông tin có thể ảnh hưởng đến lợi nhuận của nhà đầu tư.
Hutton, Amy, Gregory Miller, và Douglas Skinner (2003) đã kiểm định xem
nhà quản lý có đưa các thông tin bổ sung khi họ dự báo thu nhập hay không và nếu
có, các thông tin này có liên quan hệ thống đến bản chất của thông tin dự báo hay
không và liệu chúng có ảnh hưởng đến nội dung thông tin của dự báo thu nhập hay
không. Các tác giả thấy rằng các thông tin bổ sung của nhà quản lý đi kèm với thu
nhập dự đoán được trong hai phần ba thời gian xem xét. Các tác giả phân loại các
thông tin này thành các thông tin có tính không chính thức định tính và các thông tin
có tính xác minh được. Các tác giả dự đoán rằng các thông tin bổ sung của nhà quản
lý khác nhau tùy theo việc họ dự báo tin tốt hay xấu. Bởi vì tin xấu có khả năng đáng
tin cậy, các nhà quản lý ít có khả năng đưa ra các tuyên bố để thuyết phục các nhà
đầu tư về tính xác thực của tin xấu. Thay vào đó, các nhà quản lý có thể tìm cách giải
thích các tin tức thu nhập bất lợi bằng cách phân bổ hiệu suất kém cho các yếu tố
ngoài tầm kiểm soát của họ. Kết quả của các tác giả không ủng hộ dự đoán này và
cho thấy rằng xu hướng của nhà quản lý để cung cấp thông tin có tính không chính
thức là như nhau đối với dự báo thu nhập tin tức tốt và xấu. Ngược lại, bởi vì các nhà
đầu tư hoài nghi hơn về các tin tức dự báo tốt, các tác giả hy vọng rằng các nhà quản
lý có nhiều khả năng bổ sung tin tức dự báo tốt của họ với các tuyên bố có thể kiểm
chứng được. Phù hợp với điều này, các tác giả thấy rằng các nhà quản lý cung cấp
các báo cáo có thể kiểm chứng về tương lai một cách đáng kể thường xuyên hơn khi
họ thông tin các tin tức dự báo tốt hơn là khi họ thông tin các tin tức dự báo xấu. Các
mẫu công bố thông tin khác nhau cho tin tức dự báo tốt và xấu ảnh hưởng đến nội
dung thông tin của dự báo thu nhập của nhà quản lý. Mặc dù các tin tức dự báo xấu
khiến giá cổ phiếu phản ứng tiêu cực mạnh, nhưng nội dung thông tin của các tin tức
dự báo tốt phụ thuộc vào việc công bố thông tin bổ sung. Việc công bố thông tin một
cách không chính thức không ảnh hưởng đến nội dung thông tin của các dự báo thu
nhập, có lẽ vì những phát biểu này quá mơ hồ để đáng tin cậy đối với các nhà đầu tư.
Tuy nhiên, các tác giả thấy rằng các tin dự báo tốt chỉ mang tính thông tin (với các


15

phản ứng giá cổ phiếu trung bình trên 3%) khi kèm theo các báo cáo có thể kiểm
chứng được, cho thấy các báo cáo này làm tăng độ tin cậy của các tin tức dự báo tốt.
Những kết quả này là mạnh mẽ để kiểm tra cho nhiều giải thích thay thế. Nhìn chung,
bằng chứng của các tác giả mở rộng nghiên cứu trước đây về hiệu quả của các chiến
lược tiết lộ tự nguyện của nhà quản lý. Tương tự như nghiên cứu trước đây, các tác
giả thấy rằng các nhà quản lý thường bổ sung dự báo thu nhập của các công ty của
họ với các công bố thông tin khác. Tuy nhiên, các tác giả cũng thấy rằng các nhà quản
lý bổ sung tin tức thu nhập tốt và xấu theo những cách khác nhau phù hợp với nhu
cầu tăng cường độ tin cậy của tin tốt nhưng không phải là tin xấu và chiến lược này
hiệu quả trong việc tăng độ tin cậy của các tin tức dự báo tốt, mà các nhà đầu tư hoài
nghi.
Lang, Mark, và Russell Lundholm (2003) đã xem xét hoạt động công bố thông
tin của công ty cổ phần về các dịch vụ có thời hạn và mối quan hệ như thế nào với
giá cổ phiếu. Bắt đầu sáu tháng trước khi chào bán, các công ty trong mẫu nghiên cứu
đã tăng đáng kể hoạt động công bố thông tin, đặc biệt đối với các loại thông tin mà
công ty có toàn quyền quyết định nhất. Mức tăng này là đáng kể sau khi kiểm soát
hiệu suất thu nhập hiện tại và tương lai của công ty và có xu hướng lớn nhất đối với
các công ty có các cổ đông cũng tham gia chào bán. Tuy nhiên, không có sự thay đổi
về tần suất của các báo cáo kỳ hạn trước khi chào bán cổ phần, một điều gì đó không
được khuyến khích bởi luật chứng khoán. Giá cổ phiếu của các công ty mà duy trì
mức công bố thông tin thì tăng trước khi chào bán và chỉ giảm giá nhẹ tại thời điểm
thông báo chào bán cho thấy việc công bố thông tin có thể đã giảm sự bất cân xứng
thông tin vốn có trong đợt chào bán. Các doanh nghiệp cũng tăng đáng kể hoạt động
công bố thông tin trong sáu tháng trước khi chào bán cũng có giá cổ phiếu tăng trước
khi chào bán ở mức tương đối so với các công ty không tăng hoạt động công bố thông
tin, nhưng lại bị giảm giá nhiều hơn nhiều khi công bố ý định phát hành cổ phiếu, cho
thấy rằng việc tăng công bố thông tin có thể đã được sử dụng để "thổi phồng cổ phiếu"
và thị trường có thể đã điều chỉnh một phần cho việc tăng giá trước đó. Các công ty
duy trì mức độ công bố thông tin không có đặc điểm giảm giá bất thường so với các


16

công ty kiểm soát sau thông báo, trong khi các công ty "thổi phồng" cổ phiếu của họ
tiếp tục chứng kiến cổ phiếu giảm giá mạnh, điều này cung cấp thêm bằng chứng cho
thấy việc tăng công bố thông tin có thể làm giảm chi phí vốn chủ sở hữu của công ty.
Callahan, Carolyn M., và Rodney E. Smith (2004) đã nghiên cứu các thông tin
trong MD&A và phần I của báo cáo thường niên các công ty thuộc bốn ngành công
nghiệp khác nhau (ngân hàng, hàng không, dược phẩm và điện tử) có khác nhau hay
không, có liên quan đến hoạt động và định giá hoạt động trong tương lai của công ty
không. Các tác giả đã cho thấy các thông tin trong MD&A và phần I của báo cáo
thường niên cung cấp khả năng dự đoán hiệu quả hoạt động của công ty trong tương
lai và định giá thị trường trong khi kiểm soát thu nhập hiện tại và các yếu tố liên quan
khác. Kết quả của bài nghiên cứu thay đổi theo tính chất của ngành mà công ty hoạt
động. Điều này cho thấy mối quan tâm hiện tại của SEC đối với ý nghĩa trong nội
dung MD&A có thể được định hướng rõ ràng hơn cho các ngành cụ thể, ví dụ như
các ngành ngân hàng và dược phẩm. Bài nghiên cứu cũng cho thấy rằng thị trường
định giá trị cao hơn cho các doanh nghiệp trả cổ tức trước cho nhà đầu tư. Trong ngắn
hạn, các thông tin có tương quan đến hiệu quả hoạt động của công ty trong hiện tại
và tương lai và mức độ tương quan khác nhau theo từng ngành. Nhìn chung, kết quả
nghiên cứu cho thấy các chỉ số dựa trên phân tích nội dung có mối liên quan mạnh
đến hoạt động của công ty trong tương lai và giá trị thị trường khi kiểm soát thu nhập
hiện tại và các yếu tố khác.
Trong khi các nghiên cứu này thú vị, nhược điểm chính của chúng là các mẫu
nhỏ và hạn chế. Bên cạnh đó, ngoại trừ Bryan, không có nghiên cứu nào khác trực
tiếp kiểm tra nội dung của MD&A. Lưu ý đến giới hạn này, Cole và Jones (2005)
trong việc xem xét nghiên cứu liên quan đến MD&A, đã kêu gọi nghiên cứu bổ sung
thông tin trong MD&A mà sử dụng các mẫu lớn hơn và rộng hơn.
H¨ufner, Bernd (2007) nghiên cứu xem các nội dung trong MD&A được yêu
cầu bởi SEC có cung cấp đầy đủ thông tin cho các nhà đầu tư hay không. Tác giả
thực hiện trên cơ sở khái niệm nhu cầu của các nhà đầu tư về báo cáo của công ty.


17

Tác giả thấy rằng thực tế các kỳ vọng về nội dung trong MD&A cơ bản được thiết
lập dựa trên các yêu cầu đầy tham vọng, nhưng có nội dung rất chung chung và rất
lỏng lẻo. Mặc dù MD&A được sử dụng để tạo điều kiện thuận lợi cho việc dự báo
của các nhà đầu tư, quy định về MD&A bị chỉ trích vì thiếu các quy tắc dứt khoát yêu
cầu phân tích chiến lược của một công ty. Không có thông tin về mục tiêu và chiến
lược của công ty hoặc về các yếu tố thành công quan trọng của nó được yêu cầu một
cách rõ ràng, thậm chí không phải trên các tài sản vô hình đang ngày càng trở thành
nguồn kiếm tiền không thể thiếu của công ty. Ngoài phân tích tài chính và thu nhập
thông thường, MD&A không yêu cầu phân tích rõ ràng tài sản của công ty và bất kỳ
tiềm năng tạo thu nhập nào có liên quan. Đối với các nguyên tắc báo cáo theo định
hướng của nhà đầu tư, dựa trên các yêu cầu báo cáo MD&A hiện tại, chắc chắn các
công ty sẽ cung cấp báo cáo MD&A đầy đủ dự đoán, có thể dựa trên thông tin liên
quan trực tiếp hoặc gián tiếp. Vì quy định MD&A của SEC chỉ tình cờ phục vụ nhu
cầu thông tin của nhà đầu tư để hoàn thành nhiệm vụ dự báo của họ. Việc thiếu định
hướng phụ thuộc lẫn nhau của việc công bố thông tin trong MD&A bắt buộc là đáng
chú ý. Dựa trên cơ sở thông tin được yêu cầu của SEC, nhà đầu tư có thể không đạt
được những dự đoán cần thiết. Bất chấp mọi lời chỉ trích, việc SEC yêu cầu bổ sung
trong kế toán tài chính thông tin có tính dự đoán và chất lượng phân tích về điều kiện
tài chính của công ty và khả năng kiếm tiền có vẻ phù hợp về mặt kinh tế. Tuy nhiên,
việc chuyển đổi ý tưởng này thành các quy tắc cụ thể vẫn chưa được thuyết phục,
ngay cả khi các quy tắc chú ý đến các yêu cầu bảo vệ của công ty tránh việc tiết lộ
thông tin quá chi tiết. Hơn nữa, hướng dẫn của MD&A trong “thời đại hậu Enron”
gây ra mối quan ngại: vì MD&A dường như ngày càng định hướng tránh sự xuất hiện
của “những phát biểu sai lầm” kể từ khi có nhiều vụ bê bối kế toán xảy ra. Một
MD&A được tăng cường bởi các thông tin như vậy sẽ làm giảm mục đích thực sự
của MD&A cho các nhà đầu tư, tức là cung cấp thông tin hữu ích về dự báo.
Đại hội đồng cổ đông được tổ chức cùng với việc công bố thu nhập của công
ty đã trở nên ngày càng phổ biến trong những năm gần đây, nhưng có rất ít bằng
chứng liên quan đến những lý do mà các cuộc họp này tăng dần về lượng cung cấp


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×