Tải bản đầy đủ

Ammonia phát thải từ các nguồn phi nông nghiệp ở vương quốc anh

CHƯƠNG 1: Tổng quan về ammoniac
Nguồn gốc:
Hiện nay NH3 vẫn được sử dụng nhiều nhất trong sản xuất phân bón và một số hoá
chất cơ bản. Trong đó lượng sử dụng cho sản xuất phân bón (cả dạng rắn và lỏng)
chiếm phần lớn, đến trên 80% sản lượng NH3 toàn thế giới và tương đương với khoảng
1% tổng công suất phát năng lượng của thế giới. Bên cạnh đó NH 3 vẫn được sử dụng
trong công nghiệp đông lạnh (sản xuất nước đá, bảo quản thực phẩm, v.v...), trong các
phòng thí nghiệm, trong tổng hợp hữu cơ và hóa dược, y tế và cho các mục đích dân
dụng khác. Ngoài ra trong công nghệ môi trường, NH 3 còn được dùng để loại bỏ khí
SO2 trong khí thải của các nhà máy có quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch (than, dầu) và
sản phẩm amoni sunfat thu hồi của các quá trình này có thể được sử dụng làm phân
bón. NH3 cũng được dùng theo công nghệ khử chọn lọc (selective catalytic reductionSCR) với xúc tác chứa vanađi để loại chất ô nhiễm NOx trong khói động cơ.
Trong nước mưa, nước biển người ta cũng phát hiện thấy có NH 3 và các các muối
amoni.Hoạt động của núi lửa cũng là nguồn sinh ra muối amoni (như amoni clorua
NH4Cl và amoni sunfat (NH4)2SO4).Tại một số vùng khoáng chứa sôđa, người ta cũng
thấy có các tinh thể amoni bicacbonat NH4HCO3.Các hoạt động sinh hóa hàng ngày
của người và động vật cũng là nguồn sinh ra NH3.
1.2.
Ảnh hưởng đến con người
Độc tính của NH3 tùy thuộc vào nồng độ của chất này. Thông thường, người ta ít
khi đặt ra vấn đề về “độ độc” của amoniac đối với động vật và người do trong cơ thể

của người và động vật có tồn tại một cơ chế, nhờ đó ngăn cản hiện tượng tích tụ NH3
trong máu. Kết quả nghiên cứu cho thấy trong máu NH3 chuyển thành cacbamonyl
phôt phat do có sự tác động của enzym tổng hợp “carbamoyl phosphate synthetase” và
amoniac sẽ đi vào “chu trình urê” của cơ thể để chuyển thành các amino axit hoặc bị
thải ra duới dạng nước tiểu. Cá và các loài lưỡng cư không có cơ chế này nhưng có thể
thải NH3 dư thừa bằng cách bài tiết trực tiếp. NH3 hòa tan trong nước khi ở nồng độ
cao sẽ gây độc cho các sinh vật thủy sinh, nhưng trong trường hợp này NH 3 lại chỉ
được phân loại là “chất gây độc hại môi trường”. Dung dịch amoniac loãng trong
nước (dùng trong mục đích dân dụng như rủa kính, dùng trong phòng thí nghiệm,
v.v…) có khả năng bốc hơi làm kích thích niêm mạc (mắt, mũi). Khi cùng có mặt các
sản phẩm chứa clo (thuốc tẩy), hơi amoniac có khả năng tạo ra cloramin độc hại có khả
năng gây ung thư. Dung dịch NH3 nồng độ cao có thể có thể kích thích và gây tổn
thương da, niêm mạc, đặc biệt là mắt và hệ thống hô hấp. Tùy theo nồng độ mà tác
động độc hại là khác nhau.
1.1.

1


Liên hiệp Châu Âu (EU) đã có quy định phân loại các dung dịch này như sau:

Nồng độ

Khối lượng riêng Phân loại độc hại

Mức độ
nguy
cấp

5–10%
(2.87–5.62
mol/l)

48.9–95.7 g/l

Kích thích (Xi)

R36/37/
38


10–25%
(5.62–13.29
mol/l )

95.7–226.3 g/l

Gây ăn mòn (C)

R34

>226.3 g/l

Gây ăn mòn (C)
R34,
và ảnh hưởng đến môi
R50
trường (N)

>25%
(>13.29 mol/l)

NH3 khan (điển hình là amoniac lỏng) được xếp vào loại hóa chất “độc” (toxic), đó
là chưa kể tới những nguy hiểm và sự cố do áp suất cao gây ra, đồng thời chất này
cũng là chất có khả năng gây ô nhiễm mạnh môi trường.
Trong không khí có lẫn hơi NH3, tùy theo nồng độ, mà người và động vật sẽ bị ảnh
hưởng ở các mức độ khác nhau. Người ta đã phân loại giới hạn nồng độ của NH 3 tác
động đến sức khỏe con người như sau:
Hiện tượng

Nồng độ, ppm

Phát hiện thấy có mùi

5

Dễ dàng phát hiện mùi

20-50

Gây khó chịu và ảnh hưởng đến sức khỏe khi tiếp xúc lâu

50-100

Gây chảy nước mắt kể cả khi tiếp xúc trong thời gian ngắn

150-200

Kích thích mắt, mũi, khó thở kể cả khi tiếp xúc trong thời gian 400-700
ngắn
Ho, co thắt cuống phổi

1.700

Nguy hiểm đến tính mạng kể cả tiếp xúc dưới 30 phút

2.000-3.000

Phù, ngẹt thở, ngạt và nhanh chóng tử vong

5.000-10.000
2


Chết lập tức

Trên 10.000

Tổ chức Quản lý An toàn và Sức khỏe nghề nghiệp Hoa Kỳ (OSHA) đã có quy
định giới hạn thời gian phơi nhiễm NH 3 trong không khí xung quanh tối đa 15 phút đối
với NH3 khi nồng độ 35ppm (thể tích); 8 giờ đối với NH 3 khi nồng độ 25ppm. Khi hít
phải NH3 nồng độ cao có thể bị tổn thương phổi và chết.
NH3 hiện tạikhông được xếp vào loại chất có khả năng gây ung thư hoặc thường
cũng không được đưa vào danh sách các chất độc.

3


CHƯƠNG 2: Các nguồn phát thải ammoniac phi nông nghiệp ở Vương Quốc Anh
Acmonia phát thải từ các nguồn phi nông nghiệp ở vương quốc Anh

M.A. Sutton*, U. Dragosits, Y.S. Tang, D. Fowler
Institute of Terrestrial Ecology, Edinburgh Research Station, Bush Estate, Penicuik,
Midlothian EH26 0QB, Scotland, UK
Received 12 January 1999; received in revised form 21 July 1999; accepted 5 August 1999
Tóm tắt:
Bài báo này là tài liệu tổng hợp tất cả các chi tiết về hàm lượng phát thải ammonia (NH 3)
từ nguồn phi nông nghiệp ở Vương Quốc Anh. Điểm chính của nghiên cứu bao gồm ước
lượng nitơ ( N ) bài tiết qua các nguồn khác nhau (chim, động vật , trẻ sơ sinh, mồ hôi con
người ), nghiên cứu các nguồn đốt nhỏ lẻ khác , cũng như xác định các nguồn công nghiệpvà
sử dụng NH3 như một dung môi . Nhìn chung, tổng NH3 phát thải phi nông nghiệp từ Vương
quốc Anh năm 1996 được ước tính ở đây như sau 54 (27-106 ) kt NH3- N/năm , mặc dù điều
này bao gồm 11 (6-23) kt/năm từ một số nguồn liên quan đến nông nghiệp (phơi bùn, đốt sinh
khối, công nghiệp liên quan đến nông nghiệp). So với con số ước lượng trước năm 1990 ,
nguồn, thành phần, độ lớn đều đã thay đổi vì lượng khí thải trung bình trên một đơn vị nguồn
phát thải ( hệ số phát thải ) đã tăng lên, và sự thay đổi trong nguồn phát thải từ năm 1990 đến
năm 1996. Những nguồn với các yếu tố phát thải trung bình lớn hơn so với trước đây bao
gồm ngựa, động vật hoang dã và chim biển, ngành công nghiệp, chế biến củ cải đường, sản
phẩm gia dụng và sử dụng phân bón phi nông nghiệp. Những nguồn được cho là có hệ số phát
thải thấp hơn trước đây bao gồm: bùn thải của đất mở rộng, khí thải trực tiếp của con người
(mồ hôi , hơi thở , hút thuốc lá), vật nuôi (chó và mèo) và sản xuất phân bón. Giữa năm 1990
và 1996, các nguốn phát thải tăng có nguồn nước thải (do giảm đổ thẳng ra biển) và giao
thông vận tải (do tăng sử dụng chuyển đổi xúc tác) , nhưng phát thải giảm ở nguồn đốt than.
Kết hợp với các ước tính hiện tại ở Vương quốc Anh NH3 phát thải do nông nghiệp là 229 kt
N/năm (1996), tổng lượng phát thải NH3 Vương quốc Anh được ước tính 283 kt N/năm.
Lượng Nito (NHX) đầu vào giảm 30 kt N/năm và 230 kt N/năm không bay hơi, phát thải ra
83 kt NH3-N/năm. Mặc dù phát thải là lớn hơn so với dự đoán trước đây do lượng phát thải
NH3 ngày càng lớn từ hoạt động phi nông nghiệp, nó gây mất cân bằng phát thải ở Vương
quốc Anh, khoảng 150 kt NH3-N. Tuy nhiên, sự thiếu hụt trong cân bằng phát thải cũng trong
phạm vi ước lượng không chính xác của tổng lượng khí thải.
1. Giới thiệu
Nguồn phát thải chính NH3 vào khí quyển là bay hơi từ phân hủy chất thải gia súc,
nguồn chính thứ hai là thất thoát từ các nhà kính trồng cây nông nghiệp, đặc biệt sau
khi dùng phân bón N. Ở Anh, người ta đã ước tính rằng chúng chiếm khoảng 85% tổng
phát thải NH3.Vì lý do này, và hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm kiểm tra khí thải
4


NH3 đều xoay quanh các nguồn nông nghiệp. Định lượng tầm quan trọng của các
nguồn phi nông nghiệp lại càng không chắc chắn hơn, bên cạnh đó, nguồn phát thải
quá nhiều và đa dạng, trong khi số liệu thực nghiệm lại ít.
Mặc dù không chắc chắn, ước tính nguồn NH3 phi nông nghiệp đã trở thành đề tài
được tranh luận kể từ dự toán phát thải không khí đã cho rằng hiện vẫn tồn tại một
lượng ước tính phát thải làm mất cân bằng lắng đọng và vận chuyển khí quyển, 1987.
Nguồn Amoniac phi nông nghiệp do đó đã được gửi đi nghiên cứu để có thể cung cấp
các nguồn còn NH3 còn thiếu. Ước tính gần đây của Vương quốc Anh bao gồm những
của Eggleston (1992) của 63 kt NH3-N/năm và Lee và Dollard (1994) của 56-60
kt/năm, cả năm 1990, tương đương một phát thải của 1 kg NH3-N/đầu người mỗi năm.
Nghiên cứu tổng hợp này và các dữ liệu trên nguồn phi nông nghiệp, Sutton và cộng
sự (1995) ước tính tổng cộng 38 (14-73) kt N/năm. Ước lượng nhỏ hơn sau nghiên cứu
phản ánh hệ số phát thải từ nguồn được coi là giảm đáng kể, trong khi thừa nhận một
cách không chắc chắn rằng con số này đã từng rất lớn.
Các nghiên cứu cập nhật hiện tại và mở rộng ước tính phát thải NH3 phi nông
nghiệp của Sutton và cộng sự (1995) trên quy mô toàn Vương quốc Anh cho năm cơ
sở 1996. Tập trung vào tìm nguồn phát thải trong quốc gia, nghiên cứu này cung cấp
các nhân tố phát thải từ nguồn phi nông nghiệp. Những giới hạn không chắc chắn được
cung cấp dựa trên phương pháp của Sutton và cộng sự (1995) rằng trong hầu hết các
trường hợp giới hạn hợp lý với các dữ liệu đầu vào hơn là cung cấp một phương pháp
thống kê chính xác. Phơi bùn thải, đốt sinh khối và ngành công nghiệp từ nông nghiệp
được liệt kê sau đây thông thường không bao gồm hàng nông nghiệp, và có mối liên hệ
rõ ràng với các nguồn khác. Các phần chi tiết sau từ các nguồn khác nhau được đính
kèm với một bản tóm tắt các nguồn và so sánh các phát minh gần đây khác.
2. Nguồn phát thải NH3 trực tiếp từ con người
Khí thải NH3 trực tiếp từ con người (ngoại trừ nước thải ở phần 6) từ hơi thở, mồ
hôi và bài tiết trẻ sơ sinh.Amoniac từ hút thuốc lá cũng nằm trong nhóm này.
2.1. Phát thải NH3 thoát ra từ mồ hôi của con người
Khí thải amoniac thoát ra từ mồ hôi của con người lần đầu tiên được đề cập bởi
Healy và cộng sự (1970), ông ước tính bằng cách giả định thủy phân hoàn toàn và bay
hơi urê trong mồ hôi, ước tính khoảng 0,26 kg N/người.năm. Ước tính này sau đó đã
được sử dụng làm cơ sở phát thải mồ hôi bởi Cass và cộng sự (1982), Eggleston (1992)
và Lee và Dollard (1994). Một ước tính phát thải nhỏ hơn được đề xuất bởi Sutton và
cộng sự. (1995), ông cho rằng chỉ có 20% bay hơi. Áp dụng tương tự như ước lượng N
tổng bài tiết (Altman và Dittmer, 1968; Warn và cộng sự, 1990), các nghiên cứu mới
nhất đã cung cấp hệ số phát thải 0,04kg NH3- N/người.năm.
Các chứng minh chính cho thấy NH3 phát thải từ mồ hôi (cũng như hơi thở, xem
dưới đây) đã được coi là làm tăng nồng độ NH3 trong nhà (Atkins và Lee, 1993; Tidy
5


và Cape, 1993). Tuy nhiên, cần lưu ý rằng, do sự thiếu hụt của các phép đo tỷ lệ thông
gió trong phòng, những nghiên cứu này không được sử dụng để tính toán hệ số phát
thải thông qua. các điểm mấu chốt cơ bản tất cả các ước tính của phát thải NH3 trong
mồ hôi, theo ước tính của Healy và các cộng sự. (1970) họ chỉ đơn giản cho rằng 5%
của tổng N bài tiết thông qua mồ hôi. Từ đó cải thiện chỉ N hôi bài tiết qua mồ hôi và
do đó tập trung để giảm sai số. Trong hai thí nghiệm nghiên cứu Czarnowski và đồng
nghiệp (1995) và Columbani và đồng nghiệp (1997) đo N bài tiết qua mồ hôi khi tập
thể dục. Columbani và đồng sự (1997) cho thấy sự bài tiết tỷ lệ 140, 30 và 10 mg
N/người.giờ tương ứng với urê, Axit NH3 và amin. Những giá trị này được hỗ trợ bởi
các số đo của Czarnowski và cộng sự (1995), kết quả cho thấy NH3 có tỷ lệ bài tiết
của
23
và 31 mg N/giờ tương ứng với các đối tượng trên bình thường và ăn nhiều protein.
Dựa trên những kết quả này, tổng N bài tiết qua mồ hôi của 180 (100~ 400) mg
N/người.giờ đã được thừa nhận, với sự sai số trong tổng hợp của Columbani và cộng
sự (1997).
Thông tin tần số tập thể dục ở Vương quốc Anh được cung cấp bởi OPC (1994), có
thể được sử dụng để tìm ra thời gian tập thể dục trung bình 2,2-4,3 giờ/người.tuần. Số
giờ đổ mồ hôi trong một tuần là số liệu không chắc chắn do các nguyên nhân khác,
chẳng hạn như bài tập và nhiệt độ lúc tập. Trong dự toán hiện nay, người ta chấp nhận
giả định tương đương với khoảng 7 giờ tập thể dục, cung cấp tổng cộng 10 giờ đổ mồ
hôi/người (Bảng 1). N bài tiết mồ hôi hàng năm được ước tính là 94 (42-250) g
N/người.năm, nhỏ hơn ước tính trước đó của Healy và cộng sự (1970). Trong Bảng 2a
có sự phân biệt giữa quá trình thủy phân và bay hơi của N bài tiết, cung cấp một mức
phát thải của 14 (2-75) g NH3-N/người.năm, số liệu chắc chắn hơn ước tính của Sutton
và cộng sự (1995).
2.2. Phát thải NH3 từ hơi thở con người
Khí thải từ hơi thở của con người được ước tính là nhỏ hơn nhiều so với mồ hôi của
con người. Lee và Dollard (1994) tính toán và phỏng đoán khoảng 0,1 kt NH3-N/năm ở
Vương quốc Anh, điều này cũng được thừa nhận bởi Sutton và cộng sự. (1995). Hơn
nữa, những số liệu mới cập nhật ước tính này, với một số tác giả công bố nồng độ NH3
trong hơi thở của con người. Các ước tính đáng tin cậy nhất (từ lấy mẫu hoàn chỉnh khi
thở ra) là của Davies và cộng sự.(1997), người đã tính toán trung bình của 682 µg
NH3/m3 trong hơi thở với một phạm vi từ 302 µg/m3 (sau khi nhịn ăn) đến 1278 µg/m3
(sau bữa ăn giàu protein). Các phép đo khác được báo cáo của Moskalenko và cộng sự
(1996) tại 71-178 µg/m3 có thể thấp do lấy mẫu gián tiếp NH3 thở ra, trong khi Nielsen
và các cộng sự (1997) báo cáo một giá trị 2000 µg/m3, mặc dù không có chi tiết đã
được đưa ra. Các giá trị của Davies và cộng sự (1997) so sánh tốt với các phép đo
6


trước đó của Nefedov và cộng sự (1969), người đã ước tính nằm trong khoảng 560 và
760µg/m3 cho người hút thuốc và không hút thuốc lá. Nghiên cứu mới nhất này và
những người lưu ý khác dưới đây cho thấy hơi thở của người hút thuốc lá không có
những dấu hiệu nhiều NH3 hơn người không hút thuốc. Mức độ hơi thở thay đổi rất
nhiều tùy thuộc vào thời lượng tập thể dục, từ 5-10 L/phút lúc nghỉ (Green,1972;
Taverner, 1983; Clancy và McVicar, 1995) 50-100 L/phút khi tập thể dục (Green,
1972; Clancy và McVicar, 1995). Ước tính trung bình của 10 (8-14) L/phút được áp
dụng ở đây. Trung bình NH3 phát thải qua hơi thở (Bảng 1) ước tính khoảng 3 (1-8) g
NH3-N/người.năm, kết quả từ dữ liệu của Vương quốc Anh 0.17 (0.06-0.45) kt NH3N/năm. Mặc dù lớn hơn so với ước tính trước đó, rõ ràng đây không phải là một nguồn
chính của khí thải NH3 khu vực.
Bảng 2: phát thải NH3 qua bài tiết mồ hôi và qua hơi thở
Giá trị thấp Giá trị cao
Giá trị tốt nhất
Ghi chú
nhất
nhất
N bài tiết qua mồ hôi (mg
Columbani và cộng
180
100
400
N/người.giờ)
sự 1997
Thời gian đổ mồ hôi
10
8
12
Sai số 50%
(giờ/tuần)
N bài tiết qua mồ hôi (g
Giá trị cao nhất
N/người.năm)
93,6
41,6
249,6
tương đồng với
Healy 1970
% N trong mồ hôi thủy
75%
50%
100%
phân
% NH3 bay hơi trong mồ
Một ít mồ hôi hấp
20%
10%
30%
hôi
thu vào áo quần
NH3
bay
hơi
14,04
2,08
74,88
(gN/người.năm)
Phát thải NH3 qua mồ hôi ở
0,82
0,12
4,39
UK (kt NH3-N/năm)
Nồng độ khí thở ra µg/m3
682
302
1278
Davies và cộng sự
1997
Lưu lượng khí thở L/phút
10
8
14
Phát thải qua khí thở (g 3,0
1,0
7,7
NH3-N/người.năm)
Phát thải NH3 qua khí thở 0,173
0,061
0,454
tại UK (kt NH3-N/năm)

2.3.

Phát thải NH3 từ thuốc lá

7


Một số nghiên cứu đã đo lượng khí NH3 từ thuốc lá. Warn và các cộng sự (1990)
ước tính 0,16 mg NH3-N/điếu thuốc lá, đó là kết quả của hai nghiên cứu ngắn hạn. Gần
đây nhất là Cole và Martin (1996) công bố một cuộc khảo sát rộng rãi hơn của 5
thương hiệu thuốc lá sử dụng một máy hút thuốc cho trung bình là 6,2 mg NH3~ N
thuốc lá -1. Tuy nhiên, nghiên cứu chi tiết nhất đã được thực hiện, gần đây Martin và
cộng sự (1997) người khảo sát lượng khí thải của các chất hóa học trong 50 thương
hiệu thuốc lá dùng phương pháp: một người hút thuốc trong một buồng kiểm tra môi
trường, đã công bố rằng: Giá trị của các kết quả của Martin và cộng sự (1997) là số
liệu đáng tin cậy nhất và cũng là số liệu giữa các ước tính khác ở mức 3,4 mg NH3N/điếu thuốc. Lỗi giới hạn ở đây là 1.7-6,2 mg/điếu thuốc. Trung bình Anh tiêu thụ
5200 điếu thuốc lá/năm (OPC, 1994), ước tính dân số 11,3 triệu (có nguồn từ OPC,
1994;ONS, 1997). Nó cung cấp tổng cộng 0,2 (0,1-0.4) kt NH3-N/năm cho Vương
quốc
Anh,
điều
này

lẽ
khá
đáng tin cậy với các thành phần NH3 phát thải ước tính từ con người.
2.4.
Phát thải NH3 từ trẻ sơ sinh
Đôi khi người ta hay đề cập đến vấn đề: bài tiết N từ trẻ sơ sinh có thể là một
nguồn không thể thiếu phát thải NH3, khí thải từ nước tiểu trong tã lót không đi vào hệ
thống nước thải và có thể thủy phân khiến cho nồng độ NH3 trong nhà cao (Atkins và
Lee, 1993; Lee và Dollard,1994). Mặc dù vậy, chưa có bất kì ước tính định lượng khí
thải NH3 từ trẻ sơ sinh nào được thực hiện. Hướng dẫn về lượng khí thải này có thể
được thực hiện bằng cách sử dụng ước tính N bài tiết, và giả định liên quan đến các
phần của bài tiết N đó là thủy phân NH3 và bay hơi. Dữ liệu âm thanh trên tỷ lệ bài tiết
trẻ sơ sinh đã được thực hiện, bởi Jackson và các cộng sự. (1981) và Steinbrecher và
các cộng sự (1996) báo cáo tương ứng 87 và 198 mg urê-N/kg.ngày. Chúng được sử
dụng ở đây để cung cấp giới hạn sai sót, với trung bình của 142,5 mg N/kg.ngày. Nó
được giả định rằng tã lót chỉ dùng đến 3 tuổi, giảm sử dụng vào lúc này (Bảng 2). Điều
không chắc chắn nhất chính là tỷ lệ N bài tiết đã thất thoát vào khí quyển. Một nghiên
cứu chính thức về NH3 từ tã lót cho rằng lượng khí thải từ tã lót dùng một lần ít hơn tã
lót giặt lại, và cần lưu ý rằng <5% trẻ sơ sinh trong vương quốc Anh vẫn sử dụng tã
lót có thể giặt được. Rõ ràng là hầu hết các bài tiết N vẫn còn trong tã lót và bay hơi
với tỷ lệ 3% (1-10) là không hợp lý. Sử dụng những con số này, kết luận chính từ Bảng
2 là điều này đại diện cho một nguồn rất nhỏ của khí thải NH3 trên cả Vương quốc
Anh ở 0.03 (0.01-0.14) kt NH3-N/năm.
Bảng 3: phát thải NH3 từ trẻ sơ sinh
Giá trị tốt
Giá trị thấp
Giá trị cao
Ghi chú
nhất
nhất
nhất
Jackson 1981,
Bài tiết N (mg ure-N/kg.ngày)
142,5
87
198
steinbecher 1996
8


Bài tiết N qua nước tiểu hàng
năm <1 tuổi (kg/trẻ.năm)
Bài tiết N qua nước tiểu hàng
năm 1-3 tuổi (kg/trẻ.năm)
% N bay hơi <1tuổi
% N bay hơi 1-3tuổi
Phát thải NH3 <1 tuổi (g NH3N/trẻ.năm)
Phát thải NH3 1-3 tuổi (g NH3N/trẻ.năm)
Phát thải NH3 từ trẻ em trên toàn
UK (t NH3-N/năm)

Cân nặng trung
bình 7,5kg
Cân nặng trung
bình 12,5kg

0,39

0,24

0,54

0,65

0,40

0,90

3
2

1
1

10
8

11,7

2,4

54,2

Trên 734,000 trẻ

14,6

3,0

67,8

Trên 1,468,000
trẻ

30,1

6,1

139,2

3. Ngựa và vật nuôi
3.1. Phát thải NH3 từ ngựa

Mặc dù ngựa không thường được sử dụng như động vật nông nghiệpở Anh, chúng
vẫn tồn tại với một số lượng lớn chủ yếu cho thú vui cưỡi ngựa và đua xe. ApSimon
cộng sự (1987) công bố ước tính phát thải NH3 từ ngựa trên cả nước Anh, được dựa
trên một hiệu suất cuộc đua ngựa (ApSimonpers. comm. 1993), tại 31,6 kg NH3N/con.năm. Ước tính cho thú vui cưỡi ngựa cho thấy từ 8 kg N/con.năm (Buijsman và
cộng sự, 1987) và 15,0 kg N/con.năm (Mok ller và Schieferdecker,1989). Các ước tính
khác là Asman và van Jaarsveld (1992) (10.3), ECETOC (1994) (9.8). Sutton và cộng
sự (1995) áp dụng giá trị trung bình của 10 (5-20) kg NH3-N/con.năm, và điều này
cũng
được
áp
dụng
cho
thú
cưỡi
ngựa.
Có những dấu hiệu khá rõ ràng liên quan đến ngựa đua, và nó có liên quan để phân
biệt chúng với những con ngựa khác. Trọng lượng cơ thể con ngựa đua trung bình 500
kg và hàng ngày lượng thức ăn là 2,5% trọng lượng cơ thể (Hanson và cộng sự, 1996),
và giả sử nó tiêu thụ N 3%, và chiếm phần trong N tổng của động vật 137 kg N/năm.
Bằng phép so sánh với các gia súc, khoảng 25% trong tổng số bài tiết N dự kiến để
được bay hơi như NH3 (Sutton và cộng sự, 1995; Pain và cộng sự, 1998). Với sự ước
tính không chắc chắn, điều này cho ta biết một cuộc đua ngựa của 33,7 (15-40) kg
NH3-N/con.năm rất gần với ước tính của ApSimom và cộng sự (1987). Nhìn chung,
tổng số ước tính Vương quốc Anh ngựa NH3 phát thải là 7,5 (3,5-12.7) kt NH3-N/năm,
với khoảng 30% xuất phát từ những con ngựa đua.
3.2. Phát thải NH3 từ chó
Dự toán thường xuyên nhất của khí thải NH3 từ chó bắt nguồn từ công trình của
Cass và các cộng sự (1982) trong 2.07 kg NH3-N/con.năm. Điều này tạo cơ sở cho các
ước tính của Eggleston (1992) và Lee và Dollard (1994). Ngược lại, Sutton và cộng sự
(1995) cho rằng những điều trên đánh giá quá cao lượng khí thải; Cass và cộng sự
9


(1982) cho rằng 90% nước tiểu bài tiết N sẽ bay hơi, mà là lớn hơn nhiều so với gia
súc nông nghiệp. Giả định rằng 36% nước tiểu N sẽ bay hơi (tương tự gia súc, tương
đương bay hơi khoảng 25% tổng N bài tiết, Sutton và cộng sự (1995) ước tính một tỷ
lệ phát thải cho chó là 0,81 kg NH3-N/con.năm. Dữ liệu gần đây của Egron cộng sự
(1996) đã chỉ ra rằng một lượng rõ ràng NH3 cũng có mặt trong phân (ngoài hữu cơ N),
thuộc đối tượng bốc hơi. Tổng bài tiết nước tiểu N (Cass và cộng sự, 1982) và phân
NH3 (Egron và cộng sự, 1996) được ước tính 2,6 kg N/con.năm. So sánh các phát thải
NH3 khả năng phát thải % N trong phân cừu và gia súc cho thấy tỷ lệ tổn thất nhỏ hơn
cho động vật chuyển vùng tự do, chẳng hạn như cừu, so với loài động vật như gia súc
cư trú trong nhà và chứa chất thải. Với quan niệm như vậy, 25% tỷ lệ bay hơi của N
tổng (hoặc 36% N có sẵn) giả định của Sutton và cộng sự (1995) có thể là quá cao, và
nó được thực hiện ở đây như một ước tính quá mức, với tỷ lệ sự bay hơi ở cừu (Pain
cộng sự, 1998) thực hiện dự toán thấp hơn (Bảng 3). Trung bình lượng khí thải NH3
của chó ước tính 0,6 (0,3-0.9) kg NH3-N/động vật, có nghĩa là 4.4 (2.1-7.0) kt NH3N/năm trên toàn Vương quốc Anh.
3.3. Phát thải NH3 từ mèo
Amoniac từ mèo được ước lượng của Cas và đồng sự (1982) trong 0,66 kg
N/con.năm, một lần nữa giả định 90% bay hơi bài tiết N (ước tính0,73 kg N/con.năm
cho một con mèo nhỏ 2,5 kg). Giá trị này hình thành từ các cơ sở dự toán của
Eggleston (năm 1992) và Lee và Dollard (1994). Ngược lại, Sutton và cộng sự (1995)
lại áp dụng một tỷ lệ bay hơi nhỏ hơn, ở mức 18% của bài tiết N, vì người ta cho rằng
50% phân sẽ được chôn lấp. Theo cách tiếp cận tương tự được sử dụng cho chó trong
Bảng 3, phát thải từ mèo được tính ở đây sử dụng các ước tính được cập nhật.
Hendriks và cộng sự (1997) công bố số liệu nước tiểu của một con mèo có chế độ an
uống bình thường là 500 mg/kg trọng lượng cơ thể.năm, trong đó lấy 1 ví dụ điển hình
là con mèo 5 kg tương đương với 0.91 kg tiết niệu N/con.năm. Amoniac ước tính là
0,11 (0,05-0,16) kg NH3-N/con.năm, trên toàn Vương quốc Anh là 0,9 (0,4-1.3) kt
NH3-N/năm.
4. Phát thải ammoniac từ động vật hoang dã và chim biển
Dữ liệu của khí thải từ các nguồn nông nghiệp hiển thị % tổn thất lớn hơn bay hơi
theo tỷ lệ nguồn lớn. Vì vậy % hao hụt lớn do đó được là từ gia cầm nuôi, nơi chất thải
được thu gom lại với nhau, trong khi % tổn thất nhỏ hơn được là từ cừu ăn cỏ. Các cơ
sở vật chất là một phần lớn hơn của khí thải có thể giữ lại trong đất và thực vật cho các
cá thể nhỏ hơn nguồn. Bằng cách lý luận này, người ta cho rằng lượng khí thải từ động
vật hoang dã phân tán nhỏ được coi là không đáng kể, với hầu hết phát thải đều từ các
nhà kính trồng cây. Các ước tính hiện tại do đó chỉ xem xét lượng khí thải từ sinh vật
ngoại lai hoặc sinh vật bản địa. giá trị của hươu và chim biển (Sutton và cộng sự,

10


1995) được đánh giá lại, các ước tính mới được thực hiện cho lửng, cáo, mèo hoang và
thỏ.
4.1. Phát thải NH3 từ động vật hoang dã
Sutton và cộng sự (1995) ước tính lượng khí thải từ hươu đỏ (0,9 kg N/động
vật.năm), giả định tỷ lệ phát thải 2,5 lần so với một con cừu dựa trên tì lệ chăn thả khác
nhau. Nếu ước tính này được cập nhật cho các ước tính hiện tại của khí thải từ cừu
(Pain và đồng sự, 1998), sau khi chỉnh sửa sẽ có 1,23 kg N/con.năm. Các loại nai khác
cũng có thể được nghiên cứu, thực hiện nghiên cứu trên 2 con nai lớn tách biệt, tương
đương với 2,5 cừu (đỏ, Sika và hươu hoang), nai nhỏ, tương đương với 1 con cừu (roe,
muntjak). Cho 471.000 và 540.650 tương ứng vơi nai lớn và nhỏ (Yalden, 1998), và
giả sử hệ số 2 không chắc chắn, nó đưa ra số liệu của Vương quốc Anh là 0,8 (0,4-1.6)
kt NH3-N/năm. Mặc dù lượng khí thải từ động vật nhỏ như thỏ được xem là không
đáng kể, nhưng lại chiếm phần lớn trong tổng phát thải, không thể chối bỏ rằng có một
số lượng lớn thỏ ở Anh. Sự kết hợp số lượng thỏ nhà và thỏ rừng ở Anh ước tính đạt
38,7 triệu, xấp xỉ 50% (DOE, 1996). Về tỷ lệ chăn thả và bài tiết, khoảng 14 thỏ tương
đương với 1 con cừu (H. Armstrong, Scotland. Di sản thiên nhiên, pers. comm.). Đối
chiếu với ước tính tốt nhất hiện nay của của khí thải cừu (Pain cộng sự, 1998), giả định
rằng tỷ lệ % bay hơi là một nửa của cừu, thỏ phát thải NH3 được ước tính ở mức 17
(8,6-34) g NH3-N/con.năm. Từ đó, ta có 0,68 (0.17-2.1) kt NH3-N/năm trên toàn
Vương quốc Anh. Một lượng nhỏ từ các động vật hoang dã lớn khác có thể được thêm
vào lượng khí thải thỏ như: mèo hoang, lửng và cáo, tương ứng chúng có khoảng 810,
250 và 240 nghìn mỗi loài ở Anh. (DOE, 1996). Ước lượng mèo hoang cũng giống
như mèo nội địa, trong khi dự toán cho con lửng và cáo giả định một tỷ lệ phát thải
50% (30-70%) với một con cứu, cho 0.24 (0.15-0,34) kg NH3-N/con.năm. Tổng phát
thải Vương quốc Anh cho các loài này được ước tính là 0.22 (0.07-0.48) kt NH3N/năm.
4.2.

Phát thải NH3 từ loài chim biển địa phương
Sutton và cộng sự. (1995) ước lượng phát thải NH3 từ các loài chim biển địa
phương là 0.3 kg NH3~ N chim -1 với các loài chim lớn (gannets, shags, chim cốc) và
0,1 kg chim -1 năm -1 cho các loài chim điạ phương khác. Số lượng chim được lấy từ
các ước tính của những năm 1970, trong khi tỷ lệ phát thải dựa trên tương đồng cũa gia
cầm được nuôi. Thông tin gần đây cho thấy hai điều: số lượng chim biển đã tăng lên
đáng kể và ước lượng phát thải của chúng là quá nhỏ. Bõttcher (1996) đã thực hiện
một nghiên cứu đầu tiên về nồng độ NH3 và tỷ lệ phát thải trên loài chim bản địa
Gannet, ở trung tâm vùng Scotland, nơi có xấp xỉ 50.000 cá thể. Tỷ lệ bài tiết dựa trên
quá trình chuyển hoá lớn hơn đối với gia cầm nuôi, và ước tính tại 3.08 kg N/con.năm
11


trên một loài bản địa. Giá trị trung bình nồng độ khí NH3 đo tại địa điểm: 806 (301330) µg/m3 từ mẫu hàng tháng trong khi mật độ chim cao nhất. Sử dụng mô hình
phân tán nồng độ các khí được tìm thấy là phù hợp với lượng khí thải của 83% của N
thải ra trên các loài bản địa. Tiếp tục đo, sau khi một số loài chim rời đi, cung cấp nồng
độ nhỏ hơn lên đến 300µg/m3, cho thấy rằng lượng khí thải có thể là nhỏ hơn vào các
điểm thời gian khác, mặc dù một số mẫu không cho số liệu chính xác với các phép đo
sau này. So sánh với mức độ khí thải của các loài chim nuôi như gà tây, dưới mức độ
quản lý phát thải với phân không khô, có nghĩa tỷ lệ phát thải khoảng 70% N bài tiết
(Pain và cộng sự, 1998;. Pain, pers. comm. 1998), và điều này cung cấp một số hỗ trợ
cho thông số phát thải được tính toán. Trong tính toán lượng khí thải từ chim biển lớn,
ước tính tốt nhất của NH3 thất thoát 70% được giả định (Bảng 4). Với các loài chim
biển khác, so sánh mức độ chuyển hoá (Birt-Friesen et al., 1989) cho thấy tỷ lệ bài tiết
là 20% ở chim biển lớn (x. đến 33% theo ước tính của Sutton và cộng sự., 1995). Điều
này cung cấp các ước tính phát thải 2.2 (1.0-3.6) và 0.24 (0.07-0.6) kg NH3-N/con.năm
tương ứng với các loài chim lớn và nhỏ. Cường độ so với các nguồn khác là có liên
quan đến tỷ lệ trao đổi chất cao, chế độ ăn giàu N ước tính % Tỷ lệ bay hơi từ N bài
tiết trên các loài bản địa. Từ đó, ta có số liệu của Vương quốc Anh, chim biển thải
khoản 3,4 (1,2-7.0) kt NH3-N/năm. Phát thải NH3 của chim biển có thể đặc biệt quan
trọng vì nó xảy ra ở vùng hẻo lánh, có ít nguồn thải.

Bảng 4: Phát thải NH3 từ các loài chim biển
Giá trị tốt
nhất

Giá trị thấp
nhất

Giá trị cao
nhất

Bài tiết N trên đất liền: chim
biển lớn (kg N/con.năm)

3,08

2,37

4,00

Bài tiết N trên đất liền: các
chim biển khác (kg N/con.năm)

0,35

0,18

0,62

% phát thải từ N bài tiết trên đất
liền

70%

40%

90%

12

Ghi chú
Giả sử 50% cư trú
6 tháng/năm
Giả sử 30% cư trú
4,5 tháng/năm, bài
tiết bằng 20% loài
chim lớn


Phát thải do chim biển lớn
(kgNH3-N/con.năm)

2,15

0,95

3,60

Phát thải do chim biển khác
(kgNH3-N/con.năm)

0,24

0,07

0,55

Tổng phát thải do chim biển tại
UK (kt NH3-N/năm)

3,44

1,24

7,01

Trên 648,000 con:
gannet,
shag,cormorant
Trên 8,449,000
con: gulls,
fulmars,
kittiwakes,
razorbills,
guillimots,
puffinns, terns &
skuas

5. Ammoniac phát thải từ đốt sinh khối và các hệ sinh thái tự nhiên

Thông tin và lượng NH3 phát thải ở vương Anh từ đốt sinh khối khá ít. Lee và
Atkins (1994) ước tính nó phát thải là 3,3 kt NHX-N từ gốc rạ cháy của nông nghiệp
vào năm 1991, nhưng lưu ý rằng điều này sẽ giảm trong những năm tiếp theo do việc
đốt bị hạn chế. Xem xét các dữ liệu khác trên sinh khối đốt (bao gồm cả thảm thực vật
tự nhiên và nông nghiệp), Sutton và cộng sự (1995) ước tính phát thải 1,6 (0,2-6.6) kt
NHx-N/năm, và ước tính này được áp dụng ở đây. Cần lưu ý rằng đốt thảm thực vật
vẫn còn là một việc làm quan trọng ở các vùng cao nguyên Scotland, mặc dù người ta
vẫn chưa đo được lượng khí thải từ nguồn này. Sutton và cộng sự (1995) cũng xem xét
mức độ NH3 thải từ các bán sinh thái. Đo lường cho thấy rằng lượng khí thải có thể
xảy ra trong thời gian ngắncác dòng chảy lưới lắng đọng trong các hệ sinh thái Vương
quốc Anh. Những quá trình trao đổi hai chiều được xử lý trong lắng đọng khô và do đó
không bao gồm ở đây. Các nghiên cứu trước đó (ví dụ như Buijsman và cộng sự, 1987;
Eggleston, 1992) đôi khi gọi những dòng chảy như khí thải từ đất tự nhiên", mặc dù nó
được chú ý, dòng chảy lưới nói chung vẫn ảnh hưởng tương tác các cây nằm phủ tán
cây.
6. Phát thải NH3 từ nước thải và bãi rác
Khí thải từ nước thải sau xử lý (đặc biệt xử lý kỵ khí) và rò rỉ nước thải từ đất nông
nghiệp. Dữ liệu có trước đó trên cả hai nguồn thông tin được xem xét bởi Sutto và
đồng sự (1995), người đã ước tính lượng khí thải Vương quốc Anh năm 1990 là 9.1
(2,5-16,5) và 1,2 (0,7-2.5) kt NH3 –N/năm nước thải rò rỉ và xử lý tương ứng. Dữ liệu
NH3 gần đây từ phát thải nước thải rò rỉ cung cấp hỗ trợ cho một số dự toán được sử
dụng bởi Sutton và cộng sự (1995), mặc dù tổng phát thải ước tính là nhỏ hơn so với
ước tính trước đó. Trong thí nghiệm nghiên cứu Harmel và cộng sự (1997) tìm thấy
trung bình bay hơi 27% N ứng dụng (so với 25% thông qua Sutton và cộng sự (1995)
13


cho nước thải tiêu huỷ bùn có hàm lượng N là 5,2% của các chất rắn khô (so với 6%
ghi nhận bởi Sutton và cộng sự). Ngược lại, cần lưu ý ở đây là khoảng 60% nước thải
được dẫn trong ống cống (Môi trường Cơ quan, năm 1997; B. Chambers, ADAS, pers.
comm.). Giả sử lượng nước thải này giảm phát thải còn 75% (ví dụ TFEI, 1996), tỷ lệ
phát thải là 16.25 (3-9)% N ứng dụng được sử dụng ở đây cho nước thải trong ống
cống. Sửa đổi này có một ảnh hưởng lớn về phát thải ước tính, trong đó tương đương
với 5.4 (1,5-10.2) kt NH3-N/năm so với 14,5 (4,1-26.2) kt/năm nếu 100% mặt thoáng
được giả định. Cũng cần lưu ý ràng hoạt động của nguồn này đã tăng 60% kể từ năm
1990 khi xả thải ra biển (DOE, 1993; DETR, 1997). Amoniac từ các nhà máy xử lý
nước thải cũng không chắc chắn, chỉ có những ước lượng của Lee và Dollard (1994)
Sutton và cộng sự (1995), cả hai đều dựa trên dữ liệu thực nghiệm của Lee và đồng sự
(1992) cho một công trình xử lý bùn hoạt tính. Người ta đã ghi nhận phương pháp lấy
mẫu thụ động, với Sutton và cộng sự (1995) chia và ghi nhận nồng độ NH3 bằng hệ số
hiệu chỉnh là 2, kết quả là phát thải ước tính đã nói ở trên. Kiểm tra gần đây với lấy
mẫu thụ động NH3 bởi Lee và đồng sự (1992) chỉ ra rằng các yếu tố điều chỉnh có thể
chỉ thích hợp ở nồng độ nhỏ (<5µg/m3), mặc dù đã được thực hiện cực kì đăc biệt (dữ
liệu chưa được công bố). Với lý luận như vậy, ước tính trên được sửa đổi và ta có 4,9
kt NH3-N/năm, với lưu ý rằng nó cũng cần đo thêm
người ta cũng cho rằng các khu đô thị không có dấu hiệu chứa lượng N, với Burton và
Watson-Craik (1998), ví dụ ước tính giá trị của 0,5%N. Tuy nhiên, có rất ít thông tin
về khí NH3 từ bãi rác, với ước tính chỉ được rằng của Eggleston (1992) là 3,3 kt NH3N/năm, được chấp nhận với một hệ số 2 không chắc chắn bởi
Sutton và cộng sự (1995). Ước tính dựa trên các kết luận của Munday (1990) lượng
khí thải chứa nitơ tương đương với 7,3% lượng khí mê-tan, với 10% N phát ra là trong
hình thức của NH3. Trong trường hợp không có dự toán khác, rõ ràng nguồn này là rất
không chắc chắn và cần nhiều phép đo để kiểm tra lại.
7. Phát thải NH3 từ nguồn công nghiệp
Các nguồn công nghiệp phát thải NH3 thường xuyên nhất chính là sản xuât phân bón
có NH3 và N. Dự toán MHPPE (1983) đã được một số học giả sử dụng cung cấp lượng
khí thải của Vương quốc Anh khoảng 7 kt NH3-N/năm (ví dụ của Buijsman và cộng
sự, 1987; Eggleston năm 1992; Lee và Dollard, 1994). Một ước tính nhỏ hơn 1,6 kt
NH3-N/năm đã được thực hiện bởi ECETOC (1994) dựa trên những thông tin mới từ
các Hiệp hội Phân bón quốc tế và điều này đã được thừa nhận bởi Sutton và cộng sự
(1995). Hiệu lực của những ước tính chung có thể kéo dài đến hiện nay, một số phạm
vi, được kiểm tra do gần có của các hóa chất mới được phát minh xuất hiện (CRI) ở
Anh và xứ Wales, được bộ tích hợp kiểm soát ô nhiễm Vương quốc Anh (IPC) phát
triển và được cập nhật phát triển theo chỉ thị của EU về phòng chống ô nhiễm tích hợp
và kiểm soát (IPPC). Chi tiết của khí thải được cung cấp trên cơ sở cài đặt cho tất cả
14


các quá trình yêu cầu ủy quyền. Những con số này là một sự kết hợp của đo lường và
dự toán. Từ NH3 là một chất ô nhiễm công nghiệp nhỏ so với NOx, SO2, vv. Trong
nhiều trường hợp NH3 phát thải vẫn không được đăng ký, để các con số phản hồi ước
tính thấp nhất. Bảng 5 cho thấy phạm vi đăng ký IPC quá trình góp NH3 phát thải, với
tổng phát thải ước tính là 8,95 (8,95-13.4) kt N/năm, chấp nhận sự sai số trên + 50%.
Ngoài những bất ổn trong quá trình đăng ký bao gồm CRI (IPC Phần trình A), có khả
năng là còn rất nhiều các nguồn NH3 công nghiệp khác nằm dưới sự kiểm soát chính
quyền địa phương (Phần B quy trình), mà không được ghi lại trong các CRI. Rõ ràng
là nếu đo lượng khí thải NH3 từ các nguồn như vậy sẽ có giá trị chưa được ghi nhận.
Có lẽ, một nguồn dễ nhận thấy nhất mà không được liệt kê ở trên chính là chế biến củ
cải đường cho sản xuất đường. Một số nghiên cứu đã đo tỷ lệ phát thải NH3 từ chế
biến củ cải đường, và những điểm tương đồng. Peters (1994) tại Hà Lan ước tính phát
thải 0.082 kg NH3-N/t củ cải đường tươi. Này so sánh với 0,101 kg/t báo cáo của một
nhà máy chế biến Ý bởi Carlesso và Marani (1995), và 0.080 kg/t báo cáo của Sullivan
và cộng sự (1997) tại Hoa Kỳ. Trung bình của chúng có 0.088 kg NH3-N/t được xem là
số ước lượng đúng nhất. Tại Anh khoảng 10,5 Mt (trọng lượng tươi) củ cải đường
được xử lý (ở chín địa điểm), cung cấp một giá trị ước tính 0,9 (0,6-1.2) kt NH3N/năm, thừa nhận sai số là trên dưới 30%. Mặc dù chỉ một nguồn nhỏ so với tổng số
quốc gia, các số lượng hạn chế của nhà máy chế biến chỉ ra rằng các lượng khí thải sẽ
rất có tính chất quan trọng tại địa phương.

Nguồn

Bảng 5: phát thải NH3 từ các nguồn công nghiệp
Ước lượng đúng nhất
(t NH3-N/năm)

Dầu và sản xuất năng lượng
Luyện kim
Công nghiệp khai khoáng
Công nghiệp hoá chất
-Sản xuất & sử dụng hoá chất hữu cơ
-Chiết suất vô cơ
-Sản xuất phân hoá học
-Công nghiệp Hóa dầu, axit và halogen

163
351
261
1651
2436
2952
128

Xử lý chất thải và tái chế
Sản xuất giấy / bột giấy, sơn và in ấn
Tất cả các ngành công nghiệp khác của Anh và xứ
Wales 1996
15

0.05
3.4
7915


Tất cả các ngành công nghiệp khác Vương quốc Anh
năm 1996

8953

8. Phát thải NH3 từ hoạt động giao thông

Phát thải NH3 từ xe đã được ước tính khá nhỏ trước đây, chỉ nằm trong phạm vi 0,21,4 kt NH3-N/năm (Eggleston năm 1992; Lee và Dollard năm 1994; Sutton và cộng sự,
1995). Các phép đo cơ bản đối với xăng thông thường và động cơ diesel. Tuy nhiên,
gần đây, Strogies và Kallweit (1998) và TFEI (1996) đã công bố các phương tiện dùng
dầu chuyển đổi xúc tác có thể thải ra lượng khí NH3 lớn hơn nhiều, trích dẫn dự án của
de Reydellet (1989) và Volkswagen AG (1989). Từ hai báo cáo ban đầu, duy nhất của
Volkswagen AG mô tả thực sự các phép đo có liên quan, và nó đã được những đã được
thừa nhận bởi TFEI (1996) cho ứng dụng phát minh khí thải châu Âu. TFEI (1996) đã
làm khôngcung cấp giới hạn sai số chắc chắn, và chúng được thực hiện ở (Bảng 6) như
độ lệch chuẩn trên dưới 1 từ các thử nghiệm nghiên cứu của Volkswagen AG (1989).
Bảng 6 cũng cho thấy ước tính phát thải từ các loại xe khác. Đối chiếu với các loại xe
sử dụng tại Anh này cung cấp một ước tính 8,9 (3,3-14.5) kt NH3-N/năm, trong số đó
94% là do xe ô tô với chất xúc tác và 4% do xăng dầu khác, với tất cả các loại xe khác
chỉ chiếm 2%. Nhấn mạnh sự phụ thuộc của tổng số về kết quả của Volkswagen AG
(1989). Mặc dù các phép kiểm tra toàn diện được thực hiện (sử dụng ba chu kỳ thử
nghiệm khác nhau mỗi xe), các thống kê phát thải chuyển đổi xúc tác dựa trên một
mẫu 7 xe ô tô (3 Audi và 4 Volkswagen), đại diện cho ba mô hình. Với tính toán kích
thước của phát xạ, và thực tế là sử dụng xúc tác chuyển đổi sẽ tăng trong 10 năm tới,
rõ ràng các phép đo thêm và bảo hành. Nếu 90% xăng xe được chuyển đổi xúc tác,
tổng khí thải NH3 do xe Vương quốc Anh sẽ là 21 (7,6-35) kt NH3-N/năm. Việc tìm
kiếm của các phép đo kiểm soát cho loại động cơ đặc biệt của Volkswagen AG (1989)
được hỗ trợ bằng các phép đo gần đây của Fraser và Cass (1998) NH3 tổng lượng phát
thải từ đường hầm. họ suy ra một tỷ lệ phát thải tương đương với khoảng 59 mg NH3N/km cho xe ô tô chuyển đổi xúc tác. Một điểm quan trọng được đề cập bởi Fraser và
Cass (1998) là hoạt động kém hoặc hư hỏng xúc tác chuyển đổi có thể tạo ra lượng khí
thải NH3 lớn hơn nhiều (Dickson, 1991).
Bảng 6: thông số phát thải NH3 từ các nguồn giao thông được ước lượng của vương quốc Anh
Nhân tố phát thải
Ước lượng
Ước lượng
Ước lượng
(kt NH3-N/năm)
Ghi chú
chính xác nhất
thấp
cao
Xăng dầu xe +
xúc tác chuyển
đổi
Xăng, dầu xe

70,3

25,3

115,3

a

1,8

1,2

2,3

a

16

,118509 triệu kmc
,211654 triệu kmc


không xúc tác
chuyển đổi
Động cơ xe
diesel
Trung bình xe
máy
Trung bình LGV
Trung bình:
HGV
Tổng NH3 xe
Vương quốc Anh
(kt NH3-N/năm)

a

,39633 triệu kmc

1,0

0,3

1,7

1,2

0,9

1.8

1,0

0,5

1,8

b

2,4

0,8

4,9

b

8,88

3,33

14,49

b

,4286 triệu kmc

,41633 triệu kmc
,36224 triệu kmc

9. Phát thải NH3 từ việc đốt than và thiêu hủy chất thải

Phát thải NH3 từ than đốt đã được xem xét bởi Lee và Dollard (1994), người đã kết
luận rằng các khí thải dễn nhận thấy nhất đều phát sinh từ đốt than, với ước tính phát
thải đáng tin cậy nhất của Geadah (1985) với 0.82 kg NH3-N/t than đốt. Sutton và cộng
sự (1995) đã thông qua giá trị này giả định sai số của một yếu tố là 2, và trong trường
hợp không còn dữ liệu nào khác thì nó cũng được áp dụng tương tự. Đối với Vương
quốc Anh, cần lưu ý là lượng than đốt trong nước đã giảm đáng kể từ 4,3 Mt năm 1990
(DOE, 1990) còn Mt 2,7 trong năm 1996 (DTI, 1997). Áp dụng điều này để ước tính
khí thải Vương quốc Anh ta có số liệu: 2.2 (1.1-4.4) kt NH3-N/năm. Nó cần lưu ý là
đốt than trong các nhà máy điện thường cho hiệu quả tốt hơn, lượng khí thải nhỏ hơn
nhiều. Với tổng số than nhập ngoại để đốt của Anh là 68,7 triệu tấn năm 1996, áp dụng
các ước tính phát thải của Bauer và Andren (1985) (0,23 g NH3-N/t), chỉ có 16 t NH3N/năm. Lee và Dollard (1994) xem xét dữ liệu NH3 phát thải trước đó trong việc đốt
chất thải, xác định ước tính của Miner (1969) và Geadah (1985) là 0,2 và 0,14 kg NH3N/t chất thải bị đốt. Quy chiếu trên toàn Vương quốc Anh, họ ước tính lượng khí thải
trong phạm vi 0,6-0,9 kt NH3-N, Sutton và cộng sự (1995) đề nghị sai số trên dưới hệ
số 2, đưa ra một hệ số phát thải của 0.17 (0.09-0,26) kg NH3-N/t chất thải. Dự toán
năm 1990 có thể được đẫn đến tăng lượng chất đốt váo năm 1996. Tổng số chất thải
trên toàn Vương quốc Anh được ước tính khoảng 414 Mt. Người ta tính đến chất thải
đô thị, bùn thải, chất thải thương mại, các CN khác (ko bao gồm nông nghiệp, khai
thác mỏ, phát điện, sản xuất thép…) có tổng KL 105,3 triệu tấn, năm 1997. Nhưng
trong số đó chỉ có 5,3 triệu tấn chất thải được đem đốt (7,6% rác đô thị 29 triệu tấn,
22% của bùn thải 1,3 triệu tấn, 3,8% rác thương mại, CN khác 75 triệu tấn). Suy ra
lượng phát thải là 0,91 kt NH3-N/năm.

17


10. Phát thải NH3 từ sản phẩm gia dụng và phân bón phi nông nghiệp

Mặc dù NH3 là một thành phần được biết đến như khí thải từ các sản phẩm của
nhiều hộ gia đình, các nghiên cứu thường hiếm khi ước lượng được lượng khí thải này.
Một ngoại lệ là một sản phẩm của người Hà Lan do Erisman (1989) làm ra, trong đó
ước tính trung bình lượng NH3 mà món đồ ấy đã sử dụng 1 món đồ gia dụng/hộ gia
đình. năm. NH3 được sử dụng như làm chất tẩy rửa. Trong nghiên cứu này, một cuộc
khảo sát thị trường đã được thực hiện trên một sản phẩm có chứa NH3 rồi ước lượng số
người sử dụng. Có nhiều tiềm năng trong việc dùng làm phân bón vườn, thuốc uốn tóc,
các giải pháp làm sạch (chung, lò nướng và cửa sổ), chất nhựa làm láng nền và chất
làm lạnh. Sử dụng ước tính tiêu thụ gần đúng nhất (0.01-0.1 L/hộ gia đình. năm) cho
chất tẩy rửa khác nhau và các loại thuốc uốn tóc, NH3 đặc thù (2,5-10%) và tỷ lệ phát
thải ước tính (10-50%), lượng khí thải NH3 ở Anh từ chất uốn tóc và dung dịch làm
sạch được ước tính là rất nhỏ, trong tổng số 75 (5-870) t NH3-N/năm. Hướng xử dụng
NH3 nhiều nhất là làm dung môi được ước tính để dùng tạo ra chất nhựa làm láng. Dựa
trên thông tin từ ngành công nghiệp, mức tiêu thụ của Vương quốc Anh 20 (10-40) kt
giải pháp/năm ước tính. giả sử trung bình NH3 10%, với khí thải của 50 (30-90)%,
cung cấp một phát thải tổng cộng 0,82 (0,25-2.97) kt NH3-N/năm. Khí thải amoniac
thoát ra từ tủ lạnh ước tính trên nước Anh giả sử một cá thể có 3 (2-4) kt chất làm lạnh
NH3,và 5 (3- 8)% rò rỉ mỗi năm, theo thông tin của bộ công nghiệp. Điều này tương
đương với khoảng phát thải là 0,12 (0,05-0.26) kt NH3-N/năm. Khí thải từ việc sử
dụng phân bón trong thị trường nội địa (cho vườn và công viên), ước tính giả định tốc
độ bay hơi của 2,5 (1-4)% từ ứng dụng N (x. Sutton và đồng sự, 1995). Vương quốc
Anh tiêu thụ phân bón vườn trong năm 1996 vào khoảng 61 kt (Datamonitor, năm
1998), một con số không chắc chắn và đây chỉ là ước tính trong khoảng 50-80 kt. giả
sử trung bình là 15% N cung cấp một phát thải NH3. Suy ra 0.23 (0.08~0,480) kt NH3N/năm.
11. Thảo luận
11.1. Tổng lượng phát thải phi nông nghiệp ở vương quốc Anh
Một phân tích chi tiết về tỷ lệ phát thải ước tính và tỉ trọng phát thải của Anh từ các
nguồn thải NH3 phi nông nghiệp khác nhau được xác định và đưa ra ở Bảng 7. Tổng
phát thải phi nông nghiệp ước tính là 53,8 (26,9-106,4) kt NH3-N/năm, tương đương
với 65,4 (32,7-129) kt NH3/năm. Một số nguồn thải của Vương quốc Anh đã được định
lượng từ rất lâu bao gồm cả khí thải trẻ sơ sinh, nai nhỏ, động vật hoang dã lớn khác,
xử lý củ cải đường, các nguồn công nghiệp khác, sản phẩm gia dụng (dung môi và làm
lạnh), và phân bón vườn. Chủ yếu là các nguồn mới không đáng kể, mặc dù thải lượng
chúng tổng cộng đến 9,0 (7,0-17,4) kt NH3-N/năm. Các ước tính hiện tại được tóm tắt
thành một số liệu nhỏ hơn là các nhóm phát thải để so sánh với các nhóm ước tính
khác trong bảng 8. Các ước tính trước đây. Tổng quát được xây dựng từ năm 1990, so
18


sánh với 1996 (Bảng 8) do đó chỉ ra những thay đổi trong các thiết bị hiện nay là do
một trong hai lý do sau thay đổi: ước tính phát thải (các yếu tố phát thải trung bình),
hoặc để nguồn phát thải thay đổi trong khoản thời gian từ năm 1990 đến năm 1996.
Chính yếu tố này mà dự toán mức phát thải hiện nay nhỏ hơn là các phát xạ trực tiếp
của con người (mồ hôi, hơi thở, hút thuốc lá, trẻ sơ sinh), vật nuôi (chó và mèo), nước
thải và so với Eggleston (1992) và Lee và Dollard (1994), sản xuất phân bón. Trong
trường hợp lượng khí thải từ con người và vật nuôi, Sutton và đồng sự (1995) ước tính
lượng khí thải nhỏ hơn nhiều so với các học giả trước đó. Dự toán điều chỉnh hỗ trợ
này, và đưa ra lượng khí thải nhỏ hơn. Ta cũng cần lưu ý rằng một số người đã tranh
cãi về các tài liệu về đo chất lượng NH3 trong nhà từ đó đưa ra bằng chứng: con người
là một nguồn phát thải NH3 (ví dụ như Atkins và Lee 1993; Tidy và Cape, 1993), mặc
dù những nghiên cứu này không tuân theo tỷ lệ khí thải tính toán, do
trường hợp không đo giá trị thông gió. Với các mẫu nhỏ, cả hai nghiên cứu cho thấy
những cải tiến tương tự của nồng độ không khí từ sự hiện diện của một trong hai nhân
tố: người hút thuốc hoặc trẻ sơ sinh, nồng độ không khí tăng xung quanh tăng 60% khi
có trẻ sơ sinh hoặc 30% với người hút thuốc. Người ta ước tính NH 3 từ con người hút
thuốc lá có lẽ là ước tính đúng nhất, lượng khí thải từ khói thuốc lớn hơn hơi thở hoặc
mồ hôi (Bảng 7). Điều này do đó cung cấp một tham chiếu đến tỉ lệ phát thải NH 3 từ
người. NH3 trong nhà sẽ ở mức cao nhất khi có sự hiện diện của người hút thuốc lá,
điều này hỗ trợ dự toán nhỏ mồ hôi, hơi thở và trẻ sơ sinh khí thải. Nếu khí thải NH 3 từ
mồ hôi lớn hơn theo Healy và cộng sự (1970), Cass và các cộng sự (1982), Eggleston
(1992) và Lee và Dollard (1994) đã tuyên bố chính xác, nên nồng độ NH3 của không
khí trong nhà sẽ bị ảnh hưởng bởi thuốc lá. Các yếu tố phát thải NH3 từ con người
trong Bảng 7 có thể được sử dụng để xây dựng kịch bản đơn giản của lượng khí thải hộ
gia đình khác nhau. Bằng cách sử dụng ước tính hiện nay, sự hiện diện của hai người
hút thuốc trung bình trong một ngôi nhà bốn người thường sẽ làm tăng phát thải (Và
do đó nồng độ) khoảng 40% tùy thuộc vào các hoạt động phát thải trong nhà giả định.
Bằng cách sử dụng giả định tương tự, nhưng với mồ hôi NH 3 từ tỷ lệ phát thải của
Healy và các cộng sự (1970), hai người hút thuốc lá sẽ chỉ tăng nồng độ 3%. Mặc dù tỷ
lệ phát thải ước tính từ các nguồn xử lý của Eggleston (1992), Lee và Dollard (1994)
đã giảm xuống (Bảng 8) vẫn chỉ ra những điểm tương đồng trong phát thải tổng trong
ước tính của các học giả. Là do các nguồn mới khác, cũng như một số nguồn hoạt
động gia tăng từ năm 1990 đã được xác định. Phát thải lớn hơn tỷ lệ ước tính được đưa
vào bao gồm ngựa, động vật hoang dã và các loài chim biển, công nghiệp (trừ sản xuất
phân bón) và sản phẩm gia dụng. Những thay đổi lớn nhất là các loài chim biển, động
vật hoang dã và công nghiệp. dữ liệu mới cho rằng lượng khí NH3 thải từ chim biển có
thể là rất lớn/mỗi con chim, do chế độ ăn giàu N và % tỷ lệ bay hơi lớn. Ta phải đề cập
19


đến một nguồn trước đây, số lượng rất lớn của thỏ trong Vương quốc Anh (38 triệu)
cũng tạo thành một nguồn NH3 đáng kể. Các nguồn đã tăng từ năm 1990 đến năm
1996 là vận tải (do tăng sử dụng bộ chuyển đổi xúc tác) và nước thải phát tán khí thải
(do bị cấm xả thẳng ra biển). Tuy nhiên trong trường hợp nước thải phát tán lượng khí
thải nhỏ hơn so với ước tính trước đây, do đã có các biện pháp tính toán quản lý chặt
chẽ chất thải. Nếu tổng lượng phát thải phi nông nghiệp ở năm 1990 có thể sử dụng
phương pháp hiện tại, các phát thải phi nông nghiệp sẽ là khoảng 47 (25-96) kt NH3-N.
Sự gia tăng 7 kt/năm giữa 1990-1996 phần lớn là do sự tăng cường sử dụng xúc tác
chuyển đổi.
11.2. Các gợi ý và kiến nghị cho nghiên cứu trong tương lai
Như một trợ giúp để tổng hợp nhu cầu nghiên cứu trong tương lai, nhóm nguyên
nhân chính được xếp hạng trong Bảng 9 theo phạm vi không chắc chắn của dự toán.
Nguồn lớn nhất và sự thiếu chuẩn xác nhất gắn với xử lý nước thải con người và mở
rộng đất. Lớn hơn của hai nguồn được ước tính là nước thải lan rộng, và rõ ràng là cần
tiến hành đo thêm. Tuy nhiên, ta phải lưu ý rằng các thông tin về khí thải từ xử lý nước
thải là cực kỳ ít và có thể đảm bảo chi tiết hơn từ các điều tra. Giao thông vận tải thải
NH3 đứng thứ hai trong số các ước tính không chắc chắn, và điều này rõ ràng cần
nghiên cứu thêm. Ta phải lưu ý rằng ước tính này là gần như hoàn toàn phụ thuộc vào
một nghiên cứu ước tính lượng khí thải từ chuyển đổi xúc tác (Volkswagen, năm
1989), với ba mô hình và bảy loại xe. Mức độ mà các khí thải khác nhau từ các thương
hiệu xe hơi khác và chuyển đổi xúc tác cần phải được kiểm tra. Kiến nghị nghiên cứu
lớn thứ ba là cho phép đo NH3 phát thải từ động vật hoang dã và các loài chim biển.
Điều này đặc biệt cần phải được tập trung vào phát thải từ các loài chim biển vì nó
chiếm 2/3 khí thải. Ta cần lưu ý rằng các chim biển địa phương chủ yếu ở trong phần
phía bắc và phía tây của Anh, nơi mà nông nghiệp phát thải NH3 nhỏ, để các dự kiến
vai trò quan trọng hơn trong xác định tổng lượng khí thải cho các khu vực này. Khí
thải từ ngựa có thể chỉ hơi nhỏ hơn so với động vật hoang dã và các loài chim biển,
cũng cần nghiên cứu thêm. Một yếu tố quan trọng ở đây là sự phát triển của các ước
tính đáng tin cậy hơn và chính xác hơn trong lượng khí thải từ ngựa cũng như các bước
đo đối với động vật nuôi trong nhà. Bốn loại phát thải với những thông số mơ hồ này
chiếm khoảng 50% phát thải tổng. Các nguồn phát thải khác trong bảng 9 tuy có số
liệu không chính xác những do số liệu phát thải nhỏ nên không cần được ưu tiên
nghiên cứu. Với những suy nghĩ tiến bộ này, ta có thể tiến hành kiểm soát lĩnh vực
khác nhau tốt hơn một số lĩnh vực có thể được đề cập. Nguồn công nghiệp, mặc dù số
liệu ước tính là không đáng tin, chiếm khoảng 10 kt NH3-N/năm. Một câu hỏi quan
trọng ở đây là mức độ NH3 khí thải từ quá trình đã được ghi lại. Một cuộc khảo sát đầy
đủ sẽ là nhiệm vụ chính, nhưng có thể được bắt đầu bằng cách so sánh trong CRI
tương tự như lượng khí thải ngành công nghiệp báo cáo hoặc không báo cáo. Cuối
20


cùng, ước tính trên lượng khí thải NH3 từ bãi rác chỉ dựa trên một nghiên cứu, và điều
này có thể dễ dàng được cải thiện bằng cách kết hợp các phép đo của NH3 để nghiên
cứu về phát thải khí metan bãi rác.
11.3. Đóng góp của các nguồn phát thải NH3 lên tổng phát thải NH3 trên toàn Vương
quốc Anh
Người ta vẫn thường phát hiện trong các báo cáo về tổng phát thải của Anh về việc
thiếu hụt một lượng NH3 để cân bằng lượng khí thải ước tính của lắng đọng ướt và khô
(ví dụ Buijsman, 1987; RGAR năm 1997; Fowler et al, 1998. Single et al., 1998). Dự
toán tỉ trọng Anh do RGAR (1997) thực hiện. Tổng lượng phát thải ước tính tại 260 kt
NH3-N/năm (1993), dựa trên 225 kt từ các nguồn nông nghiệp (x.Pain và cộng sự,
1998;. Cowell và ApSimon, pers. comm., 1995) và 35 kt từ nguồn phi nông nghiệp (x.
Sutton và cộng sự., 1995) so với một tụ tổng cộng 230 kt NHx-N/năm, với 110 kt lắng
đọng khô và 120 kt lắng đọng ướt. Tính toán cho đầu vào ước tính 30 kt NHx-N/năm,
chỉ cho phép xuất ra (tính cách khác) 30 kt/ năm. Ngược lại, ước tính bằng cách đo
aerosol (Fowler et al., 1998), hoặc mô hình vận chuyển khí quyển (ví dụ, RGAR,
1997), đề nghị một xuất khẩu khoảng 150 kt NHx-N/năm. Điều này chỉ ra một khoảng
cách tỉ trọng amoniac ở Anh khoảng 90 kt NHx-N/năm. Dự toán sửa đổi của khí thải
phi nông nghiệp NH3 ước tính ở đây giúp làm giảm khoảng cách này, nhưng không
loại bỏ nó hoàn toàn. Kết hợp thực tế ước tính khí thải NH3 nông nghiệp của 229 kt
NH3-N/năm (Pain, comm pers.., 1998), với lượng khí thải phi nông nghiệp 54 kt/năm,
cung cấp một phát thải tổng cộng 283 kt NH3-N/năm. Nếu sự lắng đọng cùng, nhập
khẩu ước tính được áp dụng, điều này cho phép xuất khẩu 83 kt NHX-N/năm, chỉ ra sự
cắt giảm trong tỉ trọng của 67 kt/năm. Mặc dù không có gì là chắc chắn có trong việc
sử dụng cùng loại lắng đọng ước tính ở trên cho năm 1996, rõ ràng là tỉ trọng vẫn
không hoàn toàn mất đi, với ước tính xuất khẩu (83 kt/năm) khoảng một nửa lượng dự
kiến (150 kt/năm). Như NH3 lượng khí thải bắt đầu đi dưới chuẩn chính sách giảm
thiểu ô nhiễm môi trường quốc tế (ví dụ, Bull và Sutton, 1998), những điều khộng
chắc chắn sẽ trở thành có liên quan trong việc xây dựng kế hoạch giảm lắng đọng khí
thải. Công việc tiếp theo với các thành phần của tỉ trọng NHX vì vậy, cần được thực
hiện một cách chính xác là xác định ước lượng tốt nhất một cách chính xác và giảm sự
không chắc chắn. Hiện nay, việc thiếu chặc chẽ trong tỉ trọng có thể được giải thích
bằng sự không rõ ràng của hạn chế từ các nguồn phi nông nghiệp, và rất dễ dàng giải
thích nếu số liệu trong phát thải nông nghiệp được bao gồm trong tổng lắng đọng.
Bảng 7: Lượng NH3 phát thải từ các nguồn phi nông nghiệp của vương quốc Anh
nguồn

Trung bình
phát thải(đơn
vị NH3-N)

Số cá thể

21

Phát thải trên
toàn vương quốc
anh


Hơi thở con
người
Mồ hôi con
người
Phát thải của
trẻ sơ sinh 03yr a
Khói thuốc
Ngựa đua
Các loại ngựa
khác
Chó kiểng
Mèo kiểng
Nai hoang
( lớn)
Nai hoang
( nhỏ)
Các loài thú
hoang khác
Chim biển lớn
Các loài chim
biển khác
Đốt sinh khối
Hệ sinh thái
Xử lý nước thải
Nước thải rò rỉ
Bãi rác
Sản xuất phân
bón
Quá trình chế
biến củ cải
đường
Các nguồn
công nghiệp
khác
Giao thông
Đốt than trong
nước

3,0 (1,0-7,7)

g Người-1 yr -1

58600

0,17(0,06 -0,45)

14,0 (2,174,9)

g Người-1 yr -1

58600

0,82(0,12-4,39)

13,7 (2,863,2)

g Trẻ-1 yr -1

2202

0,03(0,01-0,14)

-1

11251

0,2(0,1 -0,44)

17,8 (8,939,1)
33,7 (15-40)

g Người hút-1 yr
Kg cá thể -1 yr -1

68b

2,3 (1 -2,7)

10,0 (5-20)

Kg cá thể -1 yr -1

497b

5(2,5-9,9)

Kg cá thể -1 yr -1

7200

4,4(2,1-7)

Kg cá thể -1 yr -1

7900

0,9(0,4 -1,3)

Kg cá thể -1 yr -1

471

0,6(0,3 -1,2)

Kg cá thể -1 yr -1

541

0,3(0,1 -0,5)

39969

0,9(0,2 -2,5)

Kg chim -1 yr -1

648

1,4(0,61 -2,3)

Kg chim -1 yr -1

8449

2,1(0,62-4,7

0,61 (0,300,93)
0,11 (0,050.16)
1,23 (0,612.45)
0,49 (0,250,98)
2,15 (0,943,60)
0,24 (0,070,55)

1,6(0,2-6,6)
0
1,2(0,7-4,9)
5,4(1,5-10,2)
3,3(1,6-6,6)
3,3(3,3-5)
0,09 (0,060,11)

Kg t -1 củ cải
tươi

10,5 Mt
yr -1

0,9(0,6-1,2)
5,6(5,6-8,4)
8,9(3,3-14,5)

0,82 (0,411.65)

Kg t -1 than đốt
22

2,7 Mt yr
-1

2,2(1,1-4,4)


Đốt than công
nghiệp
Đốt rác
Sản xuất hàng
gia dụng
Phân bón phi
nông nghiệp
tổng

0,23 (0,0044,1)

g t -1 than đốt

68,7 Mt
yr -1

0,02(0-0,28)
0,9(0,3-2,1)
1(0,3-4,1)
0,2(0,08-0,5)

.

53,8 (26,9-106,4)

23


CHƯƠNG 3: Nghiên cứu về ammoniac tại Việt Nam
1. Hiện trạng NH3 ở Việt Nam
Việc chăn nuôi gia súc quy mô lớn có thể làm gia tăng lượng Amoni.Amoni là một chất
ô nhiễm do chất thải động vật, nước cống và khả năng nhiễm khuẩn. Khi hàm lượng Amoni
trong nước ăn uống cao hơn tiêu chuẩn cho phép chứng tỏ nguồn nước đã bị ô nhiễm bởi chất
thải động vật, nước cống và có khả năng xuất hiện các loại vi khuẩn, kể cả vi khuẩn gây bệnh.
Lượng Amoni trong môi trường so với sự tổng hợp bên trong cơ thể là không đáng kể.Tác hại
của nó chỉ xuất hiện khi tiếp xúc với liều lượng khoảng trên 200mg/kg thể trọng. Với những
lý do trên đây, Amoni được xếp vào nhóm các chỉ tiêu cảm quan (được đánh dấu bằng chữ a
trong bảng tiêu chuẩn theo quyết định 1329/2002/BYT-QĐ của Bộ Y tế).
Vì NH3 không đươc coi là chất độc đối với con người và động vật mà việc ứng dụng
NH3 trong đời sống nhiều nên việc đánh giá, kiểm soát và xử lý NH3 chưa được coi trọng.
Người ta vẫn còn thờ ơ và mất cảnh giác khi tiết xúc với NH3.Không đưa ra biện pháp xử lý
và cũng không có các dụng cụ an toàn lao động khi thực hiện công việc.
2. Các quy chuẩn NH3 ở Việt Nam
Chất lượng không khí và nồng độ tối đa cho phép của 1 số chất độc hại trong không khí xung
quanh
NH3
Trung bình ngày đêm
1 lần tối đa
Theo TCVN 5938: 1995
0,2 mg/m3
0,2 mg/m3
1 giờ
24 giờ
Theo TCVN 5938: 2005
200 �g/m3
200 �g/m3
QCVN19: 2009 Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với bụi và các chất
vô cơ
Amoniac và các hợp chất amoni

mg/Nm

3

A
76

B
50

Các phương pháp xử lý NH3
• Cơ học: có khả năng hòa tan tốt trong không khí, vì vậy dung nước phun để hòa loãng
nồng độ NH3
• Hóa học : có khả năng hấp phụ bằng các hóa chấ như HCl, H2SO4
• Sinh học: sử dụng chủng vi sinh vậy arthobacter (đề tài “ bước đầu nghiên cứu phân
lập vi khuẩn có khả năng sử dụng NH3 và H2S trong khí thải như nguồn cơ chất để
dinh dưỡng” học viên Đặng Mai Tuyết Trang “TS. Lê Phi Nga hướng dẫn”).

24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×