Tải bản đầy đủ

DS 2 hợp ĐỒNG THẢO LUẬN 4

MỤC LỤC

BUỔI THẢO LUẬN THỨ TƯ: BẢO ĐẢM THỰC HIỆN
NGHĨA VỤ
1


VẤN ĐỀ 1: ĐỐI TƯỢNG DÙNG ĐỂ BẢO ĐẢM THỰC HIỆN NGHĨA VỤ.
1.1 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 so với Bộ luật Dân sự năm 2005
liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự.
Trả lời: Những chế định liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ dân sự trọng BLDS 2015 đã có những thay đổi so với BLDS 2005. Cụ thể:
Bộ luật Dân sự năm 2005

Bộ luật Dân sự năm 2015

Có 3 điều luật: 320, 321, 322
Viêc quy định tài sản theo hướng
mang tính liệt kê lại các loại tài sản
và liệt kê thì không bao giờ là đủ dẫn
đến việc thiếu xót.


Chỉ có 1 điều luật Điều 295 quy định về tài sản
có thể dùng để bảo đảm. Đã khắc phục BLDS
2005 với quy định tổng quát cho mọi trường
hợp.

Khẳng định tài sản bảo đảm có thể là
tài sản hiện có hoặc tài sản hình
thành trong tương lai và tài sản bảo
đảm phải thuộc quyền sở hữu của
bên bảo đảm
Khoản 1 Điều 320 BLDS 2005 :
“Vật bảo đảm thực hiện nghĩa vụ
dân sự phải thuộc quyền sở hữu của
bên bảo đảm và được phép giao
dịch.”

Đã bổ sung thêm quy định: “trường hợp cầm
giữ tài sản và bảo lưu quyền sở hữu thì tài sản
bảo đảm không phải thuộc quyền sở hữu của
bên bảo đảm.”

Khoản 2 điều 320 BLDS 2005 quy
định làm rõ vật hình thành là bất
động sản hay động sản trong tương
lai tại thời điểm nghĩa vụ xác lập.

Khoản 3 Điều 295 BLDS 2015 chỉ quy định
là : “Tài sản bảo đảm có thể là tài sản hiện có
hoặc tài sản hình thành trong tương lai.”
vì đã có quy định khác tại Điều 108 BLDS
2015.

Khoản 1 Điều 295 BLDS 2015: Đã bỏ đi quy
định được phép giao dịch bởi vì theo pháp luật
hiện hành, tài sản được đem ra giao dịch là phải
phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này
áp dụng chung cho mọi loại giao dịch.

Bổ sung thêm quy định tại Khoản 4 Điều 295:


“Giá trị của tài sản bảo đảm có thể lớn hơn,
bằng hoặc nhỏ hơn giá trị nghĩa vụ được bảo
đảm.”. Quy định này nhằm tránh việc có người
yêu cầu giá trị tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị
nghĩa vụ được bảo đảm.
 Những điểm mới của Bộ luật Dân sự năm 2015 liên quan đến tài sản có thể dùng để bảo

đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự đã rõ ràng và bớt rườm rà hơn so với Bộ luật Dân sự năm
2005.
Tóm tắt bản án số 208/2010/DS-PT
Nguyên đơn: ông Phạm Bá Minh
2


Bị đơn: bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo
Sự việc: Ngày 14/9/2007 bà Khen và ông Thảo thế chấp cho ông Minh một giấy sử dụng
sạp D2 -9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000 đồng, thời hạn vay 6 tháng với lãi suất là
3%/tháng.
Khi đến hạn hợp đồng thì bà Khen, ông Thảo không có khả năng thanh toán nên ông
Minh đã khởi kiện yêu cầu bà Khen, ông Thảo trả lãi và gốc.
Quyết định:
Tòa sơ thẩm: Buộc bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có nghĩa vụ thanh toán
cho ông Phạm Bá Minh số tiền 38.914.800 đồng ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp
luật.
Ông Phạm Bá Minh có trách nhiệm trả cho bà Khen, ông Thảo bản chính giấy chứng
nhận sạp D2 – 9 tại chợ Tân Hương do bà Bùi Thị Khen đứng tên được ban quản lí chợ
Tân Hương cấp ngày 14/5/2001.
Ngày 5/10/2009, ông Phạm Bá Minh kháng cáo.
Tòa phúc thẩm: Bác yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn, ông Phạm Bá Minh.
Xử theo Tòa sơ thẩm.
1.2 Đoạn nào của bán án số 208 cho thấy bên vay dùng giấy chứng nhận sạp để bảo
đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay?
Trả lời: Trong bản án số 208/2010/DS-TP ngày 09/03/2010 của Tòa án Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh cho ta thấy bên vay (bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc
Thảo) dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay với bên cho
vay(ông Phạm Bá Minh) là: “Ông là chủ doanh nghiệp cầm đồ Bá Minh. Vào ngày
14/9/2007bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn Khắc Thảo có thế chấp cho ông một giấy sử
dụng sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay 60.000.000đ, thời hạn vay là 6 tháng , lãi suất
thỏa thuận là 3% tháng ”.
Ngoài ra, bên vay cũng đã xác nhận việc dùng giấy chứng nhận sạp để bảo đảm
thực hiện nghĩa vụ trả tiền vay với bên cho vay: “Bị đơn bà Bùi Thị Khen và ông Nguyễn
Khắc Thảo xác nhận: Có thế chấp một tờ giấy sạp D2-9 tại chợ Tân Hương để vay
60.000.000đ cho ông Phạm Bá Minh là chủ dịch vụ cầm đồ Bá Minh. Lãi suất 3%
/tháng.”
1.3 Giấy chứng nhận sạp có là tài sản không? Vì sao?
Trả lời: Theo Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 thì: “Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có
giá và quyền tài sản.” . Mà giấy chứng nhận sử dụng sạp chỉ chứng minh bà Khen có
quyền được sử dụng sạp để buôn bán ở chợ Tân Hưng chứ không chứng minh quyền sở
hữu của bà Khen với sạp đó. Bà Khen chỉ có quyền sử dụng còn ngoài ra không còn đặc
3


quyền nào khác đối với sạp. Và sạp đó cũng không phải tài sản của bà Khen. Ngoài ra
giấy chứng nhận sử dụng sạp cũng không thuộc danh sách các loại giấy tờ có giá theo
Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định
11/2012/NĐ-CP : “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín
phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp
luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
 Vì vậy giấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá, cũng không phải là tài sản,

tiền ,vật.
1.4 Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bào đảm nghĩa vụ dân sự có được Tòa án
chấp nhận không? Đoạn nào của bản án cho câu trả lời?
Trả lời: Việc dùng giấy chứng nhận sạp để bào đảm nghĩa vụ dân sự trong bản án
số 208/2010/DS-TP ngày 09/03/2010 không được Tòa án Nhân dân Thành phố Hồ Chí
Minh chấp nhận vì như đã khẳng định ở mục trên và theo Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015
thì vậy giấy chứng nhận sạp không phải là giấy tờ có giá, cũng không phải là tài sản,
tiền ,vật. Vì vậy nó không đủ cơ sở pháp lý để đảm bảo giao dịch dân sự.
Trong bản án số 208/2010/DS-TP ngày 09/03/2010 của Tòa án Nhân dân Thành
phố Hồ Chí Minh việc dùng giấy chứng nhận sạp để bào đảm nghĩa vụ dân sự được thể
hiện ở đoạn : “Xét sạp thịt heo do bà Khen đứng tên và cầm cố , nhưng giấy chứng nhận
sạp D2-9 tại chợ Tân Hương là giấy đăng kí sử dụng sạp, không phải quyền sở hữu , nên
giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông
Minh.”.
1.5 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết và cơ sở pháp lí của Tòa án đối với
việc dùng giấy chứng nhận sạp để đảm bảo nghĩa vụ.
Trả lời: Theo quan điểm của nhóm em thì hướng giải quyết của Tòa án Nhân dân
Thành phố Hồ Chí Minh là hợp lý:
Căn cứ Khoản 1 Điều 295 BLDS 2015: “Tài sản bảo đảm phải thuộc quyền sở
hữu của bên bảo đảm, trừ trường hợp cầm giữ tài sản, bảo lưu quyền sở hữu.” mà giấy
chứng nhận sử dụng sạp chỉ chứng minh bà Khen có quyền được sử dụng sạp để buôn
bán ở chợ Tân Hưng chứ không chứng minh quyền sở hữu của bà Khen với sạp đó. Vì
thế, giấy chứng nhận trên không đủ cơ sở pháp lý để bà Khen thi hành án trả tiền cho ông
Minh. Và cái sạp không được dùng làm vật đảm bảo thực hiện nghĩa vụ dân sự.
1.6 Trên cơ sở so sánh pháp luật, suy nghĩ của anh, chị về khả năng cho phép dùng
giấy tờ liên quan đến tài sản để đảm bảo nghĩa vụ dân sự ?
Trả lời: Xét ở góc độ lí luận thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất chỉ là một văn
bản chứng quyền cho nên không thể coi nó là tài sản và cũng không thể xem nó là loại
giấy tờ có giá trong thanh toán, trao đổi. Theo Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 thì: “Tài
sản là vật, tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.” và Khoản 9 Điều 3 Nghị định số
163/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định 11/2012/NĐ-CP : “Giấy tờ có giá bao
4


gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng
chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá được thành tiền và được
phép giao dịch”, thì ta mới xác định được giấy tờ có giá trong thanh toán, trao đổi.
Tuy nhiên, xét ở góc độ thực tiễn thì giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là một
trong những vật rất phổ biến dùng để thế chấp vay tiền ngân hàng. Việc thế chấp giấy này
ở ngân hàng để vay tiền được xem là một loại giao dịch dân sự hợp pháp, đối tượng của
giao dịch này là thế chấp quyền sử dụng đất. Vậy trong trường hợp nào thì giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất được coi là tài sản? Đó là khi nó được dùng trong quan hệ dân
sự, có giá trị thanh toán, trao đổi ngang giá với vật khác, theo thỏa thuận hoặc theo quy
định của pháp luật. Căn cứ Điều 295 BLDS 2015 về Tài sản đảm bảo.
Như vậy, để đánh giá đúng khả năng cho phép dùng giấy tờ có liên quan đến tài
sản để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự không chỉ căn cứ vào góc độ pháp lý mà còn
có thể căn cứ vào thực tiễn đời sống với từng trường hợp cụ thể nhằm đưa ra những phán
quyết đúng đắn trong xét xử phù hợp với bản chất từng vụ việc.
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 02/2014/QĐ-UBTP
Nguyên đơn: ông Nguyễn Văn Ổn và bà Lê Thị Xanh
Bị đơn: Nguyễn Văn Rành
Sự việc: (tranh chấp hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất)
Ông Nguyễn Văn Ổn và bà Lê Thị Xanh có cầm cố đất cho vợ chồng ông Rành để lấy
vàng.
Nhưng trong hạn, ông Ổn và bà Xanh có chuộc lại đất nhưng ông Rành nói còn khó khăn
nên không cho chuộc.
Yêu cầu của ông Ổn và bà Xanh trả lại đất cầm cố và ông bà sẽ trả lại số vàng mà đã lấy
đất để cầm cố.
Ông Rành không chấp nhận yêu cầu của ông Ổn và bà Xanh, ông cho chuộc lại với giá
thị trường theo định giá.
Quyết định: Tòa sơ thẩm: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Hủy hợp đồng cầm cố quyền sử dụng đất .
Buộc ông Rành và bà Hết giao trả cho ông Ổn, bà Xanh số đất đã cầm cố và ngược lại
ông Ổn, bà Xanh trả lại số vàng đã nhận từ ông Rành.
1.7 Đoạn nào quyết định số 02 các bên đã dùng quyền sử dụng đất để cầm cố?
Trả lời: Đoạn của quyết định số 02 cho thấy các bên đã dùng quyền sử dụng đất
để cầm cố: “Ngày 30/08/1995 vợ chồng ông Võ Văn Ôn và Lê Thị Xanh cùng ông
5


Nguyễn Văn Rảnh thỏa thuận việc thực đất. Hai bên có lập “Giấy thực đất làm ruộng”
với nội dung giống như việc cầm cố tài sản.
Theo lời khai của nguyên đơn và bị đơn đều thừa nhận là cầm cố đất (BL số 08, 09, 10,
19, 20)”.
1.8 Văn bản hiện hành cho phép dùng quyền sử dụng đất để cầm cố không? Nêu cơ
sở văn bản khi trả lời?
Trả lời: Căn cứ Khoản 2 Điều 295 BLDS 2015 quy định : “Tài sản bảo đảm có
thể được mô tả chung, nhưng phải xác định được.” và căn cứ vào Điều 309 BLDS 2015
quy định về cầm cố tài sản: “Cầm cố tài sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố)
giao tài sản thuộc quyền sở hữu của mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố)
để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ.” như luật quy định thì cầm cố là phải giao tài sản thuộc
quyền sở hữu, mà ở đây tài sản được pháp luật quy định như sau:
+ Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: “1. Tài sản là vật, tiền, giấy tờ có giá
và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là
tài sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.”.
+ Khoản 9 Điều 3 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị
định 11/2012/NĐ-CP : “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ
phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định
của pháp luật, trị giá được thành tiền và được phép giao dịch”.
=> Như luật hiện hành quy định thì quyền sử dụng đất không là tài sản mà nó chỉ
là chứng thư pháp lý căn cứ vào Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013: “16. Giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng
thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác
gắn liền với đất hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền
sở hữu tài sản khác gắn liền với đất.”.
Căn cứ vào Khoản 1 Điều 167 Luật đất đai quy định các quyền của người sử dụng
đất: “1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho
thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất theo quy định
của Luật này.”. Như vậy quyền sử dụng đất không được cầm cố theo luật hiện hành.

6


1.9 Trong quyết định trên, Tòa án có chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng đất
để cầm cố không? Đoạn nào của quyết định cho câu trả lời?
Trả lời: Trong quyết định trên, Tòa án chấp nhận cho phép dùng quyền sử dụng
đất để cầm cố. Đoạn của quyết định cho câu trả lời:
“Xét việc giao dịch thực đất nêu trên là tương tự với giao dịch cầm cố tài sản, do
đó phải áp dụng nguyên tắc tương tự để giải quyết. Về nội dung, thì giao dịch thực đất
nêu trên phù hợp với quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật Dân sự( tại Điều 309, 310) ,
do đó cần áp dụng quy định về cầm cố tài sản của Bộ luật dân sự để giải quyết mới bảo
đảm quyền lợi hợp pháp của các bên giao dịch”.
1.10 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa án trong quyết định số
02?
Trả lời: Theo tôi thì tôi đồng ý với cách giải quyết của Tòa án sơ thẩm và không
đồng ý với cách giải quyết của Tòa giám đốc thẩm với những lý do sau:
- Đối với việc cầm cố quyền sử dụng đất thì không đúng với quy định của luật quy
định. Vì theo quy định tại Điều 326 BLDS 2005 quy định về cầm cố tài sản: “Cầm cố tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên cầm cố) giao tài sản thuộc quyền sở hữu của
mình cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cầm cố) để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân
sự.”. Ở đây luật có quy định là giao tài sản thuộc quyền sở hữu, mà ở trường hợp này
nguyên đơn đã giao quyền sử dụng đất không là tài sản:
+ Căn cứ vào Khoản 1 Điều 105 BLDS 2015 quy định: “1. Tài sản là vật,
tiền, giấy tờ có giá và quyền tài sản.
2. Tài sản bao gồm bất động sản và động sản. Bất động sản và động sản có thể là tài

sản hiện có và tài sản hình thành trong tương lai.” và Khoản 9 Điều 3 Nghị định
số 163/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định 11/2012/NĐ-CP : “Giấy tờ
có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền
gửi, séc, chứng chỉ quỹ, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá
được thành tiền và được phép giao dịch”.
+ Và Khoản 16 Điều 3 Luật đất đai 2013: “16. Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là chứng thư pháp lý để
Nhà nước xác nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở, tài sản khác gắn liền với đất
hợp pháp của người có quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và quyền sở hữu tài sản
khác gắn liền với đất.”.
- Đồng thời bên nguyên đơn theo thỏa thuận đã thực hiện đúng theo thỏa thuận
nhưng bị đơn lại không thực hiện đúng thỏa thuận và yêu cầu của bên nguyên đơn chỉ
muốn lấy lại đất và sẽ trả lại số vàng cho bị đơn => nếu xét đúng theo pháp luật thì hợp
đồng này sẽ vô hiệu theo quyết định của Tòa án sơ thẩm nên không làm thiệt hại 2 bên.

7


Tóm tắt bản án số 04/2010/DSPT
Nguyên đơn: bà Vương Kim Long
Bị đơn: bà Phạm thị Ngọc Hồng
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Ông Phạm Ngọc Chấp
+ Bà Phạm Thị Ngọc Hà
+ Ông Phạm Ngọc Định
+ Ông Phạm Ngọc Bế
+ Ông Phạm Ngọc Tâm
Sự việc: Bà Phạm Thị Ngọc Hồng có làm biên nhận vay tiền của bà Vương Kim Long,
khi vay có thế chấp 3 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bà Long khởi kiện yêu cầu bà Hồng và ông Chấp và những người thừa kế quyền và nghĩa
vụ của đất mà bà Hồng đã thế chấp liên đới trả tiền cho bà cùng lãi suất, đồng thời xử lý
tài sản thế chấp.
Bà Hồng thì yêu cầu bà Long phải trả lại các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sẽ
trả tiền cho bà Long dần và yêu cầu không tính lãi nữa.
Quyết định:
Tòa sơ thẩm:
Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Long, buộc bà Hồng phải trả cho bà Long số tiền
vốn vay và lãi.
Khi trả đủ tiền thì bà Long có trách nhiệm trả cho ông Chấp 2 Giấy chứng nhận quyền sử
dụng đất và người thừa kế của ông Bính 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Bác yêu cầu bà Hồng trả dần tiền, bác yêu cầu bà Long xử lý tài sản thế chấp, bác yêu
cầu đòi bà Hồng, ông Chấp và người thừa kế của ông Bính trả tiền.
Ngày 29/10/2009 ông Chấp kháng cáo yêu cầu bà long trả lại các Giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất.
Tòa phúc thẩm: Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông Chấp.
Buộc bà Long trả cho ông Chấp 2 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, buộc bà Long
phải hoàn trả cho người thừa kế của cụ Bính 1 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

8


Và giữ các quyết định khác của Tòa sơ thẩm.
1.11 Đoạn nào của bản án số 04 cho thấy người nhận quyền thế chấp quyền sử dụng
đất là cá nhân.
Trả lời: Đoạn của bản án trích phần “NHẬN THẤY”:
Trong đơn khởi kiện, bà Vương Kim Long có trình bày: “…bà Phạm Thị Ngọc
Hồng làm biên bản nhận vay thêm 300.000.000 đồng, lãi suất 3%/tháng. Tổng cộng vốn
gốc là 360.000.000 đồng. Khi vay có thế chấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất…”
Tại biên bản hoà giải ngày 08/9/2009, bị đơn bà Phạm Thị Hồng Ngọc trình bày:
“Việc bà Vương Kim Long quản lý các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do bà nhờ bà
Vương Kim Long vay dùm số tiền 50.000.000 đồng trong số tiền 300.000.000 đồng ngày
13/7/2005.”
Đoạn trích phần “XÉT THẤY” do Hội đồng xét xử nhận định: “Pháp luật chưa
cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau. Do vậy, việc bà Phạm
Thị Ngọc Hồng giao các Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long
để vay tiền là không đúng quy định của pháp luật…”
Qua các trích đoạn của bản án số 04, ta có thể thấy rõ, người nhận quyền thế chấp
quyền sử dụng đất ở đây là cá nhân. Chính xác là bà Vương Kim Long.
1.12 Có quy định nào cho phép cá nhân nhận quyền sử dụng đất để bảo đảm thực
hiện nghĩa vụ không? Nếu có, nêu cơ sở văn bản.
Trả lời: Theo quy định của BLDS 2015, thế chấp tài sản là một trong 9 biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự . Căn cứ tại Điều 317 BLDS 2015: “1. Thế chấp tài
sản là việc một bên (sau đây gọi là bên thế chấp) dùng tài sản thuộc sở hữu của mình để
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ và không giao tài sản cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận
thế chấp).”
Điểm g khoản 1 Điều 179 Luật đất đai 2013 quy định: “g) Thế chấp quyền sử dụng
đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt Nam, tại tổ chức kinh tế khác hoặc
cá nhân theo quy định của pháp luật;”
Nhận thấy, pháp luật không có quy định hạn chế cá nhân không được nhận thế chấp
quyền sử dụng đất. Bên thế chấp có thể lập hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, hợp
đồng thế chấp quyền sử dụng đất bắt buộc phải công chứng hoặc chứng thực. Sau khi
thực hiện công chứng hợp đồng, phải làm thủ tục đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất.
Theo quy định tại Điều 19 thông tư liên tịch 09/2016/TT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc
đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.

9


1.13 Đoạn nào của Bản án 04 cho thấy Toà án không chấp nhận cho cá nhân nhận
quyền sử dụng đất để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ?
Trả lời: Đoạn của bản án trích phần “XÉT THẤY”: “Theo quy định tại Khoản 1,
Điều 106 và Điểm d, Khoản 2, Điều 110 của Luật đất đai, quy định người sử dụng đất
được thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt
động tại Việt Nam để vay vốn. Do vậy, việc bà Phạm Thị Ngọc Hồng giao các Giấy
chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Vương Kim Long để vay tiền là không đúng quy
định của pháp luật, nên bị coi là vô hiệu theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật dân sự.”
1.14 Suy nghĩ của anh/ chị về hướng giải quyết của Toà án.
Trả lời: Tôi không đồng ý với quyết định của Toà án. Căn cứ vào thời điểm xét xử
là vào năm 2010, thời điểm Luật đất đai 2003 đang có hiệu lực thi hành thì việc Toà án
áp dụng Luật đất đai 2003 là hoàn toàn hợp lý. Tuy nhiên, việc Toà án căn cứ theo Điểm
d Khoản 2 Điều 110 Luật đất đai 2003 quy định:“d) Thế chấp, bảo lãnh bằng quyền sử
dụng đất và tài sản thuộc sở hữu của mình gắn liền với đất tại tổ chức tín dụng được
phép hoạt động tại Việt Nam để vay vốn theo quy định của pháp luật;” từ đó đưa ra nhận
định “Pháp luật chưa cho phép thế chấp quyền sử dụng đất giữa các cá nhân với nhau.”
áp dụng vào bản án số 04 là không đúng bởi vì Điều luật trên là áp dụng cho “Điều
110. Quyền và nghĩa vụ của tổ chức kinh tế được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng
đất”. Tuy nhiên, đất ở bản án 04 là hộ gia đình, cá nhân chứ không phải là đất do nhà
nước giao cho tổ chức kinh tế có thu tiền sử dụng đất. Nhận thấy rõ, Toà án đã có sự
nhầm lẫn chủ thể áp dụng.
Căn cứ chính xác cần xác định ở đây là Khoản 7 Điều 113 Luật đất đai 2013 về
Quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất không phải là đất thuê: “7. Thế
chấp, bảo lãnh bằng quyền sử dụng đất tại tổ chức tín dụng được phép hoạt động tại Việt
Nam, tại tổ chức kinh tế hoặc cá nhân để vay vốn sản xuất, kinh doanh;”. Ta thấy rõ,
trong Luật đất đai 2003 đã có quy định cho phép thế chấp giữa các cá nhân với nhau cụ
thể là Khoản 7 Điều 113.

VẤN ĐỀ 2: ĐĂNG KÍ GIAO DỊCH BẢO ĐẢM
2.1 Điểm mới của BLDS 2015 so với BLDS 2005 về đăng ký giao dịch bảo đảm?
Trả lời:
BLDS 2005

BLDS 2015

Điều 323. Đăng ký giao dịch bảo đảm

Điều 298. Đăng ký biện pháp bảo đảm

1. Giao dịch bảo đảm là giao dịch dân sự
do các bên thoả thuận hoặc pháp luật quy
định về việc thực hiện biện pháp bảo đảm
được quy định tại khoản 1 Điều 318 của
Bộ luật này.

1. Biện pháp bảo đảm được đăng ký theo
thỏa thuận hoặc theo quy định của luật.

10

Việc đăng ký là điều kiện để giao dịch
bảo đảm có hiệu lực chỉ trong trường


2. Việc đăng ký giao dịch bảo đảm được
thực hiện theo quy định của pháp luật về
đăng ký giao dịch bảo đảm. Việc đăng ký
là điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu
lực chỉ trong trường hợp pháp luật có quy
định.

hợp luật có quy định.
2. Trường hợp được đăng ký thì biện
pháp bảo đảm phát sinh hiệu lực đối
kháng với người thứ ba kể từ thời điểm
đăng ký.

3. Trường hợp giao dịch bảo đảm được 3. Việc đăng ký biện pháp bảo đảm được
đăng ký theo quy định của pháp luật thì thực hiện theo quy định của pháp luật về
giao dịch bảo đảm đó có giá trị pháp lý đối đăng ký biện pháp bảo đảm.
với người thứ ba, kể từ thời điểm đăng ký.
Trong BLDS 2015 đã dùng cụm từ “biện pháp bảo đảm” thay cho cụm từ “giao
dịch bảo đảm” của BLDS 2005. Theo đó thì “giao dịch bảo đảm” là giao dịch dân sự,
chỉ xuất hiện trong giao dịch. Do đó, theo BLDS 2015 thì thay thế bằng “biện pháp bảo
đảm”, tức là các biện pháp bảo đảm cho lợi ích của bên có quyền không còn chỉ trên
danh nghĩa giao dịch nữa, nó có thể xuất hiện trong giao dịch hoặc không giao dịch
(trong hợp đồng và ngoài hợp đồng). Và dùng cụm “luật quy định” thay thế cho “pháp
luật có quy định” phù hợp với Hiến Pháp và thực tiễn hiện nay.
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 02/KDTM-GĐT
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam – Chi nhánh khu
công nghiệp Bình Dương.
Bị đơn: Công ty TNHH Ngọc Quang.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Công ty cổ phần cơ khí Đồng Lực
+ Ông Phạm Hoàng Tuấn
+ Bà Chung Ngọc Nghĩa
+ Ông Phạm Hoàng Khánh
+ Ông Phạm Hoàng Thọ
+ Bà Phạm Thị Hoàng Yến
+ Bà Phạm Thị Hoàng Anh
Sự việc: (tranh chấp hợp đồng tín dụng)

11


Vietinbank và Công ty Ngọc Quang ký kết nhiều hợp đồng tín dụng, trong đó có 13 hợp
đồng tín dụng quá hạn nhưng chưa thanh toán. Để đảm bảo cho các khoản vay của 13
hợp đồng tín dụng này, hai bên đã ký kết 9 hợp đồng cầm cố, thế chấp và bảo lãnh.
Đến hạn thanh toán, do Công ty Ngọc Quang không thanh toán được nợ của các hợp
đồng tín dụng nên Vietinbank đã khởi kiện ra Tòa án với yêu cầu buộc Công ty Ngọc
Quang thanh toán nợ, nếu không thanh toán được thì yêu cầu xử lý tài sản cầm cố, thế
chấp, bảo lãnh để thu hồi nợ.
Sau đó, Vietinbank căn cứ vào điều khoản về “Xử lý tài sản cầm cố” và “Xử lý tài sản thế
chấp” để tự mình bán các tài sản đã cầm cố, thế chấp theo hợp đồng để thu hồi một phần
tiền nợ.
Còn về phía Công ty Ngọc Quang thì cho là Vietinbank đã vi phạm pháp luật về xử lý tài
sản thế chấp và xâm phạm đến quyền sở hữu của Công ty Ngọc Quang. Công ty Ngọc
Quang không trốn tránh nghĩa vụ trả nợ cho Vietinbank nhưng việc xử lý tài sản thế chấp
là do Tòa án quyết định, Vietinbank không được quyền tự ý xử lý.
Quyết định:
Tòa án sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm: Đều:
+ Chấp nhận yêu cầu phản tố của Công ty Ngọc Quang: tuyên bố các hợp đồng mua bán
tài sản gắn liền với quyền sử dụng đấ thuê giữa Vietinbank và Công ty Đồng Lực là vô
hiệu; buộc Vietinbank và Công ty Đồng lực hoàn trả lại tài sản cho Công ty Ngọc Quang.
+ Không chấp nhận đơn khởi kiện của Vietinbank với Công ty Ngọc Quang về việc yêu
cầu Công ty Ngọc quang thanh toán số tiền nợ trên cơ sở khấu trừ giá trị tài sản của bên
bị đơn bị xử lý.
Tòa giám đốc thẩm:
+ Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm quyết định không chấp nhận yêu cầu khởi
kiện của bên nguyên đơn với bị đơn về việc yêu cầu bên bị đơn thanh toán số tiền nợ trên
cơ sở khấu trừ giá trị tài sản của bên bị đơn là không đúng.
+ Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án phúc thẩm tuyên hủy hợp đồng mua tài sản của Công ty
Đồng Lực với nguyên đơn và buộc nguyên đơn và Công ty Đồng Lực hoàn trả lại cho bị
đơn những tài sản đã mua bán tại các hợp đồng mua bán tài sản là không đúng và không
có tính khả thi.
2.2 Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 trong Quyết định trên có
thuộc trường hợp phải đăng ký không?
Trả lời: Phải đăng ký. Vì căn cứ theo Điểm a Khoản1 Điều 2 Nghị định số
08/2000/NĐ-CP về đăng kí giao dịch đảm bảo quy định:
12


“1. Những trường hợp sau đây phải được đăng ký tại cơ quan đăng ký giao dịch bảo
đảm:
Việc cầm cố, thế chấp tài sản mà pháp luật quy định tài sản đó phải đăng kí quyền
sở hữu;
b …”
a

Như vậy, Hợp đồng thế chấp số 03.00148/HĐTC ngày 27/5/2003 có thuộc trường
hợp phải đăng kí. Do tài sản dùng để thế chấp trong hợp đồng trên là tài sản phải đăng ký
quyền sở hữu (bao gồm: nhà xưởng, kho, văn phòng, nhà bảo vệ, nhà vệ sinh, nhà nghỉ,
nhà máy, hệ thống thoát nước, tường rào,đường nội bộ)
2.3. Hợp đồng thế chấp trên đã được đăng ký chưa? Đoạn nào của Quyết định cho
câu trả lời?
Trả lời:Hợp đồng thế chấp số 03.00148 chưa được đăng ký. Đoạn: “Hợp đồng thế
chấp tài sản số 03.00148/HĐTC ngày 25/7/2003 đã vi phạm về hình thức, không được
đăng ký giao dịch bảo đảm nên không phát sinh hiệu lực. Ngân hàng phải tiến hành lại
thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm theo quy định của pháp luật.”
2.4 Hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm đối với hợp đồng thế chấp nêu trên.
Vì sao Tòa phúc thẩm lại giải quyết như vậy?
Trả lời: Tòa án cấp phúc thẩm đưa ra giải quyết đối với hợp đồng thế chấp trên là
nhận định rằng hợp đồng trên không phát sinh hiệu lực.
Theo Tòa án cấp phúc thẩm thì hợp đồng này đã vi phạm về hình thức, không
được đăng ký giao dịch bảo đảm. Căn cứ vào Điều 298 BLDS 2015 thì việc đăng ký là
điều kiện để giao dịch bảo đảm có hiệu lực và việc đăng ký phải thực hiện theo quy định
của pháp luật.
2.5 Theo Hội đồng thẩm phán, trong trường hợp biện pháp bảo đảm phải đăng ký
nhưng không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm này có giá trị pháp lý đối với các
bên trong giao dịch bảo đảm không? Vì sao?
Trả lời: Theo Hội đồng thẩm phán thì các biện pháp bảo đảm phải đăng ký mà
không được đăng ký thì biện pháp bảo đảm không có giá trị pháp lý đối với các bên. Tuy
nhiên, theo bản án trên thì Hội đồng thẩm phán lại cho rằng hợp đồng thế chấp số
03.00148 là có giá trị pháp lý. Do là Hội đồng thẩm phán đã giải thích theo hướng tài sản
thế chấp cho hợp đồng số 03.00148 đồng thời cũng là tài sản đảm bảo cho hợp đồng thế
chấp quyền sử dụng đất số 02.00034, mà hợp đồng số 02.00034 này có hiệu lực nên kéo
theo hợp đồng số 03.00148 có hiệu lực và làm phát sinh giá trị pháp lý cho các bên liên
quan trong giao dịch bảo đảm.

13


2.6 Suy nghĩ của anh/chị về hướng xử lý trên của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân
dân tối cao.
Trả lời: Hướng giải quyết của Tòa là hợp lý nhưng cách giải thích của Hội đồng
thẩm phán chưa thuyết phục vì ví dụ trường hợp nếu tài sản để đảm bảo trong Hợp đồng
số 03.00148 không đồng thời cũng là tài sản đảm bảo cho Hợp đồng số 02.00034 thì cách
giải quyết của Hội đồng thẩm phán có chấp nhận có hiệu lực và làm phát sinh giá trị pháp
lý cho các bên liên quan trong giao dịch bảo đảm.
Thực chất của mục đích chính của đăng ký là công khai các biện pháp đảm bảo
cho mọi người biết, từ đó làm hiệu lực đối kháng với người thứ ba. Nhưng trong trường
hợp này không có người thứ ba, đồng thời các bên khi ký hợp đồng về tài sản này thì 2
bên hiển nhiên biết về giao dịch này nên khi không đăng ký vẫn sẽ có sự ràng buộc giữa
các bên. Do đó, sự công nhận hiệu lực hợp đồng trong trường hợp này để đảm bảo quyền
lợi cho bên có quyền là cần thiết.
Đồng thời căn cứ Khoản 3 Điều 325 BLDS 2005: “3. Trong trường hợp một tài
sản dùng để bảo đảm thực hiện nhiều nghĩa vụ dân sự mà các giao dịch bảo đảm đều
không có đăng ký thì thứ tự ưu tiên thanh toán được xác định theo thứ tự xác lập giao
dịch bảo đảm.” coi như các nhà làm luật cũng ngầm chấp nhận biện pháp đảm bảo không
đăng ký.

VẤN ĐỀ 3: ĐẶT CỌC
3.1 Cho biết sự khác biệt cơ bản giữa đặt cọc; cầm cố và thế chấp.
Trả lời:
Tài
sản
dùng
để
đảm bảo
Cách thức
sử dụng tài
sản

Đặt cọc
Tiền hoặc kim quí, đá quí
hoặc vật có giá trị khác nói
chung là hiện vật
Giao tài sản thuộc sở hữu
của mình cho bên nhận đặt
cọc

Việc xử lý Không cần qua đấu giá
tài sản
Chức năng Bảo đảm hai chiều
bảo đảm

Cầm cố
Không giới hạn nên
có thể là hiện vật
hoặc quyền tài sản
Giao tài sản thuộc
sở hữu của mình cho
bên cầm cố

Thế chấp
Bất động sản, động
sản hoặc quyền tài
sản
Tài sản vẫn do bên
thế chấp giữ hoặc
giao cho bên thứ ba
nếu có thỏa thuận
khác.
Theo thủ tục bán Theo thủ tục về bán
đấu giá nếu không đấu giá nếu không
có thỏa thuận khác
có thỏa thuận khác
Bảo đảm một chiều Bảo đảm một chiều

14


3.2 Thay đổi giữa BLDS 2015 và BLDS 2005 về đặt cọc.
Trả lời: Theo Quy định tại Khoản 1 Điều 358 BLDS 2005: “Đặt cọc là việc môt
bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc kim loại quí, đá quí hoặc kim loại khác có giá
trị khác (sau đây gọi là tài sản đặt cọc) trong một thời hạn để đảm bảo giao kết hoặc
thực hiện hợp đồng dân sự. Việc đặt cọc phải lâp thành văn bản.”
Và theo Quy định tại Khoản 1 Điều 328 BLDS 2015: “ Đặt cọc là việc một bên
(sau đây gọi là bên đặt cọc) giao cho bên kia (sau đây gọi là bên nhận cọc) một khoản
tiền hoặc kim khí quí, đá quí hoặc vật có gia trị khác (sau đây gọi chung là tài sản đặt
cọc) trong môt thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.”
Như vậy BLDS 2005 yêu cầu về mặt hình thức là việc đặt cọc phải được lập thành
văn bản.
Và theo Đỗ Văn Đại1: “Ở đây BLDS 2005 không rõ yêu cầu văn bản là yêu cầu về
việc chứng cứ của đặt cọc hay là yêu cầu để đặt cọc có hiệu lực. Từ những bất cập của
thực tiễn trước yêu cầu văn bản của BLDS 2005 cùng với xu hướng không đặt nặng vấn
đề hình thức của giao dịch, đã có sự thay đổi đáng chú ý là BLDS 2015 bỏ quy định về
hình thức đặt cọc trong Điều 358 BLDS 2015.”
Trong thực tiễn việc đặt cọc diễn ra rất thường nhật, vì thế việc đòi hỏi phải lập
thành văn bản gây nhiều khó khăn cho cả hai bên vì không đặt nặng hình thức. Gây ảnh
hưởng đến lợi ích bên đặt cọc khi có tranh chấp xảy ra mà yêu cầu cần phải có văn bản
chứng minh. Vì thế việc bỏ đi hình thức bằng văn bản của đặt cọc trong BLDS 2015 là
hoàn toàn xác đáng.
3.3 Theo BLDS, khi nào bên đặt cọc mất cọc, bên nhận cọc bị phạt cọc?
Trả lời: Theo Khoản 2 Điều 328 BLDS 2015 quy định: “2. Trường hợp hợp đồng
được giao kết, thực hiện thì tài sản đặt cọc được trả lại cho bên đặt cọc hoặc được trừ để
thực hiện nghĩa vụ trả tiền; nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện hợp đồng thì
tài sản đặt cọc thuộc về bên nhận đặt cọc; nếu bên nhận đặt cọc từ chối việc giao kết,
thực hiện hợp đồng thì phải trả cho bên đặt cọc tài sản đặt cọc và một khoản tiền tương
đương giá trị tài sản đặt cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.”
Như vậy bên đặt cọc bị mất cọc nếu bên đặt cọc từ chối việc giao kết, thực hiện
hợp đồng và tài sản sản đặt cọc thuộc về bên nhận cọc trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 79/2012/DS-GĐT
Nguyên đơn: ông Phan Thanh Lộc
Bị đơn: bà Trương Hồng Ngọc Hạnh
1 Đỗ

Văn Đại, bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, nxb
Hồng Đức, 2016, lần 2, trang 350-351.
15


Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Lại Quang Lợi
Sự việc: (tranh chấp hợp đồng đặt cọc)
Bà Hạnh thoả thuận bán nhà cho ông lộc, sau thỏa thuận ông Lộc đặt cọc cho bà Hạnh.
Trong thỏa thuận thì các bên có thỏa thuận kể từ ngày kí kết hợp đồng, bà Hạnh phải
hoàn tất các thủ tục để được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu đối với căn nhà trên, nếu
vi phạm thời hạn thì bà Hạnh phải chịu phạt số tiền tương đương với tiền cọc.
Do bà Hạnh vi phạm hợp đồng và sau đó cũng không thực hiện đúng cam kết nên ông
Lộc kiện yêu cầu bà Hạnh phải hoàn trả tiền cọc và phạt cọc.
Còn bà Hạnh chấp nhận trả tiền cọc và tiền lãi suất theo quy định, không đồng ý phạt cọc.
Quyết định:
Tòa án cấp sơ thẩm: chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông lộc, buộc bà Hạnh trả cho ông
Lộc cả tiền cọc và tiền phạt cọc.
Tòa án cấp phúc thẩm: đồng ý với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm.
Tòa án giám đốc thẩm: Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm chưa xác minh, làm
rõ vấn đề mà bị đơn khiếu nại, mà đã chấp nhận ngay yêu cầu khởi kiện của ông lộc để
buộc bà Hạnh chịu phạt cọc là chưa đủ căn cứ.
3.4 Theo Quyết định được bình luận, khi nào bên nhận cọc (bà Hạnh) bị phạt cọc?
Trả lời: Theo Quyết định được bình luận, bên nhận cọc (bà Hạnh) bị phạt cọc do
lỗi của bà Hạnh đã làm chậm trễ việc hoàn thành các thủ tục để được sang tên quyền sở
hữu.
Theo phần xét thấy của Quyết định 79/2012DS-GĐT có đoạn: “Nếu có căn cứ xác
định do bà Hạnh chậm trễ hoàn tất các thủ tục để được sang tên quyền sở hữu thì lỗi
hoàn toàn thuộc về bà Hạnh,và bà Hạnh mới phải chịu phạt tiền cọc.”
3.5 Theo Quyết định được bình luận, khi nào bên nhận cọc không bị phạt cọc?
Trả lời: Theo Quyết định được bình luận, bên nhận cọc không bị phạt cọc nếu lỗi
là do bên cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà
Hạnh khiến bà Hạnh không thể thực hiện đúng cam kết với ông Lộc.
Trong phần xét thấy của Quyết định 79/2012/DS-GĐT có đoạn: “Nếu có căn cứ
xác định cơ quan thi hành án dân sự chậm trễ trong việc chuyển tên quyền sở hữu cho bà
Hạnh thì lỗi dẫn tới việc bà Hạnh không thực hiện đúng cam kết với ông Lộc thuộc về
khách quan, và bà Hạnh không phải chịu phạt tiền cọc.”

16


3.6 Hệ quả của việc bên nhận cọc không bị phạt cọc?
Trả lời: Nếu bên nhận cọc không bị phạt cọc người nhận cọc không phải hoàn trả
tài sản đã nhận giống hậu quả của hợp đồng đặt cọc vô hiệu thì các bên phải hoàn trả cho
nhau những gì đã nhận theo quy định tại Khoản 2 Điều 131 BLDS 2015: “2. Khi giao
dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục lại tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau
những gì đã nhận. Trường hợp không thể hoàn trả được bằng hiện vật thì trị giá thành
tiền để hoàn trả.”.
3.7 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm về xử lý tài sản
đặt cọc.
Trả lời: Theo tôi, Hướng giải quyết của Tòa giám đốc thẩm về xử lý tài sản đặt
cọc là hợp lý vì trong lúc Tòa sơ thẩm và Tòa phúc thẩm chưa xác minh và làm rõ được
lý do bà Hạnh chậm trễ hoàn tất các thủ tục để sang tên quyền sở hữu là lỗi khách quan
do cơ quan thi hành án hay lỗi chủ quan hoàn toàn thuộc về bà Hạnh.
Nếu lỗi do bà Hạnh thì chính bà Hạnh-bên nhận cọc phải trả lại tiền cọc cho ông
Lộc và bị phạt một số tiền tương đương theo căn cứ tại Khoản 2 Điều 363 BLDS 2015
còn nếu là lỗi khách quan của cơ quan thi hành án dân sự thì bà Hạnh chỉ có nghĩa vụ trả
lại tiền cọc cho ông Lộc cùng với lãi suất của ngân hàng.

VẤN ĐỀ 4: BẢO LÃNH
4.1 Những đặc trưng của bảo lãnh.
Trả lời: Theo Khoản 1 Điều 335 BLDS 2015: “1. Bảo lãnh là việc người thứ ba
(sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo
lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được bảo lãnh),
nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng nghĩa vụ.”.
Như vậy, ở đây thì Bảo lãnh bao gồm 03 chủ thể: Bên bảo đảm (bên bảo lãnh), bên
nhận bảo đảm (là bên có quyền – bên nhận bảo lãnh) và bên có nghĩa vụ (bên được bảo
lãnh).
Phạm vi bảo lãnh được quy định tại Điều 336 BLDS 2015. Theo Khoản 1 Điều
366: “1. Bên bảo lãnh có thể cam kết bảo lãnh một phần hoặc toàn bộ nghĩa vụ cho bên
được bảo lãnh.”.
4.2 Những thay đổi giữa BLDS 2005 và BLDS 2015 về bảo lãnh?
Trả lời:
Bộ luật dân sự 2005
Bộ luật dân sựu 2015
Khái niệm
Điều 361 BLDS 2005 về bảo lãnh.
Điều 335 BLDS 2015. Tách ra
làm 2 Khoản riêng biệt, có sự
rạch ròi.
Hình thức bảo Điều 362 BLDS 2005 quy định bắt không quy định về hình thức
17


lãnh

Phạm
lãnh

vi

buộc việc bảo lãnh phải được lập
thành văn bản, có thể lập thành văn
bản riêng hoặc ghi trong hợp đồng
chính. Trong trường hợp pháp luật có
quy định thì văn bản bảo lãnh phải
được công chứng hoặc chứng thực.
bảo Quy định chỉ có “tiền lãi trên nợ
gốc, tiền phạt, tiền bồi thường thiệt
hại, trừ trường hợp có thoả thuận
khác”

bảo lãnh.

có mở rộng thêm nghĩa vụ bảo
lãnh gồm cả “lãi trên số tiền
chậm trả”
Khoản 3 Điều 336 BLDS
2015 cũng quy định thêm việc
các bên có thể thỏa thuận sử
dụng biện pháp bảo đảm bằng
tài sản để bảo đảm thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh.

Bên bảo lãnh chỉ được yêu cầu bên Điều 340 BLDS 2015 quy
được bảo lãnh thực hiện nghĩa vụ đối định thêm “trừ trường hợp có
với mình trong phạm vi bảo lãnh, khi thỏa thuận khác.”
bên bảo lãnh đã hoàn thành nghĩa vụ
tại Điều 367 BLDS 2005.
Điều 368 BLDS 2005 quy định rằng,
trừ trường hợp các bên có thỏa thuận
khác hoặc pháp luật có quy định
khác, thì mặc dù bên nhận bảo lãnh
đã miễn việc thực hiện nghĩa vụ cho
bên bảo lãnh, nhưng bên được bảo
lãnh vẫn phải thực hiện nghĩa vụ đó.

Tại Điều 341 nhà làm luật đã
có một tư duy rất mới khi quy
định rằng, trừ trường hợp có
thỏa thuận hoặc pháp luật có
quy định khác, nếu bên nhận
bảo lãnh đã miễn việc thực
hiện nghĩa vụ cho bên bảo
lãnh thì bên được bảo lãnh
cũng không còn phải thực hiện
nghĩa vụ đối với bên nhận bảo
lãnh nữa.

Điều 370 BLDS 2005 có quy BLDS 2015 không có điều
định: Việc bảo lãnh có thể được hủy khoản quy định việc hủy bỏ
bỏ nếu được bên nhận bảo lãnh đồng việc bảo lãnh.
ý, trừ trường hợp pháp luật có quy
định khác.
 Từ những quy định mới của BLDS 2015 về biện pháp bảo lãnh, có thể thấy, pháp luật đã

có những hướng quy định tích cực bảo vệ quyền, lợi ích của bên nhận bảo lãnh, cũng như
những quy định về trách nhiệm của bên bảo lãnh đối với việc thực hiện nghĩa vụ thay cho
bên được bảo lãnh.

18


Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 02/2013/KDTM-GĐT
Nguyên đơn: Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương – Chi nhánh đồng Nai
Bị đơn: bà Đỗ Thị Tỉnh – Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Trần Văn Miễn và bà Nguyễn Thị Cà
Sự việc:
Quỹ tín dụng đã ký hợp đồng tín dụng với bị đơn là Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân.
Tài sản bảo đảm cho vay là quyền sử dụng đất do ông Miễn và bà Cà đem thế chấp cho
bên bị đơn để bảo đảm nghĩa vụ trả nợ của bên bị đơn.
Quỹ tín dụng khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Tỉnh phải trả tiền nợ gốc và lãi, nếu bà
Tỉnh không trả thì buộc người bảo lãnh có trách nhiệm với số nợ.
Bà Tỉnh đồng ý trả nợ và đề nghị đưa nhà, đất của bà vào thay thế cho tài sản của ông
Miễn và bà Cà.
Quyết định:
Tòa án cấp sơ thẩm:
+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn có trách nhiệm thanh toán
cho bên nguyên đơn tiền gốc và lãi.
+ Số tiền trên được ưu tiên đảm bảo thanh toán bằng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
theo Hợp đồng thế chấp của nguyên đơn và ông Miễn, bà Cà.
Tòa án cấp phúc thẩm: đồng ý với Tòa án cấp sơ thẩm.
Tòa án giám đốc thẩm: quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm
không đúng.
• Đối với quyết định số 02

4.3 Đoạn nào của quyết định cho thấy Tòa án xác định quan hệ giữa ông Miễn, bà
Cà với Quỹ tín dụng là quan hệ bảo lãnh?
Trả lời: Đoạn cho câu trả lời: “Trong trường hợp xác định Hợp đồng thế chấp
quyền sử dụng đất của người thứ ba số 01534 ngày 22/9/2006 giữa các bên có hiệu lực
thì phải tuyên theo đúng quy định tại Khoản 1, Điều 5 và Khoản 1, Điều 7 của Hợp đồng
thế chấp; Điều 361 Bộ luật Dân sự là khi Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân không
trả nợ hoặc trả không đủ thì ông Miễn, bà Cà phải trả thay; nếu ông Miễn, bà Cà không
trả nợ hoặc trả không đủ thì mới xử lí tài sản thế chấp để thu hồi nợ”.

19


4.4 Suy nghĩ của anh/chị về việc xác định trên của Hội đồng thẩm phán.
Trả lời: Việc xác định trên của hội đồng thẩm phán là hợp lí và đúng quy định của
pháp luật vì ông Miễn và bà Cà đã lấy tài sản của mình để bảo đảm cho khoản vay của
chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân bằng hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất của
người thứ ba số 01534 ngày 22-9-2006 giữa Qũy tín dụng (bên nhận thế chấp) với ông
Miễn và bà Cà (bên thế chấp) và bà Tỉnh - chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân (bên
vay vốn ). Hợp đồng thế chấp đã được chứng thực và đăng kí giao dịch bảo đảm. Nên khi
doanh nghiệp tư nhân không trả hoặc trả không đủ thì ông Miễn, bà Cà trả thay và nếu
ông Miễn và bà Cà không trả hoặc trả không đủ thì mới xử lí thế chấp để thu hồi nợ.
Căn cứ vào Điều 335 BLDS 2015 quy định về bảo lãnh: “1. Bảo lãnh là việc
người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là bên
nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây gọi là bên được
bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo lãnh không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”.
4.5 Theo Toà án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để đảm bảo
cho nghĩa vụ nào? Vì sao?
Trả lời: Theo Toà án, quyền sử dụng đất của ông Miễn, bà Cà được sử dụng để
đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của Chủ doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân là bà Đỗ Thị
Tỉnh.
Vì ngày 26/9/2006, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương - Chi nhánh Đồng Nai ký
Hợp đồng tín dụng số TC066/02/HĐTD cho Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân vay
900.000.000 đồng. Tài sản bảo đảm cho khoản vay này là quyền sử dụng 20.408 m2 đất
do vợ chồng ông Miễn bà Cà đem thế châp cho Quỹ tín dụng để đảm bảo nghĩa vụ trả nợ
cho Chủ Doanh nghiệp tư nhân Đại Lộc Tân. Như vậy vợ chồng ông Miễn bà Cà đã đứng
ra bảo lãnh cho bà Tỉnh. Vì vậy ông Miễn và bà Cà phải có trách nhiệm đối với nghĩa vụ
đó.
Tóm tắt Quyết định giám đốc thẩm số 968/2011/DS-GĐT
Nguyên đơn: bà Vũ Thị Hồng Nhung.
Bị đơn: bà Nguyễn Thị Thắng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Nguyễn Thị Mát
+ Ông Nguyễn Văn Tam
Sự việc: (tranh chấp hợp đồng bảo lãnh)
Bà Nhung cho bà Mát mượn tiền với sự bảo lãnh của bà Thắng.

20


Do bà Mát không trả cả tiền gốc lẫn lãi nên bà Nhung khởi kiện yêu cầu bà Mát và bà
Thắng phải có trách nhiệm trả tiền cho bà.
Quyết định:
Tòa án cấp sơ thẩm: chấp nhận đơn khởi kiện của bà Nhung, bà Thắng phải thực hiện
nghĩa vụ thay cho bà Mát, ông Tam để trả tiền cho bà Nhung cả gốc và lãi.
Tòa án cấp phúc thẩm: giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tòa án giám đốc thẩm: hủy bản án sơ thẩm và phúc thẩm, quyết định trên của Tòa án cấp
sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không đúng.
4.6 Đoạn nào cho thấy Tòa án địa phương đã theo hướng người bảo lãnh và người
được bảo lãnh liên đới thực hiện nghĩa vụ cho người có quyền?
Trả lời: Đoạn: “Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Hồng Nhung.Bà Nguyễn
Thị Mát và bà Nguyễn Thị Thắng cùng có nghĩa vụ liên đới chịu trách nhiệm trả cho bà
Vũ Thị Hồng Nhung 700.100.000đồng.”
4.7 Hướng liên đới trên có được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận không?
Trả lời: Hướng liên đới trên không được Tòa giám đốc thẩm chấp nhận. Trên cơ
sở kháng nghị của Viện trưởng viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa giám đốc thẩm đã
xác định bà Mát mới là người cần phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà Nhung, còn bà
Thắng và ông Ân chỉ là những người đứng ra bảo lãnh cho bà Mát. Và họ sẽ chỉ thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh của mình khi có chứng cứ chứng minh được bà Mát không có khả năng
trả tiền cho bà Nhung.
4.8 Suy nghĩ của anh/chị về hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan
đến vấn đề liên đới nêu trên?
Trả lời: Hướng giải quyết trên của Tòa giám đốc thẩm liên quan đến vấn đề liên
đới nêu trên là hoàn toàn hợp lí, Tòa sơ thẩm các cấp xác định bà Thắng cùng liên đới
thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà Nhung là không đúng.Vì:
- Ở đây, người vay tiền của bà Nhung là bà Mát còn bà Thắng và ông Ân chỉ là
người bảo lãnh. Nên bà Mát mới đúng là người phải thực hiện nghĩa vụ trả tiền cho bà
Nhung. Tại Khoản 1 Điều 355 BLDS 2015 cũng có quy định:
“1. Bảo lãnh là việc người thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền
(sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau
đây gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên được bảo
lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ.”
- Thứ hai, người bảo lãnh là bà Thắng, ông Ân chỉ có nghĩa vụ trả thay khi có căn
cứ chứng thực bà Mát không có khả năng trả tiền hoặc chỉ có thể trả một phần, thì khi đó

21


phần còn lại mới do người bảo lãnh chịu trách nhiệm trả tiếp, theo như quy định tại
Khoản 1 Điều 342 BLDS 2015:
“1.Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.”
4.9 Phân biệt thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh?
Trả lời: Phân biệt thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh và thời điểm thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh:
- Thời điểm phát sinh nghĩa vụ bảo lãnh:
+ Nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh trong tương lai.
+ Nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh ngay khi một bên nhận bảo lãnh cho bên còn lại.
- Thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh: theo Khoản 1 Điều 342 BLDS 2015 quy định:
“Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.”
 Vậy, thời điểm thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh là khi đã đến hạn mà bên được bảo lãnh vẫn

không thể thực hiện hiện nghĩa vụ hoặc không thực hiện thì lúc đó bên nhận bảo lãnh
phải thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh
4.10 Theo BLDS, khi nào người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh?
Trả lời: Theo BLDS, người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi: theo
Khoản 1 Điều 342 BLDS 2015 quy định:
“ Điều 342. Trách nhiệm dân sự của bên bảo lãnh
1. Trường hợp bên được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ
thì bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ đó.”
Vậy theo BLDS, người bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh khi nào bên
được bảo lãnh không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì lúc đó
bên bảo lãnh sẽ phải thực hiện nghĩa vụ này.



22


TÀI LIỆU THAM KHẢO
VĂN BẢN PHÁP LUẬT
Nghị định số 163/2006/NĐ-CP đã được sửa đổi tại Nghị định 11/2012/NĐ-CP;
Luật đất đai 2013 ;
Thông tư liên tịch 09/2016/TT-BTP-BTNMT hướng dẫn việc đăng ký thế chấp quyền
sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất.
 Nghị định số 08/2000/NĐ-CP về đăng kí giao dịch đảm bảo.
CÁC TÀI LIỆU KHÁC




 Đỗ Văn Đại, Giáo trình Pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng,

Nxb. Hồng Đức-Hội Luật gia Việt Nam 2017;
Đỗ Văn Đại, bình luận khoa học những điểm mới của Bộ luật dân sự năm 2015, nxb
Hồng Đức, 2016, lần 2.

23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×