Tải bản đầy đủ

Chủ đề báo cáo: Ô NHIỄM NƯỚC Môn học QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG

[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
KHOA MÔI TRƯỜNG
LỚP 10CMT

Chủ đề báo cáo:

Ô NHIỄM NƯỚC
Môn học

QUAN TRẮC MÔI TRƯỜNG
Giảng viên hướng dẫn : Ts. Tô Thị Hièn
Nhóm thực hiện: 19
Đỗ Quốc Việt

1022348

Nguyễn Thị Thanh Tâm

1022254


Nguyễn Thị Bích Thuận

1022286

Trần Huỳnh Vân Nhi

1022208

Nguyễn Thị Thu Thảo

1022274


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

NỘI DUNG BÀI THUYẾT TRÌNH
I – TỔNG QUAN VỀ NƯỚC Ô NHIỄM………………………………………………
II – CÁC DẠNG Ô NHIỄM NƯỚC……………………………………………………
III – XỬ LÝ NƯỚC ……………………………………………………………………
IV – PHÂN TÍCH NƯỚC………………………………………………………………

I. Tổng quan về ô nhiễm nước
1 Thủy quyển
Nước là một trong những mặt hàng quý giá nhất,mạc dù nó thường được dùng mọi lúc
mọi nơi.Nó được sử dụng cho nhiều mục đích,hầu hết là để phục vụ cho cuộc sống và
xã hội.Công dụng lớn nhất của nước là dùng để uống bởi không có baats cứ 1 người
hay 1 sinh vậy nào có thể tồn tại khi thiếu nước.Và nó còn được sử dụng hàng ngày
cho khâu vệ sinh cá nhân.Cả ngành nông nghiệp và công nghiệp đều sử dụng một
lượng nước rất lớn để phục vụ cho vệc sản xuất thực phẩm và các mặt hàng tiêu
dùng.Ngoài ra,cá mà chúng ta ăn cũng phụ thuộc hoàn toàn vào nước.Nguồn nước
không thể bị cạn kiệt hoàn toàn bởi nó còn được thu hồi qua các chu trình thủy văn tự
nhiên,tuy nhiên chất lượng nước có thể giảm đến lúc nước không còn sử dụng
được,thậm chí đến mức độc hại và gây chết người.Ô nhiễm nước nghiêm trọng đã xảy
ra ở các sông,hồ và thậm chí là cả ở các phần của đại dương.
97% nước trên thế giới được tìm thấy ở các đại dương.Chỉ có 2,5% nước trên thế giới
là nước ngọt,tuy nhiên có đến 75% nước ngọt lại bị ngập sâu ở các dòng sông băng và
tảng băng,Chỉ có 1 Yo nước ngọt được tìm thấy trong sông,hồ,đất và 24 % trong của
chúng là nước ngầm.Nhu cầu sử dụng nước và dân số ngày càng gia tăng đã gây áp lực
lớn cho nguồn tài nguyên nước,Năm 11975,tổng số nước sử dungjt oàn cầu là 4000
kilome khối/năm và dự kiến sẽ tăng leenkhoangr 6000 km khối/năm vào năm


2000.Việc tìm kiếm nguồn cung caaos nước ngọt để đáp ứng cái nhu cầu ngày càng
tăng của con người,và duy trì chất lượng nước đang trở thaanhf một vấn đề.Mặc dù
lượng nước sẵn có không phải là 1 vấn đề trên quy mô toàn cầu,nhưng việc tìm kiếm
nước ngọt chất lượng cao tại những điểm yêu cầu với số lượng lớn là là 1 vấn đề nan
giải.
2 Ô nhiễm nước:
Các khu dân cư và ngành công nghiệp từ lâu đã được tập trung dọc theo các dòng
sông,vùng cửa sông và ven biển do ưu thế của thương mại liên quan đến nước.Con


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

ngươi sử dụng nước dẫn đến suy thái chất lượng nước bởi việc thải ra các chất ô nhiễm
khác nhau.Trong lịch sử,ô nhiễm nước không phải là 1 vấn đề lớn cho đến khi các
trung tâm lớn có dân số tằn cao.Sông và biển đều có khả năng tự làm sạch,nhưng ô
nhiễm nguồn nước sẽ là vấn đề khi nó vượt quá khả năng tự làm sạch của nước.Chất ô
nhiễm nước là bất kì tác nhân vật lí,hóa học hay sinh học nào ở mức độ quá cao có khả
năng gây hại cho các sinh vật sống,bao gồm cả con người.Chất lượng nước thì quyết
định tiềm năng sử dụng của nó.Ví dụ chất lượng nước cần thiết cho công nghiệp thì
phụ thuộc và các quá trình của ngành công nghiệp đó.Nước bị ô nhiễm cũng có thể
được sử dungjc ho 1 số quá trình nhưng không phải là tát cả.
Nước ô nhiễm là 1 mối nguy hiểm sức khỏe nghiêm trọng.Con người có thể bị bệnh do
uống,rửa hay bơi lội trong nước bị ô nhiễm.
Mối nguy hiểm sinh học của nước gồm có vi khuẩn gây bệnh,virut và kí sinh
trùng.Còn hóa chất nguy hiểm bao gồm nitrat,chì,asen và các chất phóng xạ.Mối quan
tâm hàng đầu là chất lượng nước cấp cho sinh hoạt phải được miễn nhiễm các chất có
hại cho sức khỏe con người.Từ quan điểm y tế cộng đồng là quan trọng nhất mà nguồn
cấp nước sinh hoạt được miễn nhiễm từ các sinh vật gây bệnh.Tác nhân gây bệnh có
thể lây truyền qua nước bao gồm các vi khuẩn gây bênh đường ruột như lỵ,tả,thương
hàn và cả các tác nhân truyền nhiễm bệnh viêm gan và bại liệt.
Ở các nước phát triển như châu Âu và Bắc Mĩ,nguồn cung cấp nước thường được
kháng khuẩn,nhưng điều này không có nghĩa ở các nước này các bệnh truyền nhiễm
không xảy ra.Thậm chí ở các nước phát triển,bệnh liên quan đến nước vẫn cò là 1 mối
đe dọa và nguồn cấp nước vẫn thường xuyên đc kiểm tra nồng độ coliform.Nguồn cấp
nước cũng cần phải được loại trừ các hóa chất độc hại như thuốc trừ sâu,thuốc bảo vệ
thực vật,kim loại nặng và các chất phóng xạ.
Một dạng phổ biến của ô nhiễm vật lý là ô nhiễm nhiệt.Công nghiệp sử dụng nước cho
mục đích làm mát và nước này được xả ra sẽ có nhiệt độ cao hơn nhiệt độ môi trường
xugn quanh.Thủ phạm chính trong lĩnh vực này chính là các nhà máy điện,trong đó sử
dụng số lượng rất lớn nước mặt cho ngưng tụ hơi nước để các tu-bin phát điện.Sau
đó,nước nóng được xartrowr lại vào sông hồ,cửa sông và biển.cá vốn rất nhạy cảm
với nhiệt độ và chỉ cần gia tăng 1 vài độ cũng gay ra hậu quả nghiệm trọng cho chúng
và các sinh vật sống trong nước.do đó,nhiệt độ của nước thường phải được làm giảm
trong tháp làm mát tại nhà máy điện trước khi thải bỏ.


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Bảng 4.1 : Các chất ô nhiễm hóa học chính trong nước:
Chất ô nhiễm
Phóng xạ

Nguồn đặc trưng.
Thải từ ngành công nghiệp hạt
nhân,vận chuyển vật liệu hạt nhân và
thử nghiệm hạt nhân
Chất diệt cỏ và thuốc trừ sâu trong
nông nghiệp.Công nghiệp và bản thân
các chất thải.sự cố tràn dầu.

Nhận xét
Là chủ đề nóng.Gây ảnh
hưởng sức khỏe nên gây
tranh cãi thường xuyên,
Ô nhiễm hữu cơ
Một loạt các chất được
thải( hydrocacbon,xăng
dầu,thước trừ sâu,chất tẩy
rửa…)ảnh hưởng đến sức
khỏe con người và hệ sinh
Kim loại nặng
Chất thỉa từ ngành công nghiệp,nông
thái thủy sinh.
nghiệp,thoát nước đô thị và nước từ
Nhiều chất ô nhiễm kim loại
các hộ gia đình.
có thể tác dộng xấu cho sức
khỏe con người và hệ sinh
thái thủy sinh ( Thủy
Axit
Hệ thống thoát nước từ các mỏ,chất
ngân,chì,cadimi…)
thải từ ngành công nghiệp và lắng
Gây hại cho hệ sinh thái
đọng axit trong khí quyển
thủy sinh( như axit
sunfuric,axit nitric) băng
chất dinh dưỡng Phân bón và nước thải dùng trong
cách vận chuyển các kim
nông nghiệp
loại độc hại.
Gây phú dưỡng hóa( Hợp
chất P và N).Nitrat có thể
ảnh hưởng sức khỏe con
người
Cuốn sách này có đề cập đến các phân tích hóa học,vật lí và o nhiễm sinh học nhưng
ko đc thảo luận chi tiết.
Nguồn chính của ô nhiễm nước là: nước thải,chất thỉa công nghiệp,nước thoát từ đất
và sự cố tràn dầu.Các loại chínhgây ô nhiễm nước và nguồn của chúng đã đc liệt kê
trong bảng 4,1.rất nhiều trong số các chất ô nhiễm liên tục được thải vào nguồn nước
đã gây sự quan tâm của cộng động.Ví dụ điển hình là tai nạ phóng xạ từ nhà máy tái
chế hạt nhân Sellafield ở Anh gần biển Ailen,thử hạt nhân ủa Pháo ở Thái Bình Dương
và sựu cố tràn dầu ở Exxon Valdez
3 Các chỉ số cần quan tâm


Nhu cầu oxy sinh hóa ( BOD)

Nước thải đi vào sông hoặc biển từ một miệng cống xả thải có thể xem như một
nguồn ô nhiễm điểm,nồng độ chất ô nhiễm giảm dần về hạ lưu do được pha loãng.Các
chất ô nhiễm hữu cơ trong nước tahir hiện đang là 1 vấn đề ô nhiễm cụ thể.Các vi


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

khuẩn trong nước có thể làm suy giảm chát hữu cơ,sử dụng oxy hòa tan (DO) trong
quá trình này.Lượng oxy cần thiết để phân hủy chất hữu cơ trong một đơn vị thể tích
nước gọi là nhu cầu oxy sinh hóa (BOD) .BOD có thể xem như 1 thước đo ô nhiễm
hưu cơ và được xác ddihnj thường xuyên trong các nhà máy xử lí nước thải và các
phòng thid nghiệm chất lượng nước.Nếu có quá nhiều chất ô nhiễm hữ cơ và nồng độ
BOD quá cao,DO sẽ trở nên rất thấp để hỗ trợ đời sống thủy sinh.Sự phân hủy các
chát ô nhiễm hữu cơ bắt đầu ngay sau khi nước thải vào sông và gần với các nguồn
điểm của ô nhiễm là khu vực ô nhiễm,tại đố BOD cao và DO thấp.Vùng hạ lưu có 1
vùng hoạt động,tại đố DO tối thiểu do sự phan hủy sinh hóa của cá chất ô nhiễm hữu
cơ.Cuối cùng ,có 1 khu vực phục hồi trong đó DO tăng trong khi BOD giảm bởi vì hầu
hết các chất ô nhiễm hwuux cơ đã bị phân hủy.hầu hết các vùng nước có khả năng
phan hủy chất thỉa hữ cơ,tuy nhiên vấn đề phát sinh là nguồn nước tiếp nhận vượt mức
chịu tải hữu cơ.nếu khả năng làm sạch tự nhiên của nước rất cao,tất cả DO có thể được
sử dụng hết làm cho cá chết.


Phú dưỡng hóa:

Sự gia tăng nồng độ các chất dinh dưỡng trong nước được gọi là hiện tượng phú
dưỡng hóa.Chất dinh dưỡng là những yếu tố cần thiết cho sự phát triển của sinh vật
(C,N,P,K,S và 1 số kim loại vi lượng).Phú dưỡng là 1 quá trình tự nhiên và mong
đợi,tuy nhiên hoạt động của con người có thể gia tăng sự có mặt của các chất dinh
dưỡng,dẫn đến phú dưỡng hóa,một vấn đề lớn được quan tâm.Nước thải và phân bón
từ nông nghiệp có chứa hàm lượng N và P cao thải vào trong nước làm tăng các phiêu
sinh thực vậtĐây là hiện tượng tảo nở hoa.Tảo phát triển quá dày nên ánh sáng mặt
trời ko thể truyền vào nước nên tảo chết do thiếu ánh sáng.Tảo phân hủy,oxy hòa tan
đc sử dụng và cá sẽ chết do thiếu oxy
Phú dưỡng hóa thường gặp trong hồ tiếp nhận chất thải giàu sinh dưỡng.gần đây,mối
quan tâm đã được bày tỏ về khả năng phú dưỡng vùng biển ven bờ ở vùng nhiệt đới và
tác động của nó đến các rạn san hô.Hiên tượng này có thể đc giải quyết bằng đảm bảo
rằng nc thải đỏ vào nguồn tiếp nhận không chứa hàm lượng dinh dưỡng quá mức.Điều
này có thể thực hiện được bằng cách sử dụng phương pháp xử lí nc thải tiên tiến có
khả năng có hiệu quả hơn trong việc kiểm soát P hơn N, do P thường hạn chế sự phát
triển của tảo và lượng P này thường được thải ra từ điểm, nguồn hay công trình xây
dựng nào đó.

Bảng 4.2 Thông số của hiện tượng phú dưỡng hóa ở các hồ và hồ chứa.


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Thông số
Tổng N (g L-1)
Tổng P (g L-1)
DO trong (% độ bão hòa)
Diệp lục (g L-1)
Thực vật phù du (gCm-2d-1)
Theo C.F.Mason (1990)

nghèo dinh dưỡng trung bình
<200

<10
>80
<4

7-25

giàu dinh dưỡng

200-500 >500
10-20
>20
10-80
<10
4-10
>10
75-250
350-700

Mặc khác, hầu hết lượng N được tìm thấy từ những nguồn khuếch tán cũng như là hệ
thống thoát nước dưới đất. xử lí nước ô nhiễm dùng chất keo tụ có khả năng loại bỏ
được P từ việc đổ các chất thải xuống song, nhưng hầu hết các nàh máy đều không tâm
đến việc xử lý sơ bộ này. Phương pháp này thì có thể được áp dụng, không tốn kém
mà giảm được hiện tượng phú dưỡng hóa ảnh hưởng đến các thành phần trong nước.
Bảng 4.2 cho thấy quan hệ giữa những vùng địa lý và các thong số điểm hình trong
nước.


Sự acid hóa

Quá trình acid hóa của nước sạch đã được tiếp diến hơn 1 thế kỉ, nhưng nó chỉ được
nhận ra khi một có 1 vấn đề ô nhiễm nguồn nước quan trọng xảy ra vào sau những
năm 1960. Những nghiên cứu về xu hướng phát triển của pH ở các song, hồ ở Sweden,
Norway, Canada và Mỹ cho thấy pH giảm đã kéo dài hơn 40 năm và pH ở những hồ
kém đệm thì cũng thấp từ 4-4.5. nguyên nhân cuae sự acid hóa là do sự lắng đọng của
những cơn mưa acid và được thảo luận trong phần 2.1. Quá trình acid hóa có thể làm
cho các kim loại độc hại, như Nhôm, bị rửa trôi vào dung dịch. Một phương pháp để
giảm quá trình acid hóa của một hồ là dùng vôi, nhưng đó chỉ là dung dịch tạm thời.
Một nguồn axit khác trong nước bề mặt là hệ thống thoát nước của mỏ khoáng sản từ
mỏ lưu huỳnh mang than, sắt, chì, kẽm và đồng. hệ thống thoát nước từ các mỏ than
dưới lòng đất và bề mặt đặc biệt có tính axit do sự hiện diện của pyrite (FeS2) trong
các vỉa than. Pyrit phản ứng với nước và không khí với sự tham gia của một số vi
khuẩn để sản xuất axit sunfuric:
2FeS2 + 7O2 + 2H20 --+ 2FeS04 + 2H2S04

Ví dụ 1
Phân tích mẫu nước của 1 một con sông và xác định được nồng độ của Ca 2+ và CO2-3
lần lượt là 30 và 0.25 mg L-1 Tính toán độ bão hòa đối với canxi là K sp= 8.7 x 10-9
mol2L-2 .


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Sự cân bằng giữa muối và các ion hòa tan được xác định bởi sản phẩm hòa tan và Ksp.
Ví dụ cho canxit khoáng, sự cân bằng có thể được mô tả bởi phương trình:
CaCO3 (s) = Ca2+ +

CO32-

Ksp = [Ca2+] [CO32-]

Chữ (s) biễu diễn CaCO3 ở pha rắn. Các sản phẩm của các ion hòa tan thực sự đo trong
dung dịch được gọi là ion hoạt tính (IAP). Ở ví dụ nêu trên, nồng độ được chuyển
thành đơn vị mol L-1 bằng cách chia khối lượng ion tương ứng và IAP được tính toán:
[Ca2+] = 30 x 10-3/40.08 = 7.5 x l0-4 mol L-1
[CO-] = 0.25 x 10-3/60.01 = 4.2 x mol L-1
IAP = (7.5 x l0-4) x (4.2 x l0-6) = 3.19 x 10-9 mo12 L-2
Mối quan hệ giữa IAP và Ksp được dùng để xác định tính chất của dung dịch:
IAP > Ksp, dung dịch bão hòa và muối kết tủa.
IAP = Ksp, trạng thía cân bằng dung dịch bão hòa và muối.
IAp < Ksp, dung dịch chưa bão hòa và muối hòa tan.
Trong ví dụ trên, IAP (3.19 x10-9 ) < Ksp (Ksp = 8.7 x 10-9) và dung dịch chưa bão hòa.
Vì thế Canxi sẽ tan ra.
Độ bão hòa = IAP/Ksp = 3.19 x10-9 /8.7 x 10-9 = 0.37
Sự oxi hóa của Fe2+ thành Fe3+ tạo ra acid sulfuric :
4FeSO4 + 10H2O + O2  4Fe(OH)3 +

4H2SO4

Hệ thống thoát nước của các mỏ khoáng được kiểm soát bằng cách đậy kín những mỏ
không sử dung nữa, kiểm soát hệ thống thoát nước và xử lý hóa học như việc bón vôi.
Đất phèn cũng có thể coi như một nguồn axit dưới điều kiện môi trường thích hợp. Đất
phèn rất giàu pyrite (FeS2) và thường xảy ra ở đầm lầy vùng triều và đồng bằng ven
biển.
Khi hệ thống thoát nước mang oxy vào các loại đất chứa pyrit được oxy hoá thành acid
sulfuric theo phản ứng tương tự như trên cho hệ thống thoát nước của mỏ acid. Độ pH
của nước có thể giảm xuống thấp hơn 4 và mức độ độc hại của nhôm được phát tán
vào dung dịch, đặt ra một mối nguy hại cho đời sống thuỷ sinh. Đất phèn chủ yếu ở
vùng nhiệt đới, ví dụ điển hình được biết đến là đồng bằng Bangkok ở Thái Lan, nơi
đây đất phèn chiếm khoảng 600 000 ha..

Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường có tính axit bao gồm:


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]


Phá hủy các sinh vật thủy sinh. PH dưới 4, hầu hết các dạng sống ở các vùng
nước bề mặt sẽ chết.



Tăng độ ăn mòn. Điều này có thể có ảnh hưởng đến tàu thuyền, các công trình
được xây dựng dưới nước (ví dụ như cầu tàu) và hệ thống đường ống dẫn
nước.



Thiệt hại cho cây trồng nông nghiệp. Nếu độ pH của nước tưới giảm xuống
dưới 4,5, các kim loại nặng của các nàh máy có thể hòa tan vào nước tưới.



Độ mặn

Hầu hết trên thế giới, nước là nước muối (tức là nước biển), còn trong nước ngọt, độ
mặn là không cần. Tuy nhiên, nước ngọt sẽ thành nước mặn khi:


Nước thải công nghiệp chứa hàm lượng các muối vô cơ cao được tạo ra từ
quá trình công nghiệp.



Nước dùng để làm tan chảy băng tuyến trên các đường cao tốc.



Từ thủy lợi, nước hòa tan muối từ đất.



Nước biển xâm nhập vào sông khi triều cao và dòng chảy thấp.



Nước mặn từ các giếng dầu và mỏ cũng có thể tràn vào các vùng nước ngọt.

Độ mặn trong nước ngọt có thể gây ra một số vấn đề:


Nước mặn không phải là nguồn nước thích hợp để uống.



Độ mặn có thể ảnh hưởng xấu đến sinh vật dưới nước trong vùng nước ngọt bởi
vì, không giống như các sinh vật biển,sinh vật ở nước ngọt thường không thích
nghi với độ mặn cao.



Độ mặn trong nước tưới có thể ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và tạo ra sản
phảm của cây trồng.

II. Các loại ô nhiễm nước
1 Ô nhiễm ven bờ
Các thành phần của nước biển là khá khác so với các vùng nước ngọt (xem Bảng 4.4);
nước biển là một dung dịch điện phân có chứa một số ion với nồng độ cao. Hơn nữa,
nước biển có khả năng chống sự thay đổi pH khi bổ sung axit hoặc kiềm hơn nước


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

ngọt do khả năng đệm của nước biển lớn hơn. Mặc dù cho đến nay, , khả năng hấp thụ
chất thải của các hồ chứa lớn nhất trong thủy quyển, đại dương không phải là vô hạn
và có các dẫn chứng về ô nhiễm nước biển trên toàn thế giới. Tuy nhiên,đó là các vùng
ven biển mà bị ảnh hưởng nhất. Vùng nước ven biển bị ô nhiễm do nhận trực tiếp
nguồn nước thải và chất ô nhiễm dổ trực tiếp ra sông. Ô nhiễm môi trường của các
vùng ven biển từ lâu đã là một vấn đề lớn trên toàn thế giới và đang ngày càng gia
tăng. Ô nhiễm môi trường ven biển đặc biệt nghiêm trọng ở các nước đang phát triển,
ở đó nước thải và chất thải khác được thải ra vùng nước cửa sông và ven biển mà
không có xử lý sơ bộ trước. Thường thì, các chất thải mang theo một lượng chất thải
hữu cơ với hàm lượng cao. Mật độ dân số ở các vùng ven biển, ngay cả ở những khu
vực cho đến thời gian gần đây có thể được coi là xa xôi và hẻo lánh thì đã tăng lên do
sự phát triển của du lịch tạo ra một nguồn thu lớn ở nhiều quốc gia đang phát triển.
Ảnh hưởng của ô nhiễm môi trường ven biển đến sức khỏe cộng đồng là một mối quan
tâm lớn vì thủy sản là nguồn thức ăn chính và ưa thích của các nước này. Sự gia tăng
ô nhiễm vùng nước ven biển là do du lịch và sản xuất thủy sản. Ô nhiễm môi trường
ven biển dẫn tới những mối đe dọa như sau:


Hiện tượng phú dưỡng hóa. Việc xả nước thải với hàm lượng các chất dinh
dưỡng cao có thể làm cho tảo nở hoa và dẫn đến khử oxy trong vùng nước ven
biển. Phân hủy các chất hữu cơ sử dụng oxy và giảm DO đến mức có thể dẫn
chết cá và các sinh vật khác ở trong cả trang trại nuôi cá ven biển và đánh bắt
thủy sản, làm giảm năng suất và giảm nguồn cung cấp thực phẩm.



Tích lũy sinh học của các kim loại nặng. Kim loại nặng trong nước thải có thể
được tích lũy trong hải sản, đặc biệt là động vật có vỏ như sò, trai và sò huyết,
đến mức vượt quá tiêu chuẩn đối với sức khỏe cộng đồng, do đó nguy hiểm đến
sức khỏe của những người ăn hải sản.



Ô nhiễm vi sinh vật.Việc xả nước thải ra vùng nước biển ven bờ mang dẫn tới
sự ô nhiễm vi sinh vật cho nước và hải sản. Mức độ gia tăng của vi khuẩn E.
coli trong vùng nước ven biển đã dẫn tới các triệu chứng về tiêu hóa và da của
người tắm. Tiêu thụ thủy sản bị ô nhiễm cũng là một vấn đề sức khỏe cộng
đồng cẩn quan tâm ở các nước đang phát triển.Tuy nhiên, sự gia tăng ngộ độc
thực phẩm thủy sản, đặc biệt là động vật có vỏ, không phải là hiếm mà ngay cả
ở các nước phát triển, dẫn chứng là những cảnh báo công khai đưa ra từ lâu.



Thủy triều đỏ. Sự ô nhiễm ven biển do nở hoa của tảo độc, gọi là "thủy triều
đỏ", là một vấn đề quan trọng trong khu vực ven biển của nhiều nước đang phát
triển. Thủy triều đỏ là do sự hiện diện của một loài tảo cụ thể, một loài đặc biệt
quan trọng ở Đông Á là Pyrodinium bahamense var. compressa.Thủy triều đỏ là
nguyên nhân của nhiều vụ chết trong hơn hai thập kỷ qua, chủ yếu là những
người ăn động vật có vỏ từ vùng nở hoa của tảo. Một lời giải thích có thể đã
được đề xuất cho sự xuất hiện ngày càng tăng của thủy triều đỏ là sự thay đổi tỷ


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

lệ nitơ, phốt pho trong nước thải và tăng tải chất dinh dưỡng đã góp phần vào
một sự thay đổi hệ thống loài thực vật phù du trong nước, với dinoflagallates
độc hại hơn tảo cát.

2 Ô nhiễm nước ngầm
Nước ngầm từ lâu đã được dùng như một nguồn nước uống và ngày nay vẫn rất
quan trọng. Tại Mỹ, khoảng 50% dân số phụ thuộc vào nước ngầm là nguồn
nước uống. Như nước ngầm được phân lập từ bề mặt, hầu hết mọi người cho
rằng nước ngầm cần tinh khiết và không gây ô nhiễm. Mặc dù hầu hết nước
ngầm vẫn còn chất lượng cao, nhưng tại một số địa điểm đang trở nên khó khăn
để duy trì đọ tinh khiết của nước ngầm. Ô nhiễm nước ngầm bao gồm:













Nước xâm nhập mặn. Tập trung nguồn nước ngầm có thể gây ra
mực nước giảm, cho phép nước biển xâm nhập vào đất liền va
gây ô nhiễm tầng nước ngầm.
Bãi rác. Rò rĩ hóa chất từ các bãi rác thành phố và công nghiệp có
thể xâm nhập qua đất và ô nhiễm nước ngầm bên dưới. Phương
pháp kiểm soát ô nhiễm này bao gồm lớp lót sử dụng để ngăn rò
rỉ và hệ thống thu nước thải thấm từ bãi rác.
Bể ngầm. Chỉ một mình Bắc Mỹ là đã có 1.4 triệu bể ngầm dưới
lòng đất chứa các chất thải nguy hại xăng, dầu. Sự rò rỉ một vài lít
của các hợp chất này có thể có hậu quả nghiêm trọng về chất
lượng nước ngầm.
Nông nghiệp. Một số hoạt động nông nghiệp gây ô nhiễm nước
ngầm: hoạt động bón phân và thuốc trừ sâu, tưới tiêu và động vật.
Nước thải nông nghiệp có thể thấm qua đất và làm ô nhiễm nguồn
nước ngầm.
Bể tự hoại. Bể tự hoại thường được sử dụng trong các khu vực
nông thôn khống kết nối vơi hệ thống cống rãnh. Thậm chí ở một
nước phát triển như Mỹ có hơn 20 triệu bể tự hoại. Việc rò rỉ từ
các bể tự hoại được thiết kế hoạt động kém làm ô nhiễm nguồn
nước ngầm với các chất dinh dưỡng, các chất độc hại và vi khuẩn.
Giếng dầu. Giếng dầu bị bỏ rơi có thể gây ô nhiễm nước ngầm
với nước muối khi cùng võ bọc dầu vỡ.
Đường thoát nước. Muối được áp dụng trên những con dường để
kiềm soát nước, hóa chất từ tràn dầu do tai nan và các chất khác
kết thúc trên con đường được làm sạch như đường thoát nước có
thể thấm qua đến tầng nước ngầm.

Vẫn còn các nguồn khác bao gồm các bãi thải phóng xạm chất thải khai thác mỏ và
khai quật xây dựng.


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Nước ngầm khác nhau trong một số các từ bề mặt nước biển. Vi khuẩn phân hủy các
chất ô nhiễm là rất chậm so vơi vùng nước bề mặt do thiếu vằng vi khuẩn hiếu khí
trong nước ngầm vì thiếu oxy. Ngoài ra, tốc đọ dòng chảy của nước ngầm sù đa thấm
là rất chậm so với lưu lượng nước mặt và o nhiễm không thể được pha loãng hoặc
phân tán một cách dễ dàng. Tuy nhiên, đá và đất có thể lọc một số chất ô nhiễm.
III. Xử lý nước thải
Công tác phòng chống các bệnh liên quan đến nước là nguyên nhân chính cho việc
xuất hiện các phương pháp kiềm soát ô nhiễm nước. Trong thời Trung cổ ở Chau Âu,
nước thải được thải ra ngoài đường phố và để lại đó. Ở Anh, việc xả nước thải ra sông
đã được bắt đầu vào khoảng năm 1810. Trong cuộc Cách mạng công nghiệp, nhiều con
sông vô cùng ô nhiễm và bệnh dịch tả đã được phổ biến. Hệ thống thoát nước đàu tiên
trên thế giới được lắp đặt tại Hambrrg, Đức vào năm 1843 và hệ thống thoát nước đầu
tiên ở Mỹ được xây dựng vào năm 1855. Bộ lọc đầu tiên được giới thiệu ở Anh vào
dầu thế kỷ 19 nhưng điều này đã không thoát khỏi các mầm bệnh. Năm 1875, luật về y
tế cộng đồng đầu tiên được thông qua tại Vương quốc Anh, làm cho chính quyền địa
phương chịu trách nhiệm xử lý nước thải. Hành động này cho biết rằng nước thải nên
được tự do từ các vi khuẩn nguy hiểm, nhưng các công nghệ cần thiết để đạt được điều
nay chưa có sẵn. Luật phòng chống ô nhiễm nước sông được thông qua ở Anh năm
1876, cấm xã trực tiếp chat thải công nghiệp ra sông. Ngành công nghiệp đã được yêu
cầu để xả chất thải của họ vào hệ thống cống rãnh và các khu vực trung tâm thị trấn
chịu trách nhiệm xử lý nước thải. Tại Mỹ, các nhà máy xử lý lần đầu tiên được xây
xựng trong những năm 1870 và 1910 khoảng 10% nước thait ở Mỹ được xử lý. Kĩ
thuật khử trùng lần đầu tiên được giới thiệu vào đầu thế kĩ 20 và việc Anh sử dụng
rộng rãi kĩ thuật khử trùng đã giảm đáng kể sự xuất hiện các bệnh từ nước ở nhiều nơi.
Ngày nay, ở nhiều nước phát triển, gần 100% nước thải được xử lý và nhiều nước đã
ban hành hợp pháp chỉ tiêu chất lượng nước (xem phụ luc 111). Tuy nhiên, ở nhiều
nước đang phát triển, xử lý nước thải là gần như không tồn tại và nước thải được thải
vào nguồn nước, gây ra vấn đề ô nhiễm môi trường nuows nghiêm trọng.
Xử lý nước thải tại các nhà máy được thiết kế đặc biệt tiếp nhận nước thải từ cac hộ
gia đình và các ngành công nghiệp. Một số ngành công nghiệp có thể có nhà máy xử
lý nước thải riêng va được thiết kế để làm giảm các chất ô nhiễm cự thể sản xuất tại
trang web của họ. Sauk hi xử lý, nước thải được xã vào một phần của hệ thống nước
( sông, hồ, biển). Xử lý nước thải được phân loại thanh 3 loại: tiểu học, trung học và
đại học, để tang khả năng thanh lọc.


Xử lý sơ câp. Đây là điều trị thô sơ nhất mà có thể loại bỏ hầu hết các chất rắn
trong nước và vừa giảm BOD. Nước thải vào nhà máy thông qua một chuỗi các
màn chắn và loại bỏ các vật nổi lớn. Tiếp theo, nước thải đi vào một bể bắng cát
nới mà cát, đá được lắng cuống dưới đáy bởi trọng lực. Cát được xử lý tại một
bãi chôn lấp. Nước thải chảy qua bể lắng mà chất mà chất rắn lơ lunhwx lắng


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

xuống tạo thành một lớp bùn được tập trung và xử lý. Hóa chất phụ gia có thể
được sử dụng để giúp cho quá trình bồi bắng. Xử lý sơ bộ loại bỏ khoảng 60%
các chat rắn và khoảng 35 % của BOD. Đây là loại xử lý phổ biến nhất và các
nhà máy sử dụng để sử lý chủ yếu.
• Xử lý thứ cấp. Điều này được sử dụng quá trình sinh học để loại bỏ các vật liệu
lơ lững và tiếp tục giảm BOD. Xử lý thứ cấp được sử dụng quá trình bùn hoạt
tính, mặc dù chảy bằng dòng nhỏ giọt vẫn được sử dụng. Nước thải được đưa
vào bể sục khí, nới nó được trộn với không khí và bùn hoạt tính tái chế từ các
bể lắng trước. Nước thải được giữ trong bể vài giờ và vi khuẩn hiếu khí, có tự
nhiên trong bùn hoạt tính, xử lý hết các chất hữu cơ ô nhiễm trong nước thải.
Nước thải chảy qua bể lắng cuối cùng, nơi bùn được lắng ra. Một số bùn này
được tái sử dụng vào bể sục khí. Hầu hết bùn được đưa đến một bể bùn nơi mà
nó được xử lý bằng vi khuẩn kị khí, làm suy giảm bùn. Khí metan được sản
xuất trong bể phân hủy và nó được đốt chat hoặc được sử dụng như một nhiên
liệu của nhà máy. Bùn sau đó được sấy khô và xử lý bằng cách chon lấp. Trong
bể lọc, nước thải được phun lên bề mặt bồn, bể chưa các vật liệu có khoảng
trống lớn (đá, mảnh gạch, v.v…). Vi sinh từ lớp trên bề mặt vật liệu va tiêu thụ
chất dinh dưỡng từ nước thải chảy qua phía bên dưới đáy hồ. Khoảng 90% chất
rắn và BOD có thể được giảm bằng cách xử lý thứ cấp.
• Xử lý thứ 3 hoặc cao cấp. Xử lý cao cáp được thiết kế để tiếp tục làm giảm
nồng dộ các chất ô nhiễm trong nước thải. Nhiều quá trình có sẵn tùy thuộc vào
các chất gây ô nhiễm được loại bỏ. Xử lý cao cáp có thể loại bỏ chất rắn lơ
lửng, các hợp chất hữ cơ hòa tan (photpho và nito) và kim loại nặng. Phương
pháp này liên quan đến các bộ lọc cát, lọc carbon, lọc thẩm thấu ngược, trao đổi
ion và việc sử dụng hóa chất phụ gia như chất keo tụ (phèn) và oxy hóa (ozone,
hydrogen peroxide). Một số công ghệ trên costheer khá tốn kém. Xử lý cao cáp
có thể loại bõ hơn 95% các chất ô nhiễm trong nước thải, nhưng nó không được
sử dụng rộng rài trong các nhà máy xử lý nucow thải.
Bảng 4.3 hiệu quả của việc loại bỏ các chất gây ô nhiễm có trong nước thải
của quá trình xử lí thông thường trong các nhà máy nước thải.
Ô nhiễm/ tham số
Chất rắn lơ lửng
Nito tổng
Photpho tổng
Chát khoáng hòa tan
Nhu cầu oxy sinh hóa
Nhu cầu oxy hóa học

Hiệu quả xử lý (%)
Xxử lý sơ cấp
60
20
10
0
35
30

Xử lý thứ cấp và cao cấp
90
50
30
5
90
80


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Bất kể loại xử lý nào được sử dụng, nước thải cuối cùng được xử lý bằng khí Clo trước
khi thải ra ngoài môi trường. Việc đó sẽ tiêu diệt các khuẩn gây bệnh. Hiệu quả của
quá trình xử lý sơ cấp và thứ cấp thường được sử dụng rộng rãi trong các nhà máy xử
lý nước thải được tóm tắt trong bảng 4.3. Nước vào và ra nhà máy xử lý nước thải
được phân tích cho một số thông số được đề cập trong chương này. Nhiều quá trình xử
lý phải được thiết kế đặc biệt cho các laoij nước thải trong câu hỏi và do đó nó cần
thiết để xác định rằng nước thải được xử lý đạt tiêu chuẩn ban hành và có thể được thải
ra một cách an toàn với môi trường. Nhiều quá trình yêu phải được kiểm soát chặt chẽ
các điều kiện hoạt động (Vd: pH) và nó có thể là cần thiết để thực hiện phân tích ở
nhiều giai đoạn trong quá trình xử lým Một nhà máy xử lý nước thải hiện đại có thể
liên tiếp, nội dòng, cài đặt các công cụ phân tích.
Xữ lý nước uống
Tính trung bình, mỗi người Mỹ sử dụng từ 300 đến 400 lít nước mỗi ngày để sử dụng
trong sinh hoạt (ăn uống, giặt giũ, nấu ăn, nước rữa, nước tưới vườn). Khoảng 8%
lượng nước ngọt toàn cầu từ các nguồn nước được sử dụng cho mực đích sinh hoạt.
Nước sinh hoạt được lấy chủ yếu từ nguồn nước ngầm và nước mặt. Nước ngầm, xuất
phát từ các tầng ngầm dưới mực nước ngầm, từ lâu đây đã là một nguồn nước quan
trọng trong sinh hoạt. Giếng được sử dụng để bơm nước ngầm cho cộng đồng dân cư ở
nông thôn. Mặc dù nước ngầm có chất lượng cao hơn nước mặt, nhưng nước ngầm
cũng rất dễ bị ô nhiễm (xem mục 4.1.8). Nước dành cho sử dụng trong sinh hoạt
thường cần phải xử lý để phù hợp với tiêu chuẩn kĩ thuật quốc gia của nước uống.
(xem phụ lục 111). Khoảng 60% lượng nước sử dụng trong mục đích sinh hoạt được
thải trở lại cới các con sông như nước thải.Trong vùn có só dân lớn và nhiều hoạt động
đáng kể, sẽ góp vào dòng sông một lưu lượng nước thải rất lớn, đặc biệt là trong mùa
khô. Do đó, nước thải xã vào 1 con sông có thể được tách ra cho một vùng hạ lưu và
phục vụ như một nguồn nước sinh hoạt cho cộng đồng khác. Nói cách khác, những gì
là chất thải của một người có thể trở thành nước uống của người khác và điều đó là vô
cùng quan trọng vì chất lượng phải được đảm bảo duy trì để bảo vệ sực khỏa cộng
đồng. Nói chung, nước dành cho sử dụng trong quốc nội đầu tiên được lưu trữ trong
hồ chứa, nơi các bùn cát có thể lắng xuống, cải thiện đọ trong của nước. Sau đó, nước
được xử lý trong một nhà máy xử lý nuớc trước khi xâm nhập vào nguồn nước của
thành phố. Xử lý khác nhau phụ thuộc vào chất lượng của nước đầu vào, nhưng
thường liên quan đến xử lý lọc và xử lý hóa học ( hợp chất CL, F ). Trong một số nơi
có rất ít nguồn nước ngọt, phải thực hiện khủ muối nước biển. Phân tích nước được
thực hiện thường xuyên tại các nhà máy xử lý nước để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn đã
ban hành về mặt pháp lý được đáp ứng.
Vấn đề quan tâm của cộng đồng (thường được coi là không có cơ sở) về chất lượng
nước sinh hoạt và sự phản đối với vị của nước do khử trùng bằng clo, nhiều người
thích uống nước khoáng đóng chai. Việc phân tích nước được thực hiện thường xuyên
tại các nhà máy nước khoáng đóng chai, và các nhà cung cấp được yêu cầu xác định


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

thành phần của nước. Mặc dừ cả hai loai, nước khoáng đóng chai và nguồn nước nội
địa tại các nước phát triển nói chung là an toàn để uống, đã có trường hợp cá biệt của
sự nhiễm độc mà không được phát hiện trong các phòng thí nghiệm kiểm soát chất
lượng. Điều này không đáng ngạc nhiên, xem xét rằng khoảng 1000 các chất có thể có
mặt trong nguồn nước công cộng, và các phòng thí nghiệm trường sử dụng lọc nước
cho các chất thường gặp phải. Nước cũng có thể bị ô nhiễm trong quá trình phân phối.
Ví dụ, mối quan tâm đáng kể đã được thể hiện trong quá khứ vì sự ô nhiễm chì trong
nước uống. nguồn gốc của chì là ống dẫn giữa đường ống dẫn nước bằng đồng. Ngày
nay, dẫn ô nhiễm trong nước uống chủ yếu là một vấn đề trong các tòa nhà cũ. Nước
cũng có thể vô tình bị ô nhiễm trong quá trình xử lý như là một kết quả của sự cẩu thả
và các sự cố như vậy đã được báo cáo cho nước khoáng đóng chai và cả nước trong
nội địa.
IV. Phân tích nước
Phân tích nước có thể liên quan đến bất kỳ mẫu nào sau đây: nucows mạt từ hồ, sông
biển, nước ngầm, nước uống, nước thải công nghiệp, nước thải đô thị và nước của lò
hơi. Nồng độ các ion chính trong một số vùng nước bề mặt được liệt kê trong Bảng
4.4. Chất lượng nước được thường xuyên theo dõi trong các nhà máy xử lý nước thải
và nước uống. Phương pháp đã dduocj phát triển cho một loạt các chất phân tích vô cơ
sử dụng mọt loại các kỹ thuật phân tích. Các phương pháp đã được thông qua bởi các
ngành công nghiệp nước được gọi là các phương pháp tiêu chuẩn.
Có rất nhiều nước kiểm tra phân tích các bộ dụng cụ có trên thị trường. Được thực
hiện chủ yếu dựa trên đo màu và phương pháp điện, và họ thường được dành cho sử
dụng trong lĩnh vực này. Hầu hết các phương pháp thử nghiệm liên quan đến việc bổ
sung các chất phản ứng trong viên thuốc hoặc dạng bột, sau này là cung cấp trong mỗi
gói.

Bảng 4.4: Nồng đọ các ion chính trong nước biển (mg Kg-l), muối hồ (mg kg) và nước
sông (mg-L)
Thành phần
HCO3SO42ClNO3Ca2+
Mg2+
Na+
K+

Nước biển
140
2649
18980
2
400
1272
10556
380

Hồ nước mặn
180-17400
264-13590
1960-112900
1.2-1.6
3.9-15800
23-41960
1630-67500
112-7560

Nước sông
17.9-183
0.44-289
2.6-113
0.3-1.9
5.4-94
0.5-30
1.6-124
0.0-11.8


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Những thuốc thử thường xuyên giống như sử dụng trong các phương pháp chuẩn
nhưng cần được cung cấp có chất lượng tốt hơn. Phát triển, tiến bộ bộ dụng cụ kiểm
tra thì thuận tiện và dễ dàng cho việc kiểm tra. Một ví dụ là bộ kiểm tra Hach (xem tài
liệu tham khảo trong phần liệt kê dưới đây). Một số bộ dụng cụ bao gồm các đầu dò
di động cho pH, nhiệt độ, tính dẫn và oxy hòa tan. Đầu dò cầm tay dựa trên ion điện
cực chọn lọc ngày càng trở nên đa dạng cho các thành phần hóa học khác.
Các phương pháp được thảo luận ở đây thích hợp cho các loại mẫu nước, nhưng phải
giả sử hầu hết các mẫu nước được lấy trên bề mặt nước thu thập từ song, hồ, ven biển
or nước ô nhiễm. bạn cũng có thể áp dụng để phân tích nước trong vòi, nước đóng
chai.


Lẫy mẫu và lưu trữ

Thể tích mẫu được thu thập sẽ phụ thuộc vào số lượng phân tích được mang về. nếu1
mẫu nước đại diện phân tích được thực hiện. nên lấy 2lit mẫu. nếu 1 or 1 vài chất phân
tích được xác định, thể tích nhỏ hơn thích hợp phụ thuộc vào thể tích yêu cầu kiểm tra.
Chai Nhựa or chai thủy tinh có thể dc sử dụng, phụ thuộc vào chất fan tích. Trong một
số trường hợp có lẽcần thiết để thu thập các mẫu trong một số chai khác nhau. Phân
tích oxy hòa tan đòi các chai riêng biệt.
Bạn nên nhớ rằng mẫu được lấy chỉ đãi diện cho 1 nơi và thời gian khi lấy mẫu. Một
cuộc khảo sát chi tiết của dòng nước có thể yêu cầu một cuộc điều tra của biến đổi
không gian và thời gian. Các thành phần của mẫu cũng có thể thay đổi trong quá trình
vận chuyển và lưu trữ, chủ yếu là do các phản ứng sinh hóa bề mặt. cần chắc chắn
theo các thủ tục đề nghị cho mỗi phân tích.
Mẫu nước bề mặt thì dễ dàng lấy nhất. Lấy mẫu ở độ sâu hơn đòi hỏi những quá trình
thu thập dặc biệt, 1 số loại như (Ruttner, Kemmerer, Dussart, Valas, Watt,) kiểu phổ
biến nhất là kiểu Van Dorn, biểu diễn bảng 4.1. kiểu này bao gồm một hình trụ rỗng
của PVC và hai van cao su vào đầu phiên cuối. Hai van được nối với nhau bằng một
ống cao su và cũng có một chuỗi gắn liền với chúng. Trước khi ngâm trong nước hai
van được kéo ra và các dây được gắn vào một khóa trang bị bên ngoài xi lanh. Xi lanh,
mở ở cả hai đầu, được hạ xuống đến độ sâu mong muốn bằng dây chia độ.
Một dây truyền bằng kim loại chạy dọc theo dây. Dây truyền đập vào các khóa và chạy
vào hai van cao su để đóng xy-lanh. Các mẫu được kéo lên khỏi mặt nước và mẫu


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

chuyển động đến 1 cái chai để lưu trữ.154

Nó cũng có thể lấy mẫu từ độ sâu khác nhau bằng cách bơm nước qua một ống nhựa
hạ xuống đến độ sâu mong muốn.
thông thường, ta sẽ thu được mẫu gần hoặc tại mặt nước. Lấy chai mẫu sạch đổ đầy
nước trong phòng thí nghiệm để định vị . đổ nước ra, sau đó rửa lại vài lần bằng nước
thu thập được. Mỗi lần, đổ hết nước tới phần hạ lưu chai. Cuối cùng cho vào chai
mẫu, đánh dấu, gắn nhãn , và mang nó đến phòng thí nghiệm để phân tích. Cho mẫu
vào chai từ từ để tránh sự hỗn loạn và có bọt khí. Khi lấy mẫu từ các giếng, vòi nước,
máy bơm thì hãy xả nước lâu, sau đó mới lấy đại diện mẫu. giới thiệu chất liệu chai,
chất bảo quản và thơi gian lưu trữ được cho trong bảng 1.4. thời gian lưu trữ được xem
như là thời gian tối đa cho phép.
Tốt nhất, các mẫu nên được phân tích càng sớm càng tốt, nhưng điều này có thể
không thực hiện được. Theobất kì phương pháp bảo quản nào, lưu trữ, xử lý là cần
thiết cho việc phân tích cụ thể. Ví dụ, giải quyết oxy yêu cầu bổ sung thêm một thuốc
thử duy trì.
Phân tích dinh dưỡng (ví dụ như nitơ, phốt pho) nên được thực hiện càng sớm càng
sau khi lấy mẫu. Nếu bị trì hoãn, thay đổi quá trình trao đổi chất của các thành phần
ko cho ra kết quả phân tích đại diện.
Một số thủ tục bảo quản khuyến khích cho các mẫu chất dinh dưỡng khi không được
phân tích kịp thời là:


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]







Sự làm lạnh – nó làm chậm, nhưng cũng không loại trừ vi khuẩn và phản ứng
hóa học, tốc độ phản ứng tại 40C là khoảng ¼ so với ở 25oC.
Đông lạnh – điều này làm giảm các phản ứng hóa học và vi khuẩn.
Bổ sung các axit – giảm độ pH, giảm đáng kể vi khuẩn hoạt động
Bổ sung thuốc diệt khuẩn – nhiều tác nhân vi khuẩn đã dược sử dụng để loại bỏ
hoàn toàn các hoạt động của vi sinh vật, chloroform và thủy ngân(II) clorua là
phổ biến nhất.
Lọc

Lọc thường được sử dụng trong phân tích nước để tách làm tan ra các thành phần
từ những chất hiện diện trong chất lơ lửng. Tuy nhiên, lọc có thể có một số vấn đề:


Xâm nhập của các chất không hòa tan qua bộ lọc. Thủ tục tiêu chuẩn để lọc
mẫu thông qua một bộ lọc với kích thước tiêu chuẩn là 0.45pm, và các thành
phần đi qua bộ lọc xem là "hòa tan". Định nghĩa hoạt động này, trong khi thực
tế, là chủ quan (theo ý kiến của một người) và không chính xác như chất keo và
polyme có thể xâm nhập qua các bộ lọc cùng với chất bị hòa tan thật sự.
• Ô nhiễm. Các chất có trong vật liệu lọc có thể hòa tan vào mẫu trong quá trình
lọc. Đây là vấn đề đặc biệt khi phân tích kim loại vì lượng trong mẫu tương đối
sạch. Các bộ lọc để phân tích lượng nhỏ kim loại phải được rửa bằng axit trước
khi sử dụng, để loại bỏ bất kỳ chất gây ô nhiễm kim loại từ các vật liệu bộ lọc.
• Hấp phụ. Một số chất phân tích có thể hấp thụ vào vật liệu lọc hoặc đơn vị lọc.
Ví dụ, một số kim loại có thể được hấp thụ vào vách của các đơn vị lọc thủy
tinh.
Hướng dẫn lọc được đưa ra trong các thí nghiệm thích hợp. Các bộ lọc nên được
rửa trước, đầu tiên với nước phòng thí nghiệm và sau đó với một số mẫu cần được
loại bỏ. Chỉ mẫu thích hợp được lọc. Đơn vị bộ lọc làm bằng thủy tinh và nhựa có
sẵn. Tất cả các kính Millipore giữ bộ lọc và bình chân không là thích hợp nhất để
phân tích dấu vết cũng như không có thiệt hại hút bám đã được quan sát. Tuy
nhiên, các thiết bị khác có thể phù hợp cho phân tích chung (ví dụ: phễu lọc và
bình Bunchner). Một bộ lọc điển hình được thể hiện trong hình 4.2. Chân không
được áp dụng bằng cách kết nối bình đựng tới một máy bơm không khí hoặc một
cái ống hút nước và bật máy bơm hoặc nước trước khi kết nối đến bình. Khi lọc
xong, các ống kết nối nên được ngắt kết nối từ ống hút nước hoặc bơm trước khi
bơm hoặc nước được tắt.


[NHÓM 10A – LỚP 10CMT]

Hình 4.2
Với phân tích kim loại, mẫu phải được axit hóa chỉ sau khi lọc. Axit hóa trước khi
lọc có thể hòa tan một số kim loại mà không phải trong giải pháp đúng trong mẫu,
và do đó kết quả phân tích sẽ không đại diện cho điều kiện thực tế. Lọc cũng được
đề nghị khi cần thiết để lưu trữ các mẫu trong thời gian dài vì nó loại bỏ lương lớn
vật liệu sinh học ( vì sự can thiệp ) bằng phản ứng với chất phân tích trong quá
trình lưu trữ.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×