Tải bản đầy đủ

Vận dụng phương pháp webquest trong dạy học chương nhóm oxi (hóa học lớp 10 nâng cao)

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC
  

Nguyễn Thị Kim Thoa

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST
TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
(HOÁ HỌC LỚP 10 NÂNG CAO)

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2012


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
KHOA HÓA HỌC

  

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
CHUYÊN NGÀNH LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST
TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
(HOÁ HỌC LỚP 10 NÂNG CAO)

GVHD : ThS. Thái Hoài Minh
SVTH : Nguyễn Thị Kim Thoa
Khóa

: 2008 – 2012

Thành phố Hồ Chí Minh tháng 5 năm 2012


Để hoàn tất được khóa luận “VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP
WEBQUEST TRONG DẠY HỌC HÓA HỌC CHƯƠNG NHÓM OXI (HÓA
HỌC 10 NÂNG CAO)”, em luôn nhận được sự quan tâm, giúp đỡ của các
thầy cô cùng gia đình, bè bạn.
Đầu tiên, em xin gửi lời tri ân sâu sắc đến cô Thái Hoài Minh. Cô đã
tận tình hướng dẫn, quan tâm và giúp đỡ em trong suốt quá trình thực hiện và
hoàn thành khóa luận. Em cũng xin chân thành cảm ơn quý thầy cô giảng dạy
trong tổ Phương pháp và toàn bộ các thầy cô, nhân viên khoa Hóa trường
ĐHSP TP. Hồ Chí Minh đã cung cấp kiến thức cho em trong suốt quá trình
học tập. Với vốn kiến thức được tiếp thu không chỉ là nền tảng cho quá trình
nghiên cứu khóa luận mà còn là hành trang quý báu để em bước vào đời một
cách tự tin hơn.
Đồng thời, em xin gửi lời cảm ơn đến thầy Nguyễn Thanh Vũ – giáo
viên trường THPT Thủ Đức (quận Thủ Đức); thầy Trần Đình Hương - giáo
viên trường THPT Bùi Thị Xuân (quận 1); quý thầy cô tổ Hóa trường THPT
Nguyễn Hữu Huân, THPT Thủ Đức, THPT Tam Phú (quận Thủ Đức) đã nhiệt
tình hỗ trợ em trong quá trình thực nghiệm sư phạm.
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến toàn thể các bạn sinh viên K34, K35
khoa Hóa, trường ĐHSP TP. Hồ Chí Minh; các em HS thuộc các trường
THPT Thủ Đức, trường THPT Bùi Thị Xuân đã nhiệt tình hợp tác, giúp đỡ em
trong quá trình thực nghiệm. Cảm ơn các bạn Lợi Minh Trang, bạn Lê Thành
Vĩnh, anh Nguyễn Ngọc Trung đã đồng hành cùng em trong quá trình thực


hiện đề tài.
Cuối cùng, xin cảm ơn đến gia đình và bạn bè đã ủng hộ, động viên,
chia sẻ cùng em để em hoàn thành được khóa luận như ngày hôm nay.
Thành phố Hồ Chí Minh, tháng 5 năm 2012
Nguyễn Thị Kim Thoa


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
DANH MỤC CÁC BẢNG

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI .......................... 12
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu ...............................................................................12
1.2.

Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường THPT ......14

1.2.1.

Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam .................14

1.2.2.

Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học ..............................................17

1.3.

Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest .............................18

1.3.1.

Khái niệm về phương pháp webquest. ......................................................18

1.3.2.

Khái niệm trang WebQuest .......................................................................19

1.3.3.

Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest ............................20

1.3.4.

Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest ........................................................21

1.3.5.

Cấu trúc chung của WebQuest ..................................................................22

1.3.6.

Quy trình thiết kế một WebQuest .............................................................23

1.3.7.

Tiến trình thực hiện dạy học bằng phương pháp webquest ......................26

1.3.8.

Các tiêu chí để đánh giá nội dung một WebQuest ....................................27

1.4.

Giới thiệu một số công cụ tạo website trực tuyến............................................ 28

1.4.1.

Google Sites ..............................................................................................28

1.4.2.

Wix.com ....................................................................................................29

1.4.3.

DevHub .....................................................................................................30

1.4.4.

SnapPages..................................................................................................30

1.4.5.

Webnode....................................................................................................31

1.4.6.

WordPress .................................................................................................31

1.5.

Sử dụng Google Sites để thiết kế WebQuest ...................................................32

1.6.

Nội dung, phương pháp dạy học chương “Nhóm Oxi” ...................................37

1.6.1.

Giới thiệu nội dung chương “Nhóm Oxi” .................................................37

1.6.2.

Nguyên tắc sư phạm khi giảng dạy chương “Nhóm Oxi” ........................39

CHƯƠNG 2. VẬN DỤNG PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC
CHƯƠNG “NHÓM OXI”(HÓA HỌC 10 NÂNG CAO)......................................... 42
2.1. Cấu trúc chung của WebQuest .........................................................................42
2.2.

Giới thiệu hệ thống WebQuest đã thiết kế .......................................................44


2.2.1.

Bài “Oxi” ...................................................................................................44

2.2.2.

Bài “Ozon và Hidro peOxit” .....................................................................49

2.2.3.

Bài “Lưu huỳnh” .......................................................................................54

2.2.4.

Bài “Hợp chất có Oxi của Lưu huỳnh” .....................................................59

CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM .............................................................. 69
3.1. Mục đích thực nghiệm .....................................................................................70
3.2.

Nội dung thực nghiệm .....................................................................................70

3.3.

Đối tượng thực nghiệm ....................................................................................70

3.4.

Phương pháp xử lý kết quả thực nghiệm .........................................................71

3.5.

Tiến hành thực nghiệm ....................................................................................72

3.6.

Kết quả thực nghiệm ........................................................................................73

3.6.1.

Một số sản phẩm của HS ...........................................................................73

3.6.2. Kết quả nhận xét của GV, giáo sinh và HS về WebQuest và phương pháp
webquest .................................................................................................................74
3.6.3.

Kết quả bài kiểm tra của HS .....................................................................81

KẾT LUẬN – KIẾN NGHỊ ........................................................................................ 89
TÀI LIỆU THAM KHẢO .......................................................................................... 93
PHỤ LỤC ..................................................................................................................... 97


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
CD

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
: compact dics (đĩa quan được sử dụng để lưu trữ dữ
liệu số)

CNTT

: Công nghệ thông tin

CTCT

: Công thức cấu tạo

ĐHSP

: Đại học Sư phạm

GV

: Giáo viên

ICT

: Information and Communication Technologies (Công
nghệ thông tin và truyền thông)

HS

: Học sinh

HTML

: Hypertext Markup Language (Ngôn ngữ liên kết siêu văn
bản)

HTTH

: Hệ thống tuần hoàn

PPDH

: Phương pháp dạy học

SGK

: Sách giáo khoa

SV

: Sinh viên

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TN

: Thực nghiệm

ĐC

: Đối chứng

ULR

: Universal Resource Locator (tham chiếu nguồn tài
nguyên)


DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1. Bảng đánh giá các thành viên trong nhóm ...................................................44
Bảng 2.2. Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Oxi ..........................................................47
Bảng 2.3. Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Ozon và Hydro peOxit ............................52
Bảng 2.4. Bảng tiêu chí đánh giá chung bài Lưu huỳnh ...............................................57
Bảng 2.5.Bảng tiêu chí đánh giá chung phần Lưu huỳnh đioxit ...................................62
Bảng 2.6. Bảng tiêu chí đánh giá chung phần bài axit sunfuric ...................................67
Bảng 3.1. Các lớp thực nghiệm và đối chứng ...............................................................71
Bảng 3.2. Quy trình thực nghiệm phương pháp webquest ............................................72
Bảng 3.3. Thống kê số lượng GV tham gia nhận xét .....................................................75
Bảng 3.4. Nhận xét của GV về WebQuest .....................................................................75
Bảng 3.5. Nhận xét của HS về WebQuest và phương pháp webquest...........................78
Bảng 3.6. Phân phối điểm bài kiểm tra .........................................................................82
Bảng 3.7. Phân phối tần suất lũy tích kết quả kiểm tra ................................................82
Bảng 3.8. Phân loại kết quả kiểm tra ............................................................................82
Bảng 3.9. Thống kê các tham số đặc trưng ...................................................................83
Bảng 3.10. Quy đổi các giá trị F α nhóm 1 ....................................................................86
Bảng 3.11. Quy đổi các giá trị F α nhóm 2 ....................................................................87


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 1.1.Cấu trúc chung của một WebQuest ........................................................................... 22
Hình 1.2. Sơ đồ quy trình thiết kế trang WebQuest .................................................................. 24
Hình 1.3. Biểu tượng của Google Sites .................................................................................... 28
Hình 1.4. Biểu tượng của Wix.com ........................................................................................... 29
Hình 1.5. Biểu tượng của DevHub ........................................................................................... 30
Hình 1.6. Giao diện của SnapPeges ......................................................................................... 30
Hình 1.7. Giao diện của Webnode............................................................................................ 31
Hình 1.8. Giao diện của WordPress ......................................................................................... 31
Hình 1.9. Giao diện của công cụ Google Sites ......................................................................... 33
Hình 1.10. Giao diện đăng nhập tài khoản Gmail ................................................................... 33
Hình 1.11. Giao diện tạo website mới ...................................................................................... 33
Hình 1.12. Giao diện ban đầu của trang web .......................................................................... 34
Hình 1.13. Giao diện quản lý trang web .................................................................................. 35
Hình 1.14. Giao diện tạo trang mới ......................................................................................... 36
Hình 1.15. Giao diện soạn thảo văn bản .................................................................................. 37
Hình 1.16. Cấu trúc chương "Nhóm Oxi" ................................................................................ 38
Hình 2.1. Sơ đồ WebQuest đã thiết kế ...................................................................................... 42
Hình 2.2. Giao diện WebQuest bài Oxi .................................................................................... 45
Hình 2.3. Giao diện phiếu đánh giá chung bài Oxi .................................................................. 48
Hình 2.4. Giao diện WebQuest bài Ozon và Hydro peoxit....................................................... 51
Hình 2.5. Giao diện phiếu đánh giá cá nhân bài Ozon và Hydro peoxit ................................ 53
Hình 2.6. Giao diện WebQuest bài Lưu huỳnh......................................................................... 56
Hình 2.7. Giao diện phiếu đánh giá chung bài Lưu huỳnh ...................................................... 58
Hình 2.8. Giao diện WebQuest phần Lưu huỳnh đioxit............................................................ 60
Hình 2.9. Giao diện phiếu đánh giá chung phần Lưu huỳnh đioxit ......................................... 63
Hình 2.10. Giao diện WebQuest phần axit sunfuric ................................................................. 66
Hình 2.11. Giao diện phiếu đánh giá cá nhân phần axit sunfuric ........................................... 68
Hình 2.12. Giao diện phiếu đánh giá chung phần Axit sunfuric .............................................. 69
Hình 2.13. Một sản phẩm của HS trong phần lưu huỳnh đioxit ............................................... 73
Hình 2.14. Đoạn phim HS làm thí nghiệm "thổi bong bóng" ................................................... 74
Hình 2.15. Giao diện trò chơi ô chữ ......................................................................................... 74
Hình 2.16. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra nhóm 1 ............................................................. 83
Hình 2.17. Đồ thị đường lũy tích bài kiểm tra nhóm 2............................................................. 84


1. Lý do chọn đề tài

MỞ ĐẦU

Trong những năm gần đây, nước ta rất quan tâm đến sự phát triển của giáo dục,
coi phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Đảng nhận định rằng, muốn phát triển
thì cần phải đổi mới. Trong văn kiện đại hội Đảng lần thứ XI đã khẳng định “cần đổi
mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã
hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế”. Đổi mới cũng cần hướng nền giáo dục và
đào tạo Việt Nam đến những chân trời mới của tri thức thế giới ngày nay. Yếu tố quốc
tế phải luôn luôn được coi trọng hàng đầu vì xu thế hòa nhập toàn cầu, cạnh tranh
quyết liệt ở thương trường năm châu không cho phép sự tồn tại của tư duy cục bộ, bản
vị, xơ cứng.
Thực hiện chủ trương đổi mới của Đảng và Nhà nước: dạy học hướng vào
người học, ngày càng nhiều giáo viên (GV) tổ chức hoạt động dạy học theo phương
pháp seminar, hoạt động nhóm, dạy học theo dự án… Tất cả những phương pháp trên
nhằm mục đích giúp HS chủ động tiếp cận kiến thức, tích cực tìm kiếm thông tin và từ
đó phát triển khả năng tư duy, khả năng tự học của bản thân. Đúng theo tinh thần của
J. A. Komensky đã đề ra cho giáo dục ngay từ thế kỷ XVII: “Giáo dục có mục đích
đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán, phát triển nhân cách, hãy tìm ra phương
pháp cho phép GV dạy ít hơn, HS học nhiều hơn”
Ngày nay, cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin và truyền thông (ICT),
mạng lưới Internet phát triển rộng khắp đã trở thành một công cụ hỗ trợ tối đa cho nhu
cầu tìm kiếm thông tin của HS. Tuy nhiên, việc tìm kiếm và xử lý thông tin trên mạng
của HS không phải lúc nào cũng thuận lợi và đạt hiệu quả. Lượng thông tin khổng lồ
trên mạng khiến cho HS mất khá nhiều thời gian để tìm kiếm và thu thập. Đồng thời
HS cũng dễ bị chệch hướng khỏi mục đích chính của đề tài. Thêm vào đó, nhiều tài
liệu trực tuyến chứa nội dung không chính xác hoặc khó xác định mức độ tin cậy của
thông tin, dẫn đến việc HS bị nhiễu còn GV lại phải mất nhiều thời gian để kiểm định
và đánh giá cho HS. Ngoài ra, việc tiếp cận thông tin đại trà trên mạng của HS có thể
chỉ mang tính thụ động mà thiếu sự đánh giá, phê phán của người học.
Để khắc phục những nhược điểm trên, năm 1995, Bernie Dodge ở trường đại
học San Diego State University (Mỹ) đã xây dựng WebQuest (1) trong dạy học. Ý
(1)

Xem định nghĩa trang 15


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
tưởng của ông là đưa ra cho HS một tình huống thực tiễn có tính thời sự hoặc lịch sử,
dựa trên cơ sở những dữ liệu tìm được, HS cần xác định quan điểm của mình về chủ
đề đó trên cơ sở lập luận. HS tìm được những thông tin, dữ liệu cần thiết thông qua
những nguồn tài liệu đã được GV lựa chọn từ trước. WebQuest không yêu cầu HS có
kỹ năng về công nghệ thông tin (CNTT) cao, chỉ cần kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp
thu, xử lý các thông tin dạng văn bản, có những kiến thức cơ bản trong thao tác với
máy tính và Internet. WebQuest có thể sử dụng trong mọi môn học, ở tất cả các loại
hình trường học và rất thích hợp cho việc dạy học liên môn. Mô hình này đang được
các nước trên thế giới hưởng ứng và phát triển mạnh mẽ. Ở Việt Nam, đã có một số
khóa luận và luận văn tìm hiểu về webquest (2) nhưng chưa có một sản phẩm nào được
đưa lên mạng để phổ biến phương pháp này một cách rộng rãi trong các bộ môn nói
chung và trong môn hóa học nói riêng.
Đó chính là những lý do thúc đẩy chúng tôi chọn đề tài: “VẬN DỤNG
PHƯƠNG PHÁP WEBQUEST TRONG DẠY HỌC – CHƯƠNG “NHÓM OXI”
(HÓA HỌC LỚP 10 NÂNG CAO)”.
2. Mục đích nghiên cứu
Vận dụng phương pháp webquest trong dạy học – chương “Nhóm Oxi” (Hóa
học lớp 10 nâng cao) nhằm nâng cao hiệu quả dạy học bộ môn hóa học ở THPT.
3. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
-

Khách thể nghiên cứu: việc ứng dụng ICT trong quá trình dạy học hóa học ở

trường phổ thông.
-

Đối tượng nghiên cứu: việc thiết kế WebQuest phục vụ cho PPDH webquest ở

chương “Nhóm Oxi” - Hóa học 10 nâng cao.
4. Nhiệm vụ của đề tài
-

Nghiên cứu tổng quan về Google Sites và cách tạo một trang web trên Google

Sites.
-

Nghiên cứu tổng quan và cơ sở lý luận của phương pháp webquest.

-

Nghiên cứu về nội dung, PPDH của chương “Nhóm Oxi” - Hoá học lớp 10

nâng cao.

(2)

-

Thiết kế WebQuest cho chương “Nhóm Oxi”.

-

Thực nghiệm để đánh giá kết quả của đề tài nghiên cứu.

Xem định nghĩa trang 15


5. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
-

Thiết kế WebQuest phục vụ cho PPDH webquest nhằm nâng cao hiệu quả dạy

học tích cực cho HS THPT với nội dung nằm trong chương “Nhóm Oxi” (Hóa học lớp
10 nâng cao).
6. Giả thuyết khoa học
-

Nếu xây dựng WebQuest đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ, đơn giản, dễ sử

dụng, đồng thời đề xuất cách vận dụng hợp lý để phục vụ cho phương pháp webquest
sẽ giúp nâng cao hứng thú học tập của HS, từ đó góp phần nâng cao chất lượng dạy
học hóa học ở trường THPT.
7. Phương pháp nghiên cứu
-

Đọc và nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến đề tài.

-

Phân tích, tổng hợp thông tin.

-

Sử dụng máy tính và Google Sites để thiết kế WebQuest.

-

Điều tra thực trạng.

-

Thực nghiệm sư phạm.

-

Tổng hợp và xử lý kết quả điều tra, kết quả thực nghiệm sư phạm theo phương

pháp thống kê toán học.
8. Phạm vi nghiên cứu
-

Địa bàn nghiên cứu: Hai lớp 10 trường THPT Thủ Đức, TP. HCM; hai lớp 10

trường THPT Bùi Thị Xuân, TP. HCM.
-

Nội dung nghiên cứu: Hóa học vô cơ chương “Nhóm Oxi” – Hóa học 10 nâng

cao.
9. Điểm mới của đề tài
-

Tạo trang WebQuest bằng công cụ Google Sites, trang WebQuest này đã được

xuất lên mạng.
-

Xây dựng hệ thống trang WebQuest mới thuộc phạm vi chương “Nhóm Oxi”

phục vụ cho phương pháp học webquest.
-

Sử dụng công cụ Google Docs tạo các phiếu đánh giá trực tuyến hỗ trợ cho

phần đánh giá HS.


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Lịch sử vấn đề nghiên cứu
1.

Năm 1995 Bernie Dodge ở trường đại học San Diego State University (Mỹ) đã
xây dựng Webquest trong dạy học. Phương pháp này được tiếp tục phát triển bởi Tom
March (Úc) và Heinz Moser (Thụy Sĩ).
Bernie Dodge nhận thấy rằng Internet ngày càng phổ biến và việc thu thập, xử
lý thông tin trên mạng là một kỹ năng cần thiết trong nghiên cứu, học tập cũng như
trong hầu hết các ngành nghề. Tuy nhiên, việc truy cập thông tin một cách tự do trên
mạng để đáp ứng yêu cầu trong dạy học của HS có những hạn chế như mất nhiều thời
gian để tìm kiếm thông tin có chất lượng, HS dễ bị chệch hướng khỏi đề tài do lượng
thông tin quá nhiều... Để khắc phục nhược điểm, ông đã đề ra phương pháp webquest
và ý tưởng về WebQuest. Đồng hành cùng với ông là Tom March - cũng là giảng viên
tại trường đại học San Diego State. Cả hai ông cùng nhau tạo ra những WebQuest và
cùng tiến hành thực nghiệm với các sinh viên (SV), cải tiến phương pháp, khắc phục
những nhược điểm. Kể từ khi ra đời, WebQuest đã nhanh chóng trở thành một làn
sóng phát triển mạnh mẽ trên khắp thế giới, đặc biệt Brazil, Tây Ban Nha, Trung
Quốc, Australia, Hà Lan, Mỹ là những nước rất quan tâm và phát triển mạnh phương
pháp này. Bernie Dodge cũng đã tạo một trang web riêng (WebQuest.org) nhằm giới
thiệu phương pháp webquest và cho phép mọi người tạo ra các WebQuest miễn phí tại
đây.
Sau đó, Tom March nhận thấy rằng, việc GV xây dựng một WebQuest chất
lượng tốn rất nhiều thời gian và công sức trong khi việc dạy học phải đảm bảo sự liên
tục. Thấu hiểu điều trên, ông đã lập ra một trang web gọi là “BestWebQuest.com”, tập
hợp tất cả những WebQuest trên thế giới và ông phân ra theo lĩnh vực, GV có thể vào
đây chia sẻ và sử dụng các WebQuest như là một nguồn tài nguyên chung. Các
WebQuest đã được ông cùng các cộng sự kiểm tra về mặt nội dung để đảm bảo HS sẽ
phát triển được các mức tư duy theo thang phân loại của Bloom.
Một đại diện khác của WebQuest nữa mà nếu không nhắc đến ông có lẽ là một
thiếu sót lớn, đó chính là Heinz Moser (Thụy Sĩ). Ông là một giáo sư về giáo dục
truyền thông tại Đại học Zurich và là giáo sư danh dự của ngành giáo dục và nghiên
cứu tại Đại học Kassel. Bernie Dodge và Tom March sáng tạo ra phương pháp
webquest nhưng các ông chỉ dừng lại việc xây dựng các WebQuest cho từng bài riêng


biệt, một chủ đề riêng mang tính lịch sử hoặc tính thời sự. Đến Heinz Moser, ông đã
đưa ra thêm một ý tưởng nữa vào năm 2000, đó chính là việc áp dụng WebQuest cho
nhiều bài trong cùng một chương, nhiều chương liên tiếp theo cách học xoắn ốc nhằm
phát triển tri thức một cách vừa củng cố vừa liên tục. Cuốn sách “Abenteuer Internet:
Lernen mit WebQuests” có nội dung gồm những hiểu biết và khái niệm về WebQuest
do Heinz Moser biên soạn được tiếp nhận nồng nhiệt tại Đức.
Riêng ở Việt Nam, khái niệm WebQuest cũng theo trào lưu du nhập vào nước
ta từ khoảng 2007. Có một số GV và một vài khóa luận đề cập đến phương pháp
webquest. Điển hình như các thầy cô trong nhóm thành viên của VVOB Việt Nam đã
đưa vào trang web của mình một chuyên mục giới thiệu về WebQuest. Các chị Trần
Thị Tuyết Nhung, Phạm Thị Nhạn lớp CH K20 - SPKT trường đại học Sư Phạm Hà
Nội cũng thiết kế riêng một trang web (music.easyvn.com) giới thiệu khá đầy đủ và có
kèm ví dụ về WebQuest. Ngoài ra còn có một vài khóa luận cũng nghiên cứu về
WebQuest:
-

Vận dụng kỹ thuật WebQuest vào dạy học chương “Động lực học chất điểm”

vật lý 10 THPT, khóa luận tốt nghiệp (khuyết danh).
-

Nguyễn Thị Thu Chi (2007), Sử dụng WebQuest trong dạy học Lịch sử lớp 11

ở trường THPT”, khóa luận tốt nghiệp, trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia
Hà Nội.
Đặc biệt, có một số giảng viên đại học đã áp dụng phương pháp webquest vào
dạy học trên đối tượng SV và thu được những kết quả nhất định [6]. Kết quả các
nghiên cứu đã cho thấy rằng phương pháp này ngày càng nhận được nhiều sự quan
tâm của nhà giáo dục. Tuy nhiên, nó vẫn còn mới mẻ và chưa có sự phát triển rộng rãi
ở Việt Nam. Các tác giả trên đều giới thiệu về phương pháp WebQuest, nêu được
những ưu điểm của phương này cũng như cách thức và công cụ để tạo nên một
WebQuest nhưng chưa tác giả nào tạo được một WebQuest một cách hoàn chỉnh, hoặc
có tác giả đã tạo được nhưng lại chỉ lưu hành nội bộ. Và một điều đặc biệt là các tác
giả tạo WebQuest từ các phần mềm Microsoft Word, PowerPoint hay trên công cụ xây
dựng web: Microsoft Frontpage. Nếu dùng Word, PowerPoint thì không mô tả hết tinh
thần của WebQuest, còn dùng Frontpage thì đòi hỏi người thiết kế phải biết ngôn ngữ
HTLM, rất khó khăn và tương đối phức tạp. Nếu tìm trên mạng một WebQuest thì rất


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
nhiều nhưng một WebQuest bằng tiếng Việt hoàn chỉnh thì hầu như không có, nhất là
trong lĩnh vực hóa học.

1.2. Tổng quan về việc ứng dụng ICT trong dạy học hóa học ở trường
THPT
1.2.1.

Thực trạng về việc ứng dụng ICT trong giáo dục ở Việt Nam

Công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) là một “tập hợp đa dạng các công
cụ và tài nguyên công nghệ được sử dụng để giao tiếp, tạo ra, phổ biến, lưu giữ và
quản lý thông tin” [30].Các công nghệ này bao gồm phần cứng và mạng máy tính, các
phần mềm cần thiết, Internet, công nghệ truyền thông (đài và vô tuyến) và điện thoại.
Thuật ngữ ICT ra đời vào năm 1997, trong một báo cáo của Dennis Stevenson gửi
chính phủ Anh và được lan truyền rộng rãi trong các tài liệu mới của chương trình
giảng dạy của quốc gia Anh vào năm 2000.
Riêng CNTT - đặc biệt là Internet, bắt đầu được sử dụng ở Hoa Kỳ vào năm
1995 và sau đó được phổ biến rộng rãi trên toàn thế giới. Ngày nay, thật khó có thể
hình dung được thế giới của chúng ta sẽ như thế nào nếu như không có các ứng dụng
CNTT. Nhiều chương trình đào tạo ở các trường đại học và phổ thông của các nước có
nền giáo dục tiên tiến từ lâu đã sử dụng những chức năng của công nghệ vào trong
giảng dạy. Đổi mới PPDH bằng CNTT cũng là một chủ đề lớn được UNESCO đưa ra
thành chương trình của thế kỷ XXI và dự đoán sẽ có sự thay đổi nền giáo dục một
cách căn bản vào đầu thế kỷ XXI do ảnh hưởng của CNTT.
Ở nước ta, năm học 2008 – 2009 là năm học đầu tiên triển khai thực hiện Chỉ
thị số 55/2008/CT - BGDĐT ngày 30/9/2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục Đào tạo về
tăng cường giảng dạy, đào tạo và ứng dụng CNTT trong ngành giáo dục giai đoạn
2008 – 2012. Năm học 2008 – 2009 được chọn là “Năm học đẩy mạnh ứng dụng
CNTT, đổi mới quản lý tài chính và xây dựng trường học thân thiện, HS tích cực”, Bộ
Giáo dục và Đào tạo đã nêu rõ:
-

Tổ chức tốt việc dạy học Tin học ở các cấp học, bậc học, ngành học nhằm phổ

cập Tin học trong nhà trường.
-

Đẩy mạnh ứng dụng CNTT trong Giáo dục và Đào tạo ở các cấp học, bậc học,

theo hướng sử dụng CNTT như là một công cụ hỗ trợ đắc lực cho đổi mới phương
pháp giảng dạy, học tập ở các môn học.


Qua tham khảo các tài liệu [3],[28], tính đến năm 2009, đã có 20% GV trung
học, 30% trường THPT, 25% trường THCS ứng dụng CNTT. Trong đó, từ 2–5% số
bài giảng được sử dụng phần mềm dạy học và có ứng dụng CNTT.
Ứng dụng CNTT trong giảng dạy, không chỉ phát triển mạnh ở các thành phố
lớn mà còn phát triển ở nhiều xã vùng sâu, vùng xa, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn đã
góp phần đẩy nhanh tiến trình công bằng trong giáo dục. Với sự trợ giúp của CNTT,
việc dạy và học đã mang lại hiệu quả thiết thực, nhất là các môn xã hội cho những
vùng ít có cơ hội tiếp cận với các nguồn thông tin.
Hiện nay các trường phổ thông điều trang bị phòng máy, phòng đa năng, nối
mạng Internet và Tin học được giảng dạy chính thức. Một số trường còn trang bị thêm
thiết bị ghi âm, chụp hình, quay phim (Sound Recorder, Camera, Camcorder), máy
quét hình (Scanner), và một số thiết bị khác, tạo cơ sở hạ tầng CNTT cho GV sử dụng
vào quá trình dạy học của mình.
Công nghệ phần mềm phát triển mạnh, đặc biệt là các phần mềm mã nguồn mở
phục vụ cho giáo dục cũng đạt được những thành tựu đáng kể: Phần mềm văn phòng
(OpenOffice.org), thư viện số (Emilda, phpmylibrary, Koha, OpenBiblio), quản lý
mạng lớp học (Mythware, i–Talc của Intel),… ngoài ra còn có hệ thống quản lý Elearning (Moodle, Dokeos) và các phần mền đóng gói, tiện ích khác.
Qua tìm hiểu, việc ứng dụng CNTT vào dạy học ở nước ta trong những năm
vừa qua đã có những ưu điểm và hạn chế nhất định.[24]
 Ưu điểm
-

Môi trường đa phương tiện kết hợp những hình ảnh đoạn phim, ảnh chụp trên

máy quay… với âm thanh, văn bản, biểu đồ… được trình bày qua máy tính theo giáo
án vạch sẵn nhằm đạt hiệu quả tối đa qua một quá trình học đa giác quan.
-

Các phần mềm và công cụ có thể mô phỏng nhiều quá trình, hiện tượng trong tự

nhiên, xã hội con người mà không thể hoặc không nên để xảy ra trong điều kiện nhà
trường.
-

Công nghệ tri thức nối tiếp trí thông minh của con người, thực hiện những công

việc mang tính trí tuệ cao của các chuyên gia lành nghề trên những lĩnh vực khác
nhau.
-

Những ngân hàng dữ liệu khổng lồ và đa dạng được kết nối với nhau và với

người sử dụng qua những mạng máy tính kể cả Internet… có thể được khai thác để tạo


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
nên những điều kiện cực kì thuận lợi và nhiều khi không thể thiếu để HS học tập trong
hoạt động và bằng hoạt động tự giác, tích cực và sáng tạo, được thực hiện độc lập hoặc
trong giao lưu.
-

Những thí nghiệm, tài liệu được cung cấp bằng nhiều kênh: kênh hình, kênh

chữ, âm thanh sống động làm cho HS dễ thấy, dễ tiếp thu và bằng suy luận có lý, HS
có thể có những dự đoán về các tính chất, những quy luật mới. Đây là một công dụng
lớn của ICT trong quá trình đổi mới PPDH.
Có thể khẳng định rằng, môi trường ICT chắc chắn sẽ có tác động tích cực tới
sự phát triển trí tuệ của HS và điều này làm nảy sinh những lý thuyết học tập mới.
 Hạn chế
Theo nhận định của một số chuyên gia, việc đưa ICT ứng dụng vào lĩnh vực
giáo dục và đào tạo bước đầu đã đạt được những kết quả khả quan. Tuy nhiên, những
gì đã đạt được vẫn còn hết sức khiêm tốn. Khó khăn, vướng mắc và những thách thức
vẫn còn ở phía trước bởi những vấn đề nảy sinh từ thực tiễn.
-

Tuy máy tính điện tử mang lại rất nhiều thuận lợi cho việc dạy học nhưng trong

một mức độ nào đó, công cụ hiện đại này cũng không thể hỗ trợ GV hoàn toàn trong
các bài giảng của họ. Nó chỉ thực sự hiệu quả đối với một số bài giảng chứ không phải
toàn bộ chương trình do nhiều nguyên nhân, mà cụ thể là, với những bài học có nội
dung ngắn, không nhiều kiến thức mới, thì việc dạy theo phương pháp truyền thống sẽ
thuận lợi hơn cho HS, vì GV sẽ ghi tất cả nội dung bài học đó đủ trên một mặt bảng và
như vậy sẽ dễ dàng củng cố bài học từ đầu đến cuối mà không cần phải lật lại từng
“slide” như khi dạy trên máy tính điện tử. Những mạch kiến thức “vận dụng” đòi hỏi
GV phải kết hợp với phấn trắng bảng đen và các PPDH truyền thống mới rèn luyện
được kỹ năng cho HS.
-

Bên cạnh đó, kiến thức, kỹ năng về CNTT ở một số GV vẫn còn hạn chế, chưa

đủ vượt ngưỡng để đam mê và sáng tạo, thậm chí còn né tránh. Mặt khác, PPDH cũ
vẫn còn như một lối mòn khó thay đổi, sự uy quyền, áp đặt vẫn chưa thể xoá được
trong một thời gian tới. Việc dạy học tương tác giữa người - máy, dạy theo nhóm, dạy
phương pháp tư duy sáng tạo cho HS, cũng như dạy HS cách biết, cách làm, cách
chung sống và cách tự khẳng định mình vẫn còn mới mẻ đối với GV và đòi hỏi GV
phải kết hợp hài hòa các PPDH đồng thời phát huy ưu điểm của PPDH này làm hạn
chế những nhược điểm của PPDH truyền thống. Điều đó làm cho CNTT, dù đã được


đưa vào quá trình dạy học, vẫn chưa thể phát huy trọn vẹn tính tích cực và hiệu quả
của nó.
-

Việc sử dụng CNTT để đổi mới PPDH chưa được nghiên cứu kỹ, dẫn đến việc

ứng dụng nó không đúng chỗ, không đúng lúc, nhiều khi lạm dụng nó.
-

Việc đánh giá một tiết dạy có ứng dụng CNTT còn lúng túng, chưa xác định

hướng ứng dụng CNTT trong dạy học. Chính sách, cơ chế quản lý còn nhiều bất cập,
chưa tạo được sự đồng bộ trong thực hiện. Các phương tiện, thiết bị phục vụ cho việc
đổi mới PPDH sử dụng CNTT (phương tiện chiếu projector,…) còn thiếu, chưa đồng
bộ và chưa hướng dẫn sử dụng nên khó triển khai rộng khắp, hiệu quả.
-

Việc kết nối, sử dụng Internet chưa được thực hiện triệt để và có chiều sâu; sử

dụng không thường xuyên do thiếu kinh phí, do tốc độ đường truyền chậm. Công tác
đào tạo, công tác bồi dưỡng, tự bồi dưỡng đội ngũ GV chỉ mới dừng lại ở việc xoá mù
tin học nên GV chưa đủ kiến thức, mất nhiều thời gian và công sức để sử dụng CNTT
trong lớp học một cách có hiệu quả.

1.2.2.

Các hình thức ứng dụng ICT trong dạy học

Hiện nay trên thế giới, người ta phân biệt rõ ràng hai hình thức ứng dụng ICT
trong dạy và học, đó là Computer Base Training (CBT: dạy dựa vào máy tính) và Elearning (học dựa vào máy tính).[3]
-

CBT: là hình thức GV sử dụng máy vi tính trên lớp, kèm theo các trang thiết bị

như máy chiếu, các thiết bị đa phương tiện để hỗ trợ truyền tải kiến thức đến HS, kết
hợp với phát huy những thế mạnh của các phần mềm máy tính như hình ảnh, âm
thanh, các tư liệu phim ảnh, sự tương tác giữa người và máy.
-

E-learning là hình thức HS sử dụng máy tính để tự học các bài giảng mà GV

soạn sẵn, hoặc xem những đoạn phim về tiết dạy của các GV hay trao đổi trực tuyến
với GV thông qua mạng Internet.
Điểm khác biệt giữa E-learning và CBT là E-learning lấy người học làm trung
tâm, người học tự làm chủ quá trình học tập của mình. Còn CBT là hình thức hỗ trợ
cho GV, lấy người dạy làm trung tâm và cơ bản vẫn dựa trên mô hình lớp học cũ. Ở
nước ta hiện nay, ứng dụng CNTT vào đổi mới PPDH đã được nghiên cứu và thử
nghiệm, trong đó có một số mô hình được đánh giá là thành công như “Teaching and
Learning with computer” của công ty IBM và “Teaching to the Future” của công ty
Intel.


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Căn cứ vào tình hình thực tiễn và những thành tựu nêu trên, có thể nhận định
rằng ngành giáo dục phổ thông nước ta chỉ đang phát triển ở hình thức CBT. Vì vậy,
phương hướng phấn đấu và phát triển tiếp theo sẽ là tích hợp ICT vào quá trình dạy
học. Đồng thời đổi mới dần PPDH và xây dựng một mô hình giáo dục hiện đại mới
phù hợp hơn, trong đó việc phát triển và đẩy mạnh sử dụng E-learning trong giáo dục
là mục tiêu cần đạt được. Tuy nhiên, việc học theo E-learning (học thông qua mạng
Internet) lại còn quá mới mẻ so với HS THPT và không giúp HS hiểu được cặn kẽ vấn
đề. Phương pháp webquest chính là sự kết hợp cả hai cách ứng dụng ICT trên, vừa
giúp HS tự tiếp cận kiến thức thông qua mạng Internet và trang WebQuest, vừa giúp
HS hiểu sâu sắc vấn đề khi GV tổng kết, giải quyết những vấn đề HS hiểu lệch hoặc
chưa hiểu tới ngay tại buổi báo cáo của HS.

1.3. Tổng quan về phương pháp webquest và trang WebQuest
1.3.1.

Khái niệm về phương pháp webquest

Từ khi ra đời cho đến nay, webquest được sử dụng rộng rãi trên thế giới, trong
giáo dục phổ thông cũng như đại học. Có nhiều định nghĩa cũng như cách mô tả khác
nhau về webquest. Theo nghĩa hẹp, webquest được hiểu như một PPDH. Theo nghĩa
rộng, webquest được hiểu như một mô hình, một quan điểm về dạy học có sử dụng
mạng Internet. Ở đây, chúng tôi xây dựng webquest theo nghĩa hẹp, tức là xem đây
như một PPDH và gọi chung là “phương pháp webquest”.
Từ đó, ta có thể định nghĩa như sau: “Phương pháp webquest là một PPDH,
trong đó HS tự lực thực hiện trong nhóm một nhiệm vụ về một chủ đề phức hợp, gắn
với tình huống thực tiễn. Những thông tin cơ bản về chủ đề được truy cập từ những
trang liên kết (Internet links) do GV chọn lọc từ trước. Việc học tập theo định hướng
nghiên cứu và khám phá, kết quả học tập được HS trình bày và đánh giá”[5]. Song
song với phương pháp này, WebQuest cũng là bản thân đơn vị nội dung dạy học được
xây dựng để sử dụng và là công cụ hỗ trợ cho phương pháp webquest chính là trang
WebQuest được đưa lên mạng. Như vậy, trong khóa luận này, chúng tôi thống nhất sử
dụng thuật ngữ như sau:

- “webquest”: phương pháp webquest.
- “WebQuest”: trang WebQuest.


Trong tiếng Việt chưa có cách dịch hoặc cách dùng thuật ngữ thống nhất cho
khái niệm này. Trong tiếng Anh, “Web” ở đây nghĩa là mạng, “Quest” là tìm kiếm,
khám phá. Dựa trên thuật ngữ và bản chất của khái niệm có thể gọi phương pháp
webquest là phương pháp “khám phá trên mạng”. Như vậy, phương pháp webquest là
một dạng đặc biệt của dạy học sử dụng truy cập mạng Internet, thông qua các trang
WebQuest và là một PPDH phức hợp.
Phương pháp webquest có thể chia thành hai loại: loại sử sụng các trang
WebQuest lớn và loại sử dụng các trang WebQuest nhỏ. WebQuest lớn xử lý một vấn
đề phức tạp trong một thời gian dài (có thể kéo dài đến 1 tháng), có thể coi như là một
dự án dạy học. WebQuest nhỏ xử lý vấn đề trong thời gian ngắn, khoảng một vài tiết
học (ví dụ 1 đến 2 tiết), HS xử lý một đề tài chuyên môn bằng cách tìm kiếm thông tin
và xử lý chúng cho bài trình bày, tức là các thông tin chưa được sắp xếp sẽ được lập
cấu trúc theo các tiêu chí và kết hợp vào kiến thức đã có trước của các em.
Phương pháp webquest có thể được sử dụng ở tất cả các loại hình trường học.
Điều kiện chủ yếu là HS phải có kỹ năng đọc cơ bản và có thể tiếp thu, xử lý các thông
tin dạng văn bản. Bên cạnh đó, HS cũng phải có những kiến thức cơ bản trong thao tác
với máy tính và Internet. Phương pháp webquest có thể sử dụng trong mọi môn học.
Ngoài ra, phương pháp này còn rất thích hợp cho việc dạy học liên môn.

1.3.2.

Khái niệm trang WebQuest

WebQuest là một công cụ hỗ trợ cho phương pháp webquest, cũng là một thành
phần không thể thiếu khi dạy học theo phương pháp webquest. HS sẽ thông qua trang
WebQuest để tiếp cận chủ đề, nhiệm vụ cần thực hiện cũng như lấy thông tin qua các
đường dẫn liên kết và từ đó hoàn thành nhiệm vụ cùng nhóm của mình.
Tuy nhiên, không phải bất cứ lúc nào HS cũng có thể truy cập mạng Internet và
không phải GV nào cũng biết cách tạo một trang web thông qua các ngôn ngữ lập trình
web. Chính vì thế, trong quá trình phát triển, tùy điều kiện mà các trang WebQuest có
thể thực hiện trên Microsoft Word, Excel, PowerPoint, hay trên Microsoft Frontpage,
Microsoft Publisher,… Điều quan trọng là phải có các liên kết với những tài liệu khác,
và tài liệu này không nhất thiết phải là các trang web mà là bất kì nguồn tài liệu nào
được GV kiểm định có thể hỗ trợ để HS hoàn thành nhiệm vụ, chẳng hạn như các tài
liệu dạng tập tin pdf, word, đĩa CD, sách… Tuy nhiên, những trang WebQuest trên
được gọi là “WebQuest tĩnh”, chúng không thể xuất lên mạng mà chỉ lưu hành nội bộ,


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
nằm dưới dạng tập tin đưa cho HS. Và vì vậy, nó vẫn chưa mô tả hết tinh thần của
webquest, vẫn chưa phải là phương pháp dạy và học tích cực.
Như vậy, trang WebQuest vừa là một website vừa lại không phải là website. Là
một website bởi lẽ, nó cũng có thể được đưa lên mạng, được dùng công cụ tạo web để
thiết kế. Nó không phải là website bởi xét về mục đích, website là để mọi người truy
cập, tìm kiếm thông tin, còn WebQuest là công cụ để hỗ trợ cho HS khi học với
phương pháp webquest.

1.3.3.

Đặc điểm của việc học tập với phương pháp webquest

Dạy học với phương pháp webquest có những đặc điểm riêng khác với các
phương pháp khác:
- Chủ đề dạy học: chủ đề phải gắn với tình huống thực tiễn và mang tính phức
hợp, có thể là những tình huống lịch sử mang tính điển hình, hoặc những tình huống
có tính thời sự. Những tính huống này có thể được xem xét dưới nhiều phương diện
khác nhau và có thể có nhiều quan điểm để giải quyết.
- Định hướng hứng thú HS: Nội dung của chủ đề và PPDH phải định hướng
vào hứng thú, tích cực hoá động cơ học tập của HS.
- Tính tự lực cao của người học: Quá trình học tập là quá trình tự điều khiển,
HS cần tự lực hoàn thành nhiệm vụ được giao, tự điều khiển và tham gia vào quá trình
kiểm tra, đánh giá. HS sẽ chủ động tiếp cận và lĩnh hội kiến thức, tự giác hơn trong
học tập, GV chỉ đóng vai trò là người tư vấn, hướng dẫn.
- Quá trình học tập là quá trình tích cực và kiến tạo: Khác với việc truy cập
mạng thông thường nhằm thu thập thông tin, trong phương pháp webquest HS cần lấy
và xử lý thông tin thông qua trang WebQuest nhằm giải quyết nhiệm vụ đề ra (tích
cực). HS cần có quan điểm riêng dựa trên cơ sở lập luận để trả lời câu hỏi hoặc giải
quyết vấn đề (kiến tạo).
- Quá trình học tập mang tính xã hội và tương tác: Hình thức làm việc trong
webquest chủ yếu là làm việc nhóm, do đó việc học tập mang tính xã hội và tương tác.
HS có thể rèn luyện tính cộng đồng, biết trình bày quan điểm và lắng nghe phản hồi
cũng như nhận xét quan điểm của bạn bè và của chính mình.
- Quá trình học tập định hướng nghiên cứu và khám phá: Để giải quyết vấn
đề đặt ra HS cần áp dụng các phương pháp làm việc theo kiểu nghiên cứu và khám
phá. Những hoạt động điển hình của HS trong phương pháp webquest là tổng


kết, đánh giá, hệ thống hóa, trình bày trong sự trao đổi với những HS khác. HS cần
thực hiện và từ đó phát triển những khả năng tư duy như: so sánh, phân loại, suy luận,
kết luận, phân tích sai lầm, chứng minh…

1.3.4.

Các dạng nhiệm vụ trong WebQuest

Có nhiều dạng nhiệm vụ trong WebQuest, nhưng Bernie Dodge phân biệt
những loại nhiệm vụ sau:
Tái hiện thông tin các thông tin (bài tập tường thuật): HS tìm kiếm những
thông tin, xử lý thông tin đó để trả lời các câu hỏi riêng rẽ và phải chứng tỏ được rằng
HS hiểu những thông tin đó. Kết quả tìm kiếm thông tin sẽ được trình bày theo cách đa
phương tiện (ví dụ bằng chương trình PowerPoint) hoặc thông qua các áp phích, các
bài viết ngắn,… (tùy theo yêu cầu của GV). Nếu chỉ là cắt dán mà không xử lý các
thông tin đã tìm được như tóm tắt, hệ thống hóa thì không phải phương pháp
webquest.
Tổng hợp thông tin: HS có nhiệm vụ lấy thông tin từ nhiều nguồn khác nhau
và sau đó xử lý, liên kết, tổng hợp chúng trong một sản phẩm chung.
Giải điều bí ấn: Việc đưa vào một điều bí ẩn là phương pháp làm cho người
học quan tâm, hứng thú hơn với đề tài. Vấn đề là thiết kế một bí ẩn mà HS không thể
tìm thấy lời giải của nó trên Internet, để giải nó HS sẽ phải thu thập thông tin từ những
nguồn khác nhau, lập ra các mối liên kết và rút ra kết luận.
Bài tập báo chí: HS được giao nhiệm vụ với tư cách nhà báo tiến hành lập báo
cáo về những hiện tượng hoặc những cuộc tranh luận hiện tại cùng với những bối cảnh
nền và tác động của chúng. Để thực hiện nhiệm vụ này họ phải thu thập thông tin và
xử lý chúng thành một bản tin, một bài phóng sự, một bài bình luận hoặc một dạng bài
viết báo kiểu khác.
Lập kế hoạch và thiết kế (nhiệm vụ thiết kế): HS phải tạo ra một sản phẩm
hoặc phác thảo kế hoạch cho một dự định. Những mục đích và hướng dẫn chỉ đạo sẽ
được miêu tả trong đề bài.
Lập ra các sản phẩm sáng tạo (bài tập sáng tạo): Nhiệm vụ của người học là
chuyển đổi những thông tin đã xử lý thành một sản phẩm sáng tạo, ví dụ một bức
tranh, một tiết mục kịch, một tác phẩm châm biếm, một tấm áp phích, một trò chơi,
một nhật ký mô phỏng hoặc một bài hát…


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
Lập đề xuất thống nhất (nhiệm vụ tạo lập sự đồng thuận): Những đề tài
nhất định sẽ được thảo luận theo cách tranh luận. Mọi người sẽ ủng hộ các quan điểm
khác nhau trên cơ sở các hệ thống giá trị khác nhau, các hình dung khác nhau về
những điều kiện và hiện tượng nhất định, dẫn đến sự phát triển một đề xuất chung cho
một nhóm thính giả cụ thể (có thực hoặc mô phỏng).
Thuyết phục những người khác (bài tập thuyết phục): Người học phải tìm
kiếm những thông tin hỗ trợ cho quan điểm lựa chọn, phát triển những ví dụ có sức
thuyết phục về quan điểm tương ứng. Ví dụ bài trình bày trước một ủy ban, bài thuyết
trình trong phiên xử tại tòa án (mô phỏng), viết các bức thư, các bài bình luận hoặc các
công bố báo chí, lập một áp phích hoặc một đoạn phim, trong khi đó vấn đề sẽ luôn
luôn là thuyết phục những người được đề cập.
Tự biết mình (bài tập tự biết mình): Những bài tập kiểu này đòi hỏi người
học xử lý những câu hỏi liên quan đến bản thân cá nhân mình mà các câu hỏi đó không
có những câu trả lời nhanh chóng. HS có thể suy ra từ việc xem xét các mục tiêu cá
nhân, những mong muốn về nghề nghiệp và các triển vọng của cuộc sống, các vấn đề
tranh cãi về đạo lý và đạo đức, các quan điểm về các đổi mới kỹ thuật, về văn hoá và
nghệ thuật.
Phân tích các nội dung chuyên môn (bài tập phân tích): Người học phải xử
lý cụ thể hơn với một hoặc nhiều nội dung chuyên môn, để tìm ra những điểm tương
đồng và các khác biệt cũng như các tác động của chúng.
Đề ra quyết định (bài tập quyết định): Để có thể đưa ra quyết định, phải có
thông tin về nội dung cụ thể và phát triển các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyết định.
Các tiêu chuẩn làm cơ sở cho sự quyết định có thể được cho trước, hoặc người học
phải phát triển các tiêu chuẩn của chính mình.
Điều tra và nghiên cứu (bài tập khoa học): HS tiến hành một nhiệm vụ
nghiên cứu thông qua điều tra hay các phương pháp nghiên cứu khác. Ở kiểu bài tập
này, cần tìm ra một nhiệm vụ với mức độ khó khăn phù hợp.

1.3.5.

Cấu trúc chung của WebQuest

Một WebQuest thường có cấu trúc chung gồm sáu mục:


1.
Giới thiệu
2.
Nhiệm vụ

6.
Kết luận
Cấu trúc
của một
WebQuest

3.
Tiến trình

5.
Đánh giá
4.
Nguồn tư
liệu

Hình 1.1. Cấu trúc chung của một WebQuest
Giới thiệu: GV giới thiệu chủ đề của bài học, việc giới thiệu phải tạo một động
lực để kích thích HS.
Nhiệm vụ: GV giới thiệu tình huống và nhiệm vụ của từng nhóm. Nhiệm vụ
phải thú vị, có ý nghĩa. Tạo nhiệm vụ chính là phần mang tính sáng tạo nhất của
WebQuest và cũng là phần khó khăn nhất.
Tiến trình: GV đưa ra các bước cơ bản HS cần thực hiện để hoàn thành nhiệm
vụ và hệ thống câu hỏi định hướng HS tìm hiểu để đi đến giải quyết nhiệm vụ của
mình.
Nguồn tư liệu: GV tìm các trang tài liệu có liên quan đến chủ đề, giúp HS có
thể giải quyết được vấn đề.
Đánh giá: GV đưa ra các tiêu chí đánh giá, hình thức đánh giá (đánh giá theo
nhóm, đánh giá cá nhân, tự đánh giá, GV đánh giá…) và cách thức để HS đánh giá.
Các tiêu chí đánh giá cần rõ ràng, cụ thể và bám sát vào nội dung sản phẩm mà HS
thực hiện.
Kết luận: GV chốt lại vấn đề của bài học.

1.3.6.

Quy trình thiết kế một WebQuest

Qua tham khảo tài liệu [5], chúng tôi đề xuất quy trình thiết kế một WebQuest như
sau:


Ket-noi.com kho tai lieu mien phi
1.TẠO KHUNG TRANG WEBQUEST

2.CHỌN CHỦ ĐỀ

4.TÌM NGUỒN TÀI LIỆU

3.XÁC ĐỊNH MỤC ĐÍCH

7.THIẾT KẾ ĐÁNH GIÁ

5.XÁC ĐỊNH NHIỆM VỤ

6.THIẾT KẾ TIẾN TRÌNH

8.TRÌNH BÀY TRANG WEB

9.THỰC NGHIỆM

10.ĐÁNH GIÁ,
SỬA CHỮA

Hình 1.2. Sơ đồ quy trình thiết kế trang WebQuest
-

Bước 1: Tạo khung trang WebQuest. Tạo trang web và cấu trúc chung của một

WebQuest. Có thể dùng nhiều công cụ như: Microsoft Word, Excel, PowerPoint,
Microsoft Frontpage, Microsoft Publisher, các công cụ tạo website miễn phí, các dịch
vụ tạo website…
-

Bước 2: Chọn chủ đề. Chủ đề cần phải có mối liên kết rõ ràng với những nội

dung được xác định trong chương trình dạy học. Chủ đề có thể là một vấn đề quan
trọng trong xã hội, đòi hỏi HS phải tỏ rõ quan điểm. Quan điểm đó không thể được thể
hiện bằng những câu trả lời như “đúng” hoặc “sai” một cách đơn giản mà cần lập luận
quan điểm trên cơ sở hiểu biết về chủ đề. Những câu hỏi sau đây cần trả lời khi quyết
định chủ đề:
• Chủ đề có phù hợp với chương trình đào tạo không ?
• HS có hứng thú với chủ đề không ?


• Chủ đề có gắn với tình huống, vấn đề thực tiễn không ?
• Chủ đề có đủ lớn để tìm được tài liệu trên Internet không ?
Sau khi quyết định chọn chủ đề, cần mô tả và giới thiệu chủ đề với HS. Đề tài
cần được giới thiệu một cách ngắn gọn, dễ hiểu để HS có thể làm quen với một đề tài
khó.
- Bước 3: Xác định mục đích. Cần xác định một cách rõ ràng những mục tiêu,
yêu cầu đạt được trong việc thực hiện WebQuest. Các yêu cầu cần phù hợp với HS và
có thể đạt được, đồng thời phải mang tính giáo dục.
- Bước 4: Tìm nguồn tài liệu học tập. GV tìm các trang web, các tài liệu có liên
quan đến chủ đề, lựa chọn những tài liệu thích hợp để đưa vào liên kết trong
WebQuest. Đối với từng nhóm bài tập riêng rẽ cần phải tìm hiểu, đánh giá và hệ thống
hóa các nguồn đã lựa chọn thành dạng các địa chỉ Internet (URL). Giai đoạn này
thường đòi hỏi nhiều công sức. Bằng cách đó, người học sẽ được cung cấp các nguồn
trực tuyến để áp dụng vào việc xử lý và giải quyết các vấn đề. Những nguồn thông tin
này được kết hợp trong tài liệu WebQuest hoặc có sẵn ở dạng các siêu liên kết tới các
trang web bên ngoài. Ngoài các trang web, các nguồn thông tin tiếp theo có thể là các
thông tin chuyên môn được cung cấp qua Email, CD hoặc các ngân hàng dữ liệu kỹ
thuật số (ví dụ các từ điển trực tuyến trong dạy học ngoại ngữ). Điều quan trọng là
phải nêu rõ nguồn tin đối với từng nội dung công việc và trước đó các nguồn tin này
phải được GV kiểm tra về chất lượng để đảm bảo tài liệu đó là đáng tin cậy.
- Bước 5: Xác định nhiệm vụ. Để đạt được mục đích của hoạt động học tập, HS
cần phải giải quyết một nhiệm vụ hoặc một vấn đề có ý nghĩa và vừa sức. Vấn đề hoặc
nhiệm vụ phải cụ thể hóa đề tài đã được giới thiệu. Nhiệm vụ học tập cho các nhóm là
thành phần trung tâm của WebQuest. Nhiệm vụ định hướng cho hoạt động của HS,
cần tránh những nhiệm vụ theo kiểu ôn tập, tái hiện thuần túy. Như vậy, xuất phát từ
một vấn đề chung cần phải phát biểu những nhiệm vụ riêng một cách ngắn gọn và rõ
ràng. Những nhiệm vụ cần phong phú về yêu cầu, về phương tiện có thể áp dụng, các
dạng làm bài. Thông thường, chủ đề được chia thành các tiểu chủ đề nhỏ hơn để từ đó
xác định nhiệm vụ cho các nhóm khác nhau. Các nhóm cũng có thể có nhiệm vụ giải
quyết vấn đề từ những góc độ tiếp cận khác khau.
- Bước 6: Thiết kế tiến trình. Sau khi đã xác định nhiệm vụ của các nhóm HS,
cần thiết kế tiến trình thực hiện nhiệm vụ. Trong đó đưa ra những chỉ dẫn, hỗ trợ cho


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×