Tải bản đầy đủ

Tài liệu ôn thi cao học Học viện tài chính (Môn NLCB2)

Mục lục
Nội dung
Phần 1. Học thuyết giá trị
1. Hàng hoá.................................................................................
2. Tiền tệ.....................................................................................
3. Quy luật giá trị .......................................................................
Phần 2. Học thuyết giá trị thặng dư
1. Sự chuyển hoá tiền tệ thành tư bản....................................
Hàng hoá thông thường và hàng hoá sức lao động
2. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư....................................
Bản chất của tư bản. Tư bản bất biến và tư bản khả biến

3. Tiền công.............................................................................
4. Sự chuyển hoá giá trị thặng dư thành tư bản-tích luỹ TB
5. Lưu thông TB và giá trị thặng dư
a) Tuần hoàn và chu chuyển tư bản.....................................
b) Tư bản cố định và tư bản lưu động..................................
c) Tái sản xuất và lưu thông của tư bản...............................
6. Các hình thái tư bản và hình thức biểu hiện giá trị thặng dư
a) Chi phí sx TB, lợi nhuận (P) và tỷ suất lợi nhuận (P’)...
b) Lợi nhuận bình quân ( P ) và giá cả sản xuất....................

c) Tư bản thương nghiệp và lợi nhuận thương nghiệp.........
d) Tư bản cho vay và lợi tức cho vay...................................
e) Địa tô TBCN.....................................................................

1

Trang
02
09
14
17
21
27
29
33
35
37
39
42
44
46
47


Phần I. HÀNG HOÁ VÀ TIỀN TỆ
1. Sản xuất hàng hoá và điều kiện ra đời của nó.
Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất
nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường.
Sản xuất hàng hoá ra đời khi có đủ 2 điều kiện: Phân công lao động xã hội
và Sự tách biệt tương đối về kinh tế của người sx
*/ Phân công lao động xã hội:
- Phân công LĐXH là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành nghề
khác nhau của nền sản xuất xã hội.
- Phân công LĐXH là tạo ra sự chuyên môn hoá lao động, do đó mỗi
người sản xuất chỉ tạo ra một hoặc vài sản phẩm. Nhưng trong cuộc sống họ
cần sản phẩm của nhau. Phân công LĐXH làm nảy sinh mqh kinh tế giữa
những người thuộc các ngành nghề sản xuất khác nhau.
Tuy nhiên phân công lao động mới là điều kiện cần nhưng chưa đủ.
*/ Sự tách biệt tương đối về mặt kinh tế của những người sản xuất.
- Chế độ tư hữu hoặc quan hệ SH khác nhau về TLSX, chia rẽ người


sản xuất làm cho họ độc lập với nhau, nhưng họ lại nằm trong hệ thống phân
công lao động xã hội, nên họ phụ thuộc nhau cả về sản xuất và tiêu dùng
trong điều kiện đó người này muốn tiêu dùng sản phẩm của người khác phải
thông qua trao đổi. (Điều này có nghĩa là chế độ tư hữu tạo ra những người
chủ sở hữu khác nhau trong XH làm cho họ độc lập với nhau và họ có quyền
chi phối sản phẩm của mình, trong khi họ thừa sản phẩm do mình làm ra
nhưng lại thiếu sản phẩm khác người khác sản xuất  Trao đổi sản phẩm
cho nhau vừa đảm bảo mối liên hệ kinh tế và cũng đảm bảo tính độc lập của
chủ sở hưũ.
⇒ Sản xuất hàng hoá ra đời khi có đồng thời 2 điều kiện trên.
2. So sánh sản xuất tự cấp tự túc và sản xuất hàng hóa
- Sản xuất tự cấp tự túc: là kiểu tổ chức kinh tế mà sản phẩm do lao động
ra nhằm để thoả mãn trực tiếp nhu cầu của người sản xuất.
- Sản xuất hàng hoá: là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản
xuất ra nhằm để trao đổi hoặc bán trên thị trường
- Điểm giống nhau: quá trình sản xuất đều là quá trình kết hợp các yếu
tố TLSX với sức lao động để tạo ra sản phẩm.
- Khác nhau:
Sản xuất tự cấp tự túc Sản xuất hàng hoá
Chủ thể SX và TD

Người sản xuất chính là Người sản xuất không phải là
người tiêu dùng
người tiêu dùng
2


Mục đính SX

Tiêu dùng (thoả mãn bán, trao đổi (thoả mãn nhu
nhu cầu của người sx) cầu của người tiêu dùng)

Quan hệ kinh tế

Mang hình thái hiện vật Quan hệ hàng – tiền tệ (hình
thái giá trị)

Câu hỏi: Phân biệt sản xuất hàng hoá giản đơn và sx hàng hoá TBCN:
- Sx hàng hoá giản đơn là hình thức sx hàng hoá dựa trên tư hữu nhỏ về
tư liệu SX và lao động của chính người chủ sở hữu về tư liệu SX.
- Sx hàng hoá TBCN là hình thức sx hàng hoá dựa trên sở hữu tư nhân
TBCN về TLSX và sự bóc lột lao động làm thuê.
Sx hàng hoá giản đơn
- Dựa trên tư hữu nhỏ về tư liệu
sản xuất và lao động của chính
người chủ sở hữu về tư liệu
sản xuất.
- Lực lượng sx ở trình độ thấp,
csvckt thủ công lạc hậu
- Quy mô sx nhỏ, NSLĐ thấp

SX hàng hoá TBCN
- dựa trên sở hữu tư nhân TBCN
về TLSX và sự bóc lột lao
động làm thuê.
lực lượng sản xuất phát triển ở
trình độ cao, csvckt hiện đại
quy mô sx lớn NSLĐ cao

3/ Hàng hóa và hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hoá là sản phẩm của LĐ có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người, nhưng phải thông qua trao đổi mua bán.
Hàng hóa có 2 thuộc tính: giá trị và giá trị SD
* Giá trị sử dụng:
- GTSD là công dụng của sản phẩm có thể thoả mãn nhu cầu nào đó của con
người (nhu cầu cho sản xuất, cho tiêu dùng cá nhân, vật chất hoặc tinh thần.)
- Đặc điểm:
+ Công dụng của vật phẩm là do thuộc tính tự nhiên của SP tạo nên (tức
là tính chất lý hoá làm nên vật phẩm).
+ Một vật phẩm có thể có một hoặc nhiều công dụng, KH ngày càng
phát triển thì người ta càng phát hiện ra nhiều công dụng của vật phẩm.
+ Giá trị sử dụng là nội dung vật chất của của cải, do đó Giá trị sử dụng
là một phạm trù vĩnh viễn
+ Giá trị sử dụng của hàng hoá là giá trị sử dụng cho XH hay cho người
khác tiêu dùng, không phải cho bản thân người sản xuất ra nó.
+ Trong nền SX hàng hoá giá trị sử dụng là vật mang giá trị trao đổi.
Giá trị hàng hoá: Là một phạm trù trừu tượng, muốn biết được bản chất
hay thực thể giá trị hàng hoá thì cần thông qua 1 phạm trù trung gian giá trị
trao đổi
* Giá trị :
3


- Giá trị trao đổi: là tỷ lệ về lượng mà giá trị sử dụng này trao đổi với
giá trị sử dụng khác.
VD: 1m vải = 10kg thóc. Vải và thóc là 2 hàng hoá có giá trị sử dụng
khác nhau về chất, nhưng đều là sản phẩm của LĐ.
+ Vì sao 1m vải có thể trao đổi lấy 10kg thóc?
Vải và thóc là hai giá trị sử dụng khác nhau cả về màu sắc, hình dáng,
kích thước, công dụng, thuộc tính tự nhiên, có thể trao đổi với nhau vì giữa
chúng có một điểm chung, đó là tất cả hàng hoá đều là sản phẩm của lao
động .
Thực chất của việc trao đổi hàng hoá cho nhau là sự trao đổi lượng lao
động kết tinh trong các hàng hoá đó.
 lao động hao phí để sản xuất ra hàng hoá ẩn giấu trong hàng hoá là
giá trị của hàng hoá:
. Giá trị: là lao động xã hội của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong
hàng hoá (chất của giá trị là lao động....).
. Mối quan hệ giữa giá trị và giá trị trao đổi:
Giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi
Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị ra bên ngoài.
 Giá trị là biểu hiện quan hệ giữa những người sản xuất hàng hoá.
- Đặc điểm:
+ Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn với nền sx hàng hoá, lao động của
người sx hàng hoá kết tinh trong hàng hoá là giá trị của hàng hoá. Nhưng
không phải tất cả sản phẩm đều có giá trị mà chỉ có những sản phẩm của lao
động làm ra để bán khi đó lao động của người sản xuất mới có đặc tính, là
kết tinh vào vật phẩm tạo thành nội dung vật chất để đem ra trao đổi.
+ Giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá (giá trị là quan hệ xã hội).
Như vậy: hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng
và giá trị nhưng là sự thống nhất giữa hai mặt đối lập.
Mâu thuẫn giữa 2 thuộc tính giá trị sử dụng & giá trị biểu hiện:
. Đối với người sản xuất: tạo ra giá trị sử dụng nhưng mục đích của họ
là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị.
. Đối với người mua: họ quan tâm đến giá trị sử dụng nhưng muốn có
giá trị sử dụng thì họ phải trả giá trị cho người sản xuất.
 Muốn thực hiện được giá trị sử dụng phải thực hiện được giá trị của
nó, khi hàng hoá bán được thì mâu thuẫn giữa giá trị sử dụng và giá trị được
giải quyết.
4. Tính hai mặt của lao động sản xuất hàng hóa
Hàng hoá có hai thuộc tính giá trị sử dụng và GT là do lao động sản xuất
hàng hoá có tính hai mặt là lao động cụ thể và lao động trừu tượng.
- LĐ cụ thể:
4


+ Khái niệm: lao động cụ thể là lao động có ích dưới một hình thức cụ
thể của một nghề nghiệp chuyên môn nhất định. Mỗi lao động cụ thể có đối
tượng lao động , mục đích, phương pháp lao động, phương tiện và kết quả sx
riêng (chính cái riêng đó phân biệt các loại lao động cụ thể khác nhau).
+ Đặc điểm:
• Mỗi lao động cụ thể tạo ra một giá trị sử dụng nhất định đồng thời là cơ
sở của phân công lao động xã hội. Các lao động cụ thể hợp thành hệ
thống phân công lao động xã hội; sự phát triển của các hình thức lao
động cụ thể phản ánh trình độ phân công lao động xã hội.
• Lao động cụ thể là một phạm trù vĩnh viễn, là một điều kiện không thể
thiếu trong bất kỳ hình thái kinh tế xã hội nào (hình thức của lao động
cụ thể có thể thay đổi).
- LĐ trừu tượng.
Lao động của người sản xuất hàng hoá nếu coi là sự hao phí sức lực nói
chung của con người, không kể đến hình thức cụ thể của nó như thế nào thì
gọi là lao động trừu tượng (Trừu tượng có nghĩa là không nhìn thấy nhưng
hoàn toàn có thật).
Ví dụ: lao động của người thợ may, sau một ngày làm việc thấy mệt
mỏi vì quá trình lao động, người thợ may đã hao phí sức óc, sức thần kinh và
sức cơ bắp.
+ Đặc điểm:
• LĐ trừu tượng tạo ra giá trị và làm cơ sở cho sự ngang bằng trong trao đổi.
• LĐ trừu tượng là một phạm trù lịch sử riêng của sx hàng hoá.
Vì mục đích của sản xuất hàng hoá là để trao đổi, để mua bán ở trên TT,
do đó chỉ có sản xuất hàng hoá mới có sự cần thiết phải quy các loại lao
động cụ thể vốn khác nhau không thể so sánh được thành một thứ lao động
đồng chất: LĐ trừu tượng từ đó quy ra tỷ lệ trao đổi, cơ sở trao đổi.
- Không phải có 2 thứ lao động khác nhau mà là lao động của người SX hàng
hoá nhưng LĐ đó mang tính hai mặt: vừa là LĐ cụ thể, vừa là LĐ trừu
tượng.
*Tính chất 2 mặt của lao động sản xuất hàng hoá phản ánh tính chất tư
nhân và tính chất xã hội của người sản xuất hàng hoá
- Trong nền kinh tế hàng hoá: sản xuất như thế nào, sản xuất cái gì là việc
riêng của mỗi người. Họ là người sản xuất độc lập, (tự lựa chọn mặt hàng để
sản xuất) lao động của họ vì vậy có tính chất tư nhân. Lao động tư nhân biểu
hiện thành lao động cụ thể.
- Lao động của người sản xuất hàng hoá, nếu xét về mặt hao phí sức lực nói
chung thì nó luôn là một bộ phận của lao động sản xuất thống nhất, nằm
trong hệ thống phân công lao động xã hội (PCLĐ xã hội làm cho người sản
5


xuất hàng hoá phụ thuộc vào nhau  trao đổi). Vì vậy lao động của họ
mang tính chất xã hội. Lao động xã hội biểu hiện thành lao động trừu tượng.
- Mâu thuẫn cơ bản trong nền sx hàng hoá giản đơn là mâu thuẫn giữa
lao động tư nhân và lao động xã hội. Mâu thuẫn này chỉ được giải quyết
thông qua trao đổi: nếu hàng hoá bán được thì lao động tư nhân được xã hội
thừa nhận, trở thành bộ phận của lao động xã hội; ngược lại nếu không bán
được thì mâu thuẫn chưa được giải quyết.Mâu thuẫn giữa lao động tư nhân
và lao động xã hội Biểu hiện:
+ Sản phẩm do người sản xuất nhỏ tạo ra có thể không phù hợp với nhu cầu
của xã hội.
+ Hao phí lao động cá biệt của người sản xuất có thể cao hơn hoặc thấp
hơn hao phí lao động xã hội chấp nhận.
+ Mâu thuẫn lao động tư nhân và lao động xã hội chứa đựng khả năng “sản
xuất thừa”.
- Mâu thuẫn cơ bản được biểu hiện thành mâu thuẫn: giữa lao động cụ thể
và lao động trừu tượng, giữa giá trị sử dụng và giá trị, giữa người bán và
người mua.
* Ý nghĩa của việc nghiên cứu tính hai mặt của l.động SX hàng hóa
+ Đó đem lại cho học thuyết giá trị lao động một cơ sở khoa học thực sự:
*Trước Mác: nhiều nhà lý luận khẳng định lao động tạo ra giá trị, nhưng
không biết mặt lao động nào tạo ra giá trị.
*Thiên tài của Mác, phát hiện ra mặt lao động trừu tượng của người
sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị hàng hóa.
+ Đem lại cơ sở khoa học vững chắc cho học thuyết giá trị thặng dư: giải
thích nguồn gốc thực sự của giá trị thặng dư
+ Giải thích các hiện tượng phức tạp diễn ra trong thực tế: Sự vận động
trái ngược giữa khối lượng của cải vật chất ngày càng tăng đi liền với khối
lượng giá trị ngày càng giảm xuống hoặc không đổi.
4/ Lượng giá trị hàng hoá. Các nhân tố ả/hưởng đến lượng giá trị hàng
hoá.
* Chất của giá trị hàng hoá là LĐ trừu tượng của người sản xuất hàng hoá
kết tinh trong hàng hoá.
* Lượng giá trị hàng hoá: là số lượng LĐ xã hội kết tinh trong hàng hoá.
Trong nền sx hàng hoá thì lượng lao động hao phí để sản xuất hàng hoá
được đo bằng th.gian lao động xã hội cần thiết. Thơì gian lao động cá biệt
quy định lượng giá trị cá biệt của hàng hoá của từng người sản xuất nhưng
lượng giá trị hàng hoá tính bằng th.gian lao động xã hội cần thiết.
* Thời gian lao động xã hội cần thiết: là th.gian cần thiết để sản xuất ra một
hàng hoá trong điều kiện bình thường của XH, tức là với trình độ kỹ thuật
6


trung bình, trình độ khéo léo trung bình và cường độ lao động trung bình
trong xã hội.
- Cách tính:
+ Thông thường người ta lấy th.gian lao động cá biệt của những người sản
xuất hàng hoá đã cung cấp đại bộ phận hàng hoá đó cho xã hội làm th.gian
LĐXH cần thiết.
VD: Người thứ nhất: sản xuất 5h – 1 đôi giầy – sản xuất 15% sản lượng cho
XH
Người thứ hai: sản xuất 6h – 1 đôi giầy – sản xuất 60% sản lượng cho
XH
Người thứ ba: sản xuất 7h – 1 đôi giầy – sản xuất 25% sản lượng cho
XH
+ Tính bình quân để xác định lượng th.gian lao động xã hội cần thiết:
Thời gian LĐXHCT =

x1α1 +x2α2 +...+xnαn
α1 +α2 +...+αn

Trong đó: x là giá trị lao động cá biệt của từng người hay từng CN sx.
α là lượng hàng hoá cung cấp ra thị trường của từng người hay từng CN sx
* Các nhân tố ảnh hưởng đến lượng giá trị hàng hoá.
Lượng giá trị hàng hoá là một đại lượng không cố định nó phụ thuộc
vào NSLĐ, cường độ LĐ và mức độ phức tạp hay giản đơn của lao động.
* Năng suất lao động
- Năng suất lao động: là năng lực sản xuất của người lao động được tính
bằng số lượng sản phẩm làm ra trong một đơn vị thời gian (Th.gian LĐ cần
thiết để làm ra một đơn vị sản phẩm)
Ví dụ: 2h tạo ra một đơn vị sản phẩm.
- Tăng năng suất lao động: là trong cùng một th.gian lao động nhất định
phải làm ra được nhiều sản phẩm hơn vì vậy th.gian giành cho một đơn vị
sản phẩm giảm xuống.
VD: bình tường: 2h  1 đơn vị sản phẩm
Khi NSLĐ tăng: 2h  2 đơn vị sản phẩm
-Mối quan hệ giữa năng suất lao động và lượng giá trị hàng hóa : NSLĐ
tăng thì số luợng sản phẩm tăng  Tổng hao phí lao động sản xuất không
đổi  Tổng giá trị hàng hoá không đổi do đó giá trị một đơn vị sản phẩm
giảm.
Như vậy lượng giá trị hàng hoá tỷ lệ nghịch với NSLĐ.
* Cường độ LĐ:
- Cường độ LĐ nói lên số lượng hao phí lao động phải bỏ ra trong một đơn
vị thời gian lao động nhất định nào đó.
VD: 1h hao phí 200 kalo.
7


- Tăng cường độ LĐ: là tăng lượng hao phí lao động trong th.gian lao động
đó. Thực chất là tăng sự vất vả nặng nhọc của người lao động.
 Mác nói: tăng cường độ LĐ cũng như là kéo dài độ dài th.gian LĐ
VD: 1 ngày lao động bình thường: 1600 kalo.
Khi tăng cường độ là gấp đôi – 3200 kalo.
- Mối quan hệ với lượng GT hàng hoá: Khi cường độ LĐ tăng thì số lượng
sản phẩm tăng  Tổng hao phí lao động XH tăng  Tổng giá trị hàng hoá
và giá trị một đơn vị sản phẩm không đổi. Như vậy lượng giá trị hàng hoá
tỷ lệ thuận với tăng cường độ lao động.
* LĐ giản đơn và LĐ phức tạp.
- Khái niệm:
+ LĐ giản đơn: là sự hao phí lao động một cách giản đơn mà bất kỳ một
người bình thường nào có khả năng lao động cũng có thể thực hiện được.
+ LĐ phức tạp: là lao động đòi hỏi phải được đào tạo huấn luyện.
 Do đó trong cùng 1 đơn vị th.gian lao động phức tạp tạo ra nhiều giá
trị hơn so với LĐ giản đơn, trong quá trình trao đổi người ta quy mọi LĐ
phức tạp thành lao động giản đơn - LĐ trung bình
- Lượng giá trị hàng hoá được đo bằng th.gian LĐXH cần thiết, giản đơn,
trung bình.
- Cấu thành lượng giá trị hàng hóa:
Giá trị hàng hoá = giá trị cũ tái hiện + giá trị mới.
W=c+v+ m
* Câu hỏi so sánh tăng năng suất lao động và tăng cường độ lao động
- Giống nhau: Đều làm cho số lượng sản phẩm tăng lên
- Khác nhau:
Tăng NSLĐ
Số lượng lao động
Không đổi
hao phí trong 1đơn
vị thời gian
Giá trị 1 đơn vị SP
Giảm
Giới hạn
Không có giới hạn

8

Tăng cường độ lao động
Tăng
Không đổi
Thể chất tinh thần của
người lao động


2. TIỀN TỆ
a. Lịch sử hình thành của tiền tệ
Tiền tệ ra đời trong quá trình sx và trao đổi hàng hoá. L/sử hình thành
tiền tệ là lịch sử phát triển các hình thái giá trị từ thấp đến cao: từ hình thái
giản đơn, tới hình thái mở rộng, hình thái chung đến hình thái tiền tệ.
* Hình thái giản đơn:
Xuất hiện trong giai đoạn đầu của trao đổi hàng hoá, trao đổi mang tính
chất ngẫu nhiên người ta trao đổi trực tiếp một vật này lấy một vật khác.
Ví dụ:
1 m vải
=
10 kg thóc
(hình thái giá trị tương đối) (hình thái vật ngang giá)
Giá trị của vải được biểu hiện ở thóc.
Còn giá trị sử dụng của thóc trở thành hình thức biểu hiện giá trị của
vải. Sở dĩ như vậy vì thóc cũng có giá trị. ở phương trình trao đổi này, giá trị
của vải được biểu hiện ở giá trị của 1 hàng hoá khác.
- Hình thái giá trị tương đối: là hàng hoá mà giá trị của nó biểu hiện ở
một hàng hoá khác.
- Hình thái vật ngang giá: là hàng hoá mà giá trị sử dụng của nó được
biểu thị giá trị của hàng hoá khác.
Hình thái vật ngang giá có 3 đặc điểm:
- Giá trị sử dụng của nó trở thành hình thức biểu hiện giá trị.
- Lao động cụ thể của nó trở thành h/thức LĐ trừu tượng
- Lao động TN của nó trở thành hình thức lao động xã hội.
- Mối quan hệ giữa hình thái giá trị tương đối và hình thái vật ngang giá
là hai mặt có liên quan với nhau, không thể tách rời nhau đồng thời là hai
cực đối lập của một phương trình giá trị.
* Hình thái giá trị mở rộng (đầy đủ).
Khi lực lượng sản xuất phát triển hơn, việc trao đổi trở nên thường
xuyên hơn, thích hợp với giai đoạn này là hình thái giá trị mở rộng.
1m vải = 10 kg thóc hoặc
= 1,5 kg chè hoặc
= 0,01 chỉ vàng.
Đây là sự mở rộng của hình thái giản đơn.
- Đặc điểm:
+ Giá trị của một hàng hoá được biểu hiện ở giá trị sử dụng của nhiều
hàng hoá khác nhau có t/d làm vật ngang giá.
+ Hình thái vật ngang giá được mở rộng ra nhiều hàng hoá khác nhau.
9


Tuy nhiên quá trình trao đổi vẫn là trao đổi trực tiếp, tỷ lệ trao đổi chưa
cố định, trong hình thái này nhiều biểu hiện giá trị khác nhau được hình
thành.
- Nhược điểm của hình thái này: ở hình thái này sẽ có xuất hiện giá trị
khác nhau được hình thành. Do đó nếu có n hàng hoá sẽ có nhiều chuỗi vật
ngang giá khác nhau. Để trao đổi phải tìm những chủ hàng hoá khác nhau có
nhu cầu phù hợp, trong thực tế điều này khó khăn. Chẳng hạn người có vải
cần thóc, nhưng người có thóc không cần vải mà cần cà phê...
* Hình thái giá trị chung:
Với sự phát triển của phân công lao động và trao đổi hàng hoá, những
nhược điểm của hình thái mở rộng càng bộc lộ rõ rệt. Trong quá trình trao
đổi xã hội nhu cầu là phải tìm một loại hàng hoá được nhiều người ưa thích
để đổi hàng hoá của mình lấy hàng hoá đó, rồi đổi hàng hoá đó lấy hàng hoá
mà mình cần.
Việc trao đổi không còn trực tiếp nữa mà phải qua một bước trung gian.
Khi vật trung gian cố định ở hàng hoá mà nhiều người ưa thích hình thái giá
trị chung xúât hiện
VD:
10 kg thóc
= 1m vải
Hoặc 1,5kg cà phê
Hoặc 2 kg chè
- Tất cả các hàng hoá đều biểu hiện giá trị của mình ở giá trị sử dụng của một
hàng hoá có tác dụng là vật ngang giá chung. Tuy nhiên vật ngang giá chung
chưa ổn định ở một thứ hàng hoá nào trong những vùng khác nhau có những
thứ khác nhau là vật ngang giá chung. Chẳng hạn: Thổ dân bờ biển châu á,
châu Phi dùng vỏ sò, Quần đảo Philíppin dùng gạo, Trung Quốc dùng vải…
* Hình thái tiền tệ.
Khi LLSX và phân công lao động xã hội phát triển cao hơn nữa, sản
xuất hàng hoá và trao đổi ngày càng mở rộng thì tình trạng có nhiều vật
ngang giá chung làm cho trao đổi khó khăn do đó đòi hỏi phải có vật ngang
giá chung thống nhất giữa các vùng. Khi vật ngang giá được cố định lại ở
một thứ hàng hoá độc tôn và phổ biến, hình thái tiền xuất hiện:
VD: 10m vải
= 0,01 chỉ vàng
Hoặc 100 kg thóc
(tiền tệ)
Lúc đầu có nhiều hàng hoá đóng vai trò tiền tệ về sau được cố định lại
ở kim loại quí: bạc, vàng.
Khi vàng, bạc đóng vai trò tiền tệ gọi là chế độ song kim.
Khi chỉ còn vàng độc chiếm gọi là chế độ bản vị vàng.

10


- Vàng đóng vai trò là tiền tệ vì đặc tính chung của vàng có nhiều ưu
điểm thích hợp nhất với vai trò tiền tệ như: thuần nhất, dễ chia nhỏ, không
hư hỏng, dễ bảo quản, với một lượng và thể tích nhỏ nhưng có giá trị cao.
Như vậy tiền tệ xuất hiện là kết quả của sự giải quyết liên tục những
mâu thuẫn trong quá trình phát triển lâu dai của sx & trao đổi hàng hoá.
- Định nghĩa: Tiền tệ là một hàng hoá đặc biệt được tách khỏi thế
giới hàng hoá đóng vai trò là vật ngang giá chung trong trao đổi.
Mác gọi tiền tệ là hàng hoá đặc biệt vì:
- Khi tiền tệ ra đời chia hàng hoá làm 2 cực: 1 cực bao gồm tất cả mọi
hàng hoá thông thường, còn cực kia là tiền tệ đóng vai trò là vật ngang giá
chung.
- Hàng hoá thông thường chỉ thoả mãn một nhu cầu, còn tiền có khả
năng trao đổi trực tiếp với mọi hàng hoá khác nhau nên có kh/năng thoả mãn
nhu cầu của con người.
- Tiền tệ: là một phạm trù kinh tế thuộc về quan hệ sản xuất, nó phản
ánh quan hệ xã hội giữa người với người, giữa các giai cấp trong quá
trình sản xuất.
b. Chức năng của tiền tệ:
Bản chất của tiền tệ thể hiện thông qua 5 chức năng:
* Thước đo giá trị:
- Tiền dùng để biểu hiện và đo lường giá trị của các hàng hoá.
(Mọi hàng hoá đều được biểu hiện giá trị của nó bởi tiền tệ)
- Điều kiện thực hiện chức năng thước đo giá trị: phải là tiền vàng.
Vì tiền vàng là hàng hoá, nó cũng có giá trị và giá trị của nó do lao
động tạo nên, do đó nó sử dụng ngay lượng lao động đã được vật hoá ở tiền
tệ để đo lường với luợng lao động được vật hoá ở hàng hoá khác.
Để đo lường giá trị hàng hoá ko nhất thiết phải là tiền mặt mà chỉ cần
so sánh với lượng vàng nào đó một cách tưởng tượng. Sở dĩ có thể làm như
vậy vì giữa giá trị của vàng và giá trị của hàng hoá đã có một tỷ lệ nhất
định. Cơ sở khoa học của tỷ lệ đó là thời gian lao động xã hội cần thiết
hao phí để sản xuất ra hàng hoá đó.
- Giá trị hàng hoá được biểu hiện bằng tiền gọi là giá cả h/hoá. Những nhân
tố ảnh hưởng đến giá cả h/hoá: cung cầu, cạnh tranh, giá trị của hàng hoá,
sức mua của tiền.
- Tiêu chuẩn của giá cả là đơn vị tiền tệ. Đơn vị đo lường tiền tệ là
trọng lượng nhất định của kim loại dùng làm tiền tệ, cụ thể là đơn vị đo
lường tiền tệ cho biết có bao nhiêu gram vàng trong 1 đơn vị tiền tệ
- Tác dụng của tiền tệ khi dùng làm tiêu chuẩn giá cả khác với tác dụng
của nó khi làm thước đo giá trị.
+ Làm thước đo giá trị tiền tệ đo lường giá trị của hàng hoá khác nhau
+ Làm tiêu chuẩn giá cả: tiền tệ đo lường bản thân kim loại dùng làm tiền tệ.
11


(nói rõ có bao nhiêu gram vàng trong một đơn vị tiền tệ)
* Phương tiện lưu thông:
- Tiền làm môi giới trong quá trình trao đổi hàng hoá làm cho quá trình
trao đổi thuận tiện hơn.
- Điều kiện để thực hiện chức năng phương tiện lưu thông là phải có tiền
mặt.Vì khi hàng hoá chuyển từ tay người bán sang tay người mua thì tiền
chuyển từ tay người mua sang tay người bán  nhất thiết phải có tiền
mặt
- Trong lưu thông lúc đầu tiền tệ xuất hiện dưới hình thức vàng thoi, bạc
nén. Dần dần được thay thế bằng tiền đúc. Ngày nay người ta dùng tiền
giấy.
*Phương tiện cất trữ.
- Tiền cất trữ là tiền rút ra khỏi lưu thông, được cất trữ lại khi cần đem
ra mua hàng.(Vì tiền là đại biểu cho của cải của xã hội dưới hình thái
giá trị, nên cất trữ tiền là hình thức cất trữ của cải).
- Điều kiện thực hiện chức năng này là tiền phải có đủ giá trị như tiền
vàng tiền bạc.
- Hình thức cất trữ:
. Giữ lại
. Gửi vào ngân hàng  Đ/v người gửi là cất trữ
 Ngân hàng: đưa vào lưu thông.
- Chức năng cất trữ: làm cho tiền trong lưu thông thích ứng một cách
tự phát với nhu cầu tiền cần thiết cho lưu thông.
Nếu sản xuất phát triển, sản lượng hàng hoá nhiều thì tiền cất trữ
được đưa vào lưu thông và ngược lại.
* Phương tiện thanh toán
- Tiền được dùng để trả nợ, nộp thuế, trả tiền mua hàng chịu (Tức là
tiền được dùng để chi trả sau khi công việc giao dịch mua bán đã
hoàn thành).
- Để thực hiện chức năng này không nhất thiết phải có tiền mặt mà có
thể thông qua giấy chuyển tiền hoặc séc hoặc tiền điện tử.
* Tiền tệ thế giới:
- Chức năng này hình thành khi quan hệ trao đổi hàng hoá vượt ra
ngoài biên giới một quốc gia, hình thành quan hệ kinh tế đối ngoại.
(Khi đó đòi hỏi đồng tiền chung giữa các quốc gia)
- Điều kiện thực hiện chức năng này: tiền phải có đủ giá trị, phải trút bỏ
áo khoác bên ngoài, trở về tiền bản thể ban đầu của nó là vàng.
- Làm chức năng tiền tệ vàng được sử dụng làm phương tiện mua hàng
ở nước ngoài, phương tiện thanh toán quốc tế và phương tiện biểu hiện
của cải nói chung của xã hội.
12


C. Quy luật lưu thông tiền tệ
- Quy luật lưu thông tiền tệ là quy luật xác định lượng tiền mặt cần thiết
cho lưu thông ở mỗi thời kỳ
- Lưu thông hàng hóa và lưu thông tiền tệ là hai mặt cảu một quá trình
thống nhất với nhau. Lưu thông tiền tệ xuất hiện và dựa trên lưu thông
hàng hóa . Ở mỗi thời kỳ nhất định , lưu thông hàng hóa bao giờ cũng
đòi hỏi một lượng tiền cần thiết cho sự lưu thông.
Số lượng tiền này được xác định bởi quy luật chung của lưu thông
tiền tệ. Quy luật này được thể hiện như sau:
Lượng tiền cần thiết
cho lưu thông

Tổng số giá cả
=

Số vòng lưu chuyển trung
bình của 1 đơn vị tiền tệ

P.Q
M = -----V
Trong đó M: số lượng tiền cần thiết trong lưu thông
P: giá cả hàng hóa
Q: khối lượng hàng hóa dịch vụ đưa vào lưu thông
V: số vòng lưu thông của đơn vị tiền tệ
Khi vừa làm chức năng phương tiện lưu thông vừa làm chức năng
phương tiện thanh toán thì lượng tiền cần thiết trong lưu thông được xác
định:
PQ - (PQb + PQk) + PQd
M = -------------------------V
Trong đó M: số lượng tiền cần thiết trong lưu thông
PQ: tổng số giá trị hàng hóa và dịch vụ đem lưu thông
PQb: tổng giá cả hàng hóa bán chịu
PQk: tổng giá cả hàng hóa khấu trừ cho nhau
PQd: tổng giá cả hàng hóa đến kỳ thanh toán
V: Số vòng chu chuyển của 1 đơn vị tiền tệ.

13


3. Quy luật giá trị
Quy luật giá trị là q/luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng
hoá. Ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hoá thì ở đó có sự tồn tại và phát huy
tác dụng của q/luật giá trị.
*Nội dung, Yêu cầu của quy luật giá trị:
- Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở hao phí lao động
XH cần thiết.
- Đ/với sản xuất hao phí lao động cá biệt phải dựa trên cơ sở hao phí
LĐ XH cần thiết tức là: giá trị cá biệt của hàng hoá nhỏ hơn hoặc bằng giá trị
xã hội của hàng hoá.
Khi đó, hàng hoá bán được: sẽ bù đắp chi phí sx và có lãi.
- Đ/với LT: phải dựa trên nguyên tắc trao đổi ngang giá (dựa trên cơ sở
CF LĐXH cần thiết)
*/ Thông qua sự vận động của giá cả thị trường sẽ thấy được sự hoạt động
của q/luật g/trị.
Vì: + giá trị là cơ sở của giá cả hàng hoá nên giá cả phụ thuộc vào giá
trị.
+ giá cả thị trường xoay xung quanh trục giá trị dưới sự tác dụng
của các nhân tố cạnh tranh ;cung cầu; sức mua của đồng tiền.
*Tác dụng: (3 tác dụng)
@/ Điều tiết sản xuất và lưu thông.
- Điều tiết sản xuất: là thông qua giá cả quy luật giá trị điều hoà, phân
bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế.
. Nếu ngành nào đó khi cung < cầu, giá cả hàng hoá tăng, có lợi cho
người sản xuất đổ xô vào ngành đó  người sản xuất có xu hướng mở
rộng quy mô sản xuất ngành đó do đó tư liệu sản xuất, sức lao động được
chuyển dịch vào ngành ấy tăng lên).
. Ngược lại cung> cầu  giá cả hàng hoá giảm, hàng hoá bán
không chạy có thể lỗ vốn  người sản xuất thu hẹp quy mô sản xuất.
(chuyển TLSX và sức lao động sang đầu tư vào ngành có lãi cao hơn).
- Điều tiết lưu thông : thông qua sự biến động giá cả trên thị trường,
thu hút luồng vận động của hàng hoá từ nơi có giá cả thấp - đến nơi có giá cả
cao làm cho lưu thông hàng hoá thông suốt.
14


@/ Kích thích sản xuất phát triển:
Thông qua lợi ích của người sản xuất kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý
hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.
Trong nền sản xuất hàng hoá mỗi người sản xuất là một chủ thể kinh tế
độc lập do đó hàng hoá sản xuất ra trong những điều kiện khác nhau nên có
giá trị cá biệt khác nhau. Trên thị trường hàng hoá được trao dổi theo giá trị
xã hội , do đó :
- Những người sản xuất có giá trị cá biệt < giá trị xã hội của hàng hoá
sẽ ở thế có lợi,
- Những người sản xuất hàng hoá có giá trị cá biệt > giá trị xã hội của
hàng hoá sẽ ở thế bất lợi  muốn đứng vững trong cạnh tranh tìm cách cải
tiến kỹ thuật dẫn đến LLSX phát triển.
@/ Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá thành kẻ giầu người
nghèo trong XH. Trong sx hàng hoá dưới tác dụng của q/luật giá trị  cạnh
tranh  kết quả cạnh tranh là:
+ Đ/với những người sx có điều kiện thuận lợi, có trình độ kỹ thuật cao,
hao phí LĐ cá biệt < hao phí LĐXH  Hàng hoá bàn được nhiều  giàu có
 mở rộng sản xuất.
+ Ngược lại có những người điều kiện sx ko thuận lợi, trình độ kỹ
thuật thấp  hao phí lao động cá biệt > hao phí lao động xã hội  hànghoá
không bán được  phá sản – nghèo khó.
Như vậy dưới sự tác động của quy luật giá trị trong nền sản xuất hàng
hóa:
- Một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các nhân tố yếu kém
kích thích các nhân tố tích cực phát triển.
- Mặt khác phân hoá xã hội thành kẻ giàu, người nghèo tạo ra sự bất
bình đẳng trong xã hội.
*/ Hình thức biểu hiện của q/luật giá trị trong ph/thức SXTBCN.
- Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh: q/luật giá trị biểu hiện
thành q/luật giá cả sản xuất. Vì: Cạnh tranh giữa các ngành dẫn đến sự hình
thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và giá trị hàng hóa ( W = c+v+m) sẽ
chuyển hóa thành giá cả sản xuất (giá cả sản xuất = k + P ). Khi đó giá cả sản
xuất là cơ sở của giá cả thị trường và giá cả thị trường quay xung quanh giá
cả sản xuất dưới sự tác động của các nhân tố: cạnh tranh, cung cầu & sức
mua của tiền
- Trong giai đoạn CNTB độc quyền: q/luật giá trị biểu hiện thành
q/luật giá cả độc quyền .
Giá cả đ/quyền = k + P độc quyền.
Các tổ chức độc quyền quy định:
+ giá cả đ/quyền > giá cả sản xuất đôí với những hàng hoá bán ra.
+ giá cả đ/quyền < giá cả sản xuất đối với hàng hoá mà họ mua vào
15


*/Hình thức biểu hiện và hình thức chuyển hoá của giá trị hàng hoá.
-Hình thức biểu hiện và của giá trị hàng hoá là giá trị trao đổi và giá cả hàng
hoá.
- Hình thức biểu hình thức chuyển hoá của giá trị hàng hoá là giá cả sx và giá
cả độc quyền.
* Mối quan hệ giữa chúng
Mqh giữa gtrị hàng hoá với giá cả thị trường:
- Giá trị hàng hoá là cơ sở, là nội dung bên trong, giá cả hàng hoá là
biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hoá trên thị trường. Giá cả thị trường lên
xuống xung quanh trục giá trị hàng hoá dưới sự tác động của các nhân tố
cung cầu, cạnh tranh & sức mua của tiền.
Mqh giữa giá trị hàng hoá và giá cả sản xuất:
- Trong giai đoạn CNTB tự do cạnh tranh: giá trị hàng hoá chuyển hoá thành
giá cả sx
. Về mặt chất:
+ Giá trị hàng hoá là nội dung là cơ sở của giá cả sản xuất.
+ Giá cả sản xuất là hình thức biểu hiện của giá trị hàng hoá trong điều
kiện cạnh tranh giữa các ngành.
.Về mặt lượng thì giá cả sx và giá trị hàng hoá có thể bằng nhau, có thể ko
bằng nhau
Giá trị hàng hoá = c + v + m
Giá cả sx = k + P
Trong trường hợp cung = cầu  m = p  Giá cả hàng hoá = giá cả sx
Nhưng trong toàn bộ nền kinh tế thì tổng giá cả sx = tổng giá trị hàng hoá

Mqh giữa giá trị hàng hoá & giá cả độc quyền:
Giá trị hàng hoá là cơ sở của giá cả độc quyền, giá cả độc quyền là hình thức
chuyển hoá của giá trị hàng hoá trong giai đoạn CNTB độc quyền.
Giá cả đ/quyền = k + P độc quyền.
Các tổ chức độc quyền quy định:
+ giá cả đ/quyền > giá cả sản xuất đôí với những hàng hoá bán ra.
+ giá cả đ/quyền < giá cả sản xuất đối với hàng hoá mà họ mua vào

Sự ra đời của phương thức TBCN:
Dưới sự tác động của qluật giá trị trong nền sx hàng hoá giản đơn đã dẫn đến
2 đk ra đời của phương thức sx TBCN:
- Tập trung 1 khối lượng tiền tệ tương đối lớn vào trong tay một số người
- Tạo ra đội ngũ những người LĐ tự do nhưng bị mất hết TLSX buộc phải
mang SLĐ của mình ra bán để kiếm sống.
Sự t/động phân hoá này của qluật giá trị diễn ra chậm chạp để tạo ra
những đk cho sự ra đời của CNTB mà chỉ dựa vào t/dụng này của của qluật
giá trị thì phải mất một thời kỳ lâu dài, do đó g/cấp tư sản đã đẩy nhanh sự ra
đời của ph/thức sx TBCN bằng biện pháp tích luỹ nguyên thuỷ TB.
16


Thực chất của tích luỹ nguyên thuỷ TB là quá trình g/cấp tư sản & địa
chủ dùng quyền lực tước đoạt ruộng đất, TLSX của nông dân & người sx
nhỏ, biến họ thành người mất hết TLSX, tập trung TLSX trong tay địa chủ và
g/cấp tư sản
- Biện pháp: Tước đoạt ruộng đất của nông dân, xâm chiếm thuộc địa
& buôn bán nô lệ da đen từ châu Phi đến các vùng đất mới của châu Mỹ.
Phần II. HỌC THUYẾT GIÁ TRỊ THĂNG DƯ
1/ Quá trình chuyển tiền thành TB (công thức chung tư bản và mâu
thuẫn của công thức chung tư bản)
* Mọi TB lúc đầu đều biểu hiện dưới hình thái một số tiền nhất định
nhưng bản thân tiền không phải tư bản mà tiền chỉ chuyển thành tư bản khi
có đủ 3 điều kiện sau:
- Tiền phải đạt một lượng đủ lớn (tiền phải đủ mua tư liệu sản xuất &
SLĐ tiến hành sản xuất kinh doanh) phụ thuộc : tính chất ngành sản xuất và
tiến bộ khoa học kỹ thuật, quy mô sx.
- Tiền phải vận động trong lưu thông (tiền phải được đưa vào sản xuất
kinh doanh)
- Tiền phải được sử dụng vào mục đích bóc lột lao động làm thuê nhằm
mang lại tiền phụ thêm, đây chính là điều kiện quyết định. Vì nếu có tiền đưa
vào lưu thông , tiến hành sản xuất mà người có tiền, có TLSX là người trực
tiếp sản xuất - đó là sản xuất hàng hoá giản đơn. Khi tiền được sử dụng vào
mục đích bóc lột lao động làm thuê thì tiền  tư bản.
 Khi đó tiền vận động theo công thức: T – H – T.
Mác gọi là công thức chung TB; tất cả các tư bản đều vận động theo
công thức này.
* So sánh công thức l/thông hàng hoá giản đơn – công thức chung tư bản.
- Giống nhau: về hình thức: Đều bao gồm 2 nhân tố tiền, hàng; Đều
chứa đựng hành vi: mua - bán; Đều biểu hiện mối quan hệ kinh tế giữa người
mua và người bán.
- Khác nhau: bản chất.
H-T-H
Trình tự của các g/đ mua và Bán trước, mua sau
bán
Điểm xuất phát và điểm kết Đều là hàng hóa
thúc
Mục đích của quá trình LT giá trị sử dụng

17

T- H- T’
Mua trước, bán sau
Đều là tiền
Giá trị và giá trị tăng
thêm


Giới hạn của sự vận động

sự vận động có giới sự vận động k có giới
hạn
hạn

* Mâu thuẫn của công thức chung TB:
Nhìn vào công thức TB làm cho người ta tưởng rằng, tiền ứng trước tức là
tiền đưa vào lưu thông khi về tay người chủ của nó thì tăng thêm một lượng
nhất định.
Lưu thông có tạo ra giá trị tăng thêm không?
- Các nhà KTế học tư sản cho rằng: lưu thông tạo ra giá trị và giá trị
tăng thêm.
- Mác cho rằng: trong l/thông dù trao đổi ngang giá hay không ngang
giá đều không tạo ra một nguyên tử g/trị nào, cụ thể:
+ Trường hợp trao đổi ngang giá: nếu hàng hóa trao đổi ngang giá thì
chỉ có sự thay đổi hình thái giá trị T – H hoặc H – T còn tổng giá trị cũng
như phần giá trị thuộc về mỗi bên trao đổi trước và sau không đổi.
+ Trường hợp trao đổi không ngang giá:
 Hàng hoá bán cao hơn giá trị thì số tiền khi bán được lợi cũng là
số tiền người đó thiệt khi mua (trong nền sản xuất hàng hoá là sản
xuất mua bán trao đổi hàng hoá).
 Hàng hoá bán thấp hơn giá trị: thì số tiền người mua được lợi bao
nhiêu cũng là số tiền người đó thiệt khi bán.
 Giả định trong XH có người chuyên mua rẻ bán đắt thì giá trị của
người đó có được là nhờ sự ăn chặn, đánh cắp số giá trị của
người khác còn tổng giá trị xã hội trước và sau không đổi.
⇒ Mác kết luận: Lưu thông ko tạo ra giá trị mới.
Giá trị tăng thêm có thể xuất hiện từ bên ngoài l/thông?
Thực tế tiền để ở bên ngoài lưu thông không thể có được giá trị tăng
thêm.
Như vậy mâu thuẫn của công thức chung tư bản là: tư bản ko thể xuất
hiện từ lưu thông và cũng không thế xuất hiện ở bên ngoài l/thông. Nó phải
xuất hiện trong lưu thông đồng thời không phải trong lưu thông .
Mác khẳng định: phải lấy q/luật nội tại của lưu thông hàng hoá làm cơ
sở để giải thích sự chuyển hoá tiến thành tư bản (tức là phải lấy việc trao đổi
ngang giá làm cơ sở).
Sự chuyển hoá tiền thành tư bản không thể xảy ra từ bản thân số tiền
đó, mà chỉ có thể xảy ra ở hàng hoá trong quá trình vận động của tư bản. Sự
chuyển hoá đó không xảy ra ở giá trị trao đổi (vì trao đổi ngang giá) nên chỉ
18


có thể xảy ra ở giá trị sử dụng của hàng hoá, hàng hoá đó không phải là hàng
hoá thông thường mà phải là hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có
đặc tính là nguồn gốc sinh ra giá trị và giá trị lớn hơn bản thân nó. Hàng hoá
đặc biệt đó là hàng hóa sức lao động
Hàng hoá SLĐ (Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động)
* SLĐ: là toàn bộ thể lực trí lực tồn tại trong con người và được con
người vận dụng trong quá trình sản xuất.
* Điều kiện để biến SLĐ trở thành hàng hoá:
. Người lao động là người được tự do về thân thể, làm chủ sức lao động
của mình, và có quyền bán sức lao động của mình như một hàng hóa.

Vì :sức lao động xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hoá, nếu
nó do bản thân người có sức lao động đưa ra bán nên người lao động phải
có quyền SH, có quyền chi phối năng lực lao động của mình thì khi đó họ
mới có thể bán sức lao động (VD trong xã hội nô lệ, người nô lệ không có
quyền tự do về thân thể nên không thể bán sức lao động của mình)
. Người lao động bị tước đoạt hết tư liệu sản xuất, muốn lao động để có thu
nhập duy trì cuộc sống, họ phải bán sức lao động của mình.

Nếu chỉ có điều kiện người lao động tự do về thân thể thì chưa đủ điều kiện
biến sức lao động thành hàng hoá vì họ có tư liệu sản xuất thì họ sẽ sản xuất
ra hàng hoá và bán chứ không bán sức lao động . Sự tồn tại đồng thời 2
điều kiện trên tất yếu dẫn đến chỗ sức lao động thành hàng hoá và thành
điều kiện chủ yếu để quyết định sự chuyển Tiền thành tư bản.
* Hai thuộc tính của hàng hoá SLĐ:
- Giá trị của hàng hoá SLĐ.
. Giá trị hàng hoá sức lao động được quyết định bởi số lượng thời gian
LĐXH cần thiết để sản xuất và tái sản xuất ra sức lao động.Nhưng SLĐ chỉ
tồn tại như năng lực của con người sống. Muốn tái sản xuất ra năng lực đó
người lao động phải tiêu dùng một số TL sinh hoạt nhất định.
Thời gian LĐXH cần thiết để tái sản xuất ra sức lao động sẽ được quy
thành thời gian LĐXH cần thiết để sản xuất ra TL sinh hoạt cần thiết để nuôi
sống người lao động và gia đình anh ta.
Giá trị sức lao động được đo gián tiếp bằng giá trị những TL sinh
hoạt để tái sản xuất sức lao động.
Bao gồm:
+ Giá trị TLSH thiết yếu người công nhân tiêu dùng hàng ngày A/ ngày.
+ Giá trị TL sinh hoạt người công nhân tiêu dùng hàng tuần: B/ tuần
+ Giá tri tư liệu sinh hoạt người công nhân tiêu dùng hàng tháng: C/
tháng.
+ Giá trị tư liệu sinh hoạt người công nhân tiêu dùng hàng quý: D/ quý.
Giá trị TB một ngày của hàng hoá sức lao động=
19

365 A + 52 B + 12C + 4 D
.
365


.Giá trị hàng hoá sức lao động bao hàm cả 2 yếu tố tinh thần và yếu
tố lịch sử. Các yếu tố này phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử mỗi nước, điều
kiện địa lý, khí hậu, trình độ văn minh đã đạt được của mỗi nước.
- Giá trị sử dụng của hàng hoá SLĐ:
. Giá trị sử dụng của hàng hoá SLĐ là công dụng của nó thể hiện trong
quá trình tiêu dùng sức lao động (tức là quá trình người CN tiến hành lao
động để sản xuất ra một hàng hoá nào đó).
. Khi tiêu dùng giá trị sử dụng mất đi nhưng lại có kh/năng tái tạo lại
thông qua tiêu dùng TL sinh hoạt.
. Hàng hoá SLĐ chỉ bán quyền sử dụng không mất quyền sở hữu.
. Giá trị SD của hàng hoá SLĐ khi TD có kh/năng tạo ra giá trị mới lớn
giá trị bản thân nó.
- Đặc điểm mua bán:
. Bán quyền sử dụng không mất quyền sở hữu
.Tiền được trả sau bằng tiền công
Câu hỏi: Phân biệt hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động.
- Điểm giống nhau: Hàng hóa thông thường và hàng hóa sức lao động
đều có hai thuộc tính giá trị và giá trị sử dụng đều thỏa mãn nhu cầu của
người mua
- Điểm khác nhau:
Hàng hóa thông thường
Giá trị - Lượng giá trị hàng hóa
thông thường được quyết
định bởi lượng thời gian lao
động XH cần thiết để sản
xuất ra lượng hàng hóa đó.
- lao động trừu tượng kết
tinh trực tiếp vào hàng hóa
đó.

Hàng hóa sức lao động
- Lượng hàng hóa sức lao động được
quyết định bởi thời gian lao động
XH cần thiết để sx ra tư liệu sinh
hoạt mà người lao động đã tiêu
dùng để tái sx ra sức lao động.
- lao động kết tinh gián tiếp trong tư
liệu sinh hoạt mà người lao động tiêu
dùng
-Giá trị hàng hóa sức lao động bao
hàm cả yếu tố tinh thần và yếu tố lịch
sử.
Giá trị - Khi tiêu dùng thì giá trị sử - Khi tiêu dùng giá trị sử dụng bị mất
sử
dụng bị mất đi và không
đi nhưng có khả năng tái tạo thông
20


dụng

Đặc
điểm
mua
bán

có khả năng tái tạo.

qua tiêu dùng tư liệu sinh hoạt.Khi
tiêu dùng nó tạo ra một giá trị mới
lớn hơn giá trị bản thân.
- Bán quyền sử dụng mất cả - Bán quyền sử dụng mà không mất
quyền SH
quyền sở hữu.
- Tiền được trả ngay khi - Tiền được trả sau bằng tiền công ,
diễn ra hành vi trao đổi
tiền lương.

Câu hỏi: Mối quan hệ giữa hàng hóa sức lao động và mâu thuẫn của
công thức chung tư bản
Hàng hóa sức lao động là chìa khóa để giải quyết mâu thuẫn công thức
chung tư bản.
Vì: Giá trị sử dụng của hàng hoá SLĐ là công dụng của nó thể hiện trong
quá trình tiêu dùng sức lao động (tức là quá trình ngời CN tiến hành lao động
để sản xuất ra một hàng hoá nào đó).
Giá trị SD của hàng hoá SLĐ có tính chất đặc biệt là khi tiêu dùng có
kh/năng tạo ra giá trị mới lớn giá trị bản thân nó.

2. Quá trình sản xuất giá trị thặng dư (GTTD)
2.1. Sự thống nhất giữa quá trình sản xuất ra giá trị sử dụng và quá trình
sản xuất ra giá trị thặng dư
- Mục đích của nền sản xuất TBCN không phải là giá trị sử dụng mà là
giá trị và giá trị thặng dư. Nhưng để sản xuất giá trị thặng dư trước hết nhà
TB phải sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó. Vì giá trị sử dụng là vật
mang giá trị và giá trị thặng dư.
- Đặc điểm quá trình sản xuất trong chủ nghĩa tư bản
+ Quá trình sản xuất tư bản chủ nghĩa là sự thống nhất giữa quá trình
sản xuất giá trị sử dụng và quá trình sản xuất ra m. Trong quá trình sản xuất
hàng hoá tư bản chủ nghĩa: bằng lao động cụ thể của mình, con người sử
dụng tư liệu sản xuất và chuyển giá trị của chúng vào hàng hoá bằng lao
động trừu tượng: con người tạo ra giá trị mới, giá trị sức lao động.
+ Công nhân làm việc dưới sự kiểm soát của nhà tư bản (Người công
nhân bán sức lao động cho nhà tư bản khi đó sức lao động thuộc quyền
của nhà tư bản do đó nhà tư bản kiểm soát lao động của người công nhân
để sử dụng sức lao động đó một cách hiệu quả nhất).
+ Sản phẩm làm ra thuộc sở hữu của nhà tư bản (Vì nhà tư bản bỏ tiền
mua tư liệu sản xuất, sức lao động tạo, do vậy sản phẩm làm ra là của họ).
- Giả định:
+ Nhà tư bản mua và bán hàng hoá đúng giá trị
21


+ Giá trị của nguyên vật liệu và hao mòn máy móc được chuyển hết vào sản
phẩm
+ Quá trình sản xuất sợi đã hao phí theo thời gian lao động xã hội cần thiết
+ Ngày làm việc của công nhân là 8 h.
+ Trong mỗi giờ người công nhân tạo ra một lượng giá trị là 1 USD
* Ví dụ quá trình sản xuất sợi trong một xí nghiệp tư bản
- Giả sử: để sản xuất 10kg sợi mua 10kg bông
20 USD
hao phí máy móc là:
3 USD
Mua sức lao động người công nhân ngày là: 4 USD
Chỉ trong 4 h người công nhân đã chuyển 10kg bông thành 10kg sợi
Giá trị 10kg sợi = 23USD + 4 USD (giá trị mới ) =27 USD
Nếu người công nhân làm việc trong 4h thì quá trình lao động mới chỉ
đủ bù giá trị sức lao động chưa có giá trị tăng thêm, do đó nhà tư bản không
thu được gì. Trong thực tế quá trình lao động không dừng lại ở đó. Nhà TB
mua sức lao động của người công nhân trong một ngày (8 h) việc sử dụng
sức lao động đó thuộc quyền nhà tư bản. Nhà tư bản tiếp tục cho công nhân
lao động trong 4h nữa.
 Để có quá trình sản xuất của 4 giờ sau nhà tư bản chỉ bỏ ra:
20 USD mua 10kg bông và 3 USD hao mòn máy móc. Tổng cộng: 23 USD.
Sau quá trình lao động người công nhân tạo ra 10kg sợi
Giá trị 10kg sợi = 23USD + 4 USD (giá trị mới ) =27 USD
Toàn bộ chi phí nhà tư bản bỏ ra = 50USD.
giá trị 20 kg sợi = 54 USD
Khi bán hàng hóa với giá cả bằng giá trị thì nhà tư bản thu được 1 giá trị tăng
thêm = 54USD – 50 USD= 4 USD.
* Kết luận:
- Giá trị thăng dư là một bộ phận của giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức
lao động do công nhân làm thuê tạo ra và bị nhà tư bản chiếm không.
- Quá trình sản xuất ra giá trị thặng dư chỉ là quá trình tạo ra giá trị kéo
dài cái điểm mà ở đó giá trị sức lao động do nhà tư bản trả được hoàn lại
bẳng một vật ngang giá mới.
- Ngày lao động của CN được chia thành 2 phần : thời gian lao động tất
yếu và thời gian lao động thặng dư
. Thời gian lao động tất yếu: là phần ngày lao động mà người công
nhân tạo ra một lượng giá trị ngang bằng giá trị sức lao động của mình
. Thời gian lao động thặng dư: là phần còn lại của ngày lao động
- Sau khi nghiên cứu quá trình sản xuất giá trị thặng dư, ta thấy mâu
thuẫn của công thức chung tư bản đã được giải quyết.
22


Đó là nhà tư bản mua hàng hóa sức lao động (trong lưu thông). Sau đó nhà
tư bản sử dụng hàng hoá đặc biệt đó trong sản xuất (ngoài lĩnh vực lưu
thông) để sản xuất giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Trong quá trình sản xuất
người công nhân tạo ra giá trị mới lớn hơn (v+m). Do đó tiền của nhà tư bản
mới trở thành tư bản.
2.2. Bản chất của tư bản. Tư bản bất biến và tư bản khả biến.
a. Bản chất của tư bản
- Các nhà kinh tế học tư bản cho rằng: mọi công cụ lao động, tư liệu sản xuất
đều là tư bản.
⇒ Thực ra tư liệu sản xuất chỉ là yếu tố cơ bản của sản xuất trong bất
cứ xã hội nào, bản thân nó không phải là tư bản. Tiền chỉ trở thành tư bản
khi nó trở thành tài sản của nhà tư bản dùng để bóc lột lao động làm thuê.
- Mác: Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư bằng cách bóc lột công
nhân làm thuê.
- Bản chất của tư bản là chiếm đoạt giá trị thặng dư do giai cấp công nhân
sáng tạo ra (phản ánh mối quan hệ xã hội, mối quan hệ giữa giai cấp tư sản
và giai cấp vô sản).
b. Tư bản bất biến và tư bản khả biến
Muốn tiến hành sản xuất, nhà tư bản phải ứng tiền ra để mua tư liệu
sản xuất và sức lao động, tức là biến tư bản tiền tệ thành các yếu tố của quá
trình sản xuất.
Mác chia tư bản thành 2 bộ phận: tư bản bất biến và tư bản khả biến.
- Mục đích phân chia: tìm xem bộ phận tư bản nào đã tạo ra m. Từ đó
khẳng định nguồn gốc bản chất của m.
- Căn cứ để phân chia: Mác dựa vào tính chất 2 mặt của lao động: lao
động cụ thể, lao động trừu tượng.
. Lao động cụ thể: bảo toàn chuyển giá trị của tư liệu sản xuất vào hàng
hoá làm cho giá trị không bị mất đi ⇒ tư bản bất biến.
. Lao động trừu tượng: tạo ra giá trị mới (v+m) - giá trị SLĐ (v)
-Tư bản bất biến: là bộ phận tư bản mà nhà tư bản bỏ ra để mua tư
liệu sản xuất mà giá trị của nó được bảo tồn và chuyển nguyên vẹn vào sản
phẩm
.Hình thái tồn tại của tư bản bất biến:
-Về giá trị: C
-Về hình thái: hiện vật như máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu...
. Đặc điểm: trong quá trình sản xuất giá trị được chuyển hoá vào sản
phẩm có thể một hoặc nhiều lần nhờ lao động cụ thể của người công nhân.
23


. Vai trò tư bản bất biến: là điều kiện quan trọng để sản xuất ra giá trị
thặng dư nhưng nó không tạo ra giá trị thặng dư.
-Tư bản khả biến: là bộ phận tư bản, nhà tư bản bỏ ra mua sức lao
động của công nhân làm thuê.
+) Hình thái tồn tại:
. Giá trị: V
. Hiện vật: tồn tại dưới hình thức sức lao động của công nhân
+) Đặc điểm: trong quá trình sử dụng giá trị của nó được bảo tồn và tạo
ra giá trị lớn hơn giá trị chính nó. (v+m ).
⇒ Như vậy bộ phận biến thành sức lao động không tái hiện ra nhưng
thông qua lao động trừu tượng của công nhân làm thuê mà tăng lên, tức là
biến đổi về đại lượng, được Mác gọi là tư bản khả biến.
+) Vai trò: tư bản khả biến giữ vai trò quyết định trong quá trình sản
xuất giá trị thặng dư (tạo ra giá trị thặng dư).
-Ý nghĩa của sự phân chia: chỉ rõ nguồn gốc sinh ra giá trị thặng dư là
từ lao động của người công nhân làm thuê tạo ra. Tư bản bất biến là điều
kiện cần thiết tạo ra giá trị thặng dư.
2.3. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a. Sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
-Là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư bằng cách kéo dài thời gian lao
động trong ngày trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không đổi nhờ đó
kéo dài thời gian lao động thặng dư
- Biện pháp : kéo dài thời gian lao động trong ngày trong điều kiệngiữ
nguyên thời gian lao động tất yếu
- Giá trị thặng dư tuyệt đối là giá trị thặng dư thu được do kéo dài thời
gian lao động trong ngày, trong điều kiện thời gian lao động tất yếu không
đổi.
VD: Ngày lao động là 8 h: 4h lao động tất yếu và 4h lao động thặng dư
m’ =

4
.100% = 100%
4

Kéo dài là 10h: 4h lao động tất yếu và 6h lao động thặng dư
m’ =

6
.100% = 150%
4

Nhà tư bản tìm mọi cách kéo dài ngày lao động nhưng ngày lao động
có giới hạn nhất định.
24


- Giới hạn trên của ngày lao động do thể chất và tinh thần của người
lao động quyết định. Vì người lao động phải có thời gian để ăn ngủ, nghỉ
ngơi, để phục hồi thể lực.
- Giới hạn dưới của ngày lao động không thể bằng thời gian lao động
tất yếu, tức là thời gian lao động giá trị thặng dư bằng 0.
- Về mặt kinh tế: thời lao động cần thiết < ngày lao động < giới hạn về
thể chất và tinh thần của người lao động.
b) sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Việc kéo dài ngày lao động bị giới hạn về thể chất và tinh thần của
người lao động và cuộc đấu tranh của giai cấp công nhân ngày càng mạnh
mẽ. Hơn nữa CNTB phát triển đến giai đoạn đại cách mạng cơ khí - NSLĐ
tăng các nhà tư bản chuyển sang phương thức bóc lột dựa trên cơ sở tăng
NSLĐ - bóc lột m tương đối.
- Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối là phương pháp giảm
giá trị sức lao động bằng cách tăng NSLĐ trong các ngành sản xuất tư liệu
tiêu dùng và các ngành sản xuất ra tư liệu sản xuất để sản xuất ra các tư liệu
tiêu dùng.
- Muốn rút ngắn thời gian lao động thì phải giảm giá trị sức lao động.
Giảm giá trị sức lao động bằng cách nào?
Muốn giảm giá trị SLĐ phải giảm giá trị các TL sinh hoạt và dịch vụ cần
thiết cho công nhân bằng cách tăng NSLĐ xã hội trong các ngành sản xuất
TLSX để sản xuất ra TL sinh hoạt.
- Giá trị thặng dư tương đối: là giá trị thặng dư thu được do rút ngắn thời
gian lao động tất yếu của người công nhân, nhờ đó tăng thời gian lao động
thặng dư lên trong điều kiện độ dài ngày lao động không đổi.
VD: ngày lao động: 8h : 4h lao động tất yếu - 4h lao động thặng dư
Khi NSLĐXH tăng lên nên chỉ 2h lao động người công nhân đã tạo ra
được một giá trị bằng giá trị sức lao động của m
Vì vậy khi đó 8h lao động chia thành : 2h lao động tất yếu và 6h lao động
2h
6h
thặng dư
T Lđ m

T Lđty
6

m’= 2 .100% = 300%
- Trong giai đoạn đầu của CNTB, sản xuất m tuyệt đối là phương pháp
chủ yếu, thì đến giai đoạn phát triển tiếp theo khi KHKT pt thì sản xuất m
tương đối là phương pháp chủ yếu,
- Trong nền sản xuất TBCN của CNTB hiện đại: là sự kết hợp 1 cách
tinh vi cả 2 phương pháp sản xuất m.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x