Tải bản đầy đủ

Phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa hiện đại hóa ở việt nam hiện nay

MỤC LỤC
A. LỜI MỞ ĐẦU
NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I Cơ sở lý luận về việc phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp
hóa hiện đại hóa ở nước ta.
1 Khái niệm và sự tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa
2 Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực
II Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại
hóa ở nước ta
1 Đặc điểm định lượng của nguồn lao động
a. Quy mô dân số
b. Phân bổ dân số theo vùng miền
2 Đặc điểm định tính của nguồn lao động
a. Thể trạng sức khỏe nguồn nhân lực Việt Nam
b. Trình độ giáo dục của nguồn lao động Việt Nam
c. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Việt Nam
d. Thói quen, nếp nghĩ, tác phong của người lao động
e. Giá cả sức lao động
3 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn
yếu kèm.
III Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH,

HĐH
1. Gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế
2. Về chính sách xã hội
3. Về giáo dục- đào tạo.


A. LỜI MỞ ĐẦU
Ngày nay, trong công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước mục
tiêu quan trọng nhất trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Công
nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước đòi hỏi nhiều nhân tố quan trọng như:
vốn, khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên… song yếu tố quan
trọng và quyết định nhất và là chìa khoá của sự thành công chính là nguồn
nhân lực. Nguồn nhân lực với trình độ tiên tiến sẽ chính là nhân tố đẩy nhanh
quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Với một nước đang ở trình độ
thấp kém phát triển như nước ta hiện nay không thể không xây dựng một chính
sách phát triển lâu bền, nâng cao dần chất lượng của người lao động, phát huy
nhân tố con người để phục vụ tốt nhất cho mục tiêu lớn lao của toàn dân tộc,
đưa nước ta tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Trong rất nhiều kỳ đại hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định
vai trò của nguồn nhân lực: “… nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để
phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững”, “… nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước trong thời kỳ công
nghiệp hóa - hiện đại hóa”. Nhưng “Phát huy nguồn nhân lực trong sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa ở Việt Nam hiện nay ” như thế
nào và ra sao vẫn là vấn đề cần phải bàn đến và cần quan tâm thật nhiều.


NỘI DUNG ĐỀ TÀI
I Cơ sở lý luận về việc phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp
hóa hiện đại hóa ở nước ta.
1 Khái niệm và sự tất yếu khách quan của công nghiệp hóa hiện đại hóa
Nước ta đang trong quá trình chuyển từ một nền kinh tế lạc hậu mang tính
chất tự nhiên sang một nền kinh tế thị trường có nghĩa là chúng ta đang trong
quá trình thực hiện việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ một nền kinh tế sản xuất
nhỏ sang một nền kinh tế sản xuất lớn ngày càng hiện đại. Một nền sản xuất lớn
đòi hỏi phải có một cơ cấu cơ sở hạ tầng và những công cụ lao động ngày càng
tiến bộ. Để tạo lập ra những cơ sở vật chất kỹ thuật đó thì theo nguyên lý của
chủ nghĩa Mác, mọi quốc gia đều phải tiến hành quá trình công nghiệp hoá
-hiện đại hoá.
Cơ sở kỹ thuật là hệ thống các yếu tố vật chất của lực lượng sản xuất xã


hội phù hợp với trình độ kỹ thuật công nghiệp thích ứng của nó mà lực lượng
lao động xã hội sử dụng để sản xuất ra của cải vật chất.
Đối với các nước đang phát triển, việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
cho nền sản xuất lớn hiện đại là một trong những nhiệm vụ kinh tế to lớn và là
một yêu cầu khách quan. Cơ sở vật chất kỹ thuật của một nền sản xuất lớn đòi
hỏi phải dựa trên trình độ kỹ thuật công nghệ ngày càng hiện đại và không
ngừng hoàn thiện.
Chúng ta không chỉ dừng lại ở việc cơ khí hoá các tư liệu sản xuất mà còn ngày
càng hiện đại hoá ở trình độ công nghệ tiên tiến và thường xuyên đổi mới. Đây


là một nhiệm vụ khó khăn và mang tính chất quyết định đối với sự sống còn của
mỗi quốc gia. Chỉ có tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật cho nền sản xuất hiện đại
mới có thể làm thay đổi căn bản đời sống vật chất cũng như tinh thần của xã
hội, đẩy nhanh tốc độ phát triển tăng năng xuất lao động, ngày càng thoả mãn
và đáp ứng nhu cầu cuả nhân dân. Công nghiệp hoá hiện đại hoá chính là con
đường và bước đi tất yếu để tạo ra cơ sở vật chất kỹ thuật đó.
Khái niệm công nghiệp hóa, hiện đại hóa (theo Hội nghị lần thứ 7, Ban
chấp hành Trung ương khoá 7):
" CNH, HĐH là quá trình chuyển đổi toàn diện các hoạt động sản xuất
kinh doanh, dịch vụ và quản lý kinh tế xã hội từ sử dụng sức lao động thủ công
là chính sang sử dụng một cách phổ biến sức lao động cùng với công nghệ,
phương tiện, phương pháp sản xuất tiên tiến hiện đại dựa trên sự phát triển của
công nghiệp và tiên bộ khoa học công nghệ tạo ra năng suất lao động xã hội
cao"
Như vậy, trong điều kiện thế giới đang chuyển từ văn minh công nghiệp
sang hậu công nghiệp, nhiều nước châu Á đã chọn con đường “công nghiệp hoá
đuổi kịp để nhanh chóng hoà nhập vào nền văn minh hiện đại, biến những vùng
nghèo nàn lạc hậu trước đây thành những xã hội hiện đại” Các nước này đã tạo
nên những kinh nghiệm bổ ích, thiết thực cho các nước đang phát triển trong đó
có nước ta.
Ở các nước đang phát triển nói chung và nước ta nói riêng công nghiệp
hoá là điều cấp bách sống còn.Công nghiệp hoá là chìa khoá của sự phát triển
đặc biệt gắn chặt với sự phát triển đặc biệt gắn chặt với sự tăng trưởng bởi vì
“công nghiệp hoá chẳng phải là cái gì khác ngoài một phương tiện đặc biệt
mạnh mẽ để tăng năng xuất của con người qua đó mà tăng số lượng sản phẩm,
tính đa dạng và số lượng sản phẩm. Các nước gọi là phát triển khác hẳn các
nước khác chính là ở chỗ là công nghiệp hoá”.


Công nghiệp hoá tạo nên nền kinh tế hiện đại với những ưu thế nổi bật:
năng suất cao, cơ cấu sản suất đa dạng, công ăn việc làm phong phú hơn nhiều
so với một nền kinh tế chưa công nghiệp hoá.
Để đạt được hiệu quả cao thì công nghiệp hoá phải đi đôi với hiện đại
hoá, kết hợp với những bước tiến tuần tự về công nghệ vận dụng phắt triển
chiều rộng, tạo nhiều công ăn việc làm cho đội ngũ đông đảo lao động hiện nay.
Với việc tranh thủ với bước đi tắt đón đầu phát triển chiều sâu tạo nên những
mũi nhọn theo trình độ phất triển của khoa học và công nghệ trên thế giới. Khoa
học và công nghệ hiện đại là nhân tố then chốt của hiện đại hoá, nhưng hiện đại
hoá có nội dung sâu sắc và rộng lớn hơn nhiều, bao gồm các mặt kinh tế, chính
trị và văn hoá.
Hiện đại hoá là quá trình mà nhờ đó các nước đang phát triển tìm cách đạt
được sự tăng trưởng và phát triển kinh tế, tiến hành cải cách chính trị và củng cố
xã hội của họ nhằm tiến tới một hệ thống kinh tế xã hội chính trị văn minh tiên
tiến . Công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước con người những vấn đề nan
giải cả trong quan hệ giữa con người với con người và con người với thiên
nhiên. Để giải quyết những vấn đề này chúng ta phải thay đổi sâu sắc cách nhìn,
cách nghĩ và hành động của mình. Nắm bắt được tư tưởng đó, Đảng ta đã xác
định thực chất của công nghiệp hoá xã hội chủ nghĩa là quá trình thực hiện cách
mạng kỹ thuật, thực hiện sự phân công mới về lao động xã hội là quá trình tích
luỹ xã hội chủ nghĩa để không ngừng quá trình tái sản xuất mở rộng. Đường lối
công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa được xác định là ưu tiên cho phát triển công
nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp
nhẹ. Như vậy, không còn như trước kia coi công nghiệp nặng là công nghiệp
hàng đầu tuyệt đối.
Công nghiệp hóa và hiện đại hoá có những nét riêng đối vơí từng nước
nhưng đó chỉ là sự vận dụng một quá trình chuyển đổi có tính chất phổ biến cho
phù hợp với điều kiện cụ thể của từng nước mà thôi. Công nghiệp hoá và hiện


đại hoá là quá trình rộng lớn và phức tạp, bản chất của quá trình này bao gồm
các mặt sau:
- Trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại cho nền kinh tế.
- Xây dựng một cơ cấu kinh tế ngày càng hợp lý.
Thực hiện tốt công nghiệp hoá và hiện đại hoá có ý nghĩa vô cùng to lớn: làm
thay đổi lực lượng sản xuất thay đổi căn bản công nghệ kỹ thuật, công nghệ sản
xuất tăng năng xuất lao động tạo ra tốc độ phát triển cao, thực hiện xã hội hoá
về mặt khoa học kỹ thuật. Hơn thế nữa trong nền kinh tế thị trường hiện nay,
mối quan hệ giữa các ngành là rất phức tạp và đa dạng đòi hỏi phải không
ngừng nâng cao năng lực quản lý, điều tiết vĩ mô của nhà nước, tạo khả năng
tích luỹ vốn. Tất cả chỉ có thể thực hiện nhờ quá trình công nghiệp hoá và hiện
đại hoá. Chỉ có công nghiệp hóa và hiện đại hoá mới có khả năng thực tế để
quan tâm phát triển tự do toàn diện của yếu tố con người tạo khả năng mở rộng
hợp tác quốc tế và củng cố quốc phòng.
Nắm bắt được tầm quan trọng vấn đề, sự bức bách phải công nghiệp hóa
hiện đại hoá để xử lý nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, không phải bây giờ mà
ngay từ đại hội VIII( tháng 9-1996), Đảng ta đã đề ra đường lối công nghiệp hoá
và coi đó là nhiệm vụ xuyên suốt thời kỳ quá độ lên CNXH ở nước ta.
Trong những năm đất nước có chiến tranh Đảng và nhà nước ta vẫn kiên
trì đường lối công nghiệp hoá hiện đại hoá để từ đó tạo ra sức mạnh cho đất
nước. Ngày nay trong công cuộc xây dựng đất nước, xây dựng XHCN, các nghị
quyết Đại hội Đảng( từ đại hội VI đến đại hội VIII) đều kiên định đường lối đổi
mới và đề ra những nội dung cụ thể thích hợp cho từng thời kỳ.
Đại hội Đảng VIII đã nêu rõ: “ Giai đoạn từ nay đến năm 2000 là bước
rất quan trọng của thời kỳ phát triển mới- đẩy mạnh công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước”.
Với tất cả ý nghĩa to lớn trên, công nghiệp hoá và hiện đại hoá là tất yếu
và mang tính khách quan là nội dung và con đường duy nhất đúng đắn để dựa


trên kinh tế xã hội nước ta phát triển nhanh, bền vững, có hiệu quả nhằm thực
hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng văn minh.
2 Khái niệm và vai trò của nguồn nhân lực
- Hiện nay có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực con người:
Ngân hàng Thế giới cho rằng: nguồn nhân lực là toàn bộ vốn người (thể
lực, trí lực, kỹ năng, nghề nghiệp, v.v.) mà mỗi cá nhân sở hữu, có thể huy động
được trong quá trình sản xuất, kinh doanh, hay trong một hoạt động nào đó.
Theo định nghĩa của Liên hiệp quốc, nguồn nhân lực là trình độ lành
nghề, là kiến thức và năng lực của toàn bộ cuộc sống con người hiện có thực tế
hoặc tiềm năng để phát triển kinh tế - xã hội trong một cộng đồng.
Qua các ý kiến khác nhau có thể hiểu, nguồn lực con người là tổng thể
những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo đức, phẩm chất, trình độ tri thức,
vị thế xã hội, v.v. tạo nên năng lực của con người, của cộng đồng người có thể
sử dụng, phát huy trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và
trong những hoạt động xã hội.
- Vai trò của yếu tố con người trong sự phát triển của đất nước:
Bất cứ quốc gia nào muốn phát triển đều phải sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực trong và ngoài nước. Nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội bao gồm
tài nguyên thiên nhiên, vốn, khoa học công nghệ và lao động… Trong đó,
nguồn lực lao động là nhân tố quyết định việc tổ chức, sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực khác. Thật vậy, trước hết năng lực trí tuệ của con người là vô hạn,
trong khi cácnguồn lực khác lại có hạn. Tài nguyên thiên nhiên có đa dạng,
phong phú baonhiêu đi chăng nữa thì sau quá trình khai thác, đến lúc cũng sẽ bị
cạn kiệt. Vốn có nhiều bao nhiêu cũng bị giới hạn ở một số lượng nhất định và
cũng khó đáp ứng đủ nhu cầu phát triển. Công nghệ có hiện đại tiên tiến mấy
chăng nữa cũng sẽ bị lạc hậu theo thời gian. Thứ hai, con người là chủ thể sáng
tạo ra công nghệ kỹ thuật… Qua quá trình nghiên cứu, con người tìm ra nguyên
lý máy đốt trong, từ đó phát minh máy diezen; sau khi tìm ra nguyên lý thông
tin cáp quang, chế tạo ra cáp quang; khi có ý tưởng đa chức năng, con người tạo


ra máy tính đa chức năng… Con người tạo ra công nghệ, kỹ thuật để phục vụ
lợi ích của con người chứ không phải tự nó tồn tại một cách tự nhiên. Vì thế, trí
tuệ con người phát triển tới đâu sẽ tạo ra trình độ công nghệ kỹ thuật tương
ứng. Thứ ba, các nguồn lực khác không thể tự phát huy tác dụng nếu không có
sự tác động của con người.
Thực tế cho ta thấy, có những nước tài nguyên thiên nhiên hạn chế nhưng
vẫn có sự phát triển vượt bậc. Chẳng hạn, Singapore không được thiên nhiên ưu
đãi về tài nguyên, nhưng phát huy đúng vai trò nguồn nhân lực, cơ cấu kinh tế
phù hợp, đã phát triển kinh tế rất cao và trở thành một nước có tổng sản phẩm
quốc nội bình quân đầu người cao nhất trong khu vực. Nước Nhật có bước phát
triển thần kỳ từ sau chiến tranh. Mặc dù không có lợi thế về tài nguyên thiên
nhiên, nước Nhật vẫn phát triển và có tổng sản phẩm quốc dân đứng thứ nhì thế
giới (sau Mỹ). Sự phát triển thần kỳ đó bắt nguồn từ yếu tố cộng đồng và con
người Nhật Bản.
Những điều đó chứng tỏ vai trò con người rất quan trọng, nó quyết định
việc tổ chức và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực khác. Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã từng dạy “Vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm trồng
người”,“Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội phải có con người xã hội chủ nghĩa”.
Vì vậy,“Bồi dưỡng chăm lo cho nguồn nhân lực của đất nước là một việc rất
quan trọng và rất cần thiết”.
- Yêu cầu của nguồn nhân lực trong thời đại hiện nay
Bác Hồ từng dạy: con người nếu chỉ có phẩm chất đạo đức tốt, bản lĩnh
chính trị vững vàng, mà thiếu tri thức, kiến thức khoa học, tức có đức mà không
có tài, thì cũng chẳng khác gì ông Bụt ngồi trên toà sen, không làm điều gì xấu
nhưng cũng chẳng làm được việc gì có ích cho đời. Tri thức, trí tuệ thực sự là
yếu tố thiết yếu của mỗi con người, bởi vì, tất cả những gì thúc đẩy con người
hành động đều phải thông qua đầu óc của họ - tức là phải thông qua trí tuệ. Sự
yếu kém về trí tuệ sẽ là lực cản nguy hại nhất dẫn đến sự thất bại trong hoạt
động của con người.


Năng lực trí tuệ của con người hiện nay biểu hiện ở khả năng áp dụng
những thành tựu khoa học để sáng chế ra những kỹ thuật, công nghệ tiên tiến,
sự nhạy bén, thích nghi nhanh và làm chủ được những kỹ thuật - công nghệ hiện
đại; khả năng biến tri thức thành kỹ năng lao động nghề nghiệp, nghĩa là, kỹ
năng lao động giỏi thể hiện qua trình độ tay nghề, mức độ thành thạo chuyên
môn nghề nghiệp,... Quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá càng đi vào chiều
sâu càng đòi hỏi trình độ chuyên môn hoá cao của đội ngũ lao động nhằm đạt
được năng suất, hiệu quả sản xuất kinh doanh lớn hơn nhiều lần.
Chiến lược xây dựng con người và phát triển nguồn nhân lực có mối quan
hệ biện chứng với nhau. Đào tạo con người như thế nào thì có kết quả nguồn
nhân lực tương ứng, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong từng thời kỳ ở
mức độ nào thì phải có chiến lược xây dựng con người phù hợp. Theo tinh thần
Hội nghị Trung ương lần thứ 5 khóa VIII, xây dựng con người Việt Nam trong
giai đoạn cách mạng mới với những đức tính:
Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc vì chủ
nghĩa xã hội, có ý chí vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn
kết với nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc,
dân chủ và tiến bộ xã hội. Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung.
Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh,cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa,
tôn trọng kỷ cương phép nước, quyước của cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải
thiện môi trường sinh thái.Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỹ
thuật, sáng tạo,năng suất cao vì lợi ích bản thân, gia đình, tập thể và xã hội.
Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, nâng cao thể
lực, đồng thời phát các phẩm chất xã hội.
Như vậy, Đảng ta đã nhấn mạnh đến những phẩm chất cơ bản của con
người mới phù hợp với thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất
nước, đó là những con người có lý tưởng xã hội chủ nghĩa, yêu nước, phát triển
toàn diện cả về thể lực, trí lực, đạo đức, thẩm mỹ, có ý chí và nhiệt tình lao
động… Nói cách khác, con người mới phải là con người vừa hồng vừa


chuyên,vừa có đức vừa có tài. Muốn vậy, phải nâng cao chất lượng giáo dục
trên tất cả các mặt: trí dục, đức dục, thể dục, mỹ dục… Không chỉ dừng lại việc
dạy chữ,dạy nghề mà còn phải chú ý đến việc dạy làm người.
Nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, cần
phải đào tạo những người lao động lành nghề, chất lượng cao, phù hợp với sự
phát triển trên nhiều lĩnh vực nhất là những lĩnh vực, có ứng dụng công nghệ kỹ
thuật cao. Bên cạnh đó, cần phải đào tạo bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo
quản lý ngang tầm, đủ sức đảm đương những trọng trách được giao phó. Đặc
biệt, cần phải nâng cao chất lượng đảng viên cả về tư tưởng chính trị lẫn trình
độ năng lực và phẩm chất, đạo đức, lối sống.
Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế thế giới, người lao động còn phải
biết chủ động hội nhập quốc tế. Khác với toàn cầu hoá, hội nhập quốc tế là hành
động chủ quan, có chủ đích của con người nhằm khai thác nguồn lực bên ngoài
để tăng cường sức mạnh của đất nước mình. Hội nhập quốc tế cũng có nghĩa là
chấp nhận cạnh tranh với thế giới bên ngoài; hội nhập nhưng không hoà tan, vẫn
bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc mình và nhất là bảo vệ được nền độc lập dân
tộc. Trong điều kiện như vậy, người lao động ngoài bản lĩnh chính trị vững
vàng, ý thức dân tộc cao, còn phải có trình độ trí tuệ ngang tầm đòi hỏi ít ra là
của khu vực. Điều này đòi hỏi phải cơ cấu lại đội ngũ lao động theo hướng có
lực lượng nòng cốt, lực lượng dẫn đầu và nhân tài.
Lực lượng nòng cốt của đội ngũ lao động là những công nhân lành nghề những người trực tiếp sản xuất hàng hoá và cung ứng dịch vụ cho người tiêu
dùng cả ở trong nước và nước ngoài. Do đó, họ phải có một trình độ trí tuệ nhất
định để tiếp thu và làm chủ được công nghệ tiên tiến. Hơn thế nữa, với những tri
thức khoa học và những kinh nghiệm tích luỹ được trong quá trình sản xuất trực
tiếp, người công nhân không những sử dụng các công cụ lao động hiện có, mà
còn có thể sáng chế ra những tư liệu lao động mới, hoàn thiện kỹ thuật và
phương pháp sản xuất. Lực lượng lao động dẫn đầu là đội ngũ trí thức.


Với cơ cấu đồng bộ trong các lĩnh vực khoa học - công nghệ, quản lý
kinh tế - xã hội, văn hoá - văn nghệ, ... Họ phải thành thạo chuyên môn, nghề
nghiệp, có năng lực tiếp thu, chọn lọc và ứng dụng có hiệu quả những thành tựu
của khoa học - công nghệ hiện đại, những tinh hoa của văn hoá, văn minh thế
giới, những di sản văn hoá dân tộc và văn hoá phương Đông vào thực tiễn Việt
Nam. Đồng thời, họ phải có năng lực sáng tạo về lý thuyết cũng như thực hành,
nhằm giải quyết những vấn đề trước mắt cũng như lâu dài của đất nước.
Đội ngũ trí thức phải thực hiện có hiệu quả các chức năng: nghiên cứu,
thiết kế, tham mưu, sáng tác; thực hiện, thi hành, ứng dụng, phát triển; giáo dục,
đào tạo, bồi dưỡng, huấn luyện; quản lý, chỉ huy, lãnh đạo, chỉ đạo... Bộ phận
nhân tài có vai trò thực sự quan trọng trong đội ngũ lao động. Bộ phận này là
hạt nhân có chất lượng cao, có năng lực khai phá những con đường mới mẻ
trong nghiên cứu khoa học để đạt được những thành tựu mới, phục vụ công
cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Số lượng của đội ngũ này không nhất thiết
phải đông, nhưng thực sự là đội ngũ các nhà khoa học đầu đàn, tiêu biểu cho
tinh thần trí tuệ của dân tộc.
Sự nghệp CNH - HĐH đặt ra những yêu cầu cao đối với sự phát triển nguồn
nhân lực, trên cả ba phương diện thể lực, trí lực và cả phẩm chất tâm lý xã hội.
+ Về mặt thể lực: CNH - HĐH gắn liền với việc áp dụng phổ biến các phương
pháp sản xuất công nghiệp, các thiểt bị và công nghệ hiện đại, do đó đòi hỏi sức
khỏe và thể lực cường tráng của người lao động trên các khía cạnh:
Sức chịu đựng dẻo dai, đáp ứng những quá trình sản xuất liên tục, kéo
dài.
Có các thông số nhân chủng học đáp ứng được các hệ thống thiết bị công
nghệ được sản xuất phổ biến và trao đổi trên thị trường khu vực và thế giới.
Luôn luôn có sự tỉnh táo, sảng khoái tinh thần, những điều này lại phụ
thuộc chủ yếu vào trạng thái sức khỏe của người lao động. Kỹ thuật công nghệ
càng tinh vi, đòi hỏi sự chính xác và an toàn cao độ; mặt khác giá trị của nhiều


loại sản phẩm rất lớn, chỉ một sơ suất nhỏ trong động tác lao động có thể gây
tổn thất to lớn.
+ Về mặt trí lực: một lực lượng lao động đông đảo có trình độ chuyên môn kỹ
thuật ngày càng cao là đòi hỏi hàng đầu và là nhân tố quyết định sự thành công
của sự nghiệp CNH - HĐH đất nước. Đi vào CNH - HĐH thì không có lĩnh vực
hoạt động nào lại không đòi hỏi người lao động phải có trình độ văn hóa,
chuyên môn, kỹ thuật cao, nhất là lĩnh vực công nghệ cao, công nghệ tin học, tự
động hóa và công nghệ sinh học hiện đại. Vì vậy, đòi hỏi mặt bằng dân trí của
nguồn nhân lực phải cao và phải được đào tạo về chuyên môn kỹ thuật.
+ Về phẩm chất tâm lý xã hội: CNH - HĐH đòi hỏi người lao động phải có
phẩm chất tâm lý sau:
Có tác phong nghiệp (khẩn trương, đúng giờ giấc...);
Có ý thức kỷ luật tự giác cao;
Có niềm say mê nghề nghiệp chuyên môn;
Sáng tạo, năng động trong công việc;
Có khả năng chuyển đổi công việc cao, thích ứng với những thay đổi trong
lĩnh vực công nghệ và quản lý.
CNH - HĐH là sự nghiệp vì sự phát triển con người. Nhằm tạo ra một
nguồn nhân lực có chất lượng để thực hiện nó, thì việc nhận thức một cách sâu
sắc, đầy đủ những giá trị đích thực và ý nghĩa lớn lao của nhân tố con người là
đòi hỏi có tính cấp thiết, bởi lẽ con người là chủ thể của mọi sáng tạo, mọi
nguồn của cải vật chất và tinh thần, chủ htể của sự phát triển lịch sử. Từ nhận
thức đó, chúng ta cần phải khẳng định rằng con người Việt Nam phát triển toàn
diện cả về thể lực, trí lực, cả về khả năng lao động, năng lực sáng tạo và tích cự
chính trị xã hội, cả về đạo đức, tâ, hồn và tình cảm chính là mục tiêu, là động
lực của sự nghiệp CNH - HĐH mà chúng ta đang tiến hành từng bước trong
công cuộc đổi mới toàn diện đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
II Thực trạng nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại
hóa ở nước ta.


1 Đặc điểm định lượng của nguồn lao động
a. Quy mô dân số
Theo Tổng cục Thống kê, năm 2006, Việt Nam có khoảng 84.155.800
người; năm 2008, con số đó không dưới 86 triệu, là nước đông dân thứ 13 trên
thế giới.
Cơ cấu tuổi dân số Việt Nam, 1979-2007
Năm
1979
1989
1999
2006
2007
Nguồn:

Số người (triệu người)
Tỉ lệ (% tổng dân số)
Tổng
0-14
15-59
60+
0-14
15-59
60+
52,74
23,40
26,63
3,71
41,8
51,3
6,9
64,38
24,98
34,76
4,64
39,2
53,6
7,2
76,33
25,98
44,58
6,19
33,0
58,9
8,1
83,89
22,06
54,11
7,72
26,3
64,5
9,2
85,15
21,72
55,38
8,04
25,0
65,5
9,5
Tổng Điều tra dân số 1979, 1989, 1999 và Tổng cục thống kê (2007,

2008).
Trong khi dân số Việt Nam tăng từ 52,74 triệu người năm 1979 lên 85,15
triệu người năm 2007 thì tỷ lệ dân số trong độ tuổi lao động so với tổng dân số
và chia theo nhóm tuổi lại không thay đổi đáng kể. Nói cách khác, số tuyệt đối
dân số trong tuổi lao động tăng lên mạnh. Dân số trong nhóm tuổi từ 15 đến 59
tăng lên rõ rệt nhất, từ 51,3% tổng dân số năm 1979 (hay 27,06 triệu người) lên
65,5% tổng dân số năm 2007 (hay 55,77 triệu người).
Như vậy quy mô dân số rất lớn, mật độ dân số rất cao và vẫn đang tăng
mạnh. Do đó Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều
nước trong khu vực và trên thế giới.
Việt Nam hiện có một đội ngũ nhân lực khá dồi dào so với nhiều nước
trong khu vực và trên thế giới. Mỗi năm Việt Nam có hơn 1,2 triệu người đến
tuổi lao động và được bổ sung vào lực lượng lao động của đất nước. Nguồn
nhân lực trẻ gắn với những điểm mạnh như sức khỏe tốt, năng động, dễ tiếp thu
cái mới, nắm bắt công nghệ nhanh, di chuyển dễ dàng. Nếu được học văn hóa,
đào tạo nghề, họ sẽ phát huy tác dụng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Đây là yếu tố rất thuận lợi để phát triển kinh tế - xã hội.


Đơn vị: triệu người

Tiêu chí
Dân số cả nước
Tổng số lao động xã hội
Tổng số lao động trong
DN
a) LĐ DN nhà nước
b) LĐ DN ngoài nhà nước
c) LĐ DN có vốn ĐTNN
Lao động trong các cơ sở
kinh tế cá thể

1995
71,996
33,030

2002
78,686
39,507

2003
79,727
40,573

2004
80,900
41,586

2005
83,110
42,709

2,806

4,658

5,175

5,770

6,006

1,778
0,430
0,098

2,261
1,706
0,691

2,264
2,049
0,862

2,249
2,476
1,045

1,844
2,950
1,211

3,241

4,436

4,842

4,988

5,297

b. Phân bổ dân số theo vùng miền
Dân số Việt Nam phân bố không đồng đều.
Tỷ lệ dân số trong tổng số dân (đơn vị: %)
Vùng
Đồng bằng sông Hồng
Trung du và miền núi phía Bắc
Bắc trung bộ và DH miền
Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
Đồng bằng sông Cửu Long

Năm 2008
22,8
13,0
23,1

Năm 2009
22,9
15,4
23,7

5,8
14,7
20,6

6,1
10,0
21,9

Trên phạm vi cả nước, cấu trúc dân số biến đổi tạo cơ hội thuận lợi cho
sự phát triển kinh tế, tuy nhiên do hoàn cảnh địa lý và tình hình kinh tế - xã hội
khác nhau giữa các vùng miền, nên ở các tỉnh đồng bằng do mức sinh sống thấp
trong nhiều năm qua và "cơ cấu dân số vàng" đã bắt đầu phát huy tác dụng, tạo
ra nhiều thách thức lớn về việc làm cho địa phương vốn đất chật người đông.
Tại các tỉnh vùng Tây Nguyên, miền núi Tây Bắc, do mức sinh ở những vùng
này vẫn còn cao nên cấu trúc dân số còn trẻ. Dân số sống tập trung ở hai vùng
châu thổ Sông Hồng và Sông Cửu Long nơi có 43% dân số của cả nước sinh
sống, nhưng chỉ chiếm gần 17% đất đai của cả nước. Ngược lại, hai vùng Tây
Bắc và Tây Nguyên, chỉ có dưới một phần mười (8,8%) dân số của cả nước,


nhưng chiếm tới hơn một phần tư (27%) diện tích đất của toàn quốc. Ngoài ra,
sự phát triển không đồng đều giữa các vùng, miền đặc biệt là giữa nông thôn và
thành thị, các khu công nghiệp tập trung như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh ,
Vũng Tàu, Đồng Nai… dẫn đến dòng người di dân tự phát từ nông thôn vào các
thành phố lớn với quy mô và tốc độ ngày càng tăng.
Như vậy có thể thấy được rằng, hiện nay đang xảy ra sự mất cân bằng
trong phân bổ nguồn nhân lực giữa các vùng miền. Điều này gây khó khăn lên
việc hoạch định các chính sách, chủ trương về việc làm giữa các địa phương,
đồng thời gây ra sự phức tạp, cản trở, mâu thuẫn giữa lực lượng lao động ở các
vùng miền khác nhau trên cùng một địa bàn,làm ảnh hưởng tới tình hình xã hội,
gián tiếp ảnh hưởng tới vấn đề lao động
Không những thế dân số Việt Nam còn có sự khác biệt rất lớn về trình độ
phát triển theo địa lý- kinh tế. Thường ở thành thị trình độ phát triển cao hơn ở
nông thôn
2 Đặc điểm định tính của nguồn lao động
a. Thể trạng sức khỏe nguồn nhân lực Việt Nam
Thể lực của người Việt Nam nhìn chung còn thấp kém, phần lớn chưa đáp
ứng yêu cầu cường độ làm việc của xã hội công nghiệp hiện đại và các chuẩn
quốc tế.
Những nghiên cứu của Viện Dinh dưỡng trong nhiều năm qua đã chứng
minh, chiều cao của người Việt Nam đang được cải thiện. Nạn đói và chiến
tranh đã ảnh hưởng đến tầm vóc của người Việt Nam; chiều cao trung bình của
người Việt Nam trong thời gian từ năm 1938-1985 hầu như không thay đổi
(nam cao 160cm, nữ cao 150cm). Tuy nhiên, trong hơn 10 năm qua , tầm vóc
của người Việt Nam đã khá hơn, chiều cao trung bình người trưởng thành nam
hiện nay là 163,7cm. Theo Chương trình Nâng cao tầm vóc và thể trạng người
Việt Nam, kết thúc giai đoạn I (đến năm 2010), chiều cao thân thể trung bình
của nam thanh niên 18 tuổi sẽ đạt từ 165cm-166cm, nữ đạt 154cm-155cm. Theo
phân tích của các nhà chuyên môn, hiện tại chiều cao của nam thanh niên Việt


Nam là 1,65m, nữ 1,53m. Sau 25 năm chiều cao trung bình của người Việt Nam
đã tăng 6,14cm ở nam và 4,88cm ở nữ. Tính trung bình mỗi năm chiều cao tăng
ở nam là 0,24cm, ở nữ là 0,20cm. .Trong khi đó xu hướng chung ở các nước
phát triển là chiều cao trung bình của nam thanh niên cứ sau 10 năm sẽ tăng 1
cm và tuổi thọ bình quân của Việt Nam cũng tăng lên. Sau 10 năm (kể từ Tổng
điều tra 1999) tuổi thọ đã đạt 72,8 tuổi đối với nam (tăng 3,7 tuổi) và 75,6 tuổi
với nữ (tăng 5,5 tuổi). Đó là dấu hiệu đáng mừng, đáng khích lệ trong công tác
chăm sóc sức khỏe của nước ta.
Nhưng theo đánh giá của Viện Khoa học Thể dục-Thể thao (Uỷ ban Thể
dục-thể thao), so với thể lực của thanh thiếu niên các nước Trung Quốc, Nhật
Bản, Thái Lan, Singapore, Inđônêsia thì thể chất người Việt Nam từ 6-20 tuổi
còn kém hơn về chiều cao, cân nặng, sức mạnh, sức bền và chỉ tương đương về
sức nhanh, sự khéo léo và mềm dẻo. Theo kết quả điều tra năm 2000 số người
lao động không đủ tiêu chuẩn về cân nặng là 48,7%, số người suy dinh dưỡng là
28%, số phụ nữ thiếu máu là 40%. Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi
theo chiều cao (tỷ lệ thấp còi) còn cao (năm 2005 là 26%), cao hơn nhiều so với
các nước Trung Quốc (17%), Philippin (11%) và Thái Lan (16%); và điều này
sẽ còn tiếp tục tác động tiêu cực đến thể trạng và thể lực của người lao động
trong tương lai.
Như vậy tình trạng sức khoẻ người Việt Nam ở mức trung bình kém, điều
này làm giảm chất lượng nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp
công nghiệp hoá của đất nước và giảm sức cạnh tranh của lao động Việt Nam
trên thị trường lao động thế giới.
b. Trình độ giáo dục của nguồn lao động Việt Nam
Trình độ giáo dục của nguồn nhân lực ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng nguồn
nhân lực, nó phản ánh khả năng tiếp thu và vận dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật vào sản xuất. Tuy nhiên, trình độ giáo dục nguồn lao động của Việt Nam
chưa đáp ứng được những đòi hỏi phát triển trong giai đoạn hiện nay thông qua
nhiều thông số.


Tính trong cả nước, vào năm 2004 dân số hoạt động kinh tế có tới 32,8%
mới tốt nghiệp tiểu học; 19,7% tốt nghiệp trung học phổ thông; tỷ lệ mù chữ là
5,01%; các tỷ lệ tương ứng của nữ là 30,6; 18,1 và 6,2%
Trình độ học vấn của lao động nước ta trong những năm gần đây đã được
nâng lên đáng kể. Nếu như năm 1985, tỷ lệ lao động có học vấn phổ thông trung
học là 42,5% thì năm 2003, lao động có trình độ trung học phổ thông chiếm
62,2%. Năm 2005, số lao động có trình độ phổ thông trung học tăng lên đến
69,3%. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước, so với trình độ của lao động các nước trong khu vực và quốc tế thì
trình độ học vấn của lao động nước ta còn thấp.
Mặt khác, lực lượng lao động có trình độ học vấn cao phân bố không đồng
đều, thường tập trung ở một số thành phố lớn và một số ngành kinh tế mũi
nhọn.
c. Trình độ chuyên môn nghiệp vụ của nguồn lao động Việt Nam
Chất lượng về mặt trí lực của nguồn nhân lực không chỉ thể hiện ở trình độ
học vấn, quan trọng hơn là trình độ chuyên môn kỹ thuật, thông qua số lượng và
chất lượng của lao động đã qua đào tạo.
Trong những năm vừa qua, tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật có xu hướng tăng lên. Năm 2001, có 17,05% tổng lực lượng lao
động cả nước có chuyên môn kỹ thuật; năm 2002 là 19,62%; năm 2003 là
21,22% và đến năm 2005, tỷ lệ lao động cả nước có trình độ chuyên môn kỹ
thuật tăng lên 24,79%.
Tuy nhiên, con số này còn thấp so với yêu cầu. Tính đến 2005, lao động qua đào
tạo ở Việt Nam chiếm một tỷ lệ rất thấp (24,79%), lao động chưa qua đào tạo
còn chiếm một tỷ lệ rất cao (75,21%).
Ở Việt Nam cứ 1 cán bộ tốt nghiệp đại học có 1,13 cán bộ tốt nghiệp trung
cấp và 0,92 công nhân kỹ thuật, trong khi đó tỷ lệ này của thế giới là 1, 4 và 10.
Các con số này chỉ ra một hiện tượng “thầy” nhiều hơn “thợ”, nói lên sự mất
cân đối nghiêm trọng trong cơ cấu trình độ lao động trong nền kinh tế giai đoạn


công nghiệp hóa hiện nay. Hiện nay cũng có quan điểm cho rằng, để bắt kịp nền
kinh tế tri thức cần phải phát triển số lượng cán bộ có trình độ Đại học. Nhưng
cần phải thấy rằng, nước ta có cơ sở hạ tầng và dịch vụ còn thấp kém. Vì vậy,
dù muốn “đi tắt”, “đón đầu” trong quá trình công nghiệp hóa để tiến tới nền
kinh tế tri thức thì trước hết nước ta phải thực hiện tuần tự những bước đi cơ
bản, vững chắc, tạo nền tảng ban đầu, từ đó mới có thực lực cho những “bước
nhảy” tiếp sau quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ngoài ra, tình trạng khác biệt giữa nông thôn và thành thị về tỷ lệ lao động đã
qua đào tạo, đặc biệt là tỷ lệ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên, không
những chưa được cải thiện mà còn có xu hướng gia tăng. Năm 2002 cứ 100
người thuộc lực lượng lao động thì ở nông thôn có 8 người và thành thị có 41
người được đào tạo từ trình độ công nhân kỹ thuật có bằng cấp trở lên; trong khi
năm 2001, con số tương ứng là 6 và 30. Khu vực nông thôn đang ngày càng gặp
nhiều khó khăn trong việc khai thác nguồn nhân lực để phục vụ sự nghiệp công
nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Trình độ giáo dục và đào tạo chuyên nghiệp nguồn lao động của Việt Nam
còn chứa đựng nhiều mâu thuẫn: Một mặt, thiếu hẳn đội ngũ lao động có
chuyên môn cao; mặt khác, việc đào tạo sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng với
yêu cầu của xã hội phát triển trong giai đoạn hiện nay
d. Thói quen, nếp nghĩ, tác phong của người lao động
Người lao động còn mang nặng sức ỳ từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung
nên chậm phản ứng đối với những biến động trên thị trường lao động. Có thể
xem xét các khía cạnh này thông qua các chỉ số về mức độ thay đổi chỗ làm
việc với tiếp nhận công việc mới và mức độ di chuyển sức lao động. Hàng năm
ở Việt Nam có khoảng hơn một triệu người có việc làm mới và khỏang 1,3 triệu
lượt người thay đổi chỗ làm việc, như vậy tính chung là khoảng 2,5 triệu người
có chỗ làm việc mới hoặc thay đổi chỗ làm việc, tức là chiếm khoảng 6% dân số
đang hoạt động kinh tế. Trong khi đó ở các nước có nền kinh tế thị trường phát
triển cao như Mỹ, Anh, Nhật con số này thường chiếm 50%.


Nếp nghĩ và tác phong của người lao động vẫn còn mang nặng thói quen
của nền sản xuất nhỏ, một bộ phận lớn lao động làm việc ở nông thôn, nên tính
tổ chức, kỷ luật còn yếu, tác phong công nghiệp chưa cao, tùy tiện về giờ giấc
và hành vi, trình độ văn hóa công nghiệp còn thấp.
Kỹ năng làm việc của lao động Việt Nam thiếu chuyên nghiệp, đặc biệt
các lao động mới ra trường . Nguyên nhân chính của thực trạng này nảy sinh
ngay từ trong giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được rèn
luyện kỹ năng, thiên về lý thuyết hơn thực hành
Tinh thần hợp tác, kỹ năng làm việc theo nhóm còn thấp (vốn là đặc trưng của
người làm nông.)
Một bộ phận không nhỏ nguồn nhân lực bị nghèo đói, thất nghiệp đang là
thách thức rất lớn hiện nay ở nước ta. Bên cạnh đó, một bộ phận khác lại sa vào
tệ nạn xã hội, nhất là nghiện hút, mãi dâm và tội phạm.
Mặc dù còn những điểm hạn chế, yếu kém như trên, song nhìn chung,
nguồn nhân lực Việt Nam vẫn được các nhà đầu tư nước ngoài đánh giá cao vì
có những phẩm chất vượt trội như: hiếu học, thông minh, cần cù, chịu khó, khéo
tay, khả năng nắm bắt các kỹ năng lao động, đặc biệt là kỹ năng sử dụng các
công nghệ hiện đại tương đối nhanh. Đây là lợi thế cạnh tranh quan trọng của
nguồn nhân lực nước nhà trong quá trình hội nhập và tham gia thị trường lao
động quốc tế.
e. Giá cả sức lao động
Chi phí lao động ở Việt Nam thấp hơn so với các nước khác trong khu vực.
Theo kết quả điều tra của Tổ chức xúc tiến Thương mại Nhật Bản năm 2005,
lương bình quân của lao động ở Việt Nam là 135 USD/tháng/người, còn ở
Trung Quốc là 184 USD và Thái Lan là 146 USD. Với mức thu nhập eo hẹp
này người lao động Việt Nam chỉ có thể đáp ứng các nhu cầu tối thiểu là ăn,
mặc, ở… hầu như chẳng ai dám nghĩ đến nhu cầu giải trí, càng khó tích lũy
hoặc đầu tư học tập nâng cao trình độ.


Chính sách phân phối tiền lương và tiền công còn nhiều bất hợp lý không
đủ sống và mất dần động lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, làm hạn
chế khả năng lao động sáng tạo, năng suất lao động, hiệu quả lao động rất thấp
và phát sinh tiêu cực, tham nhũng nhất là ở bộ phận có chức, có quyền. Đồng
thời lại có xu hướng ngày càng tăng hiện tượng chảy máu chất xám từ khu vực
nhà nước sang khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, khu vực tư nhân, là nơi có thu
nhập cao hơn.
Hiện nay, lạm phát tăng cao, giá cả điều chỉnh theo thị trường, nhưng tiền
lương vẫn vận hành theo cơ chế cũ. Nếu không sớm cải cách chính sách tiền
lương tận gốc, lao động Việt Nam sẽ khó có điều kiện cải thiện cuộc sống, sức
khoẻ và trình độ để có khả năng cạnh tranh trên thị trường thế giới.
Như vậy có thể rút ra mấy điểm về thực trạng nguồn nhân lực ở Việt
Nam:
Thứ nhất: Nguồn nhân lực ở Việt Nam khá dồi dào, nhưng chưa được sự
quan tâm đúng mức, chưa được quy hoạch, chưa được khai thác, còn đào tạo thì
nửa vời, nhiều người chưa được đào tạo.
Thứ hai: Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, dẫn đến tình trạng mâu
thuẫn giữa lượng và chất.
Thứ tư: Việt Nam thiếu trầm trọng lao động kỹ thuật trình độ cao và lao
động dịch vụ cao cấp trong các ngành tài chính, ngân hàng, du lịch, bán hàng...
nên nhiều nghề và công việc phải thuê lao động nước ngoài trong khi lao động
xuất khẩu đa phần có trình độ chuyên môn kỹ thuật thấp hoặc mới chỉ qua giáo
dục định hướng
Thứ năm Kỹ năng, tác phong thiếu chuyên nghiệp: Kỹ năng làm việc của
lao động Việt Nam, đặc biệt các lao động mới ra trường là nỗi lo thường trực
của doanh nghiệp. Theo ý kiến của nhiều chủ doanh nghiệp, các cán bộ phụ
trách nhận sự thì nguyên nhân chính của thực trạng này nảy sinh ngay từ trong
giảng đường, sinh viên chỉ được học kiến thức mà chưa được rèn luyện kỹ năng.


3 Những nguyên nhân cơ bản dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam còn
yếu kèm.
Thứ nhất là cho đến nay nền kinh tế nước ta vẫn là nền kinh tế nông
nghiệp. Tính đến hết năm 2007, tỷ trọng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp
vẫn còn cao (29,6%), số lao động trong các ngành nghề nông, lâm, ngư nghiệp
vẫn còn lớn (56,8%), tỷ lệ lao động xã hội chưa qua đào tạo chiếm một tỷ lệ đa
số. Những chỉ số này cho thấy đây là một trong những nguyên nhân cơ bản
đang tạo ra sự hạn chế trong sự phát triển nguồn nhân lực ở nước ta hiện nay.
Thứ hai là thực trạng quy hoạch và phát triển nguồn nhân lực nước ta
những năm qua còn quá nhiều bất cập. Cho đến nay chúng ta chưa có chiến lược
tổng thể trong việc xây dựng, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực cho quá
trình phát triển đất nước giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa ít nhất là đến
năm 2020. Việc quy hoạch, phát triển và sử dụng nguồn nhân lực giữa các
ngành, vùng và địa phương trong cả nước cũng còn nhiều chồng chéo và thiếu
các mục tiêu cụ thể. Điều đó dẫn đến tình trạng khá phổ biến hiện nay là vừa
“thừa” vừa “thiếu” nhân lực trong các ngành, vùng, địa phương.
Thứ 3 đến là sự lạc hậu về nội dung và phương pháp trong việc đào tạo
nguồn nhân lực ở Việt Nam hiện nay. Các phương pháp dạy và học của chúng ta
hiện nay thường tạo ra sự thụ động đối với người học, như nặng về lý thuyết,
nhẹ về kỹ năng thực hành. Do đó, chất lượng nguồn nhân lực sau đào tạo
thường bất cập. Người học thường ít vận dụng được những gì sau khi học, hoặc
muốn làm việc được thì người học phải chấp nhận qua một quá trình “đào tạo
lại” không chỉ lãng phí về tiền của mà còn lãng phí về thời gian đối với người
học ....
III Các giải pháp nhằm phát huy nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNH,
HĐH
Hiện nay, mục tiêu phát triển của đất nước đã được Đảng và Nhà nước
Việt Nam xác định là phấn đấu đến năm 2020 đưa nước ta cơ bản trở thành một
nước công nghiệp theo hướng hiện đại.


Nhà nước xây dựng chiến lược nguồn nhân lực gắn với chiến lược phát
triển kinh tế - xã hội, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế
quốc tế; xác định thật rõ xây dựng nguồn nhân lực là trách nhiệm của các nhà
hoạch định và tổ chức thực hiện chính sách, trách nhiệm của cả hệ thống chính
trị..
1 Gắn kết chiến lược phát triển nhân lực và kinh tế
Trong vài năm gần đây, xu hướng đào tạo theo nhu cầu xã hội nổi lên với
việc bắt đầu có sự hợp tác giữa doanh nghiệp và nhà trường trong công tác đào
tạo nhân lực. Điều này đã cho thấy xu hướng chuyển biến tích cực trong tư duy
giáo dục, tuy nhiên nhìn ở tầm vĩ mô thì sự hợp tác này còn manh mún, các
thông tin về nhu cầu nguồn nhân lực quốc gia chưa được thu thập đầy đủ.
Mấu chốt của vấn đề là chúng ta phải thiết lập được mối quan hệ chặt chẽ
giữa các chiến lược phát triển nhân lực với các chiến lược phát triển kinh tế.
Mối quan hệ này thể hiện ở chỗ, các chiến lược phát triển kinh tế phải chỉ rất rõ
về nhu cầu nguồn nhân lực (số lượng, kỹ năng cụ thể), và đối với các cơ quan
lập chiến lược phát triển nhân lực phải coi đây là những thông tin đầu vào cơ
bản để xây dựng các chiến lược phát triển nguồn nhân lực.

Chiến lược nhân lực với thông tin đầu vào từ các chiến lược kinh tế
Nguyên tắc là như vậy, tuy nhiên làm thế nào để áp dụng vào thực tế
trong khi sự liên kết giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với các Bộ ngành khác trong
công tác phát triển nguồn nhân lực chưa thực sự hiệu quả. Để giải quyết vấn đề
này sự phối hợp đa ngành đóng một vai trò quan trọng, do đó cần thiết phải
thành lập một cơ quan lập kế hoạch phát triển nguồn nhân lực quốc gia (Human
Resource Development Planning Center-HRDPC) trực thuộc Chính phủ, để tạo


sự liên kết ngang hàng giữa các Bộ, ngành, địa phương với Bộ Giáo dục và Đào
tạo.
Để mô hình này hoạt động có hiệu quả, HRDPC phải là cơ quan có quyền
lực đủ lớn, do đó người đứng đầu nhất thiết phải là Thủ tướng Chính phủ, các
thành viên thường trực bao gồm các đại diện các Bộ, ngành, địa phương và các
cơ sở đào tạo lớn trên toàn quốc.
Các quốc gia trên thế giới như Singapore, Ấn Độ từ rất sớm đã xác định
và thiết lập được mối quan hệ giữa phát triển các chiến lược kinh tế và chiến
lược nhân lực. Đây được coi là một trong những nền tảng của sự thành công về
mặt kinh tế, khoa học kỹ thuật của các quốc gia này. Đã đến lúc Việt Nam đặt
vấn đề lấy sự phát triển nguồn nhân lực làm động lực cho tăng trưởng kinh tế
thông qua sự kết hợp chăt chẽ các chiến lược phát triển kinh tế và chiến lược
phát triển nguồn nhân lực.
2 Về chính sách xã hội
Trong thời gian gần đây, việc “chảy máu chất xám”, di chuyển các nhân
tài từ doanh nghiệp nhà nước sang doanh nghiệp khu vực tư nhân và khu vực có
vốn đầu tư nước ngoài ngày càng gia tăng. Đặc biệt, trong thời gian tới, khi nền
kinh tế được phục hồi và trong bối cảnh thị trường lao động ngày càng hoàn
thiện, cạnh tranh nguồn nhân lực sẽ tiếp tục gắt gao hơn. Do đó, Nhà nước cũng
như các doanh nghiệp cần xây dựng chế độ đãi ngộ xứng đáng đối với nguồn
nhân lực theo mức độ cống hiến và khả năng phát triển tương lai. Trước hết,
chính sách tiền lương cần được xây dựng và thực hiện một cách linh hoạt theo
tiêu chí tài năng. Đồng thời, cần xây dựng chế độ chính sách ưu đãi đối với
nhân lực chất lượng cao để tạo động lực thu hút nhân tài trong và ngoài nước
vào làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, cơ quan hoạch định chính sách để họ
có điều kiện phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của mình. Các chính sách này
không chỉ dừng lại ở lương hay cổ phần mà còn là các phương thức khác như
cung cấp nhà ở, hỗ trợ dịch vụ bảo hiểm và chăm sóc sức khỏe chất lượng cao,
tạo điều kiện, môi trường làm việc thuận lợi, hỗ trợ phương tiện truyền thông và


đi lại, tín dụng cho nhân viên, du lịch và đào tạo tại nước ngoài, hỗ trợ dịch vụ
gia đình cho nhân viên. Nhà nước và doanh nghiệp cũng cần có chính sách để
thu hút nguồn nhân lực có trình độ kiến thức cao là Việt kiều đang sinh sống tại
nước ngoài về đầu tư tiền bạc và chất xám cho công cuộc xây dựng kinh tế đất
nước.
- Tiếp tục xây dựng và hoàn thiện hệ thống khung khổ pháp lý phát triển và sử
dụng nhân lực phù hợp với cơ chế và thể chế kinh tế thị trường.
- Đổi mới căn bản và toàn diện chính sách về sử dụng nhân lực trong khu vực
nhà nước phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường, gồm từ khâu tuyển dụng, bố trí
công việc, trả công lao động, thăng tiến nghề nghiệp và không ngừng cải thiện
điều kiện, môi trường lao động để tạo động lực, kích thích, khuyến khích làm
việc sáng tạo và có hiệu quả cao. Xây dựng tiêu chuẩn và quy trình đánh giá
nhân lực dựa trên cơ sở năng lực thực tế, kết quả, hiệu suất, năng suất lao động
thực tế và đãi ngộ tương xứng với trình độ năng lực và kết quả công việc.
3 Về giáo dục- đào tạo.
Mở rộng quy mô giáo dục đào tạo mọi ngành, các cấp học từ mẫu giáo,
các cấp phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học đến việc xúc tiến
các trung tâm dạy nghề, hướng nghiệp...Ngoài ra để nâng cao trình độ nguồn
nhân lực ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, Nhà nước đã có chính sách
cấp học bổng, giảm học phí cho học sinh, sinh viên nghèo vượt khó.
Yếu tố quan trọng quyết định chất lượng nguồn nhân lực là việc đổi mới
nội dung, chương trình và phương pháp đào tạo. Ngoài giáo dục đào tạo văn hóa
chuyên môn, nghiệp vụ về mặt lý thuyết, cần chú ý điều kiện thực hành, ứng
dụng, giáo dục kỷ luật, tác phong lao động công nghiệp, rèn luyện kỹ năng và
khả năng thích ứng với nền kinh tế thị trường
Giáo dục đại học phải kết hợp với nghiên cứu khoa học, phát triển khoa
học cả về cơ bản và ứng dụng. Bảo đảm tập trung đào tạo đội ngũ nhân lực cho
công nghiệp hoá, hiện đại hoá với diện đại trà, đồng thời đặc biệt chú ý tới mũi
nhọn


Cùng với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội phải làm tốt việc phát động
một cao trào học tập trong toàn Đảng toàn dân, toàn quân nhằm đào tạo nên
những con người phát triển cao về trí tuệ, cường tráng về thể chất, phong phú về
tinh thần, trong sáng về đạo đức là động lực của sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá, đồng thời là mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Vậy mọi chủ trương
chính sách của Đảng và Nhà nước cần phải quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng
và phát triển nhân tố con người Song song với vấn đề giáo dục, đào tạo con
người, chúng ta cần quan tâm đến vấn đề dân số, sức khỏe như tăng cường chú
trọng đến các chương trình bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em, phòng chống suy
dinh dưỡng các vùng miền, vùng sâu, vùng xa.
CNH, HĐH đất nước theo định hướng XHCN không thể không xuất phát
từ tinh thần nhân văn sâu sắc, không thể không phát triển con người Việt Nam
toàn diện để lấy đó làm động lực xây dựng xã hội ta thành một xã hội "công
bằng, nhân ái", "tốt đẹp và toàn diện" để bồi dưỡng và phát huy nhân tố con
người, đặc biệt là đối với thế hệ trẻ, nhất thiết phải từng bước hiện đại hoá đất
nước và đời sống xã hội và chúng ta "tăng trưởng nguồn lực con người khi quá
hiện đại hoá các ngành giáo dục, văn hoá, văn nghệ, bảo vệ sức khoẻ, dân số và
kế hoạch hoá gia đình gắn liền với việc kế thừa và phát huy những giá trị truyền
thống và bản sắc dân tộc" chỉ có trên cơ sở đó khi phát triển nền kinh tế hàng
hoá theo cơ chế thị trường chúng ta mới có thể tránh được nguy cơ tha hoá,
không xa rời những giá trị truyền thống, không đánh mất bản sắc dân tộc, đánh
mất bản thân mình trở thành cái bóng của người khác.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×