Tải bản đầy đủ

Luận văn thơ hoàng cầm từ góc nhìn địa văn hóa

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI THỊ TRANG

THƠ HOÀNG CẦM
TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

HÀ NỘI - 2018


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2

BÙI THỊ TRANG

THƠ HOÀNG CẦM
TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 8 22 01 21

LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGÔN NGỮ VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS. TS. Vũ Tuấn Anh

HÀ NỘI - 2018


LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập, nghiên cứu cũng nhƣ hoàn thành luận văn
tốt nghiệp, tác giả luận văn xin đƣợc chân thành cảm ơn BGH trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2, khoa đào tạo sau đại học trƣờng Đại học Sƣ phạm Hà Nội
2, cùng các thầy, cô giáo, cán bộ giảng viên đã giảng dạy, giúp đỡ và hƣớng
dẫn tận tình cho tác giả.
Đặc biệt, tác giả luận văn xin đƣợc bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến
PGS.TS Vũ Tuấn Anh - ngƣời thầy đã tận tình chỉ bảo, hƣớng dẫn, giúp đỡ
tác giả trong suốt quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn này.
Dù đã hết sức cố gắng trong quá trình thực hiện đề tài, song chắc chắn
luận văn không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót. Tác giả rất mong nhận
đƣợc sự chia sẻ và những ý kiến đóng góp quý báu từ các thầy cô giáo và các
bạn đọc để luận văn đƣợc hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn

Bùi Thị Trang


LỜI CAM ĐOAN
Tôi – Bùi Thị Trang là học viên lớp cao học khóa 20, trƣờng Đại học
Sƣ phạm Hà Nội 2.
Tôi xin cam đoan, những gì mà tôi trình bày trong luận văn là do sự tìm
hiểu và nghiên cứu của bản thân trong suốt quá trình học tập và công tác. Mọi
kết quả nghiên cứu cũng nhƣ ý tƣởng của các tác giả khác nếu có đều đƣợc
trích dẫn nguồn gốc cụ thể.
Luận văn này cho đến nay chƣa đƣợc bảo vệ tại bất kỳ một hội đồng
bảo vệ luận văn thạc sĩ nào và chƣa đƣợc công bố trên bất kỳ một phƣơng tiện


thông tin nào.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về những gì mà tôi đã cam đoan ở
trên.
Hà Nội, tháng 07 năm 2018
Tác giả luận văn

Bùi Thị Trang


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ........................................................................................................... 1
1. Lí do chọn đề tài......................................................................................... 1
2. Lịch sử vấn đề ............................................................................................ 1
3. Mục đích nghiên cứu.................................................................................. 4
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu ................................................................. 4
5. Phƣơng pháp nghiên cứu ........................................................................... 4
6. Những đóng góp của luận văn ................................................................... 5
7. Cấu trúc của luân văn ................................................................................. 5
CHƢƠNG 1. VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ
HOÀNG CẦM .................................................................................................. 6
1.1 Văn hóa và văn học. Địa văn hóa và văn học .......................................... 6
1.1.1 Văn hóa và văn học ............................................................................ 6
1.1.2 Địa văn hóa với văn học .................................................................. 11
1.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa ........................................ 13
1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa .......................................... 13
1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình .............................. 15
1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm ..... 18
1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt .......................................... 18
1.3.2 Văn hóa địa Kinh Bắc – miền nghệ thuật hấp dẫn trong thơ
Hoàng Cầm................................................................................................ 24
CHƢƠNG 2. THƠ HOÀNG CẦM - SỰ KẾT TINH CÁC GIÁ TRỊ
ĐỊA VĂN HÓA .............................................................................................. 31
2.1. Thiên nhiên địa Kinh Bắc – Biểu tƣợng in đậm trong thơ Hoàng
Cầm .............................................................................................................. 31
2.1.1 Những dòng sông Kinh Bắc ............................................................. 31


2.1.2 Núi đồi Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm ......................................... 41
2.1.3 Biểu tượng cây cỏ ............................................................................ 44
2.2 Sinh hoạt văn hóa – nét đẹp của ngƣời Kinh Bắc .................................. 50
2.2.1 Hội hè Kinh Bắc ............................................................................... 50
2.2.2 Hát quan họ - biểu tượng địa văn hóa độc đáo ............................... 55
2.3 Con ngƣời Kinh Bắc dƣới góc nhìn địa văn hóa ................................... 59
2.3.1 Con người bất tử trong lịch sử và truyền thuyết.............................. 59
2.3.2 Người phụ nữ Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm............................... 63
CHƢƠNG 3. CÁC PHƢƠNG THỨC THỂ HIỆN TRONG THƠ
HOÀNG CẦM ................................................................................................ 71
3.1 Thể thơ ................................................................................................... 71
3.1.1. Thể thơ truyền thống ....................................................................... 71
3.1.2 Thơ tự do .......................................................................................... 74
3.2 Ngôn ngữ................................................................................................ 82
3.2.1 Ngôn ngữ giàu nhạc điệu ................................................................. 83
3.2.2 Ngôn ngữ thơ mang đậm màu sắc truyền thống .............................. 88
3.2.3 Ngôn ngữ thơ giàu hình ảnh, có tính biểu tượng cao ...................... 91
3.3 Giọng điệu………………………………………………………………………
KẾT LUẬN ................................................................................................... 105
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ...................................................... 108


1

MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Văn học là một trong những bộ phận quan trọng của cấu trúc văn hóa.
Văn học là sự biểu hiện văn hoá, trong tác phẩm văn học có hình ảnh của văn
hoá thông qua cái nhìn và sự phản ánh của nhà văn. Có thể nói văn học là văn
hóa lên tiếng bằng ngôn từ nghệ thuật. Từ mối quan hệ mật thiết này nên việc
nghiên cứu văn học từ góc nhìn văn hóa đã đƣợc hết sức chú ý và đóng góp
tích cực vào việc bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
Trong lịch sử văn học Việt Nam hiện đại, Hoàng Cầm đã để lại ấn tƣợng
sâu sắc trong lòng bạn đọc. Thơ ông hấp dẫn nhƣ một bông hoa lạ giữa văn
đàn bởi một phong cách thơ vừa gần gũi và độc đáo. Hoàng Cầm chọn cho
mình một lối đi riêng trong thơ dù đời ông đã trải qua không ít những thăng
trầm, đắng cay. Ông vắt kiệt sức mình cho thơ và vì lẽ đó những câu thơ đầy
ma lực quyến rũ ngƣời đọc ra đời. Ngƣời ta “phải lòng” thơ ông và không dễ
dứt ra đƣợc những ám ảnh của thơ ông.
Một trong những yếu tố góp phần tạo nên phong cách thơ Hoàng Cầm
phải kể đến ảnh hƣởng của văn hóa gia đình và quê hƣơng ông. Kinh Bắc có
lẽ là điều kỳ diệu nhất tạo hóa ban tặng cho ông, là “thiên mệnh” của đời thơ
ông. Từ góc nhìn địa văn hóa ngƣời viết hy vọng sẽ giúp bạn đọc khám phá
và tiếp cận đầy đủ hơn những đóng góp của nhà thơ Hoàng Cầm trong tiến
trình phát triển thơ Việt thế kỷ XX.
2. Lịch sử vấn đề
Đất nƣớc ta có những vùng văn hóa thật kì diệu mà chỉ nói đến tên, hồn
ta đã xốn xang bao cảm xúc, hiện lên bao hình ảnh. May mắn thay chúng ta
có những nhà văn, nhà thơ đƣợc sinh ra, lớn lên hoặc gắn bó lâu dài với
những mảnh đất ấy. Tâm hồn họ đƣợc nuôi dƣỡng, vun đắp bằng văn hóa,
phong tục, bằng sự duyên dáng riêng, những vần thơ của họ nhƣ đƣợc mã hóa


2

bằng cái hồn điệu của quê hƣơng. Một trong những vùng đất nhƣ thế là Kinh
Bắc, và một trong những tác giả nhƣ thế là Hoàng Cầm. Phải chăng Hoàng
Cầm sinh ra để viết về Kinh Bắc và chỉ ở thơ Hoàng Cầm thì Kinh Bắc mới
cuốn hút đầy ma lực nhƣ thế?
Văn hóa địa Kinh Bắc đã giúp Hoàng Cầm chiếm đƣợc trái tim của biết
bao bạn đọc. Chính vì thế nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm đã có rất nhiều tác
giả đã lựa chọn các góc độ khác nhau để tiếp cận, khám phá thơ ông.
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học, tác giả Phạm Thị Hoài có bài viết Mưa
Thuận Thành đăng trên tạp chí Thơ 1997 đã nhận xét: “Cái hệ lời ới hời vi vút
sấp ngửa khép nép nghiêng ngửa mê và tê tê vời vợi ấy lại đi đôi với một âm
vận rất riêng, dƣờng nhƣ đã đƣợc gọt rũa tính toán cho không còn một chút
ngẫu nhiên nào lọt lƣới, đồng thời cũng dƣờng nhƣ chỉ cảnh vẻ thế thôi,
chẳng mấy bận tâm, nên lắm chỗ cứ ngang phứa lên, phá kỷ lục của cả những
tay chơi thƣợng thặng…” [1, 360]. Tác giả đã phát hiện đƣợc những nét độc
đáo, mới mẻ trong thơ Hoàng Cầm về phƣơng diện ngôn ngữ. Các tác giả
khác nhƣ Đặng Tiến, Chu Văn Sơn khi bàn về Cây tam cúc của Hoàng Cầm
cũng có viết rằng đây chính là thứ ngôn ngữ của thơ mới, trẻ trung và có sức
hấp dẫn lạ kỳ. Đỗ Lai Thúy cũng nêu ý kiến: “Thơ Hoàng Cầm là thơ ẩn dụ.
Hệ thống ẩn dụ của ông, một phần lấy nguyên từ cái kho trời chung của văn
hóa dân gian, phần khác lấy có cải biến, còn lại là cá nhân ông sáng tạo…” [1,
131]. Còn khá nhiều công trình nghiên cứu về mặt ngôn ngữ thơ Hoàng Cầm
nhƣ Đỗ Đức Hiểu, Phan Huy Dũng, Hoàng Hƣng… họ đều chỉ ra đƣợc thế
giới ảo, siêu thực, vô thức trong thế giới thơ Hoàng Cầm.
Về góc độ phân tâm học, không thể bỏ qua công trình Đi tìm ẩn ngữ
trong thơ Hoàng Cầm của tác giả Đỗ Lai Thúy. Tác giả này đã cho ngƣời đọc
thấy đƣợc những ẩn ức tính dục, những tâm tƣ sâu kín mà chƣa ai có thể
phân tích kỹ lƣỡng, rạch ròi.


3

Về góc độ văn hóa, có rất nhiều công trình đã đi sâu vào khai thác các
yếu tố văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm. Đầu tiên Nguyễn Thị Bắc
trong luận văn của mình có khẳng định văn hóa vùng chính là yếu tố quan
trọng, có tính quyết định để tạo nên hiện tƣợng thơ Hoàng Cầm.
Tác giả Lại Nguyên Ân năm 2011 có xuất bản cuốn Hoàng Cầm – hồn
thơ độc đáo tập hợp nhiều bài viết về cuộc đời và sự nghiệp thơ ca Hoàng
Cầm. Tác phẩm khá đặc sắc bởi ở đó tập trung nhiều công trình nghiên cứu,
bài viết có giá trị của những nhà nghiên cứu tên tuổi nhƣ Chu Văn Sơn,
Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Trọng Tạo...
Năm 2012, Lƣơng Minh Chung trong luận án tiến sĩ cũng chọn đề tài
Thơ Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa đã đi sâu nghiên cứu vấn đề văn hóa
trong thơ Hoàng Cầm. Công trình này có khai thác các biểu tƣợng trong thơ
Hoàng Cầm từ góc nhìn văn hóa nhƣng vẫn chƣa giải thích cụ thể đƣợc cội
nguồn sâu xa ảnh hƣởng đến văn hóa, phong tục, con ngƣời Kinh Bắc đối với
thơ Hoàng Cầm.
Năm 2013, tác giả Trần Đức Hoàn cũng nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm
qua luận án Văn hóa Kinh Bắc – vùng thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm cũng đi
sâu khai thác những ảnh hƣởng của văn hóa Kinh Bắc trong thơ Hoàng Cầm.
Tác giả này chỉ ra cội nguồn văn hóa để tạo ra vùng thẩm mỹ độc đáo, ảnh
hƣởng lớn đến phong cách, tƣ tƣởng của cây bút xứ Kinh Bắc - Hoàng Cầm.
Tuy vậy, công trình công phu này vẫn chƣa khẳng định, đi sâu vào vấn đề địa
văn hóa, chƣa chú ý đến tính chất địa phƣơng, vùng miền sâu đậm.
Trong các bài báo, các nghiên cứu phê bình về nhũng đóng góp của
Hoàng Cầm với văn chƣơng nƣớc nhà đều có nói đến ảnh hƣởng của văn hóa
Kinh Bắc đối với thơ Hoàng Cầm, song hầu nhƣ các bài viết đều chƣa nhấn
mạnh đến khía cạnh địa văn hóa, ảnh hƣởng, tác động của địa văn hóa Kinh
Bắc là mạch nguồn nuôi dƣỡng thơ ca Hoàng Cầm. Chính địa văn hóa với


4

những đặc trƣng riêng biệt về văn hóa, phong tục mới chính là thứ tạo nên
màu sắc riêng, sức hấp dẫn riêng, cái lạ trong thơ Hoàng Cầm.
Từ nguyên nhân trên, ngƣời viết muốn chọn khai thác vấn đề địa văn
hóa để đi vào khai thác tầng sâu của văn hóa Kinh Bắc, chất địa phƣơng,
những ảnh hƣởng không trộn lẫn mang màu sắc Kinh Bắc trong thơ Hoàng
Cầm. Từ việc nghiên cứu đó sẽ đi đến khẳng định: Địa văn hóa Kinh Bắc
chính là nét độc đáo, riêng biệt trong thơ Hoàng Cầm.
3. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nhằm nghiên cứu những yếu tố địa văn hóa vùng Kinh Bắc
xuyên suốt chặng đƣờng sáng tác của thơ Hoàng Cầm. Dựa vào các phạm trù
văn hóa, ngƣời viết sẽ làm rõ mối quan hệ giữa văn hóa và văn học ở tầm khái
quát.Từ đó đi sâu vào thơ Hoàng Cầm nhƣ một hiện tƣợng cụ thể của văn hóa
– văn hóa Kinh Bắc.
Làm rõ các yếu tố địa văn hóa trong sáng tác của Hoàng Cầm từ đó sẽ
khẳng định vị trí, đóng góp của thơ Hoàng Cầm trong nền văn học Việt Nam
hiện đại và với quê hƣơng Kinh Bắc về phƣơng diện văn hóa.
4. Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn bao quát toàn bộ sáng tác của Hoàng Cầm,chú ý những tác
phẩm liên quan đến địa - văn hóa Kinh Bắc. Đó là các tập thơ kết tinh giá trị,
bản sắc văn hóa truyền thống vùng Kinh Bắc.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là các văn bản thơ của Hoàng Cầm đã
đƣợc xuât bản. Đọc và tham khảo những bài nghiên cứu về thơ Hoàng Cầm
của các tác giả, các nhà nghiên cứu.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu chúng tôi đã sử dụng các phƣơng pháp chủ
yếu sau:
- Phƣơng pháp thống kê phân loại


5

- Phƣơng pháp phân tích tổng hợp
- Phƣơng pháp nghiên cứu liên ngành
- Phƣơng pháp so sánh văn học.
6. Những đóng góp của luận văn
Đây là luận văn nghiên cứu toàn diện, hệ thống thơ Hoàng Cầm từ góc
nhìn địa văn hóa. Ngƣời viết sẽ đi sâu tìm hiểu những yếu tố địa văn hóa, tính
chất vùng miền, những phong tục, nét văn hóa riêng, những nét đẹp của quê
hƣơng Kinh Bắc, của mảnh đất giàu truyền thống văn hóa ấy hiện lên trong
thơ Hoàng Cầm một cách đầy đủ và sâu sắc nhất. Điều đó sẽ giúp ích cho việc
tìm hiểu và giảng dạy thơ Hoàng Cầm toàn diện hơn.
7. Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần Mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3
chƣơng nhƣ sau:
Chƣơng 1: Văn học từ góc nhìn địa văn hóa và thơ Hoàng Cầm
Chƣơng 2: Thơ Hoàng Cầm – sự kết tinh các giá trị địa văn hóa
Chƣơng 3: Các phƣơng thức thể hiện trong thơ Hoàng Cầm


6

CHƢƠNG 1
VĂN HỌC TỪ GÓC NHÌN ĐỊA VĂN HÓA VÀ THƠ HOÀNG CẦM
1.1 Văn hóa và văn học. Địa văn hóa và văn học
1.1.1 Văn hóa và văn học
1.1.1.1 Khái niệm văn hóa
Văn hóa là một khái niệm rất rộng, có thể hiểu là tất cả những sản phẩm
con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình phát triển. Đó là những sản phẩm thuộc
lĩnh vực vật chất mà con ngƣời sáng tạo ra, nhƣng nó cũng là những giá trị
phi vật chất của đời sống tinh thần nhƣ tín ngƣỡng, phong tục, tôn giáo… Văn
hóa phản ánh sự sáng tạo của con ngƣời trong thế giới tự nhiên, bởi vậy ở đâu
có con ngƣời thì ở đó có văn hóa.
Về phƣơng diện vật chất, tất cả những sáng tạo hữu hình của con ngƣời
giúp họ nâng cao chất lƣợng cuộc sống đều là văn hóa. Trong quá trình sáng
tạo ra của cải vật chất, con ngƣời tác động, cải tạo và chinh phục thiên nhiên.
Thiên nhiên đƣợc nhìn nhận, đánh giá bằng ngôn ngữ, nghệ thuật , đƣợc cải
biến bằng lao động thì lúc ấy thiên nhiên trở thành văn hóa. Hành động cải
biến thiên nhiên của con ngƣời cũng đƣợc gọi là hành động văn hóa. Nhƣng
ngƣợc lại, nếu hành động của con ngƣời vào thiên nhiên gây hủy diệt thiên
nhiên, đi ngƣợc lại quy luật của thiên nhiên thì đó lại là hành động phi văn
hóa. Nhƣ vậy, bản thân văn hóa chính là sự phản ánh giá trị đời sống con
ngƣời, thấm đẫm giá trị ngƣời.
Về phƣơng diện tinh thần, đó là tổng thể các tƣ tƣởng, gía trị, lí luận
đƣợc sáng tạo ra trong hoạt động tinh thần của con ngƣời. Nhƣng những sản
phẩm sáng tạo ra đó phải mang tiêu chí cơ bản của chất ngƣời, giá trị ngƣời là
chân, thiện, mĩ. Nếu những sản phẩm không đạt tới hoặc đi ngƣợc các giá trị
này thì trái với văn hóa, còn gọi là phi văn hóa hay phản văn hóa.


7

Nhƣ vậy, nói tới văn hóa là nói tới con ngƣời, là việc phát huy những
năng lực thuộc bản chất của con ngƣời nhằm hoàn thiện con ngƣời. Do đó,
văn hóa có mặt trong mọi hoạt động của con ngƣời, trên các hoạt động thực
tiễn và sinh hoạt tinh thần của xã hội.
Khi nói tới văn hóa thì mỗi phƣơng diện, mỗi thành tố của văn hóa sẽ là
đối tƣợng của một ngành nghiên cứu riêng. Vì không có điều kiện đi sâu nên
chúng ta chỉ tìm hiểu một số đặc trƣng quan trọng của văn hóa.
Đặc trƣng đầu tiên của văn hóa là tính hệ thống. Ở ngay trong định
nghĩa ngƣời đọc có thể thấy: Văn hóa là một hệ thống các giá trị chân lý,
chuẩn mực, mục tiêu mà con ngƣời cùng thống nhất trong quá trình tƣơng tác
và hoạt động sáng tạo. Tính hệ thống còn giúp con ngƣời phân biệt hệ thống
với tập hợp, giúp tìm ra mối liên hệ giữa các hện tƣợng, sự kiện thuộc một
nền văn hóa. Hiểu đƣợc tính hệ thống của văn hóa sẽ có cái nhìn biện chứng,
sự cân nhắc khi xây dựng, sáng tạo một loại hình văn hóa.
Đặc trƣng thứ hai là tính giá trị. Đây đƣợc xem là một đặc trƣng quan
trọng của văn hóa. Giá trị đƣợc xem là: “Thước đo mật độ nhân bản của con
người”, bởi văn hóa vốn dĩ là một giá trị ngay từ khi sinh ra: giá trị ngƣời, giá
trị nhân văn, nhân sinh… Các giá trị đó sẽ đƣợc nhìn nhận, đánh giá tùy theo
tác dụng của nó trong việc nâng cao tính ngƣời, chất lƣợng cuộc sống. Nền
tảng vững chắc của xã hội sẽ đƣợc tạo nên từ tổng các giá trị văn hóa đó. Nó
giúp tạo nên sức mạnh của dân tộc, sức mạnh để vƣợt qua những khó khăn,
thử thách từ các thế lực ngoại xâm và cả sự hung dữ của thiên nhiên.
Tính giá trị của văn hóa còn biểu hiện ở sự chuẩn mực. Chính tính giá
trị của văn hóa đã thể hiện đƣợc chức năng điều chỉnh xã hội, giúp cho xã hội
đƣợc duy trì ở trạng thái cân bằng, liên tục tự hoàn thiện và thích ứng với sự
thay đổi của môi trƣờng, định hƣớng các chuẩn mực. Khi một sự kiện, một
hiện tƣợng, hành động… đƣợc coi là chuẩn mực thì có nghĩa sự kiện, hiện


8

tƣợng, hành động… ấy đƣợc coi là một thƣớc đo, một hình mẫu, hơn thế đó là
một tấm gƣơng. Rõ ràng, văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển
của xã hội. Đó là sự đánh giá đầy đủ nhất về giá trị của văn hóa.
Đặc trƣng thứ ba là tính lịch sử. Văn hóa đƣợc hình thành qua một quá
trình và đƣợc tích lũy qua nhiều thế hệ, đó là sự biến đổi, sự phát triển của
con ngƣời trong quá trình tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên - xã hội sáng tạo
và luôn hƣớng tới sự hoàn thiện để đạt đến tính giá trị. Một hiện tƣợng văn
hóa sẽ sinh ra trong một thời đại, một giai đoạn nhất định.Nó có thể phát huy,
kế thừa hoặc phủ định những thành quả của tời đại trƣớc, nó mang dấu ấn của
thời đại nó sinh ra. Bởi vậy, cần nắm đƣợc tính lịch sử của văn hóa để khi
phân tích, đánh giá các hiện tƣợng, sự kiện văn hóa một cách khách quan,
chính xác.
Thứ tƣ, tính nhân sinh. Văn hóa là hiện tƣợng thuộc về xã hội loài
ngƣời, sinh ra cùng với sự sinh ra của con ngƣời, gắn liền với hoạt động thực
tiễn của con ngƣời, là những giá trị do một cộng đồng ngƣời sáng tạo ra,
thuộc về con ngƣời, ở trong con ngƣời và mang dấu ấn ngƣời. Có thể thấy,
con ngƣời vừa là chủ thể của văn hóa, đồng thời là khách thể của văn hóa, lại
vừa là sản phẩm văn hóa. Vì thế, đấu tranh về văn hóa, trong văn hóa cũng
chính là quy luật tiến hóa của nhân sinh. Hơn nữa, muốn hiểu con ngƣời phải
có sự hiểu biết nhất định về văn hóa. Bới đó là chía khóa để lý giải hành
động, tâm lý, ứng xử của con ngƣời.
1.1.1.2 Quan hệ giữa văn hóa và văn học
Văn học đƣợc xem là sản phẩm của văn hóa, bản thân tác phẩm văn học
khi ra đời đã là sản phẩm tinh thần của một thời đại lịch sử cụ thể, nó phản
ánh đời sống của giai đoạn mà nó ra đời. Văn học nhƣ là tấm gƣơng phản ánh
đời sống xã hội và văn hóa dân tộc. Chính vì vậy mà ngƣời ta đã đƣa ra một
nhận định rằng:“Người cầm bút chỉ trở thành nhà văn lớn khi nào đạt đến


9

tầm vóc của một nhà văn hóa – tư tưởng”. Nhƣ vậy, văn học cũng là sự phản
ánh văn hóa trên nhƣng khía cạnh, những góc độ nào đó, ta thấy hình ảnh của
văn hóa qua sự tiếp nhận và tái hiện của các nhà văn. Ngƣời đọc có thể nhận
ra bức tranh văn hoá dân gian trong thơ Hồ Xuân Hƣơng với những trò chơi
dân gian, những câu đố tục giảng thanh đầy hóm hỉnh. Hay vẻ đẹp của văn
hoá truyền thống trong truyện ngắn và tuỳ bút Nguyễn Tuân. Văn hóa, lịch sử
của Hà Nội qua “Hà Nội 36 phố phường” của Thạch Lam… Ngoài đề tài văn
hóa còn tác động đến văn học ở toàn bộ hoạt động sáng tạo của nhà văn và
hoạt động tiếp nhận của bạn đọc. Chính không gian văn hoá đã chi phối cách
xử lý đề tài, cách thể hiện chủ đề, cách xây dựng nhân vật, sử dụng biện pháp
nghệ thuật… trong quá trình sáng tác, đồng thời cũng chi phối cách đánh giá,
thƣởng thức… trong quá trình tiếp nhận. Vì lẽ đó nhiều nhà nghiên cứu đã
căn cứ vào dữ liệu văn hóa để lí giải văn hóa của một thời đại, một giai đoạn
lịch sử nào đó. Vì văn học là một sản phẩm đặc biệt của văn hóa nên khi
nghiên cứu tác phẩm văn học ngƣời đọc hay nhà nghiên cứu cần chú ý đặt tác
phẩm văn học trong bối cảnh rộng lớn của văn hóa thời đại đó, xem văn bản
văn học là sản phẩm của văn hóa thì cần giải mã nó trong ngữ cảnh văn hóa.
Văn học kết tinh các giá trị văn hóa bởi yếu tố quan trọng nhất trong tác
phẩm chính là giá trị thẩm mĩ. Giá trị thẩm mĩ riêng của mỗi dân tộc sẽ có
mối liên hệ mật thiết với địa văn hóa bởi môi trƣờng sống, thế giới xung
quanh sẽ tác động, chi phối đến sự cảm nhận và biểu hiện của nhà văn. Một
tác phẩm văn học không chỉ là quan niệm về con ngƣời đƣơc thể hiện qua
nghệ thuật ngôn từ mà ở đó còn có cả chuẩn mực ứng xử của một cộng đồng,
một dân tộc nào đó trong một thời đại lịch sử nhất định. Tác phẩm văn học ấy
phải mang trong mình văn hóa đặc trƣng của dân tộc nó sinh ra. Tính văn hóa
của tác phẩm ấy cho ngƣời đọc hiểu hơn giá trị của nó qua hệ thống hình
tƣợng, hình ảnh… để từ đó có thể liên hệ, so sánh với tác phẩm khác, nền văn


10

hóa khác. Một tác phẩm văn học là một chỉnh thể nghệ thuật ngôn từ tái hiện
đời sống tinh thần của một dân tộc, là sự kết tinh cao nhất văn hóa của một
đất nƣớc. Tác phẩm mang tính văn hóa cao sẽ trở thành tài sản, niềm tự hào
của một dân tộc.
Văn học không chỉ kết tinh các giá trị văn hóa mà văn học còn là một ứng
xử văn hóa. Ứng xử (behaviour) là thái độ, hành động của con ngƣời trƣớc
hiện thực khách quan. Ứng xử thể hiện quan niệm của con ngƣời trong các mối
quan hệ với môi trƣờng và thế giới xung quanh. Ứng xử với môi trƣờng đƣợc
biểu hiện ở quan niệm của con ngƣời với môi trƣờng, còn ứng xử với thế giới
xung quanh chính là ứng xử giữa ngƣời với ngƣời, là các quan hệ xã hội. Trong
tác phẩm văn chƣơng các nhân vật đƣợc đặt trong quan hệ giao tiếp, đối thoại
với nhau, trong phạm vi ứng xử văn hóa với nhau. Tất cả những ứng xử đó đều
mang đặc trƣng văn hóa dân tộc, tạo ra màu sắc dân tộc để tác phẩm mang màu
sức riêng ko giống với các tác phẩm cùng thể, cùng loại khác.
Văn hóa là của con ngƣời, cho con ngƣời và vì con ngƣời. Không có văn
hóa nằm ngoài con ngƣời. Vì vậy, tác phẩm văn chƣơng phải lấy con ngƣời
làm đối tƣợng trung tâm để phản ánh và đó cũng là việc tập trung khắc họa
tính chất văn hóa của con ngƣời. Văn hóa phản ánh sự phát triển của con
ngƣời, biểu hiện năng lực sáng tạo của con ngƣời trong quá trình tồn tại, phát
triển, vƣơn lên làm chủ cuộc sống và hoàn thiện nhân cách để tạo ra giá trị
con ngƣời qua mỗi thời đại.
Tóm lại, tính văn hóa của tác phẩm văn học chính là việc thể hiện qua cái
nhìn nghệ thuật mang tính dân tộc về con ngƣời và cuộc đời, qua quan niệm
ứng xử thẩm mỹ mang đặc trƣng và phù hợp với chuẩn mực đạo đức tâm lí của
dân tộc. Tính văn hóa của tác phẩm văn học còn đƣợc thể hiện ở việc xây dựng
nhân vật, cốt truyện, qua các hình thức ngôn từ nghệ thuật đƣợc dùng để diễn tả
hình tƣợng. Tác phẩm văn học chính là một chỉnh thể của nghệ thuật ngôn từ.


11

Bởi vậy, khi nghiên cứu và giảng dạy tác phẩm văn học không nên chỉ chú ý
cảm thụ cái hay, cái đẹp của của hình tƣợng nghệ thuật mà nên bàn về sự độc
đáo của văn hóa dân tộc trong đó. Từ đó, có thể khẳng định, việc nghiên cứu
tính văn hóa trong tác phẩm văn học là hết sức cần thiết. Có nhƣ vậy tác phẩm
văn học mới hiện lên đầy đủ vẻ đẹp toàn diện của nó.
1.1.2 Địa văn hóa với văn học
1.1.2.1 Địa văn hóa
Nếu văn hóa là sản phẩm tinh thần và vật chất của con ngƣời trên con
đƣờng tiến hóa thì khi nghiên cứu văn hóa, ngƣời ta nhận thấy những nét chung
của văn hóa, của nền văn hóa có những nét riêng của từng vùng, từng miền.
Những nét riêng ấy do tác động của những điều kiện nhân sinh, xã hội, lịch sử,
địa lý khác nhau ở từng vùng, từng miền mà có. Bởi vậy, nói đến địa văn hóa là
nói đến một thực thể văn hóa bao gồm những nét riêng, đặc trƣng, những sắc
thái khác biệt mà ở các vùng miền khác không có hoặc không tiêu biểu, điển
hình. Ở địa phƣơng ấy con ngƣời và thiên nhiên, văn hóa và địa lý tƣơng tác
qua lại với nhau tạo nên những tính cách, ứng xử văn hóa khác nhau.
Nhƣ vậy, địa văn hóa đƣợc hiểu là văn hóa của một cộng đồng, một dân
tộc, một địa phƣơng, khu vực, vùng miền nhất định. Đặc trƣng của địa văn
hóa chính là các bản sắc văn hóa của địa phƣơng ấy. Theo định nghĩ của
Unesco thì: “Bản sắc văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo
của con người đã diễn ra trong quá khứ cũng như đang diễn ra trong hiện tại.
Qua hàng thế kỷ, các hoạt động sáng tạo đã cấu thành hệ thống gía trị, truyền
thống, thị hiếu, thẩm mỹ và lối sống mà dựa trên đó, dân tộc khẳng định được
bản sắc riêng của mình”.
1.1.2.2 Địa văn hóa và văn học
Mỗi nhà văn đều sống và viết ở một miền đất nhất định và hầu hết những
yếu tố của miền đất đó nhƣ lịch sử, địa lý, văn hóa, con ngƣời... đều tác động


12

đến nhà văn tạo nên những nét riêng đặc sắc trong nội dung và nghệ thuật.
Nội dung và nghệ thuật đó tất nhiên mang đặc điểm chung của đất nƣớc, dân
tộc, thời đại. Nhƣng đó là tác động của lịch sử vào văn học đất nƣớc và sẽ
không làm mất đi những nét riêng, đặc sắc của vùng đất, quê hƣơng nơi tác
giả đó sống và viết trong tác phẩm văn chƣơng của mình. Hay có thể nói đó
chính là những ảnh hƣởng của yếu tố địa văn hóa vào văn học.
Nghiên cứu văn học dƣới góc nhìn địa văn hóa là điểm khởi đầu của
nghiên cứu tác giả, giống nhƣ việc nghiên cứu dòng sông từ chính cội nguồn
của nó vậy. Tuy nhiên, đây không phải là việc địa phƣơng hóa văn hóa, bó
hẹp cái nhìn của sáng tạo văn học. Ngƣợc lại, đó là cách đào sâu, mở rộng, đi
sâu, tìm hiểu kỹ một trƣờng hợp cụ thể nào đó của thời đại trong một khu vực
địa dƣ, một giai đoạn lịch sử và càng thấy nét đặc sắc của một tác giả vào giá
trị của nền văn học nói chung.
Trong sáng tác văn học, hiểu biết văn hóa càng rộng thì hình tƣợng văn
học càng sâu. Sự hiểu biết về văn hóa nói chung, văn hóa vùng nói riêng
không bao giờ thừa. Vốn sống của nhà văn khi đi vào văn học đã trở thành
văn hóa và đƣợc nhìn dƣới con mắt văn hóa nghĩa là đã đƣợc đánh giá về
nhân sinh. Văn học đã và đang tận dụng tốt văn hóa để làm tốt chức năng của
mình, đóng góp vào sự đa dạng, nâng cao văn hóa của dân tộc, nhân loại. Hơn
nữa, văn hóa thể hiện quan niệm cách ứng xử của con ngƣời trƣớc cuộc sống
xung quanh còn văn học thì lƣu giữ những thành quả đó một cách tốt nhất,
hiệu quả nhất. Thành quả văn hóa của một dân tộc, vùng miền phải đi qua quá
trình tìm kiếm, lựa chọn, đấu tranh và sáng tạo để tạo ra những giá trị trong xã
hội. Trên con đƣờng tìm kiếm ấy, văn học chính là nơi lƣu giữ, định hình
những giá trị quý báu của vùng đất, dân tộc đó. Nhƣ vậy, địa văn hóa có vai
trò nhất định, nó tạo nên các giá trị thẩm mỹ để văn học lên tiếng bằng ngôn
từ nghệ thuật, đồng thời thể hiện những bản sắc riêng ấy của địa văn hóa
trong hành trình sáng tạo nghệ thuật của nhà văn.


13

1.2 Tiếp cận thơ trữ tình từ góc nhìn địa văn hóa
Thơ trữ tình là một thể loại thơ ca có đặc trƣng là bày tỏ, nói lên tƣ
tƣởng, tình cảm của tác giả, thông qua tƣ tƣởng, tình cảm phản ánh cuộc sống.
Vì thế, thơ trữ tình không đi vào miêu tả quá trình, sự kiện, không kể tình tiết
câu chuyện, không miêu tả nhân vật… mà mƣợn cảnh vật để bày tỏ tình cảm.
Thơ trữ tình dùng để chỉ chung các thể thơ thuộc loại trữ tình, trong đó nhà
thơ bộc lộ một cách trực tiếp những cảm xúc riêng tƣ, cá thể về đời sống, thể
hiện tƣ tƣởng về con ngƣời, cuộc đời và thời đại nói chung. Thơ trữ tình biểu
hiện tƣ tƣởng, tình cảm, làm sống dậy cái thế giới chủ thể của hiện thực khách
quan, giúp ta đi sâu vào thế giới sâu kín của tâm tƣ, nỗi niềm. Đó là một sản
phẩm tinh thần vì thế trong thơ trữ tình cũng biểu hiện, kết tinh văn hóa của
cộng đồng, của dân tộc thông qua việc sử dụng đầy sáng tạo ngôn ngữ, giọng
điệu, thể thơ, hình ảnh… Quá trình sáng tạo ấy của nhà thơ chính là việc họ
đang đƣa các giá trị thẩm mỹ của văn hóa truyền thống vào trong tác phẩm
của mình, đồng thời họ cũng tạo ra nét riêng, dấu ấn của cá nhân trên phông
nền của văn hóa truyền thống.
1.2.1 Thơ trữ tình kết tinh giá trị địa văn hóa
Trong thơ trữ tình, dấu ấn địa văn hóa là vô cùng đậm nét. Các nhà thơ
sẽ bị chi phối ảnh hƣởng sâu sắc từ những quan niệm thẩm mỹ chung của
cộng đồng. Từ đó các nhà thơ vừa thể hiện đƣợc những sáng tạo của cá nhân
nhƣng cũng thể hiện nhiều nét tƣơng đồng với những sáng tác truyền thống.
Đây chính là cơ sở để ngƣời đọc nhận thấy đƣợc những ảnh hƣởng chung của
lịch sử, thời đại, dấu ấn bản sắc riêng của cộng đồng, dân tộc.
Mối quan hệ giữa văn học và văn hóa, văn học và địa văn hóa rất sâu sắc
và bền vững. Nhƣ đã nói, văn học vừa kết tinh, vừa biểu hiện tâm thức của
văn hóa dân tộc, địa phƣơng, bởi thế những tác phẩm văn học ƣu tú sẽ ẩn
chứa giá trị văn hóa bền vững. Đó có thể là phong tục, tập quán, lễ nghi, hội


14

hè nhƣng cũng có khi nó đƣợc khai thác ở chiều sâu, là những giá trị ẩn sâu
trong tâm thức văn hóa cộng đồng. Chúng ta coi Truyện Kiều của Nguyễn Du
nhƣ một thứ “căn cước” văn hóa đầu tiên của Việt Nam đƣợc giới thiệu đến
bè bạn phƣơng Tây. Bởi vì Nguyễn Du giúp cho thế giới phƣơng Tây ấy hiểu
đƣợc cái nhìn sâu sắc về bộ mặt tinh thần của dân tộc ta. Cho họ thấy rõ hơn
về con ngƣời và tâm hồn Việt Nam. Nguyễn Du đã làm rạng danh cho non
sông đất nƣớc, làm phong phú hơn cho văn hóa của dân tộc nhƣ thế. Ngƣời ta
biết đến Việt Nam, biết đến Truyện Kiều nhƣ một tài sản văn hóa tinh thần
quý báu của dân tộc.Điều đó đã chúng minh rõ nhất, tác phẩm văn học nói
chung, thơ trữ tình nói riêng mang đậm dấu ấn của văn hóa cộng đồng. Văn
học Việt Nam ta, với chiều dài hàng ngàn năm văn hiến đã có nhiều tác phẩm
văn học in đậm dấu ấn của văn hóa tạo nên diện mạo của một nền văn chƣơng
đặc sắc, góp phần làm phong phú cho nền văn học dân tộc.
Tuy vậy, mỗi cá nhân lại tạo ra bản sắc cá nhân trên nền văn hóa chung.
Đó chính là việc nhà văn “thâm canh” ở một vùng đất nào đó. Nghĩa là họ tạo
đƣợc dấu ấn riêng mang bản sắc của một địa phƣơng nào đó trong sáng tác
của mình: dấu ấn địa văn hóa. Nơi đó có thể là quê hƣơng hay mảnh đất mà
tác giả đã sống, gắn bó thân thuộc và trở thành đề tài, nguồn cảm hứng và
nguyên mẫu nhân vật trong tác phẩm của họ. Ta bắt gặp Nguyễn Đình Chiểu
với vùng đất Nam Bộ; Tú Xƣơng với Thành Nam; Tản Đà, Ngô Quân Miện
với xứ Đoài; Hoàng Cầm với Kinh Bắc; Nguyễn Bùi Vợi, Mai Hồng Miên
với xứ Nghệ… Nghiên cứu những sáng tác của họ dƣới góc nhìn địa văn hóa,
chắc chắn sẽ khám phá đƣợc nhiều điều thú vị và sâu sắc.
Nghiên cứu tác phẩm văn học nói chung, thơ trữ tình nói riêng, muốn
hiểu đúng, hiểu sâu sắc và tòa diện cần đặt nó trong mạch nguồn văn hóa địa
phƣơng, dân tộc và giai đoạn lịch sử mà nó sinh ra. Hơn thế hiểu biết về văn
hóa nói chung và văn hóa vùng nói riêng không bao giờ là thừa. Văn hóa địa


15

phƣơng, vùng miền đã tạo nên nét đặc sắc riêng trong phong cách tác giả để
lại dấu ấn sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bởi vậy, dù phản ánh tình cảm tiêu
biểu, khái quát nhƣng kết hợp với cái hay, cái đẹp của địa văn hóa thì tác
phẩm ấy càng có ý nghĩa và sống lâu bền hơn trong tâm trí độc giả. Điều đó
cũng giúp ta khẳng định: Thơ trữ tình chính là sự kết tinh các giá trị địa văn
hóa của dân tộc, vùng miền.
1.2.2 Nghiên cứu giá trị địa văn hóa của thơ trữ tình
Thơ trữ tình thƣờng gợi lên cho ngƣời đọc những hình ảnh sống động về
đời sống tâm hồn, tình cảm, tinh thần của nhà thơ trong một hoàn cảnh, tình
huống cụ thể, riêng biệt. Nhƣng tình cảm riêng ấy chỉ có ý nghĩa khi nó thống
nhất, nằm trong tình cảm chung, mang ý nghĩa khái quát. Cái chung ấy chính
là cội nguồn địa văn hóa trong thế giới nghệ thuật của nhà thơ. Các nhà thơ
phải tự vƣợt lên những cảm xúc vụn vặt, những tâm trạng lạc lõng để nâng
cảm xúc, suy nghĩ,tâm trạng ấy trở nên tiêu biểu để ở đó bạn đọc cảm nhận
đƣợc những tình cảm cao thƣợng, sâu sắc của nhà thơ, vừa riêng tƣ lại cũng
có nét chung, sự tƣơng đồng. Bạn đọc nhớ đến thơ Tố Hữu bởi giọng điệu
ngọt ngào tha thiết. Giọng điệu ấy nhƣ là tài sản “trời phú” cho Tố Hữu do
thừa hƣởng tâm hồn của quê hƣơng và con ngƣời xứ Huế mà ông yêu tha
thiết. Chính Tố Hữu đã xác nhận: “Ngƣời ta nói thơ tôi có giọng hò, tiếng ca
xứ Huế. Đúng vậy, tôi rất thích ca nhạc quê hƣơng tôi”. Rõ ràng thơ Tố Hữu
mang đậm dấu ấn của cội nguồn văn hóa địa phƣơng xứ Huế. Để rồi từ cội
nguồn văn hóa truyền thống ấy Tố Hữu dã tạo cho mình cái giọng tâm tình,
ngọt ngào, đằm thắm vừa riêng lại vừa chung, vừa hấp dẫn, lay động lại vừa
tha thiết, thân quen đến vậy. Đọc thơ Nguyễn Bùi Vợi ngƣời đọc lại bắt gặp
tính cách và con ngƣời của tiểu vùng văn hóa Nghệ Tĩnh trong thơ ông. Là
ngƣời xứ Nghệ gốc nên ông gắn bó với quê hƣơng, bạn bè, làng xóm. Ông hiểu
sâu sắc miền đất,tính cách con ngƣời nơi đây. Tình yêu máu thịt của ông với xứ
Nghệ đƣợc biểu hiện ngay trong những vần thơ mang đậm hơi thở quê hƣơng:


16

“Vẫn tím trong tôi đồi sim cằn rú mít
Nhớ cái chuôm sâu ở đồng Hới, đồng Chùa
Nay quê mình đã xanh trùm bóng mát
Bao ân tình mình xin gửi vào thơ…”
Rồi những câu thơ ông viết về nét riêng của quê mình:
“Gió Lào thổi rạc bờ tre
Chỉ qua giọng nói đã nghe nhọc nhằn
Chắt từ đá sỏi đất cằn
Nên yêu thơ mới sâu đằm đó em”
Nguyễn Bùi Vợi đã đem tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ của quê hƣơng mình vào
thơ, từ địa phƣơng khá nhiều. Đó là địa văn hóa, là chất địa phƣơng hoà lẫn
với cách nhìn của con ngƣời cá nhân tạo ra sự đa dạng trong văn học. Nguyễn
Bùi Vợi tuy không phải là ngƣời viết nhiều về xứ Nghệ nhất nhƣng thơ ông
đậm chất Nghệ nhất. Tính cách xứ Nghệ biểu hiện ở giọng thơ chân thực mà
đằm thắm, cách nói trực tiếp mà lại cuốn hút. Có lẽ đó là sức cuốn hút của địa
văn hóa với thơ ca thời hiện đại?
Nghệ thuật ngôn từ dƣới sự sáng tạo của ngƣời nghệ sĩ còn kết tinh
những quan niệm nghệ thuật của dân tộc. Góc nhìn địa văn hóa cho thấy cái
nhìn nghệ thuật trong thơ trữ tình chính là sự khúc xạ giá trị văn hóa của các
tộc ngƣời. Tìm hiểu đôi nét về thơ của các tác giả dân tộc thiểu số sẽ thấy
đƣợc điểm này. Thơ của họ giàu tính biểu tƣợng và có sức ám ảnh, các tác giả
luôn bám sát truyền thống thơ ca của dân tộc mình. Họ âm thầm sáng tạo,
khám phá và học hỏi để tìm ra cái mới, cái lạ mà hấp dẫn, lôi cuốn ngƣời đọc.
Đọc những dòng thơ của tác giả Bùi Thị Tuyết Mai bạn đọc sẽ bắt gặp đời
sống sinh hoạt phong phú của ngƣời Mƣờng với tiếng hát ru da diết qua cái
nhìn độc đáo của tác giả:


17

“Ngủ đi
Con ong ra nhiều mật
Cho con gà mơ cục tác
Con lợn to như đống gạch
Ngủ đi
Cho mẹ ôm cha…”
(Hát ru)
Rồi lời thơ tự nhiên, dân dã mà lại hấp dẫn, lôi cuốn trong những câu thơ
của Lò Ngân Sủn:
“Người đẹp trông như tuyết
Chạm vào lại thấy nóng
Người đẹp trông như lửa
Sờ vào lại thấy mát
Người không khát – nhìn người đẹp cũng khát
Người không đói – nhìn người đẹp cũng đói
Người muốn chết – gặp người đẹp lại không muốn chết nữa”
(Con của núi nhất)
Rõ ràng trong thơ của các tác giả miền núi, dấu ấn địa văn hóa thật đậm
nét. Đó là sự độc đáo, riêng biệt, khác lạ không tìm thấy ở bất cứ một phong
cách thơ nào. Những cái riêng ấy là sự kết tinh giá trị địa văn hóa để làm giàu
vốn văn hóa của dân tộc, làm phong phú cho nền văn học nƣớc ta. Đồng thời
họ cũng đang làm cho chính cộng đồng, vùng miền của họ phát triển trên cơ
sở tiếp thu, học hỏi, giao lƣu với cái mới. Chính những thành quả, bản sắc
riêng của mỗi vùng đất cộng hƣởng với sáng tạo cá nhân sẽ tạo ra đƣợc nhũng
tác phẩm văn chƣơng nhƣ thế. Góc nhìn địa văn hóa khi nghiên cứu thơ trữ
tình cho phép ngƣời đọc tìm hiểu đƣợc khả năng làm giàu các giá trị văn hóa
của cộng đồng.


18

Cần tìm hiểu sự liên hệ giũa các biểu tƣợng văn hóa và hệ thống mô tip,
hình ảnh trong thơ trữ tình bởi hệ thống biểu tƣợng hàm chứa trong bản thân
nó những giá trị tƣ tƣởng sâu sắc của dân tộc, cộng đồng trong việc thể hiện
những ứng xử, quan hệ trong đời sống văn hóa xã hội. Hệ thống hình tƣợng,
hình ảnh trong thơ trữ tình cũng góp phần hình thành phong cách cá nhân của
nhà thơ. Từ điển thuật ngữ văn học đã định nghĩa: “Phong cách nghệ thuật là
phạm trù thẩm mỹ chỉ sự thống nhất tƣơng đối ổn định của hệ thống hình
tƣợng, của các phƣơng tiện biểu hiện nghệ thuật, nói lên cái nhìn độc đáo
trong sáng tác của một nhà văn, trong tác phẩm riêng lẻ, trong trào lƣu văn
học dân tộc”. Nhƣ vậy, những hình ảnh, biểu tƣợng trong thơ có thể làm cho
ngƣời đọc cảm thấy thỏa mãn những nhu cầu về trí tuệ, cảm xúc thẩm mỹ.
Thế nên để đi tới cội nguồn của vấn đề trong tác phẩm văn học không thể bỏ
qua vai trò của hệ thống hình ảnh, biểu tƣợng trong tác phẩm.
Tóm lại, tìm hiểu văn chƣơng nói chung, thơ trữ tình nói riêng từ góc
nhìn địa văn hóa sẽ giúp bạn đọc đánh giá đƣợc đúng giá trị của tác phẩm, vị
trí, tầm vóc của nhà thơ ấy trong quá trình phát triển của nền thơ ca dân tộc ở
một giai đoạn lịch sử nhất định. Hơn thế, đó còn là cách đi tìm sự ảnh hƣởng
sâu xa của truyền thống văn học dân tộc, địa phƣơng đối với tác phẩm văn
chƣơng. Một tác phẩm chỉ đƣợc đánh giá một cách sâu sắc và toàn diện khi
đặt nó trong dòng chảy văn hóa của dân tộc, vùng miền và thời đại nó sinh ra.
1.3 Địa văn hóa Kinh Bắc – cội nguồn thẩm mỹ trong thơ Hoàng Cầm
1.3.1 Kinh Bắc – mảnh đất địa linh nhân kiệt
Nhắc tới Kinh Bắc, ngƣời ta nhớ ngay đến mảnh đất “địa linh nhân kiệt”
đƣợc coi là nơi khai mở nền văn minh Đại Việt, là miền đất màu mỡ nuôi
dƣỡng văn hóa của ngƣời Việt. Đây là vùng đất đậm đặc những di tích gắn
với nhiều huyền thoại lịch sử, lại say đắm lòng ngƣời bởi nhiều nét văn hóa
truyền thống rất đặc trƣng.


19

1.3.1.1 Vị trí địa lý
Nằm ở trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, Kinh Bắc xƣa thuộc
khu vực hai tỉnh Bắc Ninh, Bắc Giang và một phần của Hà Nội, xứ Kinh Bắc
đƣợc hình thành từ khi lập quốc với một lịch sử lâu đời nhất.
Ở thời Hùng Vƣơng, đất nƣớc dƣới sự thống trị của nhà Tần (214 – 209
trƣớc Công nguyên) thì Kinh Bắc thuộc bộ Vũ Ninh. Về sau, nhà Hán thống
trị (110 – 210 trƣớc Công nguyên) thì Kinh Bắc cũng thay đổi nhiều cả về tên
gọi và cƣơng vực địa lý.
Thời Lý – Trần theo sử sách ghi chép gọi là “Bắc Giang lộ” và “Như
Nguyệt giang lộ”. Ở thời Trần lại thấy chép là “Kinh Bắc”, lộ Bắc Giang đến
giờ cũng gọi là lộ Kinh Bắc. Năm Thuận Thiên thứ nhất (1428) Lý Thái Tổ
chia đất nƣớc ra thành 5 đạo, trong đó Bắc đạo chính là vùng Kinh Bắc. Năm
1466 khi vua Lê Thánh Tông tổ chức đất nƣớc thành Thừa tuyên rồi chia cả
nƣớc ra thành 13 đạo thì thấy có thừa tuyên Bắc Giang hay Kinh Bắc với 4
phủ và 19 huyện.
Đến 1490, năm Hồng Đức thứ 21, đất nƣớc lại đƣợc vua Thánh Tông tổ
chức lại,lúc này “Kinh Bắc đạo” trở thành “Kinh Bắc xứ”. Cách tổ chức này
giữ nguyên đến cuối triều Lê. Thời vua Gia Long của triều Nguyễn (1802) lại
chia đất nƣớc thành 24 trấn, 4 doanh và 2 thành. Kinh Bắc lúc này có tên là
“Kinh Bắc trấn”. Về sau vua Minh Mệnh (1831) đổi lại là “Bắc Ninh phủ”
với 4 phủ, 2 phân phủ và 20 huyện.
Giai đoạn sau, từ những năm đầu của thế kỷ XIX đến cuối thế kỷ XIX
cũng có nhiều thay đổi. Năm Đồng Khánh thứ hai (1887) các huyện Siêu
Loại, Gia Lâm, Lang Tài và một số tổng của Bắc Ninh phủ đƣợc tách ra và
sát nhập về với tỉnh Hƣng Yên. Sau đó năm Thành Thái thứ bảy (1895) thêm
một số huyện của Kinh Bắc là Hiệp Hòa,Yên Dũng, Lục Ngạn, Yên Thế, Việt
Yên và Hữu Lũng tách ra thành tỉnh Bắc Giang cùng phủ lạng Giang. Năm


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×