Tải bản đầy đủ

“LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CHO ĐẤT NƯỚC”

Lời mở đầu
Bước vào thời kì đổi mới, trên cơ sở phân tích khoa học các điều kiện trong nước và quốc
tế, Đảng ta nêu ra những quan điểm mới chỉ đạo quá trình thực hiện công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước trong điều kiện mới. Những quan điểm này được Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp
hành Trung ương khóa VII nêu ra và được phát triển bổ sung qua các đại hội. Một trong những
quan điểm đó là “lấy và phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh
và bền vững” được nhấn mạnh vai trò hết sức to lớn của con người trong sự nghiệp CNH-HĐH
đối với sự phát triển kinh tế của xã hội. Chủ trương đúng đắn đó đang và sẽ tiếp tục khẳng định
trong những bước đường tiến lên chủ nghĩa xã hội.
Lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “vì lợi ích mười năm trồng cây, vì lợi ích trăm năm
trồng người” và “muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội trước hết cần có những con người xã hội chủ
nghĩa” - đã trở thành tư tưởng quán xuyến cho toàn bộ sự nghiệp cách mạng của Đảng ta, mọi
chủ trương, chính sách, đường lối của Đảng đều quán triệt việc chăm sóc, bồi dưỡng và phát huy
nhân tố con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh là một người có tầm nhìn vĩ đại, những lời dạy của
Người giúp chúng ta nhận thức được nhiều điều to lớn.
Việt Nam đang thực hiện quá trình CNH-HĐH đất nước để hòa nhập vào trào lưu tiến bộ
của thế giới. Mục tiêu đó chỉ có thể đạt được trên cơ sở đào tạo được nguồn nhân lực chất lượng
cao, kết hợp hài hòa giữa tài lực và vận lực của đất nước. Bản thân là một sinh viên trong tương
lai gần sẽ trở thành một trong những con người có trách nhiệm xây dựng đất nước, chúng em tự
cảm thấy mình phải phấn đấu nỗ lực hơn để trở thành những nguồn lực có chất lượng cao để
đóng góp sức mình vào sự phát triển của đất nước.

Chính vì những lẽ trên, việc phát huy và sử dụng nguồn nhân lực trong sự nghiệp CNHHĐH ở nước ta hiện nay là một điều hết sức cần thiết và cần có những sự quan tâm đúng mực.


A- CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA QUAN ĐIỂM: “LẤY PHÁT HUY NGUỒN
LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN
NHANH VÀ BỀN VỮNG CHO ĐẤT NƯỚC”

I. CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lê nin về vai trò của nhân tố con người
trong tiến trình phát triển xã hội
Trong lịch sử, con người là sản phẩm của xã hội, nhưng mặt khác là chủ thể thúc
đẩy xã hội phát triển. Trong tiến trình của các cuộc cải biến xã hội theo con đường
cách mạng, con người luôn luôn là mục tiêu, đồng thời là động lực của tiến trình
đó.
Với sự ra đời của triết học Mác, vấn đề con người đã được nhìn nhận, đánh
giá và lý giải một cách sâu sắc, khoa học và toàn diện. Đặc biệt, triết học Mác đã
có những phân tích hết sức đúng đắn và khoa học về vị trí, vai trò của con người
đối với sự phát triển xã hội. Vai trò quan trọng không thể thay thế của con người
trong tiến trình phát triển lịch sử thể hiện tập trung trên một số điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, nhờ hoạt động lao động, con người không chỉ tạo nên bước
chuyển quan trọng của mình, “tách” khỏi thế giới động vật để trở thành con người
theo đúng nghĩa của từ này, mà còn "tự nhân đôi mình lên một cách tích cực, một
cách hiện thực” như C.Mác đã khẳng định. V.I. Lênin cũng chỉ rõ rằng, con người
là nhân tố quyết định, làm biến đổi thế giới bằng chính những hành động thực tiễn
của mình. Trên cơ sở thực tiễn, nhận thức của con người về hiện thực khách quan
ngày càng đầy đủ hơn, sâu sắc hơn, tiếp cận gần hơn bản chất của khách thể. Quá
trình vươn lên không ngừng trong nhận thức, phản ánh thế giới khách quan cũng
chính là quá trình con người tích cực hoá năng lực tư duy của mình thông qua sự
trừu tượng hoá, khái quát hoá, suy lý lôgíc để nắm bắt những quy luật vận động,
phát triển của thế giới. Trên cơ sở đó, con người vận dụng những hiểu biết, tri thức
về thế giới vào hoạt động thực tiễn nhằm cải biến thế giới, phục vụ lợi ích của
mình. Nhờ con người mà tự nhiên hoang sơ đã trở thành tự nhiên nhân tạo, thành
thế giới tự nhiên mang tính người với những đặc tính hoàn toàn mới; đến lượt nó,
giới tự nhiên đã hoà nhập vào đời sống xã hội của con người như một thành tố
không thể thiếu. Đồng thời, trong quá trình tác động vào giới tự nhiên, con người
có thể hoàn thiện mọi tố chất: thể chất, trí tuệ, tình cảm, tâm lý của mình để ngày
càng thể hiện đầy đủ tư cách một thực thể thống nhất giữa cái tự nhiên - sinh học
với cái xã hội - văn hoá.



Thứ hai, do có năng lực nhận thức và cải tạo thế giới, con người đóng vai
trò là chủ thể hoạt động sáng tạo lịch sử, làm cho lịch sử vận động theo hướng tiến
bộ. Lịch sử nhân loại chính là lịch sử hoạt động của con người. Con là chủ thể của
các quan hệ kinh tế - xã hội và mọi giá trị tinh thần của xã hội. Theo quan niệm
duy vật về lịch sử, sự phát triển của xã hội loài người từ trước đến nay (và tiếp tục
sau này), suy cho cùng, được quyết định bởi sự phát triển của lực lượng sản xuất.
Trong cấu trúc của lực lượng sản xuất, con người không chỉ là một bộ phận cấu
thành cơ bản mà hơn thế, còn đóng vai trò đặc biệt quan trọng - kết nối các yếu tố
khác với nhau để chúng phát huy tác dụng. V.I.Lênin hoàn toàn đúng khi ông coi
"lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn thể nhân loại là công nhân, là người lao
động". Thực tế cho thấy, lao động của con người không chỉ cải biến tự nhiên, mà
còn cải biến chính bản thân con người và các quan hệ giữa con người với con
người. Ph.Ăngghen đã khẳng định: “Lao động là điều kiện cơ bản đầu tiên của
toàn bộ đời sống loài người”. Như vậy, con người và xã hội loài người tồn tại, phát
triển được không phải là nhờ vào một sức mạnh thần bí, vô hình nào từ bên ngoài,
mà chính là do hoạt động sản xuất vật chất. Con người sử dụng sức lao động của
mình (cả cơ bắp lẫn trí tuệ) kết hợp với các công cụ, phương tiện sản xuất khác để
tác động vào tự nhiên, cải biến tự nhiên nhằm thoả mãn các nhu cầu của bản thân
và xã hội. Lực lượng sản xuất phát triển đòi hỏi phải thay đổi quan hệ sản xuất lỗi
thời và lúc đó, chính con người - với tư cách chủ thể các quan hệ sản xuất - bằng
hoạt động thực tiễn cách mạng của mình tạo lập nên quan hệ sản xuất mới, phù
hợp với trình độ của lực lượng sản xuất; theo đó, tạo nên bước phát triển mới của
phương thức sản xuất và của xã hội. Trong các cuộc cách mạng xã hội, con người
luôn đứng ở vị trí trung tâm, là lực lượng tiến hành cuộc đấu tranh đưa xã hội sang
một giai đoạn phát triển mới, tiến bộ hơn. Đó chính là vai trò tích cực của nhân tố
con người trong phát triển lịch sử thông qua quá trình thay thế hợp quy luật hình
thái kinh tế - xã hội này bằng hình thái kinh tế - xã hội khác cao hơn. Nói cách
khác, thông qua quá trình đó, con người đã sáng tạo, "viết nên" lịch sử của mình.
Theo Mác, phát triển sản xuất vì sự nghiệp phồn vinh của xã hội, vì cuộc sống tốt
đẹp hơn cho mỗi thành viên trong cộng đồng xã hội và phát triển con người toàn
diện là quá trình thống nhất để làm tăng thêm nền sản xuất xã hội, để sản xuất ra
những con người toàn diện. Và hơn nữa, Mác coi sự kết hợp chặt chẽ giữa phát
triển sản xuất và phát triển con người là một trong những biện pháp mạnh để cải
biến xã hội.
Thứ ba, trong quan hệ so sánh với các nguồn lực khác của sự phát triển xã
hội, con người đóng vai trò nguồn lực trọng yếu nhất; hơn thế, còn là nguồn lực vô
tận, có thể khai thác không bao giờ cạn. Như chúng ta đã biết, sự phát triển xã hội
luôn cần đến một hệ thống các nguồn lực khác nhau, như tài nguyên thiên nhiên,
vốn, lao động,... Trong đó, con người thể hiện như một nguồn tài nguyên quý giá


nhất. Các nguồn lực vật chất ngoài con người đương nhiên là cần thiết cho sự phát
triển, song chúng là những nguồn lực hữu hạn, nghĩa là có thể bị cạn kiệt và một
số trong đó là không thể tái tạo được; hơn nữa, chúng cũng chỉ thực sự phát huy
giá trị khi được kết hợp với nguồn lực con người. Trong khi đó, nguồn lực con
người có những tiềm năng nổi trội hơn hẳn. Đặc biệt, trong điều kiện cách mạng
khoa học và công nghệ phát triển mạnh như ngày nay, trí tuệ được coi là nguồn tài
nguyên vô hạn; đồng thời, lao động trí tuệ của con người có ảnh hưởng quyết định
đối với năng suất, chất lượng lao động và do vậy, con người trở thành nguồn lực
nội sinh quan trọng nhất đối với sự phát triển bền vững
Như vậy, có thể thấy nhân tố con người đóng vai trò cực kỳ to lớn trong lịch
sử phát triển của nhân loại. Một mặt, trong toàn bộ các nhân tố hợp thành cơ thể xã
hội, con người luôn đứng ở vị trí trung tâm; mặt khác, trong hệ thống động lực
thúc đẩy lịch sử xã hội phát triển, con người là động lực cơ bản, quan trọng nhất
và đóng vai trò quyết định.
2. Quan điểm của Chủ Tịch Hồ Chí Minh về vai trò của con người trong tiến
trình phát triển đất nước
Trong đường lối lãnh đạo, Đảng Cộng sản việt Nam xác định: “Con người là trung tâm của chiến
lược phát triển, đồng thời là chủ thể phát triển”. Con người là vốn quý của xã hội nên con người
giữ vai trò vừa là chủ thể, vừa là sản phẩm của tiến trình cải biến tự nhiên và xã hội. Điều đó
khẳng định, con người chính là mục tiêu phát triển cao nhất của mọi quá trình phát triển tự nhiên,
xã hội, đồng thời cũng là động lực của quá trình phát triển đó. Vì vậy, con người đã trở thành
nhân tố then chốt và là nhân tố quyết định của sự phát triển lịch sử. Bởi vì, chỉ có con người mới
có trí tuệ và năng lực sáng tạo vô hạn theo chiều hướng tiến bộ.
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, khái niệm con người luôn luôn được nhắc đến như một mục tiêu
thiêng liêng và cao cả của sự nghiệp cách mạng mà cả cuộc đời Người hằng theo đuổi. Tư tưởng
về con người, về việc giải phóng và phát triển con người, coi con người là nhân tố quyết định
thành công của cách mạng luôn quán xuyến trong tư duy, đường lối và phương pháp lãnh đạo
cách mạng của Hồ chí Minh. Người đã bộc bạch ham muốn tột độ của Người là: “Đất nước được
hoàn toàn độc lập, tự do. Đồng bào ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Trong tư
tưởng, Hồ Chí Minh quan niệm: Đất nước được độc lập, tự do phải gắn liền với ấm no và hạnh
phúc cho con người ở những hưởng thụ cụ thể: ăn, mặc, ở, học tập, việc làm… Người nói: “Chủ
nghĩa xã hội là mọi người được ăn no, mặc ấm, sung sướng, tự do”, là “Được ấm no, hạnh phúc
và học hành tiến bộ”. Mục đích của “Chủ nghĩa xã hội là làm sao cho dân giàu, nước mạnh”, là
“Không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, trước hết là nhân dân lao
động”.


Và cũng nằm trong tư tưởng Hồ Chí Minh là con người Việt Nam phát triển toàn diện đáp ứng
được những yêu cầu và đòi hỏi của chủ nghĩa xã hội với đặc trưng cơ bản là phải vừa “hồng”,
vừa “chuyên”. Hồng là phẩm chất, là đạo đức của người cách mạng: yêu nước, trung với nước,
hiếu với dân; yêu thương con người, sống có nghĩa, có tình; cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô
tư; chống chủ nghĩa cá nhân và có tinh thần quốc tế trong sáng. Chuyên là sự thể hiện trí tuệ, là
tài năng, là năng lực của cá nhân con người gắn liền với sự khổ công học tập, rèn luyện để có tri
thức, nâng cao tri thức và dùng chính những tri thức mình có được để phục vụ lợi ích cho sự phát
triển của cộng đồng, của chủ nghĩa xã hội. Hồng và chuyên, hay cách gọi khác là đức và tài trong
mỗi con người đều rất cần thiết. Do đó, Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh, đề cao và nêu bật vai trò
của giáo dục đào tạo trong tiến trình xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa và coi đó là một
chiến lược lâu dài. “Vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người”.
Tóm lại: Công nghiệp hóa, hiện đại hóa là một quá trình tất yếu mang tính quy luật phổ biến để
xây dựng đất nước giàu mạnh. Quá trình này đòi hỏi bước chuyển về chất của xã hội nhất là ở
nước ta chuyển từ nền văn minh nông nghiệp sang văn minh công nghiệp đòi hỏi phải có sự nỗ
lực về trí tuệ, kỹ năng, bản lĩnh của cả dân tộc. Vì vậy, vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về con
người xã hội chủ nghĩa vào chiến lược nâng cao chất lượng nhân lực.

II. CƠ SỞ THỰC TIỄN:
1. Thực tiễn Việt Nam, quá trình xây dựng và bảo vệ đất nước.

- Một số chính sách của Đảng, Nhà Nước:
+ Đảng ta luôn khẳng định mục tiêu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành
nước công nghiệp theo hướng hiện đại
+ Quyết định phê duyệt đề án dạy nghề cho lao động nông thôn 2009-2020
+ Chiến lược công tác dạy nghề giai đoạn 2011-2020
- Nguồn lao động:
+ Việt Nam hiện đứng thứ 14 trong các nước đông dân nhất thế giới. Theo kết
quả điều tra (Tổng cục Dân số) năm 2011, Việt Nam có gần 87.611 nghìn
người. Điều này phản ánh nguồn nhân lực Việt Nam đang phát triển dồi dào.
Trong đó, số người trong độ tuổi lao động tăng nhanh và chiếm một tỷ lệ cao,
khoảng 79% dân số cả nước. Rõ ràng Việt Nam đang có một “cơ hội vàng”
khi sở hữu một lực lượng lao động trẻ dồi dào trong giai đoạn tăng trưởng
kinh tế 2010 – 2020. Trong đó, nguồn nhân lực nông dân chiếm số lượng đông
nhất (71%) nhưng chất lượng vẫn còn yếu kém, do còn thiếu áp dụng các khoa
học kỹ thuật vào trong sản xuất. Nguồn nhân lực công nhân là gần 11% dân
số. Nguồn nhân lực trí thức tốt nghiệp từ đại học, cao đẳng trở lên chiếm
khoảng 3% dân số. Theo số liệu thống kê năm 2010, trong số 20,1 triệu lao
động đã qua đào tạo trên tổng số 48,4 triệu lao động đang làm việc, thì chỉ có
8,4 triệu người có bằng cấp, chứng chỉ do các cơ sở đào tạo trong và


ngoài nước. Số người từ 15 tuổi trở lên được đào tạo nghề và chuyên môn kỹ
thuật rât thấp, chiếm khoảng 40%.
+ Cơ cấu đào tạo bất hợp lý được thể hiện qua các tỷ lệ: đại học và trên đại học
là 1, trung học chuyên nghiệp là 1,3 và công nhân kỹ thuật là 0,92; trong khi
trên thế giới tỷ lệ này là 1 -4-10. Theo đánh giá của ngân hàng Thế giới (WB),
Việt Nam đang rất thiếu lao động có trình độ tay nghề, công nhân kỹ thuật bậc
cao và chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam cũng thấp hơn nhiều so với nước
khác. Nếu thang điểm là 10 thì chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79
điểm, xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB; Hàn Quốc đạt
6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59. Chất lượng đào tạo của các trường đại
học còn nhiều hạn chế, đầu ra thiếu chuyên môn, thiếu kĩ năng cần thiết, phần
lớn sinh viên ra trường chưa định hướng được nghề nghiệp, kiến thức chuyên
môn chưa vững, hầu hết không đạt yêu cầu của các doanh nghiệp. Phân bố
cũng chưa cân đối.
Tóm lại: Có thể thấy nguồn nhân lực Việt Nam như sau

- Nguồn nhân lực khá dồi dào nhưng chưa được sự quan tâm đúng mức, chưa
-

được quy hoạch, khai thác, đào tạo hiệu quả.
Tỷ trọng lao động nông nghiệp còn cao, lao động thiếu việc làm và không có
việc làm còn nhiều.
Chất lượng nguồn nhân lực chưa cao dẫn đến tình trạng mâu thuẫn giữa
lượng và chất.
Cơ cấu phân bố lao động theo ngành nghê và vùng miền mất cân đối.

Sự kết hợp, bổ sung, đan xen giữa nguồn nhân lực từ nông dân, công nhân, trí thức, … còn
chưa tốt, thiếu sự cộng lực để cùng phối hợp thực hiện sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa đất nước
2. Thực tiễn thế giới:

Các quan niệm về công nghiệp hoá. Ngày nay, công nghiệp hoá, hiện đại hoá
mang tính tất yếu trong quá trình phát triển kinh tế của các quốc gia. Kinh nghiệm
lịch sử cho thấy Công nghiệp hoá - Hiện đại hoá là con đường để biến một nền
kinh tế nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế hiện đại, mà công nghiệp có vai
trò đặc biệt quan trọng. Với cách tiếp cận khác nhau thì quan niệm về Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá cũng có những điểm không hoàn toàn giống nhau và tất nhiên
sẽ dẫn đến những chính sách và giải pháp thực thi cũng khác nhau đối với từng
quốc gia, thậm chí đối với một nước trong những thời kỳ lịch sử khác nhau. Điều
đó được thể hiện khá rõ ở sự đa dạng trong việc lựa chọn mô hình Công nghiệp
hoá - Hiện đại hoá ở các nước trên thế giới. Nhưng tựu chung lại luôn thể hiện


quan điểm lấy phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững.

Nhật Bản: Nếu nhắc đến công cuộc công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước chúng ta không thể
không nhắc đến Nhật Bản. Một đất nước Châu Á với xuất phát điểm nghèo đói, lạc hâu, nguồn
tài nguyên nghèo nàn. Chỉ trong vòng 30 năm từ cuối thế kỉ 19 đến đàu tế kỉ 20, Nhật Bản đã có
1 bước phát triển ngoạn mục khiến cả thế giới phải thay đổi cách nhìn về đất nước nhỏ bé này:
-

-

-

Vai trò người lãnh đạo: Để cải cách thay đổi 1 đất nước là điều vô cùng khó khăn đòi
hỏi những con người thật sự trí tuệ và can đảm. Nhật Bản qua các thời kì quan trong
đều có những con người lãnh đạo rất mẫu mực. Ta có thể kể đến như Minh Trị Thiên
Hoàng nổi tiếng với cuộc Duy tân Minh Trị. Ông biết sử dụng người tài, và luôn biết
lắng nghe cận thần cũng như dân chúng, ông sở hữu tấm lòng bao dung và chăm chỉ,
có rất nhiều ý tưởng. Không thể không kể đến những chính sách cải cách làm thay đổi
thần kì nước Nhật sau chiến tranh (1952-1973)
Tinh thần Samurai trong con người xã hội Nhật Bản: Nhật Bản nổi tiếng với nền văn
hóa của những võ sĩ dũng mãnh- những võ sĩ Samurai. Samurai đã trở thành biểu
tượng cho 1 giới võ sĩ đáng kính nể trong xã hội. Họ được to luyện trong tư tưởng
trầm lặng , an nhiên của Phật giáo. Họ phải co đủ 3 yếu tố: trung thành, can đảm và
danh dự. đẻ giữu gìn 3 yếu tố này họ phải có thêm lòng tín nghĩa và tự trọng. Tinh
thần Samurai đã ăn sâu vào tâm thức của xã hội, con người Nhật Bản. Nó hiện diện
trong mọi lĩnh vực và mọi thành phần xã hội như 1 tài nguyên vô giá. Rất nhiều ng
lanhc đạo của Nhật đã khia thác tài nguyên này tạo nên thành công cho công cuộc
CNH-HĐH ở Nhật.
Nền giáo dục: Trong công cuộc CNH-HĐH, ng lãnh đạo Nhật Bản rất khôn ngoan khi
xây dựng một nền giáo dục tuyệt đối. Hình người lãnh đạo đất nước đc suy tôn tối đa.
Tất cả ý chí, tinh thần, vật chất của quốc gia , của dân chúng đều dành cho sự phục
vụ, hi sinh của người lãnh đạo. Điều này ăn sâu trog tiềm thức ng dân Nhật. Làm cho
cuộc cải cách, đổi mới trở nên dễ dàng khi ng dân cả nước đồng lòng.

Tóm lại: Nhật Bản có chính sách cải cách hợp lí, kịp thời. Lãnh đạo đất nước sáng suốt
có hướng đi đúng đắn và mạnh dạn. Nhân dân trong nước đồng lòng, cần cù, chịu
khó, kỉ cương cao, chất lượng cao. Nền giáo dục tiên tiến và biết đi theo kịp thế
giới.

Singapore:
Singapore có diện tích chỉ 660 km2, rộng hơn thành phố Hà Nội của Việt Nam một chút.
Đi xe máy một lèo hơn 30 phút là đi xuyên hết cả đất nước. Dân số chỉ gần 5 triệu người,
xấp xỉ dân số Sài Gòn. Tài nguyên thiên nhiên hoàn toàn không có gì cả. Chỉ có con
người, và một ít đất để ở. Năm 1960, GDP của Singapore chỉ là 0,7 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập
bình quân đầu người chỉ là 427 đô-la Mỹ/ năm. Thế mà năm 2005, GDP của Singapore đã


là hơn 116 tỷ đô-la Mỹ, thu nhập bình quân đầu người là 26,892 đô-la Mỹ/năm. Nước
Singapore hiện nay là nước có thu nhập bình quân đầu người lớn thứ 2 ở châu Á, sau
Nhật Bản và nằm trong hàng các nước tiên tiến, văn minh, giàu có nhất trên thế giới.
Kinh nghiệm đầu tiên và quan trọng nhất có thể thấy được là đảng PAP của ông Lý
Quang Diệu tập hợp được rất nhiều người tài, người có học vấn cao. Là người lãnh đạo,
thì cần phải có nhiều người tài. Không có tài, thì không thể lãnh đạo được. Đó là ý kiến
của ông Lý Quang Diệu. Bản thân ông Tổng bí thư Lý Quang Diệu đã tốt nghiệp ngành
luật ở trường đại học danh tiếng Cambridge của Anh năm 1949, khi ông 26 tuổi. Quan
điểm của ông Tổng bí thư đảng kiêm Thủ tướng Lý Quang Diệu về trọng dụng, thu hút
nhân tài đã được đảng PAP thực hiện triệt để, rất có hiệu quả. “Lãnh đạo xấu sẽ đuổi
người tốt,người giỏi, không cho họ được giữ những chức vụ quan trọng”. Đất nước
Singapore không những tìm tòi và sử dụng người tài trong công dân Singapore, mà còn
thu hút nhân tài từ nước khác đến. Người tài đến Singapore làm việc, được định cư lâu
dài, và được gia nhập quốc tịch Singapore dễ dàng.

B. VÌ SAO PHẢI LẤY NGUỒN LỰC CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT
TRIỂN NHANH VÀ BỀN VỮNG CỦA ĐẤT NƯỚC:
Nguồn lực con người là gì?:
Nguồn lực con người là tổng thể những yếu tố thuộc về thể chất, tinh thần, đạo
đức, phẩm chất, trình độ tri thức, vị thế xã hội,… tạo nên năng lực của con người,
của cộng đồng người, có thể sử dụng và phát huy trong quá trình xây dựng và
phát triển đất nước.
Nguồn lực con người luôn luôn đóng vai trò quyết định đối với mọi hoạt động kinh tế
trong các nguồn lực để phát triển kinh tế :
-

Nhà kinh tế người Anh, William Petty cho rằng lao động là cha, đất đai là mẹ của
mọi của cải vật chất.
C.Mác cho rằng con người là yếu tố số một của LSX.
Trong truyền thống VN xác định ''Hiền tài là nguyên khí của quốc gia".

Chủ nghĩa Xã hội có được xây dựng thành công hay không còn tuỳ thuộc vào việc chúng
ta có phát huy tốt nguồn lực con người hay không? Khi Việt Nam bước vào sự nghiệp
xây dựng chủ nghĩa xã hội, Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã
hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa"
Để làm rõ hơn quan điểm trên của Hồ Chí Minh, cần nghiên cứu vai trò nguồn lực con
người trong một số lĩnh vực cơ bản của đời sống xã hội.


Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực kinh tế.

- Bền vững về kinh tế thể hiện ở sự tăng trưởng kinh tế nhanh và ổn định.
Để có tăng trưởng kinh tế phải có các nhân tố tất yếu: nhan tố tự nhiên, nhân tố
con người, các yếu tố vật chất do con người tạo ra (công nghệ, vốn).
Nguồn lực con người xem xét chủ yếu dưới góc độ là lực lượng lao động cơ
bản của xã hội, cả trong hiện tại và trong tương lai. Vai trò của người lao động
được Lênin nhấn mạnh là lực lượng sản xuất hàng đầu của nhân loại. Con người là
một đầu vào trực tiếp của quá trình sản xuất. Con người là chủ thể khai thác, sử
dụng các nguồn lực khác, chỉ khi kết hợp con người, các nguồn lực khác mới phát
huy tác dụng. Mặc khác con người là khách thể, là đối tượng khai thác các năng
lực thể chất và trí tuệ cho sự phát triển. => Con người vừa là chủ thể vừa là khách
thể của các quá trình kinh tế xã hội, là nguồn lực của mọi nguồn lực.
Đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại hiệu quả kinh tế cao,
tiết kiệm được việc khai thác sử dụng các nguồn lực khác. Kinh nghiệm từ nhiều
quốc gia trên thế giới cho thấy đầu tư cho phát triển nguồn lực con người mang lại
tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định hơn.
Kinh tế tăng trưởng mang lại sự giàu có về vật chất . => Không ngoài mục
đích đáo ứng tốt hơn các nhu cầu sống của bản thân con người.=> Con người
không chỉ là tác động mà còn là mục tiêu cuối cùng của phát triển kinh tế.
Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực chính trị.
Từ khi giai cấp công nhân và đảng của nó lãnh đạo toàn xã hội thì con người đã được giải
phóng khỏi áp bức dân tộc, áp bức giai cấp, trở thành người làm chủ đất nước, nhân dân
tự tổ chức thành nhà nước dưới sự lãnh đạo của giai cấp công nhân. Quán triệt quan điểm
của chủ nghĩa Mác - Lênin về xây dựng nhà nước chuyên chính vô sản, Hồ Chí Minh
nhiều lần lưu ý rằng, nước ta phải đi đến dân chủ thực sự, "Chúng ta phải ra sức thực hiện
những cải cách xã hội, để nâng cao đời sống của nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự”.
Xét nguồn lực con người trên phương diện chính trị, khi mà người dân có tri thức, có
năng lực, thấy được trách nhiệm của mình trong việc lựa chọn những người có đức có tài
vào các cơ quan nhà nước sẽ góp phần xây dựng nhà nước vững mạnh.
Cán bộ nhà nước có hiểu biết lý luận, hiểu biết thực tiễn, thấy được trách nhiệm của mình
đối với nhân dân, sẽ hết lòng phụng sự nhân dân và thực sự tôn trọng quyền làm chủ của
nhân dân sẽ được dân mến, dân tin, dân ủng hộ.


Cán bộ tích cực tuyên truyền đường lối của Đảng, phổ biến luật pháp của nhà nước đến
nhân dân, làm cho dân hiểu dân tin; người dân chủ động tích cực thực hiện đường lối đó,
có ý thức tôn trọng luật pháp, thực hiện những nghĩa vụ công dân, hiểu rõ quyền lợi của
mình, kiên quyết đấu tranh với những hiện tượng tiêu cực trong xã hội sẽ làm tăng sức
mạnh của nhà nước xã hội chủ nghĩa.
Có thể khẳng định, nguồn lực con người là yếu tố quan trọng trong việc xây dựng nhà
nước xã hội chủ nghĩa, nhà nước của dân, do dân, vì dân; trong quá trình đấu tranh bảo vệ
những thành quả cách mạng, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa; đấu tranh làm thất bại mọi
âm mưu phá hoại của kẻ thù.
Vai trò nguồn lực con người trong lĩnh vực xã hội.

Bền vững về mặt xã hội là phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, xóa
đói giảm nghèo, lấy chỉ số phát triển con người làm mục tiêu cao nhất của sự phát
triển xã hội.
Ở đây, vị trí trung tâm của con người nổi lên với tư cách là mục tiêu cao
nhất của sự phát triển xã hội. Mục tiêu của phát triển bền vững chủ yếu không phải
là tạo ra nhiều hàng hóa, của cải mà là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống con
người, không phân biệt tầng lớp, chủng tộc, giới tính, vùng miền.=> Vậy để phát
triển xã hội bền vững trước hết cần phát triển con người một cách bền vững .
Từ thực tiễn phát triển đất nước trong thời gian qua Đảng ta đã rút ra bài học
kinh nghiệm và cũng là tue tưởng chỉ đạo trong thời gian tới : Phát triển nhanh
phải đi đôi với nâng cao tính bền vững. Quan điểm của Đảng đã thể hiện sự quan
tâm đặc biệt tới con người trước hết và treeb hết phải nêu cao vai trò của con
người với tư cách là chủ thể tích cực của quá trình tác động cải tạo tự nhiên, biến
dổi tự nhiên, là phương tiện, là động lực cơ bản của tăng trưởng kinh tế đồng thời
là mục tiêu cao nhất của sự phát triển kinh tế- xã hội.

C. NHẬN THỨC CỦA BẢN THÂN
I. ĐÁNH GIÁ QUAN ĐIỂM LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC CON NHỮNG
LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH, BỀN VỮNG CỦA
ĐẤT NƯỚC.
Trước hết phải khẳng định đây là một quan điểm cực kì đúng đắn có thể áp
dụng cho bất kì quốc gia, dân tộc nào. Sự tồn tại bền vững và phát triển theo con


đường tiến bộ xã hội của một quốc gia dân tộc nào cũng phụ thuộc vào 5 yêu tố
nguồn lực chủ yếu: vốn, khoa học và công nghệ, con người, cơ cấu kinh tế và quản
lý nhà nước. Trong đó, nguồn lực con người được coi là yếu tố cơ bản và quyết
định nhất.
Phát triển nguồn nhân lực, đặc biệt là đội ngũ chuyên gia, cán bộ quản lý đáp ứng
yêu cầu phát triển ngày càng cao của thời kỳ hội nhập đang trở thành đòi hỏi bức
thiết của sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập quốc tế. Việt Nam có lợi thế về dân số
đông, đang trong thời kỳ “dân số vàng” nên lực lượng lao động khá dồi dào. Đây là
nguồn lực vô cùng quan trọng để đất nước ta thực hiện thành công Chiến lược phát
triển kinh tế- xã hội giai đoạn 2011-2020 . Tuy nhiên, thực tế chất lượng nguồn
nhân lực vẫn còn nhiều bất cập, cần được cải thiện.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được
thông qua tại Đại hội VII, khẳng định: “phát huy nhân tố con người trên cơ sở bảo
đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp tốt tăng
trưởng kinh tế với tiến bộ xã hội; giữa đời sống vật chất và đời sống tinh thần; giữa
đáp ứng các nhu cầu trước mắt với chăm lo lợi ích lâu dài; giữa cá nhân với tập thể
và cộng đồng xã hội”(1).
Tại Đại hội VIII, vấn đề phát triển nguồn nhân lực càng được Đảng ta chú
trọng, coi đây là động lực chính tạo nên lực lượng sản xuất - nhân tố quyết định tốc
độ và sự phát triển bền vững của phương thức sản xuất mới ở nước ta trong điều
kiện hội nhập quốc tế. Đảng ta xác định: con người vừa là mục tiêu, vừa là động
lực của sự phát triển. Nguồn lực cơ bản, to lớn, quyết định này phải có hàm lượng
trí tuệ, phẩm chất ngày một cao mới có thể đáp ứng được sự nghiệp CNH, HĐH.
Đại hội VIII nêu rõ: “Nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của
con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc CNH,
HĐH”(2).
Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12-1996) về định hướng chiến lược phát
triển giáo dục, đào tạo trong thời kỳ CNH, HĐH và nhiệm vụ đến năm 2000 khẳng
định: “Lấy việc phát huy nguồn lực con người là yếu tố cơ bản cho sự phát triển
nhanh và bền vững”(3). Nghị quyết xác định: phát triển nguồn nhân lực phải là
trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội được thực hiện bằng nhiều biện
pháp, trong đó giáo dục và đào tạo là then chốt, là quốc sách hàng đầu; phát triển
giáo dục, đào tạo gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, tiến bộ khoa học công nghệ và củng cố quốc phòng, an ninh... Chú trọng phát triển nguồn lực con
người một cách toàn diện về cả trí tuệ, sức khỏe, đạo đức, thái độ… Những quan
điểm, chủ trương của Đảng đã được cụ thể hóa bằng các cơ chế, chính sách,


chương trình, dự án nhằm thực hiện các mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân
lực.
Đại hội IX (2001) của Đảng nêu rõ: “đáp ứng yêu cầu về con người và nguồn
nhân lực là nhân tố quyết định sự phát triển đất nước thời kỳ CNH, HĐH”, đồng
thời khẳng định phương hướng: “Tiếp tục đổi mới, tạo chuyển biến cơ bản, toàn
diện về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng
nguồn nhân lực với cơ cấu hợp lý; triển khai thực hiện chương trình phổ cập trung
học cơ sở; ứng dụng nhanh các công nghệ tiên tiến, hiện đại; từng bước phát triển
kinh tế tri thức”(4).
Đại hội X thể hiện rõ quyết tâm phấn đấu để giáo dục và đào tạo cùng với
khoa học và công nghệ thực sự là quốc sách hàng đầu; tập trung đổi mới toàn diện
giáo dục và đào tạo, chấn hưng giáo dục để phát triển nguồn nhân lực có chất
lượng cao(5)… với các giải pháp cụ thể: quản lý quá trình phát triển dân số và
nguồn nhân lực trong mối quan hệ với phát triển kinh tế - xã hội; đổi mới phương
thức đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; phát triển nguồn nhân lực gắn với tạo việc
làm, tạo việc làm tại chỗ thông qua phát triển sản xuất, tập trung vào các sản phẩm
có giá trị kinh tế cao, xuất khẩu...
Đại hội XI (2011) của Đảng đã xác định ba khâu đột phá chiến lược, trong
đó khẳng định: “Phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất
lượng cao”(6). Đại hội xác định: “gắn kết chặt chẽ giữa phát triển nguồn nhân lực
với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ”(7). Để thực hiện chiến lược này,
Đảng ta đưa ra nhiều giải pháp: “xây dựng và hoàn thiện giá trị, nhân cách con
người Việt Nam; đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục quốc dân theo hướng
chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới
cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu
then chốt”(8); “xây dựng và thực hiện chiến lược quốc gia về nâng cao sức khỏe,
tầm vóc con người Việt Nam”(9). Đảng ta nêu rõ 4 định hướng chiến lược về phát
triển nguồn nhân lực trong thời kỳ hội nhập: gắn phát triển nguồn nhân lực với việc
đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế - xã hội; gắn việc phát triển nguồn nhân lực với
quá trình dân chủ hóa, nhân văn hóa đời sống xã hội, khai thác có hiệu quả các giá
trị văn hóa truyền thống và hiện đại; nâng cao chất lượng sử dụng đội ngũ cán bộ
khoa học, công nghệ; có chiến lược phát triển con người trên cơ sở một hệ thống
chính sách đồng bộ hướng tới con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự
phát triển. Giải quyết tốt các vấn đề này sẽ tạo được yếu tố nội sinh của nguồn
nhân lực, cơ sở bền vững cho phát triển và hội nhập. Trong đó, một trong vấn đề
mấu chốt được Đảng nêu ra là: “Đổi mới chính sách đào tạo, sử dụng và đãi ngộ trí
thức, trọng dụng và tôn vinh nhân tài, kể cả người Việt Nam ở nước ngoài”(10).


Nghị quyết khẳng định: Việt Nam chỉ có thể đi tắt đón đầu sự phát triển trên thế
giới trong thời kỳ hội nhập bằng cách đầu tư vào yếu tố con người.
Mặc dù đã được đặc biệt quan tâm và đạt nhiều thành tựu to lớn nhưng trong bối
cảnh hội nhập quốc tế, việc đào tạo và phát triển nguồn nhân lực đặt ra cấp thiết.
Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới (WB), chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam
thấp hơn so với nhiều nước, đặc biệt là thiếu lao động có trình độ tay nghề, công
nhân kỹ thuật bậc cao. Chất lượng nhân lực của Việt Nam chỉ đạt 3,79/10 điểm
(xếp thứ 11/12 nước châu Á tham gia xếp hạng của WB) trong khi Hàn Quốc là
6,91; Ấn Độ là 5,76; Malaysia là 5,59; Thái Lan là 4,94... Cơ cấu phân bổ lao động
theo ngành nghề cũng mất cân đối. Các ngành kỹ thuật - công nghệ, nông - lâm ngư nghiệp ít và chiếm tỷ trọng thấp, trong khi đó các ngành khoa học xã hội như:
luật, kinh tế, ngoại ngữ... lại chiếm tỷ lệ khá cao. Nhiều ngành nghề, lĩnh vực có
tình trạng vừa thừa lại vừa thiếu nhân lực.
Như vậy, việc nâng cao trình độ nguồn nhân lực là một yêu cầu cấp thiết
trong xây dựng và phát triển đất nước. Chúng ta cần nhanh chóng đầu tư phát triển
nguồn nhân lực, tiến tới “nền kinh tế tri thức”; cập nhật, trọng dụng và phát huy tài
năng, giá trị của nguồn nhân lực cấp cao để theo kịp tốc độ chung toàn cầu. Thời
kỳ hội nhập sẽ mở ra nhiều cơ hội việc làm với những yêu cầu ngày càng cao đối
với người lao động, nhất là: kỹ năng giao tiếp, làm việc nhóm, ngoại ngữ, tin học
và tác phong công nghiệp… Hiện nay, chất lượng nguồn nhân lực nước ta còn
nhiều hạn chế, chưa được trang bị tốt về chuyên môn, nghiệp vụ, các kỹ năng mềm
và trình độ ngoại ngữ nên không đáp ứng được nhu cầu tuyển dụng. Bên cạnh đó,
thị trường lao động còn có sự chênh lệch giữa cung - cầu, giữa nhu cầu của nhà
tuyển dụng với người lao động, giữa những kiến thức được đào tạo trong nhà
trường với thực tiễn cuộc sống… Công tác dự báo và thông tin thị trường lao động
còn nhiều hạn chế. Để có thể phát huy được thế mạnh về nguồn nhân lực và tận
dụng được thời kỳ “dân số vàng” trong quá trình hội nhập quốc tế, nguồn nhân lực
Việt Nam cần phải được trang bị, rèn luyện chuyên môn nghề nghiệp, nâng cao
năng lực tư duy khoa học, lao động sáng tạo, phát huy sáng kiến, áp dụng công
nghệ mới không ngừng phát triển kỹ năng nghề nghiệp.

II.TRÁCH NHIỆM CỦA THANH NIÊN “LẤY PHÁT HUY NGUỒN LỰC
CON NGƯỜI LÀM YẾU TỐ CƠ BẢN CHO SỰ PHÁT TRIỂN NHANH
CHO ĐẤT NƯỚC”.


Trách nhiệm bản thân trong quá trình đưa quan điểm vào thực tiễn
“Muốn thức tỉnh một dân tộc trước hết phải thức tỉnh thanh niên”.
Đó là lời dạy ý nghĩa của Bác Hồ vĩ đại dành tặng cho mỗi thế hệ thanh niên học sinh
sinh viên và câu nói đó vẫn có giá trị sâu sắc trong xã hội ngày nay khi mà Việt Nam
đang ngày càng đi lên, phát triển và tiến tới đổi mới, thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước.Và nhất là với quan điểm đúng đắn “ Lấy phát huy nguồn lực con người
làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững cho đất nước” thì vai trò trách
nhiệm đó càng quan trọng và cao cả hơn nữa vì thanh niên là nền tảng , là lực lượng nòng
cốt xây dựng và phát triển đất nước.
Là con em dân tộc Việt Nam anh hùng, có ai là không muốn đất nước mình trở nên giàu
mạnh, văn minh? Để trả lời cho câu hỏi “ Bạn làm gì để Việt Nam lớn mạnh hơn?”, tôi
nghĩ đó lại là cả một chặng đường dài, không chỉ là nhiệm vụ, trách nhiệm của riêng cá
nhân ai, mà là của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta, của tất cả các cấp Chính quyền từ
Trung ương đến địa phương, các Ban, Ngành, Đoàn thể, các tầng lớp xã hội, trong đó
trọng trách lớn nhất thuộc về Đảng và Nhà nước. Như vậy, cùng với những nỗ lực, đóng
góp của mỗi cá nhân, thì còn phải trông đợi và hi vọng rất nhiều từ nỗ lực của các yếu tố
khác nữa.
Nhận thức được vai trò của nguộc lực con người trong quá trình phát triển xã hội đất
nước, muốn phát triển đất nước, thì việc đầu tiên mình làm đó là thay đổi chính bản thân
mình theo chiều hướng tích cực đi lên. Mỗi một công dân Việt Nam, nếu như ai ai cũng
ra sức thi đua yêu nước, tích cực học tập, phấn đấu và rèn luyện cả về nhân cách, đạo
đức, thể lực và trí lực, phát huy các thế mạnh của mỗi cá nhân thì khi ấy đất nước ta ngày
càng trở nên lớn mạnh. Mỗi công dân Việt Nam, không phân biệt đẳng cấp, tôn giáo, địa
vị, dân tộc, giới tính, nghề nghiệp, cần phải tự ý thức gìn giữ và phát huy những truyền
thống quý báu của dân tộc như đoàn kết, cần cù, sáng tạo để góp phần đưa đất nước ta
ngày một đi lên.
Việc đầu tiên tôi cần làm để thay đổi chính bản thân mình trước đó là cần có sức khoẻ.
Sức khỏe thể chất và sức khỏe tâm thần cường tráng mới đáp ứng được yêu cầu cầu thời
kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, thời kỳ kinh tế tri thức, thời kỳ hội nhập quốc tế. Trong
bài viết Sức khỏe và thể dục, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Giữ gìn dân chủ, xây dựng
nước nhà, gây đời sống mới, việc gì cũng cần có sức khỏe mới làm thành công. Mỗi một
người dân yếu ớt, tức là cả nước yếu ớt, mỗi một người dân mạnh khỏe tức là cả nước
mạnh khỏe” Như vậy, bất kỳ hoạt động nào của con người (hoạt động thể chất và hoạt
động tinh thần) đều cần một nền tảng sức khỏe tốt. Khi có sức khỏe, con người có thể
thực hiện được mọi điều mình mong muốn. Tiếp đến, Cần nghiêm túc nhìn nhận, đánh


giá năng lực bản thân của mình đến đâu, tôi có những ưu nhược điểm gì, cố gắng hiểu
mình, hiểu người, nhận thức đầy đủ về xã hội trước khi tôi lên kế hoạch và đi vào thực
hiện những kế hoạch, dự định ấy. Người đời thường nhắc đến câu nói nổi tiếng của Tôn
Tử: “Tri bỉ tri kỷ, bách chiến bất bại” (biết mình biết ta, trăm trận trăm thắng). Tôi đang
là sinh viên của một trường kinh tế, và điều quan trọng nhất đối với sinh viên đó là học
tập và nghiên cứu khoa học! Tôi thiết nghĩ, chỉ có sức mạnh tri thức mới là con đường
nhanh nhất và vinh quang nhất dẫn đến thành công!
Là sinh viên kinh tế nói chung và sinh viên chuyên ngành kinh tế đầu tư nói riêng tôi
luôn lĩnh hội kiến thức ở mọi lúc, mọi nơi, và bất cứ khi nào tôi có thể. Trên lớp, tập
trung nghe giảng, lĩnh hội kiến thức từ thầy cô. Tại nhà, tôi tích cực tìm tòi nghiên cứu tài
liệu học tập cũng như tiếp cận những kênh thông tin, sự kiện quan trọng mang tính thời
sự cả về kinh tế, chính trị, văn hóa, giáo dục,… để nắm bắt tình hình đất nước và thế giới
nâng cao hiểu biết về luật đầu tư cũng như luật kinh tế ở trong nước và ở nước ngoài, tìm
hiểu môi trường kinh doanh để có bước đầu tư đúng đắn. Tôi thường xuyên hỏi thăm, trò
chuyện cùng thầy cô, những người thành công đi trước bởi họ là những người cho tôi
nhiều kinh nghiệm cả về học tập lẫn đời sống. Trong thời đại mà đất nước đang ngày
càng hội nhập sâu rộng về mọi mặt, khoa học, công nghệ đang phát triển nhanh chóng và
không tưởng, tôi cần phải có nền tảng ngoại ngữ thật tốt, kiến thức tin học thật tốt để sau
này ra trường, đó sẽ là thứ vũ khí giúp tôi thực hiện những ước mơ đưa đất nước ta trở
nên lớn mạnh hơn.

Tôi nghĩ rằng, nếu bản thân mình tốt lên, điều đó không có nghĩa là đất nước sẽ lớn
mạnh lên thêm. Bởi vậy mà cùng với việc bản thân mình phải tự giác luôn không ngừng
rèn luyện, cố gắng, phấn đấu, tôi cần phải đóng vai trò là một sứ giả biết truyền cảm
hứng, kinh nghiệm, kiến thức, kỹ năng cho mọi người ở xung quanh tôi, theo sau tôi. Để
những kiến thức, kinh nghiệm ấy được lan tỏa sâu rộng, nối tiếp nhau phát triển, được
sáng tạo, được áp dụng rộng rãi vào trong đời sống. Trong khi nguồn lực đất nước ta còn
nhiều hạn chế, sự cạnh tranh từ các quốc gia trong thời kỳ hội nhập ngày càng gay gắt và
khốc liệt, nếu chúng ta không có tinh thần sẻ chia, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng tiến bộ,
thì sớm muộn gì nền kinh tế nước nhà cũng bị lệ thuộc vào các nước lớn.
Để có thể dễ dàng trao đổi, sẻ chia những kiến thức, kinh nghiệm ấy, tôi tích cực
tham gia các hoạt động Đoàn thể, xã hội Như: tự giác tham gia vào các hoạt động của
Hội sinh viên trường đại hoc KTQD, phấn đấu trở thành Đảng viên và rộng ra là hội viên
của các tổ chức quần chúng nhân dân ở xã, phường nơi cư trú, từ đó, tổ chúc các hoạt


động tình nguyện ở địa phương khác, tổ chức tuyên truyền qua đó củng cố niềm tin, long
yêu nước cho các bạn sinh viên trong trường nói riêng và xã hội nói chung, nhằm gắn kết
mọi người và chia sẻ những kiến thức, kỹ năng mà tôi học được.
Nếu kiến thức, kinh nghiệm kia chỉ nằm trên sách vở, hoặc chỉ tồn tại trong tư duy của
một số ít người thì đất nước ta làm sao phát triển được đây? Tuổi trẻ là tương lai của xã
hội, vậy mà những nền văn hóa xấu đang ảnh hưởng tiêu cực đến lối sống, đạo đức của
một bộ phận không nhỏ giới trẻ, đe dọa nghiêm trọng đến tương lai của đất nước. Thời
gian là không chờ đợi, bởi vậy mà bản thân tôi cũng như các bạn trẻ khác, phải tích cực,
tự giác học tập, tích lũy kiến thức, kinh nghiệm, kỹ năng sống, đồng thời phải là những
sứ giả cộng đồng biết định hướng, truyền cảm hứng, tinh thần đoàn kết, yêu nước, noi
theo lý tưởng Bác Hồ vĩ đại, thực hiện ước mơ phát triển đất nước ngày càng thêm giàu
mạnh!



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×