Tải bản đầy đủ

Ngôn ngữ là gì? Phân biệt ngôn ngữ người và loài vật

CHƯƠNG 5: NGÔN NGỮ

Mục tiêu của bài:
□ Nắm được khái niệm ngôn ngữ
□ Hiểu và phân biệt được sự giống nhau và sự khác biệt giữa
khả năng ngôn ngữ của loài vật và khả năng ngôn ngữ của
con người
□ Nắm được sự phát triển của ngôn ngữ
□ Hiểu và phân tích được các lĩnh vực nghiên cứu nhân học
ngôn ngữ
□ Hiểu được ý nghĩa của ngôn ngữ phi âm thanh

5.1. Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một trong những phát minh lớn nhất của con người. Nền
văn hóa nhân loại khó có thể chuyển tải từ thế hệ trước sang thế hệ sau
nếu không có ngôn ngữ đóng vai trò như một phương tiện truyền dẫn các
niềm tin, ý tưởng, sáng tạo hay các phát hiện mới.
Nghiên cứu về ngôn ngữ đã xuất hiện từ lâu trong nhân học, một phần vì
các nhà nhân học trước kia thường tập trung nghiên cứu các tộc người
bản địa. Để thực hiện nghiên cứu điều dã, họ phải học ngôn ngữ địa
phương. Giờ đây, nghiên cứu ngôn ngữ đã trở thành một trong năm lĩnh

vực nghiên cứu chính của nhân học.

103


Ngôn ngữ là một hệ thống các biểu tượng với các ý nghĩa chuNn để các
thành viên của một xã hội liên lạc với nhau. Hay theo định nghĩa theo
quan điểm Marxist: Ngôn ngữ của con người là một thông liên lạc của
con người, nó bao gồm các âm thanh, từ vị, ngữ pháp được kết hợp lại
thành câu. Ngôn ngữ là một phần của văn hóa, ra đời do yêu cầu liên ljac
với nhau trong qúa trình lao động và cuộc sống.
Ngôn ngữ cho phép một người này liên lạc với một người khác. Giống
như văn hóa, ngôn ngữ tồn tại trước khi một cá nhân sinh ra và được các
thành viên của xã hội chia sẻ. Theo nghĩa này, như là một phần của văn
hóa, ngôn ngữ vượt qua cá nhân. Các thành viên của một xã hội học
ngôn ngữ thông qua qúa trình tiếp biến văn hóa. Nếu không có ngôn ngữ,
con người đã không thể có được tính nhân văn độc đáo của mình.
Khi các nhà ngôn ngữ nói đến ngôn ngữ, họ thường đề cập đến các ngôn
ngữ nói. Nhưng ngôn ngữ nói chỉ là một hình thức liên lạc. Liên lạc là
một hành động chuyển tải thông tin đến người khác. Như chúng ta sẽ
khám phá sau đây, nhiều loài động vật cũng có các kỹ năng liên lạc cơ
bản. Một trong các vấn đề nhà nhân học quan tâm là các hệ thống liên
lạc của động vật khác với hệ thống liên lạc của con người như thế nào.
Ngoài ngôn ngữ nói, con người còn liên lạc với nhau bằng cử chỉ và các
tín hiệu phi âm thanh.
5.2. Ngôn ngữ của loài vật và ngôn ngữ của con người
Trước khi thảo luận về các nghiên cứu nhân học về ngôn ngữ của con
người, chúng ta cần xem xét các hệ thống liên lạc của các loài động vật
và so sánh chúng với ngôn ngữ của con người. Các nhà tâm lý học và
các nhà khoa học thuộc các ngành học khác đã tiến hành nhiều nghiên
104


cứu về liên lạc của động vật. Ví dụ, các nghiên cứu về liên lạc của loài
ong. Nghiên cứu đầu tiên của Karl von Frisch (1967) chứng minh rằng
ong sử dụng ‘điệu nhảy waggle’ để chuyển tải các thông tin cho nhau về
khoảng cách, hướng, và mong muốn mà con nhảy đã đến đó, chẳng hạn
như một nguồn phấn rất tốt. Một số nhà khoa học đã cho rằng kiểu nhảy
này của ong không giống với các loài vật khác vì nó dựa trên một khả
năng biểu tượng và ong sử dụng các biểu tượng này để ám chỉ các thông


tin trìu tượng về hướng và khoảng cách cho nhau.
Trong một nghiên cứu khác gần đây về các phát hiện của Frisch, người
ta biết rằng mặc dù ong có phương tiện khám phá tinh tế, nó không có
khả năng biểu tượng. Ong nhận biết được các hình dáng và màu sắc của
một số loài hoa và ghi lại các thông tin này để dùng sau đó. Chúng cũng
điều chỉnh các thông tin này để tìm phấn và hoa ở các mục tiêu cụ thể.
Ong mật hướng tới mục tiêu của mình bởi nhận ra đầu mối của các điệu
nhảy waggle. Sau đó chúng ghi nhớ các đặc điểm của các mục tiêu này
và xử lý các thông tin đó để khám phá các mục tiêu mới. Cách ứng xử
này có thể giải thích bằng cách học theo tình huống và mang tính bản
năng chứ không phải biểu tượng.
Dạy tinh tinh học các tín hiệu: một trong các nghiên cứu thú vị và tranh
cãi nhất về liên lạc của động vật là các nghiên cứu về tinh tinh, một động
vật có hình thể gần giống với người. Năm 1966, nhà tâm lý học Allen và
Beatrice Gardner nhận một con tinh tinh và bắt đấu dạy nó học ‘Ngôn
ngữ Tín hiệu’ của Mỹ, một loại ngôn ngữ tín hiệu phi âm thanh dành cho
người điếc. Sau vài năm, con tinh tinh này có khả năng thực hiện thành
thạo các tín hiệu này và phát hiện này thách thức các giả thuyết trước đó
cho rằng chỉ có con người mới có khả năng sử dụng các tín hiệu.

105


Sau đó, một nghiên cứu khác được thực hiện với một số con tinh tinh
khác ở Yerkes Primate Research Centre. Sau khi dạy các con tinh tinh
thao tác các biểu tượng và theo dõi chúng sử dụng các biểu tượng này
với nhau, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng mặc dù khả năng nhận
biệt các tín hiệu của tinh tinh rất hạn chế, hạn chết hơn cả một đứa trẻ,
song đó cũng là những khả năng đáng kinh ngạc của loài vật.
Bên cạnh các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, các nhà nhân học cũng
nghiên cứu động vật trong các môi trường sống tự nhiên của nó và họ
phát hiện các loài vật có các hệ thống gọi nhau. Chẳng hạn, các loài như
chó sói, gà, khỉ, tinh tinh, có hệ thống gọi bầy riêng của nó. Ví dụ,
nghiên cứu loài đười ươi ở Trung Phi của George Schaller đã phát hiện
ra 20 âm thanh được chúng phát ra và các âm thành này gắn liền với các
tình trạng ăn uống, nghỉ ngơi, tình cảm, tình dục, chơi đùa, tức giận hay
thông báo về các mối nguy hiểm.
Nghiên cứu đáng chú ý nhất về tinh tinh do Jane Goodall. Sau khi theo
dõi những con tinh tinh trong môi trường sống tự nhiên trong một thời
gian dài ở Khu bảo tồn Gombe ở châu Phi từ những năm 1960, bà đã
phát hiện ra rằng tinh tinh sử dụng nhiều kiểu gọi khác nhau, như kiểu
‘gọi gần’ để gọi bầy cùng một nhóm, kiểu ‘gọi xa’ để thể hiện vị trí thứ
hạng trong nhóm và các kiểu gọi khác với các con tinh tinh không cùng
bầy. Kiểu gọi xa cũng là để gây sự chú ý của bầy khi tìm thấy các nguồn
thức ăn, hay kêu gọi sự giúp đỡ hay cảnh báo các mối nguy hiểm.

Ngôn ngữ của của động vật và ngôn ngữ của con người:
Cả nghiên cứu trong phòng thí nghiệm và trong môi trường sống tự
nhiên, như phân tích ở trên cho thấy nhiều loài động vật, nhất là các loại
106


có hình thể gần với con người, có khả năng liên lạc với nhau. Nhưng vấn
đề là cái gì làm cho liên lạc của con người khác với liên lạc của động
vật. Nhiều nhà triết học phương Tây cho rằng tiếng nói là sự khác biệt
lớn nhất giữa người và động vật. Tuy nhiên, nhiều nghiên cứu hiện nay
cho thấy vấn đề không còn là ở chỗ động vật có liên lạc được không mà
là cách liên lạc của động vật khác với cách liên lạc của con người như
thế nào? Để tìm câu trả lời, các nhà nhân học ngôn ngữ đã nhận dạng ra
nhiều đặc tính khác biệt trong đặc tính ngôn ngữ của con người, nhất là
bốn đặc tính sau: tính hiệu qủa, khả năng thay thế/hoán vị, tính võ đoán
và thống song cấp.
Tính linh hoạt và sáng tạo: ngôn ngữ của con người rất linh hoạt và sáng
tạo. Con người sử dụng ngôn ngữ, kể cả những đứa trẻ, có thể tạo ra các
câu mà chưa ai nói bao giờ. Không có giới hạn trong khả năng của con
người trong việc tạo ra các thông điệp nói về qúa khứ, hiện tại và tương
lai. Ngược lại, các hệ thống liên lạc của động vật trong các môi trường
sống tự nhiên là các hệ thống đóng. Các âm thanh của động vật không
thể đa dạng và điều chỉnh. Các con tinh tinh con sẽ không bao giờ sử
dụng được những âm thanh khác với cha mẹ chúng. Còn bản chất linh
hoạt của ngôn ngữ con người cho phép sử dụng hệ thống liên lạc biểu
tượng của mình một cách hiệu qủa và đầy sáng tạo.
Tính hoán vị hay khả năng dễ thay thế: Từ các nghiên cứu thực địa, và
cả các nghiên cứu thí nghiệm, các nhà nhân học thấy rằng ý nghĩa của
âm thâm của động vật gắn liền với một công thức cụ thể. Ví dụ, việc
phát ra âm thanh của tinh tinh gắn liền với một trạng thái tình cảm hay
công thức nào đó. Vì vậy, một tiếng gầm lên như một lời cảnh báo nguy
hiểm thường được bầy của nó hiểu là có đe dọa. Tương tự, con vẹt hay

107


con khướu có thể học tiếng người, nhưng nó không thể thay từ này bằng
từ khác để chỉ một hiện tượng tương tự.
Trong khi đó, con người có khả năng thay thế từ ngữ, âm điệu một cách
tuyệt vời. Khả năng thay thế này cho phép con người sử dụng các khái
niệm rất trìu tượng để liên lạc với nhau. Họ có thể nói về các tình trạng
khác nhau như tinh thần, giả thuyết, về các thì khác nhau như qúa khứ,
hiện tại và tương lai.
Tính võ đoán: Là âm thành của một hệ thống liên lạc, là một đặc điểm
khác biệt khác giữa ngôn ngữ của con người với liên lạc của động vật.
Hệ thống song cấp: Chúng ta đã nói đến việc nhiều loại động vật có các
âm thanh ám chỉ các ý nghĩa khác nhau trong các tình huống khác nhau.
Ngôn ngữ của con người cũng có các đơn vị âm thanh có thể giống với
các đơn vị âm thanh của động vật. Mỗi ngôn ngữ của con người có
khoảng từ 12 đến 60 đơn vị âm thanh khác nhau, gọi là âm vị. Âm vị là
một đơn vị âm thanh để phân biệt ý nghĩa trong một ngôn ngữ cụ thể.
Tiếng Anh có 45 âm vị, tiếng Ý có 27, tiếng Hawaii có 13. Động vật
không thể ghép các âm vị này để tại nên các ý nghĩa mới mà chỉ một âm
vị ám chỉ một phản ứng cụ thể. Ngược lại, con người có thể kết hợp
chúng lại để tạo ra muôn vàn ý nghĩa khác nhau. Ví dụ, với 13 âm vị,
ngôn ngữ Hawaii có 3.000 nhóm ý nghĩa khác nhau do kết hợp từ 3 âm
vị, có 5 triệu tự do kết hợp từ 6 âm vị.
5.3. Sự phát triển của ngôn ngữ
Câu hỏi rằng ngôn ngữ có nguồn gốc từ đâu và nó phát triển như thế nào
luôn kích thích hứng thú tìm tòi và nghiên cứu của nhiều nhà khoa học.
108


Một vấn đề khác là vì ngôn ngữ là một phần của văn hóa, vậy văn hóa có
trước hay ngôn ngữ có trước, và chúng ảnh đến nhau như thế nào?
Qua nhiều thế kỷ, các nhà triết học, ngôn ngữ học và các nhà nhân học
hình thể đã đưa ra nhiều giả thuyết để lý giải cho nguồn gốc của ngôn
ngữ. Một lý thuyết ban đầu, được gọi là ‘bow-wow’, cho rằng ngôn ngữ
của con người phát triển khi con người bắt trước các âm thanh của tự
nhiên như tiếng nước chảy, tiếng gió kêu, tiếng chó sủa, lợn kêu, v.v.,
trong cuộc sống tự nhiên. Trên cơ sở đó, ngôn ngữ của con người phát
triển. Một quan điểm khác của các nhà tử tưởng phương Tây thế kỷ 18
giả định rằng ngôn ngữ ra đời do con người thỏa thuận với nhau. Quan
điểm thứ ba của Cơ Đốc giáo cho rằng chúa tạo ra ngôn ngữ như đã tạo
ra con người.
Quan điểm thứ tư của các nhà khoa học Marxist: Với sự ra đời chủ
nghĩa duy vật biện chứng, họ cho rằng lao động là nhân tố đã biến vượn
thành người. Lao động và sự phát triển của não, của tư duy con người, đã
làm sản sinh ra ngôn ngữ. Tuy nhiên, ngay từ đầu, ngôn ngữ chưa phải
đã hoàn thiện và phức tạp như hôm nay, mà nó trải qua một qúa trình
phát triển lâu dài cùng với qúa trình lao động và sự hoàn thiện về hình
thể, tư duy của con người để phát triển như hiện nay. Như vậy, ngôn ngữ
là một phạm trù của lịch sử chứ không phải tự nhiên. Nghĩa là ngôn ngữ
ra đời và phát triển được như đến hôm nay là do một qúa trình chuyển
đổi lâu dài chứ không phải tự nhiên mà có. Như vậy, ngôn ngữ và tộc
người không đồng nhất với nhau. Một tộc người có thể có hơn một ngôn
ngữ, tức các thành viên của một tộc người có thể cùng một lúc nói được
nhiều ngôn ngữ khác nhau. Ngược lại, có thể có nhiều tộc người hay
chủng tộc dùng chung một ngôn ngữ như trường hợp tiếng Anh. Cũng vì
thế, ngôn ngữ ra đời là sản phNm của tập thể, của cộng đồng hay xã hội
109


chứ không phải là sản phNm của cá nhân một con người. Thường thì cá
nhân là người phải tuân thủ ngôn ngữ của cộng đồng mình vì đó là tiếng
nói của cộng đồng để giao tiếp với nhau - gọi là ngôn ngữ tộc người.
Ngôn ngữ cũng không dễ bị mất đi bởi tác động của một thể chế chính trị
hay ý muốn chủ quan của một cá nhân nào.
Thứ sáu là cách phân tích Biology of language. Tiến hóa của loài vượn
cổ đi kèm với sự gia tăng kích cỡ của não. Sự phát triển của não vượn
phản ánh sự gia tăng về kích cỡ của cerebral cortext. The cerbral cortext
có liên hệ tới tất cả các chức năng của não, như nhớ và các khả năng về
biểu tượng, văn hóa. Mặc dù khoa học còn chưa hiểu hết rất nhiều chức
năng của não người, bao gồm các chức năng ghi nhớ, học tập và các
chức năng khác, chúng ta biết là cerebral cortext hàm chứa hàng triệu tế
bào thần kinh cần thiết cho việc nhận, chứa và xử lý thông tin.
Não người và tiếng nói. Các trung tâm khác của não có những vai trò
quan trọng về khả năng ngôn ngữ. Não người được chia thành hai nữa,
gọi là hai bán cầu não phải và trái. Dù không có bên nào nổi trội và cả
hai bên đều có vai trò quan trọng trong tất cả các chức năng, hầu hết các
kỹ năng ngôn ngữ của con người có mối liên hệ mật thiết với với một
bán cầu não. Nhìn chung, bán cầu não trái kiểm soát các chức năng đặc
biệt về khả năng ngôn ngữ và bán cầu phải liên quan đến định hướng
không gian và tỷ phần. Một khu vực của não nằm ở bán cầu trái đặc biệt
ảnh hưởng đến khả năng ngôn ngữ của con người gọi là Broca’s area.
Khu vực này liên quan đến việc tạo âm, phát âm và các khả năng ngữ
pháp (xem hình dưới đây). Từ năm 1861, Paul Broca, một nhà phẫu
thuật học người Pháp, đã kết luận rằng một bệnh nhân bị tổn thương khu
vực này của não có thể bị ảnh hưởng đến việc phát âm và các khả năng
ngữ pháp.
110


Một khu vực khác liên quan đến các khả năng ngôn ngữ được gọi là
Wernicke’s area, cũng nằm ở bán cầu não trái. Khu vực này có liên hệ
tới việc hiểu ý nghĩa của ngôn từ và câu, hay ngữ nghĩa học của ngôn
ngữ, và nó có vị trí quan trọng đến việc đọc và nghe.
Giải phẫu con người và tiếng nói: Giải phẫu và các đặc điểm hình thể
cũng góp phần tạo nên các khả năng ngôn ngữ của con người. Không có
động vật nào ngoài con người có giải phẫu để duy trì việc sản xuất tiếng
nói. Các cơ quan âm thanh của con người tạo nên một đường ống không
đồng đều nối phổi, khí quản, thanh quản, hộp âm thanh có các sợi cơ.
Một cơ quan phát âm khác là pharynx, một phần của vocal tract giữa
phía dưới của lưỡi và thanh quản kéo dài lên khoang mũi. Các cơ quan
này hoạt động phối hợp với lưỡi, môi, và mũi, để tạo ra tiếng nói. Phổi
đNy không khí đi qua họng, làm thay đổi hình dạng để kiểm soát khối
lượng của không khí. Khoang mũi, môi và lưỡi có thể dừng hay chặn
dòng không khí tại bất kỳ một điểm nào, tạo cho chúng ta khả năng tạo
nên các nguyên âm và phụ âm.
Điểm khác biệt quan trọng về cấu trúc sanatomy của tinh tinh và của con
người hiện đại trong việc liên lạc bằng âm thanh là khả năng làm to
vocal tract và vị trí của khoang họng bên trên hộp âm thanh. Các loài
động vật như tinh tinh không thể nói: các cơ chế am thanh của chúng
không cho phép chúng có khả năng đó hay lưỡi của chúng không thể tạo
ra âm thanh có thể sử dụng để tạo nên tiếng nói.
Qúa trình phát triển của ngôn ngữ: Theo thời gian, ngôn ngữ biến đổi
dưới nhiều hình thức khác nhau. Một ngôn ngữ có thể được phát triển
rộng ra, mất đi, hoặc chia ra thành các nhóm ngôn ngữ nhỏ. Các nhóm
111


nhỏ này lại tiếp tục được phân chia ra thành các nhóm nhỏ hơn. Biến đổi
trong ngôn ngữ còn gồm có các biến đổi về từ vựng, ý nghĩa, âm thanh,
ngữ pháp.
Ngôn ngữ thường biến đổi, song không phải biến đổi giống như kiểu một
cuộc cách mạng. Ngôn ngữ biến đổi nhanh ở các xã hội hiện đại có trình
độ công nghệ cao. Sự biến đổi của ngôn ngữ do nhiều yếu tố và quy luật
xã hội tác động. Trong qúa trình biến đổi, ngôn ngữ dễ dàng vay mượn
hoặc hình thành các từ mới, khái niệm mới. Trong khi biến đổi, từ vựng
thường biến đổi nhanh hơn để theo kịp các biến đổi trong đời sống con
người. Nếu chúng ta xem trường hợp tiếng Việt thì thấy rõ các biến đổi
này. Trong những năm qua, với ảnh hưởng của toàn cầu hóa và hội nhập
quốc tế, nhiều thuật ngữ mới đã xuất hiện trong đời sống xã hội như
marketing, ok, v.v. Ngữ pháp và cách phát âm cũng biến đổi, song biến
đổi chậm hơn. Biến đổi trong ngôn ngữ phản ánh các điều chỉnh trong
cuộc sống hàng ngày của các thành viên trong xã hội. Các xã hội phức
tạp có ngôn ngữ nói với nhiều từ vựng hơn và nhiều từ vựng phức tạp
hơn các xã hội đơn giản hay nguyên thủy.
Ngôn ngữ liên quan đến việc sử dụng từ để giao tiếp, liên lạc với nhau.
Chữ viết chỉ liên quan đến các ký tự được sử dụng để diễn đạt các từ của
một ngôn ngữ dưới dạng có thể nhìn thấy được. Mặc dù ngôn ngữ có
tuổi cùng với văn hóa, chữ viết lại mới được phát triển gần đây mà thôi.
Con người có khả năng ghi chép lại các từ ngữ và âm thanh một cách có
hiệu qủa từ khoảng 6.000 năm cách ngày nay. Vậy chữ viết ra đời như
thế nào? Nhiều ý kiến cho rằng chữ viết trước tiên ra đời dưới dạng ký tự
tượng hình, chẳng hạn như hình con vật, cây, đồ vật, v.v. Sau đó mới
phát triển thành các loại chữ hiện đại hơn được cấu trúc theo các quy
định khác nhau, ví dụ như hệ thống alphabet trong tiếng Latin. Trong
112


lịch sử của một xã hội, có thể có nhiều kiểu chữ viết thay thế nhau qua
thời gian. Ví dụ như trường hợp Việt Nam: Chữ Việt cổ, Hán, Nôm,
Quốc ngữ.
Vì ngôn ngữ là một phần của văn hóa, mà ngôn ngữ lại thường xuyên
biến đổi, cho nên ta có ít nhất một bằng chứng để nói rằng văn hóa
không bao giờ đứng yên, mà nó biến đổi theo cuộc sống của con người
và theo ngôn ngữ. Dưới con mắt của nhà nhân học, không thể nghiên
cứu ngôn ngữ một cách tách biệt khỏi văn hóa. Quan điểm này nhấn
mạnh đến việc nghiên cứu ngôn ngữ trong một bối cảnh văn hóa, xã hội
cụ thể.
Thực tế, cuộc thảo luận về các ảnh hưởng của ngôn ngữ đối với văn hóa,
hay ngược lại, đã diễn ra nhiều thập kỷ. Nó cũng là chủ đề được sinh
viên ngành nhân học quan tâm. Sau khi nghiên cứu về ngôn ngữ của
người Hopi và các nền văn hóa khác, Benjamin L. Whorf phát triển một
ý tưởng cho rằng một ngôn ngữ buộc người nói ngôn ngữ đó nhận thức
về thế giới theo một các riêng. Whorf cộng tác với nhà nhân học ngôn
ngữ Eward Sapir nghiên cứu về ngôn ngữ và văn hóa. Cả hai đưa ra giả
thuyết, được gọi là giả thuyết Sapir-Whorf, cho rằng ngôn ngữ tạo nên
nhận thức của chúng ta về thực tiễn. Nhà triết học người Anh, Ludwig
Wittgenstein, đưa ra một khái niệm khác đi một chút rằng giới hạn về
ngôn ngữ quyết định giới hạn về thế giới của một cá nhân. Trong giai
đoạn đầu của giả thuyết này, người ta thường trích các từ vựng làm ví dụ
cho việc văn hóa tạo nên thực tiễn. Nhưng về sau, các nghiên cứu mới
cho thấy không phải tất cả các từ vựng đều hậu thuẫn cho giả thuyết này
vì ngôn ngữ không phải là yếu tố quyết định thế giới của một cá nhân.

113


Ngoài việc thừa nhận ngôn ngữ là một phương tiện liên lạc phức tạp và
linh hoạt, phản ánh nhận thức của con người về thực tiễn, chúng ta phải
công nhận ngôn ngữ có mối quan hệ tới lịch sử dân tộc, tộc người.
Các ngôn ngữ phát triển rất đa dạng, và được phân chia thành các ngữ hệ
(gia đình ngôn ngữ). Ngữ hệ là một nhóm các ngôn ngữ có cùng một
nguồn gốc. Ngữ hệ là một gia đình ngôn ngữ, phát sinh từ một ngôn ngữ
gốc, còn được gọi là ngôn ngữ mẹ hay ngôn ngữ cơ bản. Các ngôn ngữ
này có chung một hệ thống ký hiệu, quy tắc ngữ pháp. Chúng chỉ khác
nhau về từ vựng và cách phát âm. Để xác định được nguồn gốc của ngôn
ngữ, các nhà nghiên cứu căn cứ vào ngữ pháp, các từ vị cơ bản, âm vị,
thanh điệu.
Nguyên nhân hình thành các ngữ hệ được nhiều nhà nghiên cứu cho là
do chia tách bộ lạc hay thiên di. Nghĩa là khi bộ lạc chia tách làm hình
thành các nhóm khác nhau sống trên các địa bàn khác nhau vì thế hình
thành các ngôn ngữ khác nhau.
Hiện nay, trên thế giới có nhiều ngữ hệ khác nhau, có những ngữ hệ lớn
với hàng tỷ người sử dụng như ngữ hệ Ấn – Âu, ngữ hệ Tạng - Miến,
ngữ hệ Xêmít – Khamit. Có những ngữ hệ nhỏ có hàng ngàn người
dùng, ví dụ như ngữ hệ Andaman trên các đảo ở Thái Bình Dương. Ở
Đông Nam Á có 4 ngữ hệ là: ngữ hệ Nam Á, ngữ hệ Thái, ngữ hệ Nam
Đảo, và ngữ hệ Tạng - Miến. Nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt
Nam là quốc gia có cả 4 ngữ hệ này.
5.4. Học ngôn ngữ

114


Dù trẻ em được sinh ra với khả năng ngôn ngữ, chúng không thể nói
ngay một thứ ngôn ngữ nào. Chỉ khi trẻ em được tiếp thu văn hóa, chúng
mới có thể nhận biết được các hợp phần của ngôn ngữ được sử dụng
trong xã hội mình. Các nhà nhân học ngôn ngữ đã nghiên cứu về qúa
trình học ngôn ngữ này và đi đến các giả thuyết khác nhau. Nhà triết học
theo chủ nghĩa kinh nghiệm John Locke cho rằng não của con người khi
mới sinh ra giống như một tờ giấy trắng và trẻ em học ngôn ngữ thông
qua việc tạo nên các thói quen. Giả thuyết kiểu kinh nghiệm này sau đó
được nhà tâm lý học ứng xử B. F. Skinner phát triển với lập luận cho
rằng trẻ em học ngôn ngữ thông qua các phản ứng và phản hồi của môi
trường sống quanh mình. Một đứa trẻ có thể bập bẹ từ “Bố” và được mọi
người khen thưởng. Vì được khen, nên đứa trẻ có thể sử dụng từ “Bố”
trong một số các bối cảnh nhất định. Theo Skinner, trẻ em học ngôn ngữ
thông qua điều kiện xã hội kiểu này.
Rene Descarter đưa ra một quan điểm nativist về việc học ngôn ngữ.
Ông cho rằng các ý tưởng hay cấu trúc bNm sinh trong đầu óc con người
tạo cơ sở cho việc học ngôn ngữ. Người có nhiều ảnh hưởng nhất trong
cách giải thích kiểu cấu trúc bNm sinh này là nhà ngôn ngữ học Noam
Chomsky. Chomsky nghiên cứu việc con người học ngữ pháp như thế
nào. Hầu hết tất cả mọi người không thể nói rõ các quy định về ngữ
pháp, nhưng họ vẫn có thể sử dụng chúng để tạo nên các câu có thể hiểu
được. Theo đó, Chomsky cho rằng trẻ em học quy định ngữ pháp phức
tạp này một cách tự nhiên và dường như không có khó khăn gì trong việc
tạo ra các câu có ý nghĩa.
Chomsky áp dụng thuật ngữ ‘cấu trúc sâu’ đối với cấu trúc cơ bản vô
thức, một cấu trúc giúp cho con người có khả năng học bật kỳ một loại
cú pháp hay ngữ pháp của bất kỳ một ngôn ngữ nào. Cấu trúc sâu là một
115


loại ngữ pháp phổ biến đóng vai trò như một mô hình giúp trẻ ghép và
phân loại các kiểu hình thái và hình vị và làm giảm các khác biệt cần
thiết trong một ngôn ngữ để liên lạc. Theo Chomsky, cấu trúc phổ biến
của đầu óc con người cho phép trẻ em học ngôn ngữ và tạo ra các câu
chưa bao giờ nghe thấy trước đó.
Tiếp cận của Chomsky nói đến mô hình ngữ pháp chuyển tải phổ biến.
Bên cạnh cấu trúc sâu của một câu, mô hình chuyển tải còn có cấu trúc
bề mặt. Cấu trúc sâu liên kết với cấu trúc bề mặt thông qua các quy định
chuyển tải truyền các yếu tố trong một cấu trúc sâu tới cấu trúc bề mặt.
Việc trẻ em học các quy định chuyển tải này giúp chúng tạo ra các khác
biệt phức tạp trong việc sử dụng ngôn ngữ. Mô hình chuyển tải này phân
biệt khả năng ngôn ngữ của người nói với người nghe và việc trình diễn
ngôn ngữ của người nói.
Giả thuyết của Chomsky cho rằng ở tuổi 1 đến 3 là giai đoạn quan trọng
để trẻ em học ngôn ngữ. Nếu trẻ em không được học ngôn ngữ hay
không nói được ngôn ngữ ở giai đoạn này, chúng sẽ có thể không bao
giờ nói được. Chomsky tin rằng não của con người có các chương trình
gen hay bản đồ gen cho việc học ngôn ngữ. Vì thế, hầu hết trẻ em học
ngôn ngữ phức tạp một cách tự nhiên, tạo ra các câu chưa bao giờ nghe
thấy trước đó.
Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ cho rằng Chomsky chưa bao giờ giải
thích về cấu trúc sâu và bề mặt. Họ phê phán ở chỗ ngoài các tính phổ
biến cơ bản của ngôn ngữ về sự tồn tại của các hình vị với các nguyên
âm và phụ âm, trật tự cú pháp, thuật ngữ mầu sắc, hầu hết các ngôn ngữ
thể hiện sự đa dạng. Họ phê phán rằng tại sao chúng ta có 4.000 ngôn
ngữ của con người mà đầu óc của con người lại chỉ có một ngữ pháp phổ
116


biến. Chomsky và các đồng nghiệp hậu thuẫn cho lý thuyết này phản
ứng lại bằng cách cho rằng không nên nhầm lẫn cấu trúc bề mặt của
ngôn ngữ với cấu trúc sâu và ngữ pháp phổ quát cho phép con người ở
khắp mọi nơi trên thế giới học các quy định phức tạp của ngôn ngữ ở bất
kể chỗ nào.
Như vậy, việc học ngôn ngữ phụ thuộc vào cả khả năng sinh học bNm
sinh và việc học tập. Khả năng để nói dường như đã được tạo nên một
cách sinh học từ trước khi sinh, trong khi đó việc học ngôn ngữ lại được
thực hiện trong xã hội mà đứa trẻ sinh sống. Trẻ em không học ngôn
ngữ ở giai đoạn phải học ngôn ngữ có thể không có khả năng nói một
cách đúng mực. Các nghiên cứu của Chomsky tạo tiền đề để thực hiện
các nghiên cứu thực nghiệm khác nhằm kiểm tra các giả thuyết về mối
liên hệ giữa ngôn ngữ, sinh học, tâm trí và tư tưởng.
5.5. Các lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ
Ngôn ngữ học nghiên cứu về ngôn ngữ. Nói cụ thể hơn, nó nghiên cứu
về cấu trúc của ngôn ngữ, về lịch sử và sự phát triển của các ngôn ngữ,
so sánh sự giống nhau và khác biệt giữa các ngôn ngữ cũng như mối
quan hệ của ngôn ngữ với các khía cạnh khác của văn hóa. Ngày nay,
nhân học ngôn ngữ bao gồm 4 lĩnh vực chính: ngôn ngữ mô tả hay còn
gọi là cấu trúc ngôn ngữ, ngôn ngữ lịch sử, ngôn ngữ mô tả, ngôn ngữ xã
hội, và ngôn ngữ tộc người.

5.5.1. Ngôn ngữ mô tả
Ngôn ngữ mô tả nghiên cứu, mô tả, phân tích và so sánh cấu trúc của các
ngôn ngữ khác nhau như chúng tồn tại ở một thời điểm xác định. Hầu
117


hết các ngôn ngữ được nghiên cứu bằng ngôn ngữ mô tả là các ngôn ngữ
đương đại. Để thực hiện được các mục tiêu trên, các nhà ngôn ngữ mô tả
đã nghiên cứu thành phần cấu tạo của ngôn ngữ, gồm: âm vị học (âm),
hình vị học (cấu trúc của từ), cú pháp (cấu trúc của câu), ngữ nghĩa (ý
nghĩa), và ngữ dụng học (ngôn ngữ trong bối cảnh sử dụng). Lịch sử loài
người tính đến nay có tới hàng ngàn ngôn ngữ khác nhau (một số tài liệu
nói có hơn 6.000, một số khác nói 4.000 và có tài liệu nói khoảng 3.000
ngôn ngữ khác nhau), trong đó phần lớn các ngôn ngữ bao hàm 4 hợp
phần này dù chúng có thể khác nhau giữa ngôn ngữ này với ngôn ngữ
kia.
Âm vị học là nghiên cứu về âm được tạo nên trong tiếng nói. Âm vị của
các ngôn ngữ không giống nhau. Để nghiên cứu về các âm vị của các
ngôn ngữ khác nhau, các nhà ngôn ngữ học đã phát triển International
Phonetic Alphabet (Bảng chữ cái quốc tế) bao gồm 81 ký tự. Mỗi âm vị
được sử dụng có hệ thống ngữ âm riêng của nó. Mỗi ngôn ngữ có hệ
thống ngữ âm riêng của nó, bao gồm tất cả các âm thanh do người nói sử
dụng. Dù ngôn ngữ của con người có một số lượng âm thanh hạn chế,
con người có thể kết hợp các âm thanh khác nhau để tạo thành các ý
nghĩa đa dạng và phức tạp.
Hình vị học. Để nghiên cứu về từ của các ngôn ngữ, các nhà nhân học
chia tách các hình vị, những đơn vị nhỏ nhất của ngôn ngữ chuyển tải
thông tin. Việc nghiên cứu các hình vị này được gọi là hình thái học.
Hình vị có thể dài, có lúc chỉ có một hình vị, hoặc có thể là một sự kết
hợp của các hình vị với nhau. Chúng là nền tảng nhỏ nhất của ý nghĩa.
Trong bất kỳ một ngôn ngữ nào, số lượng hình vị cũng có giới hạn và
việc sử dụng và kết hợp các hình vị với nhau khác biệt giữa ngôn ngữ
này với ngôn ngữ khác.
118


Cú pháp. Cú pháp của một ngôn ngữ nói đến các các quy luật của các
cấu trúc câu và đoạn. Trật tự của từ trong một ngôn ngữ được quy định
bởi cú pháp. Các quy định này quyết định xem liệu chủ ngữ đứng trước
động từ hay đứng sau động từ hoặc ngược lại. Dù hầu hết các ngôn ngữ
cho phép việc sử dụng đa dạng các quy định cú pháp để nhấn mạnh khi
thể hiện, các khả năng bNm sinh của con người có thể ảnh hưởng đến trật
tự từ.
Ngữ nghĩa học. Nghiên cứu về ngữ nghĩa học hay ý nghĩa của các từ,
đoạn, câu về các tình huống, niềm tin, và các kinh nghiệm cá nhân đã tạo
lên các phát triển quan trọng trong nhân học ngôn ngữ. Có nhiều nét đặc
biệt lý giải cho ý nghĩa của các khái niệm, thuật ngữ liên quan đến thời
gian, không gian, màu sắc và các khía cạnh khác của môi trường.

5.5.2. Ngôn ngữ lịch sử
Ngôn ngữ lịch sử nghiên cứu về sự biến đổi của ngôn ngữ và các mối
quan hệ lịch sử của các ngôn ngữ khác nhau. Nghiên cứu về ngôn ngữ
lịch sử thường nhằm phát hiện các loại biến đổi của ngôn ngữ và giải
thích tại sao, và có những biến đổi nào không xảy ra, vì sao. Một trong
các lý thuyết đáng chú ý về sự phát triển và biến đổi của ngôn ngữ là mô
hình lý thuyết cây ngữ hệ. Nghiên cứu của William Jones cho rằng các
nét tương đồng trong các ngôn ngữ như tiếng Hy Lạp, La Tinh, Đức,
Anh cho thấy các ngôn ngữ này có nguồn gốc từ một ngôn ngữ tổ tiên.
Và người ta đã phát hiện ra rằng các ngôn ngữ này có chung một ngữ hệ
cùng có chung một số từ, ngữ pháp. Nét tương đồng trong các ngôn ngữ
Ấn-Âu này dẫn đến chỗ một số nhà nhân học ở giai đoạn mới hình thành
ngành học giả thuyết rằng tất cả các ngôn ngữ hiện này đều có thể có
119


nguồn gốc từ một ngôn ngữ tổ tiên. Các nhà ngôn ngữ lịch sử hiện đại
đồng ý rằng họ có thể tìm hiểu lịch sử để tái tạo một ngữ hệ của các ngôn
ngữ hiện đại. Họ đồng ý rằng ngôn ngữ biến đổi thường xuyên theo
những cách thức có thể nhận biết được và các nét tương đồng ngôn ngữ
xuất hiện do các mối quan hệ lịch sử của các ngôn ngữ. Qủa thực, gần
đây, các nhà nhân học ngôn ngữ kết hợp với các nhà khảo cổ học tái tạo
các ngôn ngữ tiền Ấn – Âu.

5.5.3. Ngôn ngữ xã hội
Là lĩnh vực nghiên cứu trong đó các nhà ngôn ngữ xem xét việc sử dụng
ngôn ngữ trong các bối cảnh xã hội khác nhau. Các nhà ngôn ngữ xã hội
lấy cộng đồng tiếng nói làm khung để hiểu về sự đa dạng của tiếng nói
trong các bối cảnh xã hội khác nhau. Cộng đồng tiếng nói là một đơn vị
xã hội trong đó người nói có chung nhiều cách nói. Chẳng hạn, trong xã
hội Mỹ, một số hình thái cú pháp và phát âm có thể được mọi người
chấp nhận trong một số hoàn cảnh cụ thể nhưng nó lại không được chấp
nhận ở các xã hội khác. Như vậy, ngôn ngữ xã hội nghiên cứu mối quan
hệ giữa ngôn ngữ với các khía cạnh của văn hóa.
Các khác biệt về tiếng địa phương/phương ngôn. Một cộng đồng tiếng
nói có thể có các tiểu nhóm dùng chung phương ngôn của một hệ ngôn
ngữ lớn hơn. Các nhóm nhỏ này được gọi là phương ngữ. Phương ngữ là
các khác biệt ngôn ngữ trong cách phát âm, từ vựng, cú pháp trong một
ngôn ngữ. Có vô vàn ví dụ về phương ngôn trong tiếng Việt ở Việt Nam.
Các hình thức kính cNn trong ngôn ngữ. Các nhà ngôn ngữ xã hội tìm
thấy nhiều ngôn ngữ có các hình thức kính cNn quyết định việc sử dụng
ngữ pháp, cú pháp và sử dụng từ. Các hình thức ngôn ngữ này được sử
120


dụng trong xã hội để duy trì bất bình đẳng xã hội, thứ bậc, phân biệt địa
vị xã hội, giới tính, thân tộc hay người ngoài. Ví dụ như người Việt sử
dụng rất nhiều cách khác nhau để gọi người thân trong họ như cô, bác,
chủ, dì, em, bố mẹ, v.v., ở đằng nội và ngoại, họ xa và gần. Tương tự,
trong xã hội người ta cũng dùng nhiều cách xưng hô khác nhau với các
lứa tuổi khác nhau, địa vị xã hội, giới tính, v.v.

5.5.4. Ngôn ngữ tộc người
Ngôn ngữ tộc người nghiên cứu mối quan hệ của một ngôn ngữ với văn
hóa tộc người. Rõ ràng, văn hóa ảnh hưởng tới ngôn ngữ theo cách từ
vựng được diễn đạt. Ảnh hưởng này thậm chí còn xảy ra ở cả trong các
tiểu văn hóa của các tộc người.
5.6. Ngôn ngữ phi âm thanh
Trong nghiên cứu ngôn ngữ phi âm thanh, các nhà nhân học quan tâm
đến hai lĩnh vực: Việc sử dụng cơ thể trong giao tiếp và việc sử dụng
không gian trong giao tiếp.
Việc sử dụng cơ thể trong giao tiếp là các động thái và chuyển động của
cơ thể để giao tiếp với nhau. Các nhà nghiên cứu tiên đoán rằng con
người có khoảng 250 ngàn các kiểu thể hiện nét mặt khác nhau. Rất
nhiều kiểu thể hiện nét mặt có các ý nghĩa khác nhau trong các tình
huống khác nhau. Ví dụ, một nụ cười ám chỉ một sự vui tươi, hạnh phúc
hay thân thiện ở khắp mọi nơi trên thế giới. Nhưng trong một số tình
huống, một nụ cười lại có thể biểu thị một sự sỉ nhục. Vì thế, chuyển
động của đầu, mắt, lông mày, tay hay động tác của cơ thể có thể liên
quan đến các ý nghĩa biểu tượng cụ thể được xác định bởi văn hóa.
121


Ngoài nét mặt còn có rất nhiều kiểu ngôn ngữ phi âm thanh khác song
chúng rất khác nhau giữa xã hội này với xã hội khác. Người Mỹ thường
hướng tới đồ vật bằng cách chỉ tay, trong khi đó một số dân tộc khác lại
dùng mắt, hoặc hất đầu. Còn vô vàn các ví dụ khác về tay, hình dáng,
v.v., trong việc các xã hội khác nhau sử dụng các hình thức ngôn ngữ phi
âm thanh với những ý nghĩa văn hóa khác nhau. Dĩ nhiên, con người có
thể hiểu nhầm nhau về ý nghĩa văn hóa của các cử chỉ phi âm thanh này.
Mặc dù vậy, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng có một số đặc điểm chung
liên quan đến cách thể hiện nét mặt. Ví dụ, nhà tâm lý học Paul Ekman
và các đồng nghiệp của mình đã chỉ ra rằng có một số tính đồng nhất
trong nét mặt. Con người sống trong các xã hội khác nhau có thể nhận
biết được các tình trạng tình cảm qua nét mặt như sự hạnh phúc, đau
khổ, tức giận, ngạc nhiên, lo sợ.
Khía cạnh thứ hai là việc sử dụng không gian trong giao tiếp. Đây là
nghiên cứu về việc con người trong các xã hội khác nhau nhận thức về
không gian và sử dụng không gian như thế nào. Nghiên cứu của Eward
T. Hall (1981) chỉ ra rằng không có quy luật chung nào cho việc sử dụng
không gian. Trong xã hội Mỹ, con người duy trì các ‘khoảng cách cá
nhân’ khác nhau trong các tình huống khác nhau và các mối quan hệ
khác nhau. Nghĩa là họ liên lạc với nhau tuỳ theo mức độ thân quen và
mối quan hệ. Trong một số xã hội khác, con người lại duy trì khoảng
cách rất gần ngay từ lần gặp đầu tiên hay thậm chí rất xa dù đã thân quen
với nhau và bất chấp mối quan hệ như thế nào. Bên cạnh đó, thời gian
cũng được các xã hội sử dụng khác nhau. Đối với một số dân tộc, đợi
người khác tới cả giờ là chuyện bình thường, nhưng với một số khác, ví
dụ như người Mỹ, để người khác đợi chỉ 5-10 phút là cần phải xin lỗi.
122


Có thể nói, ngôn ngữ phi âm thanh là một khía cạnh quan trọng của
tương tác xã hội. Rõ ràng là các động tác như cúi chào nhau ở Nhật, bắt
tay ở Mỹ, chắp tay cúi chào ở Thái Lan có ý nghĩa biểu tượng quan trọng
trong một số tình huống nhất định. Nghiên cứu về các ngôn ngữ phi âm
thanh giúp cho chúng ta hiểu rõ hơn cách ứng xử của con người và thậm
chí thúc đNy mối liên lạc giữa các xã hội khác biệt với nhau.
Tóm lại
Ngôn ngữ là một bộ phận quan trọng của tri thức văn hóa. Nó là phương
tiện quan trọng nhất để thể hiện và chuyển tải các biểu tượng và văn hóa
từ người này sang người khác.
Các nhà nghiên cứu đã tập trung vào bốn tiêu chí để phân biệt ngôn ngữ
của con người với động vật. Các nhà ngôn ngữ học nghiên cứu cả cấu
trúc của ngôn ngữ và cho rằng các ngôn ngữ trên thế giới có chung các
hợp phần này. Đó là âm vị học, hình thái học, ngữ nghĩa học và cú pháp.
Nhân học ngôn ngữ cũng quan tâm đến việc tiếp thu hay học ngôn ngữ
như thế nào. Các chủ đề khác mà nhân học ngôn ngữ quan tâm gồm
ngôn ngữ lịch sử, ngôn ngữ xã hội, ngôn ngữ mô tả, ngôn ngữ tộc người,
và các ngôn ngữ phi âm thanh của con người trong các xã hội khác nhau.
<Đầu năm 2008, UNESCO (Tổ chức văn hóa, khoa học và giáo dục của
Liên hợp quốc) khi khởi xướng năm quốc tế về các ngôn ngữ đối mặt với
nguy cơ tuyệt chủng đã nhấn mạnh rằng ngôn ngữ không chỉ là một lĩnh
vực để các nhà phân tích nghiên cứu mà nó thực sự nằm ở trung tâm của
đời sống văn hóa, kinh tế và xã hội, và cảnh báo rằng hơn một nữa trong
123


số 6.700 ngôn ngữ nói của thế giới hiện nay đang đối mặt với nguy cơ bị
tuyệt chủng và cứ bình quân 2 tuần thì lại có 1 ngôn ngữ ở đâu đó trên
thế giới bị biến mất. (xem: www.un.org/news) >

Câu hỏi:
1. Khả năng ngôn ngữ của con người và khả năng ngôn ngữ của loài
vật như thế nào, vì sao?
2. Ngôn ngữ phát triển như thế nào, có những cấu trúc cơ bản gì và
con người học ngôn ngữ theo cách nào?
3. Các lĩnh vực nghiên cứu của nhân học ngôn ngữ quan tâm đến
những vấn đề gì?
4. Ngôn ngữ phi âm thanh là gì, nó có vai trò và ý nghĩa gì đổi với
việc hiểu biết văn hóa con người?

124



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×