Tải bản đầy đủ

“ Đánh giá tình hình sử dụng và quản lý đất sản xuất nông nghiệp xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINK DOANH

CHUYÊN ĐỀ TỐT NGHIỆP
“ Đánh giá tình hình sử dụng và quản lý đất sản xuất nông nghiệp xã
Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.

Nghành

: Quản lý đất đai

Giáo viên hướng dẫn

: Th.S Phạm Thanh Quế

Sinh viên thực tập

: Nguyễn Thị Hằng

Mã sinh viên:
Lớp


: LTK8 – QLĐĐ

Khóa học

: 2012 – 2014

Hà Nội, 2014
LỜI CẢM ƠN
1


Được sự đồng ý của Khoa kinh tế và quản trị kinh doanh, Bộ môn Quản
lý đất đai, Trường Đại học Lâm Nghiệp em tiến hành thực hiện chuyên đề tốt
nghiệp:
“ Đánh giá tình hình sử dụng và quản lý đất sản xuất nông nghiệp xã
Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.
Với lòng biết ơn sâu sắc em xin gửi lời cảm ơn tới cô Th.S phạm Thanh
Quế đã trực tiếp hướng dẫn tận tình trong suốt quá trình em thực hiện chuyên
đề này.
Nhân dịp này, em cũng xin phép gửi lời cảm ơn đến các thầy cô giáo
trong bộ môn Quản lý đất đai – Trường Đại học Lâm Nghiệp đã tạo điều kiện,
giúp đỡ em trong quá trình thực hiện chuyên đề này.
Mặc dù đã cố gắng hết sức song do trình độ và thời gian có hạn nên đề tài
không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Kính mong nhận được những ý
kiến đóng góp quý báu của thầy giáo, cô giáo và các bạn để chuyên đề tốt
nghiệp của em được hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

Xuân Mai, ngày… tháng… năm…
Sinh viên
Nguyễn thị Hằng

MỤC LỤC
Lời cảm ơn………………………………………………………..
2


Mục lục……………………………………………………………
Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu……………………………..


Danh mục các bảng và hình vẽ trong đề tài………………………..
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………...
1.1. Tính cấp thiết của đề tài………………………………………..
1.2. Ý nghĩa của đề tài
PHẦN II: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
2.1. Tổng quan về đất nông nghiệp
2.1.1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp
2.1.2. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp
2.2. Những vấn đề về hiệu quả đất nông nghiệp.
2.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất.
2.2.2. Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.3. Quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.
2.3.1 Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới.
2.3.2. Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới.
PHẦN III: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG
PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
3.2. Đối tượng nghiên cứu
3.3. Phạm vi nghiên cứu
3.4. Nội dung nghiên cứu
3.4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu
3.4.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn xã
3.4.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Nghĩa Hưng
3.4.4. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Nghĩa Hưng
3


3.5. Phương pháp nghiên cứu
3.5.1. Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
3.5.2. Phương pháp thu thập tài liệu, số liệu
3.5.3. Phương pháp tổng hợp và xử lý tài liệu số liệu
PHẦN IV: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
4.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của xã Nghĩa Hưng
4.1.1. Điều kiện tự nhiên
4.1.2. Thực trạng phát triển kinh tế xã hội
4.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất trên địa bàn xã
4.2.1. Tình hình quản lý đất đai
4.2.2. Hiện trạng sử dụng đất
4.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã
4.3.1. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp
4.3.2. Thực trạng sản xuất nông nghiệp của xã
4.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp của xã
4.4.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế
4.4.2. Hiệu quả xã hội
4.4.3. Hiệu quả môi trường
4.4.4. Đánh giá hiệu quả tổng hợp
4.5. Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Nghĩa
Hưng
4.5.1. Rà soát điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất và lựa chọn các loại hình sử
dụng đất phù hợp
4.5.2. Giải pháp về thị trường tiêu thụ nông sản
4.5.3. Giải pháp về vốn đầu tư
4.5.4. Giải pháp về giống cây trồng
4


4.5.5. Giải pháp về nguồn lực và khoa học công nghệ
4.5.6. Giải pháp về phát triển cơ sỏ hạ tầng
4.5.7. Giải pháp về môi trường
4.5.8. Giải pháp về tổ chức quản lý
CHƯƠNG V: KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
5.1. Kết luận
5.2. Kiến nghị
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ BIỂU

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

TT
1
2
3
4
5
6

Ký hiệu
GTSX
CPTG
GTGT

UBND
QHSDĐ

Chú giải
Giá trị sản xuất
Chi phí trung gian
Giá trị gia tăng
Lao động
Ủy ban nhân dân
Quy hoạch sử dụng đất
5


7
8
9
10
11
12
13
14
15
16
17
18
19

ANQP
CNH - HĐH
GCNQSDĐ
GCN
LUT
N
P
K
NN&PTNT
HTX
BVTV
STT
ĐVT

An ninh quốc phòng
Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa
Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
Giấy chứng nhận
Loại hình sử dụng đất
Đạm
Lân
Kali
Nông nghiệp và phát triển nông thôn
Hợp tác xã
Bảo vệ thực vật
Số thứ tự
Đơn vị tính

6


Danh mục các bảng
STT

Tên bảng

1

4.1. Diện tích và cơ cấu các loại đất chính xã Nghĩa Hưng
năm 2013

2

4.2. Diện tích và cơ cấu sử dụng đất nông nghiệp xã năm
2013

3

4.3. Biến động diện tích đất sản xuất nông nghiệp giai đoạn
2010 – 2013

4

4.4. Diện tích, năng xuất, sản lượng một số cây trồng chính
trong xã

5

4.5. Hiệu quả kinh tế trên 1 ha của một số cây trồng chính
trong xã

6

4.6. Hiệu quả kinh tế các loại hình sử dụng đất của xã

7

4.7. Tổng hợp mức đầu tư lao động và thu nhập bình quân
trên ngày công lao động của các mô hình sử dụng đất trong


8

4.8. Mức độ sử dụng phân bón một số cây trồng chính

Trang

Danh mục các biểu đồ, sơ đồ
STT
1

Tên biểu đồ, sơ đồ

Trang

Biểu đồ 1: Cơ cấu kinh tế xã Nghĩa Hưng năm 2010 và 2013

ĐẶT VẤN ĐỀ
7


1.1.

Tính cấp thiết của đề tài:

Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc
biệt. Với sản xuất nông nghiệp, đất đai là tư liệu sản xuất không thể thay thế
được, không có đất thì không có sản xuất nông nghiệp. Chính vì vậy, sử dụng
đất là một phần hợp thành của chiến lược nông nghiệp sinh thái và phát triển
bền vững. [1]
Nông nghiệp là hoạt động sản xuất cổ nhất và cơ bản nhất của loài người.
Hầu hết các nước trên thế giới đều phải xây dựng một nền kinh tế trên cơ sở phát
triển nông nghiệp dựa vào khai thác các tiềm năng của đất, lấy đó làm bàn đạp
phát triển các ngành khác. Vì vậy việc tổ chức sử dụng nguồn tài nguyên đất đai
hợp lý, có hiệu quả theo quan điểm sinh thái bền vững đang trở thành vấn đề toàn
cầu .[2]
Nghĩa Hưng là xã thuần nông, sản xuất nông nghiệp đóng vai trò quan trọng
trong sự phát triển kinh tế xã hội của xã. Tuy nhiên, cũng như các xã thuần nông
khác hiện nông nghiệp xã Nghĩa Hưng đang đối mặt với hàng loạt các vấn đề như:
sản xuất nhỏ, manh mún, công nghệ lạc hậu, năng suất và chất lượng nông sản hàng
hóa thấp, khả năng hợp tác liên kết cạnh tranh yếu, sự chuyển dịch cơ cấu chậm.
Trong điều kiện diện tích đất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp do sức ép của quá
trình đô thị hóa, công nghiệp hóa và sự gia tăng dân số thì mục tiêu nâng cao hiệu
quả sử dụng đất nông nghiệp là hết sức cần thiết, tạo ra giá trị lớn về kinh tế đồng
thời tạo đà cho phát triển nông nghiệp bền vững. Đó cũng là mục tiêu nghiên cứu
của chuyên đề: “ Đánh giá tình hình sử dụng và quản lý đất sản xuất nông
nghiệp xã Nghĩa Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang”.
1.2. Ý nghĩa của đề tài:
- Góp phần hoàn thiện lý luận về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và là
cơ sở định hướng phát triển sản xuất nông nghiệp trong tương lai cho xã Nghĩa
Hưng.
- Góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và thúc đẩy sự
phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững.

TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
8


2.1. Tổng quan về đất nông nghiệp:
2.1.1. Đất nông nghiệp và tình hình sử dụng đất nông nghiệp:
Đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến những khái niệm, định
nghĩa về đất. Có quan điểm cho rằng: “Đất là một vật thể thiên nhiên cấu tạo
độc lập lâu đời do kết quả quá trình hoạt động tổng hợp của 5 yếu tố hình thành
đất đó là: sinh vật, đá mẹ, khí hậu, địa hình và thời gian”[3]. Sau này một số học
giả khác đã bổ sung các yếu tố: nước của đất, nước ngầm và đặc biệt là vai trò
của con người để hoàn chỉnh khái niệm về đất nêu trên.
Như vậy, đất đai là một khoảng không gian có giới hạn gồm: khí hậu, lớp
đất bề mặt, thảm thực vật, động vật, diện tích mặt nước, nước ngầm và khoáng
sản trong lòng đất. Trên bề mặt đất đai là sự kết hợp giữa các yếu tố thổ
nhưỡng, địa hình, thuỷ văn, thảm thực vật cùng với các thành phần khác có vai
trò quan trọng và ý nghĩa to lớn đối với hoạt động sản xuất và cuộc sống của xã
hội loài người.
Theo Luật đất đai 2003, đất nông nghiệp được chia ra làm các nhóm đất
chính sau: đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất nuôi trồng thuỷ sản, đất
làm muối và đất nông nghiệp khác [4] . Đất đai đóng vai trò quyết định đến sự
tồn tại và phát triển của xã hội loài người, là cơ sở tự nhiên, là tiền đề cho mọi
quá trình sản xuất.
Đất đai được xem vừa là đối tượng lao động vừa là tư liệu lao động trong
quá trình sản xuất. Đất đai là đối tượng lao động bởi lẽ nó là nơi để con người
thực hiện các hoạt động của mình tác động vào cây trồng, vật nuôi để tạo ra sản
phẩm. Bên cạnh đó, đất đai còn là tư liệu lao động trong quá trình sản xuất
thông qua việc con người đã biết lợi dụng một cách ý thức các đặc tính tự nhiên
của đất như lý học, hoá học, sinh vật học và các tính chất khác để tác động và
giúp cây trồng tạo nên sản phẩm [1].
Giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thuỷ sản năm 2013 theo giá so sánh
2010 ước tính đạt 801,2 nghìn tỷ đồng, tăng 2,95% so với năm 2012, bao gồm:
Nông nghiệp đạt 602,3 nghìn tỷ đồng, tăng 2,47%; lâm nghiệp đạt 22,4 nghìn tỷ
9


đồng, tăng 6,04%; thuỷ sản đạt 176,5 nghìn tỷ đồng, tăng 4,22%.
Mỗi vùng đất đai luôn gắn liền với các điều kiện tự nhiên (thổ nhưỡng,
khí hậu, nước, thảm thực vật), điều kiện kinh tế - xã hội như (dân số, lao động,
giao thông, thị trường). Do vậy, muốn sử dụng đất đai hợp lý, có hiệu quả cần
bố trí sử dụng đất hợp lý trên cơ sở khai thác lợi thế sẵn có của vùng.
Với những áp lực từ sự gia tăng dân số, sự phát triển của xã hội làm cho
nhu cầu sử dụng đất phi nông nghiệp ngày càng tăng làm giảm diện tích và chất
lượng đất sản xuất nông nghiệp. Vì vậy, định hướng sử dụng đất đai một cách
hợp lý, có hiệu quả và bền vững là một trong những điều kiện quan trọng nhất
để phát triển nền kinh tế của mọi quốc gia.
2.1.2. Vấn đề suy thoái đất nông nghiệp:
Để đáp ứng được lương thực, thực phẩm cho con người trong hiện tại và
tương lai, con đường duy nhất là thâm canh tăng năng suất cây trồng. Trong
điều kiện hầu hết đất canh tác đều bị nghèo về độ phì, để tăng vụ và năng suất
cây trồng đòi hỏi phải bổ sung cho đất một lượng dinh dưỡng cần thiết qua con
đường sử dụng phân bón. Đây là những nguyên nhân làm suy thoái đất nông
nghiệp, giảm khả năng sản xuất của đất.
Ở Việt Nam, trong quá trình sử dụng đất, do chưa tìm được các loại hình
sử dụng đất hợp lý hoặc chưa có công thức luân canh hợp lý cũng gây ra hiện
tượng thoái hoá đất như vùng đất dốc mà trồng cây lương thực, đất có dinh
dưỡng kém lại không luân canh với cây họ đậu. Trong điều kiện nền kinh tế
kém phát triển, người dân đã tập trung chủ yếu vào trồng cây lương thực đã gây
ra hiện tượng xói mòn, suy thoái đất. Điều kiện kinh tế và sự hiểu biết của con
người còn thấp dẫn tới việc sử dụng phân bón còn nhiều hạn chế và sử dụng
thuốc bảo vệ thực vật quá nhiều, ảnh hưởng tới môi trường. Ngoài ra, việc
chuyển đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp làm cho
diện tích đất nông nghiệp ngày càng giảm nhanh; khai thác tiềm năng đất nông
nghiệp ko hợp lý làm cho đất bạc màu, kém chất lượng dẫn đến năng suất nông
10


phẩm kém về chất lượng và sản lượng....Do vậy, đế có thể đảm bảo năng suất
cây trồng, đảm bảo an ninh lương thực cần phải có những phương pháp canh tác
phù hợp, chọn lọc các loại hình sử dụng đất phù hợp nhằm sử dụng đất nông
nghiệp đảm bảo sinh thái môi trường và bền vũng.
2.2. Những vấn đề về hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp
2.2.1. Khái quát về hiệu quả và hiệu quả sử dụng đất
Hiệu quả là kết quả mong muốn, cái sinh ra kết quả mà con người chờ
đợi hướng tới; nó có những nội dung khác nhau. Trong kinh doanh, hiệu quả
là lãi suất, lợi nhuận. Trong lao động nói chung, hiệu quả lao động là năng
suất lao động cần để sản xuất ra một đơn vị sản phẩm, hoặc bằng số lượng
sản phẩm được sản xuất ra trong một đơn vị thời gian [5].
Kết quả hữu ích (gọi chung là kết quả) là một đại lượng vật chất tạo ra do
mục đích của con người, được biểu hiện bằng những chỉ tiêu cụ thể, xác định.
Con người luôn xem xét, nghiên cứu kết quả đó được tạo ra như thế nào? Chi phí
bỏ ra bao nhiêu? Có đưa lại kết quả hữu ích hay không? Nhằm khai thác hiệu quả
nguồn tài nguyên hữu hạn phục vụ cho nhu cầu vô hạn của con người [6].
Trong lĩnh vực sử dụng đất thì hiệu quả là chỉ tiêu chất lượng đánh giá kết
quả sử dụng đất trong hoạt động kinh tế. Thể hiện qua lượng sản phẩm, lượng
giá trị thu được bằng tiền, đồng thời về mặt xã hội là thể hiện hiệu quả của lực
lượng lao động được sử dụng trong cả quá trình hoạt động kinh tế cũng như
hàng năm để khai thác đất. Đối với ngành nông nghiệp, trong nhiều trường hợp
phải coi trọng hiệu quả về mặt hiện vật là sản lượng nông sản thu hoạch được,
nhất là các loại nông sản cơ bản có ý nghĩa chiến lược (lương thực, sản phẩm
xuất khẩu… để đảm bảo sự ổn định về kinh tế - xã hội đất nước) [5].
Như vậy, hiệu quả sử dụng đất là kết quả của cả một hệ thống các biện
pháp tổ chức sản xuất, khoa học, kỹ thuật, quản lý kinh tế và phát huy các lợi
thế, khắc phục các khó khăn khách quan của điều kiện tự nhiên, trong những
hoàn cảnh cụ thể còn gắn sản xuất nông nghiệp với các ngành khác của nền kinh tế
11


quốc dân, cũng như cần gắn sản xuất trong nước với thị trường quốc tế [5]. Sử
dụng đất nông nghiệp có hiệu quả cao thông qua việc bố trí cơ cấu cây trồng vật
nuôi là một trong những vấn đề bức xúc hiện nay của hầu hết các nước trên thế
giới. Nó là vấn đề sự quan tâm của các nhà khoa học, các nhà hoạch định chính
sách, các nhà kinh doanh nông nghiệp mà còn là mong muốn của nông dân, những
người trực tiếp tham gia sản xuất nông nghiệp [7].
Hiện nay, các nhà khoa học đều cho rằng: vấn đề hiệu quả sử dụng đất
không chỉ xem xét đơn thuần ở một mặt hay một khía cạnh nào đó mà phải xem
xét trên tổng thể các mặt bao gồm: hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả
môi trường.
2.2.1.1 Hiệu quả kinh tế
Quy luật kinh tế đầu tiên của Các Mác dựa trên cơ sở sản xuất tổng thể là
quy luật tiết kiệm thời gian và phân phối có kế hoạch thời gian lao động theo
các ngành sản xuất khác nhau. Theo các nhà khoa học Đức (Stienier, Hanau,
Rusteruyer, Simmerman) hiệu quả kinh tế là chỉ tiêu so sánh mức độ tiết kiệm
chi phí trong 1 đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng kết quả hữu ích của hoạt
động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích cho xã
hội [8].
Hiệu quả kinh tế là phạm trù chung nhất, nó liên quan trực tiếp tới nền
sản xuất hàng hoá với tất cả các phạm trù và các quy luật kinh tế khác nhau. Vì
thế hiệu quả kinh tế phải đáp ứng được 3 vấn đề [8]:
- Một là quy luật “tiết kiệm thời gian” là vấn đề quan tâm và tuân theo đối
với mọi hoạt động của con người ;
- Hai là quan điểm của lý thuyết hệ thống là cơ sở xem xét hiệu quả kinh
tế;
- Ba là hiệu quả kinh tế là một phạm trù phản ánh mặt chất lượng của các
hoạt động kinh tế bằng quá trình tăng cường các nguồn lực sẵn có phục vụ các
lợi ích của con người.
12


Hiệu quả kinh tế là mối tương quan so sánh giữa lượng kết quả đạt được
và lượng chi phí bỏ ra trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Kết quả đạt được là
phần giá trị thu được của sản phẩm đầu ra, lượng chi phí bỏ ra là phần giá trị
của nguồn lực đầu vào. Mối tương quan đó cần xem xét cả về phần so sánh
tuyệt đối và tương đối cũng như xem xét mối quan hệ chặt chẽ giữa hai đại
lượng đó.
Từ đó, ta thấy: bản chất của phạm trù kinh tế sử dụng đất là “với một diện
tích đất đai nhất định sản xuất ra một khối lượng của cải vật chất nhiều nhất với
một lượng chi phí về vật chất và lao động thấp nhằm đáp ứng nhu cầu ngày
càng tăng về vật chất của xã hội.
2.2.1.2 Hiệu quả xã hội
Hiệu quả xã hội là mối tương quan so sánh giữa kết quả xét về mặt xã hội và
tổng chi phí bỏ ra. Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ mật thiết
với nhau và là một phạm trù thống nhất.
Hay nói cách khác, hiệu quả xã hội phải thu hút nhiều lao động, đảm bảo
đời sống nhân dân, góp phần thúc đẩy xã hội phát triển, nội lực và nguồn lực
của địa phương được phát huy, đáp ứng nhu cầu của hộ nông dân về việc ăn
mặc và nhu cầu sống khác. Sử dụng đất phải phù hợp với tập quán, nền văn hoá
của địa phương thì việc sử dụng đất bền vững hơn.
Theo Nguyễn Duy Tính (1995) [9], hiệu quả về mặt xã hội của sử dụng
đất nông nghiệp chủ yếu được xác định bằng khả năng tạo việc làm trên một
đơn vị diện tích đất nông nghiệp.

2.2.1.3 Hiệu quả môi trường
Hiện nay, tác động của môi trường sinh thái diễn ra rất phức tạp và theo
nhiều chiều hướng khác nhau. Cây trồng được phát triển tốt khi phát triển phù
hợp với đặc tính, tính chất của đất. Tuy nhiên, trong quá trình sản xuất dưới tác

13


động của các hoạt động sản xuất, quản lý của con người hệ thống cây trồng sẽ
tạo nên những ảnh hưởng rất khác nhau đến môi trường.
Hiệu quả môi trường được thể hiện: loại hình sử dụng đất phải bảo vệ
được độ màu mỡ của đất đai, ngăn chặn được sự thoái hoá đất bảo vệ môi
trường sinh thái. Độ che phủ tối thiểu phải đạt ngưỡng an toàn sinh thái
(>35%) đa dạng sinh học biểu hiện qua thành phần loài [10].
Dựa vào nguyên nhân gây nên mà hiệu quả môi trường gồm: hiệu quả
hoá học môi trường, hiệu quả vật lý môi trường và hiệu quả sinh học môi trường
[11].
Trong sản xuất nông nghiệp, hiệu quả hoá học môi trường được đánh giá
thông qua mức độ hoá học trong nông nghiệp. Đó là việc sử dụng phân bón và
thuốc bảo vệ thực vật trong quá trình sản xuất cho cây trồng sinh trưởng tốt, cho
năng suất cao và không gây ô nhiễm môi trường.
Hiệu quả sinh học môi trường được thể hiện qua mối tác động qua lại
giữa cây trồng với đất, giữa cây trồng với các loại dịch hại trong các loại hình
sử dụng đất nhằm giảm thiểu việc sử dụng hoá chất trong nông nghiệp mà vẫn
đạt được mục tiêu đề ra.
2.2.2. Đặc điểm và phương pháp đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp:
2.2.2.1 Nguyên tắc lựa chọn các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông
nghiệp:
- Hệ thống các chỉ tiêu phải có tính thống nhất, toàn diện và tính hệ thống
hữu cơ với nhau, phải đảm bảo tính so sánh có thang bậc [12], [13].
- Các chỉ tiêu phải phù hợp với đặc điểm và trình độ phát triển nông nghiệp
ở nước ta, đồng thời có khả năng so sánh quốc tế trong quan hệ đối ngoại, nhất là
những sản phẩm có khả năng hướng tới xuất khẩu [8].

14


- Hệ thống các chỉ tiêu phải đảm bảo tính thực tiễn và tính khoa học và
phải có tác dụng kích thích sản xuất phát triển [8].
2.2.2.2. Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
Bản chất của hiệu quả là mối quan hệ giữa kết quả và chi phí. Mối quan
hệ này là mối quan hệ hiệu số hoặc là quan hệ thương số [1], [2], [8], nên dạng
tổng quát của hệ thống chỉ tiêu hiệu quả sẽ là:
H=K-C
H = K/C
H = (K - C)/C
H = (K1 - K0)/(C1 - C0)
Trong đó:
- H: Hiệu quả
- K: Kết quả
- C: Chi phí
- 1, 0 là chỉ số về thời gian (năm)
* Hiệu quả kinh tế:
- Hiệu quả kinh tế được tính trên 1 ha đất nông nghiệp và bao gồm các
chỉ tiêu sau:
+ Giá trị sản xuất (GTSX): là toàn bộ giá trị sản phẩm vật chất và dịch vụ
được tạo ra trong 1 kỳ nhất định (thường là một năm).
+ Chi phí trung gian (CPTG): là toàn bộ các khoản chi phí vật chất
thường xuyên bằng tiền mà chủ thể bỏ ra để thuê và mua các yếu tố đầu vào và
dịch vụ sử dụng trong quá trình sản xuất.

15


+ Giá trị gia tăng (GTGT): là hiệu số giữa giá trị sản xuất và chi phí trung
gian, là giá trị sản phẩm xã hội được tạo ra thêm trong thời kỳ sản xuất đó.
GTGT = GTSX - CPTG
- Hiệu quả kinh tế tính trên 1 đồng chi phí trung gian (GTSX/CPTG,
GTGT/CPTG): đây là chỉ tiêu tương đối của hiệu quả, nó chỉ ra hiệu quả sử
dụng các chi phí biến đổi và thu dịch vụ.
- Hiệu quả kinh tế trên ngày công lao động quy đổi, bao gồm: GTSX/LĐ,
dụng đất và từng cây trồng làm cơ sở để so sánh với chi phí cơ hội của người
lao động.
* Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội:
Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả xã hội gồm [14]:
+ Đảm bảo an toàn lương thực, gia tăng lợi ích của người nông dân;
+ Đáp ứng mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế của vùng;
+ Thu hút nhiều lao động, giải quyết công ăn việc làm cho nông dân;
+ Góp phần định canh định cư, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật.
+ Tăng cường sản phẩm hàng hoá, đặc biệt là hàng hoá xuất khẩu.
* Các chỉ tiêu về hiệu quả môi trường:
Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng môi trường trong quản lý sử dụng đất
bền vững ở vùng nông nghiệp được tưới là [11]:
+ Quản lý đối với đất đai rừng đầu nguồn;
+ Đánh giá các tài nguyên nước bền vững;
+ Đánh giá quản lý đất đai;
+ Đánh giá hệ thống cây trồng;

16


+ Đánh giá về tính bền vững đối với việc duy trì độ phì nhiêu của đất và
bảo vệ cây trồng;
+ Đánh giá về quản lý và bảo vệ tự nhiên;
+ Sự thích hợp của môi trường đất khi thay đổi kiểu sử dụng đất.
2.3. Quan điểm về nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp:
2.3.1. Những xu hướng phát triển nông nghiệp trên thế giới:
Trên con đường phát triển nông nghiệp, mỗi nước đều chịu ảnh hưởng
của các điều kiện khác nhau, nhưng phải giải quyết vấn đề chung sau [15]:
- Không ngừng nâng cao chất lượng nông sản, năng suất lao động trong
nông nghiệp, nâng cao hiệu quả đầu tư;
- Mức độ và phương thức đầu tư vốn, lao động, khoa học và quá trình
phát triển nông nghiệp. Chiều hướng chung nhất là phấn đấu giảm lao động
chân tay, đầu tư nhiều lao động trí óc, tăng cường hiệu quả của lao động quản lý
và tổ chức;
- Mối quan hệ giữa phát triển nông nghiệp và môi trường.
Từ những vấn đề chung trên, mỗi nước lại có chiến lược phát triển nông
nghiệp khác nhau và có thể chia làm hai xu hướng:
* Nông nghiệp công nghiệp hoá : Sử dụng các thành tựu của công nghiệp
vào sản xuất nông nghiệp, sử dụng vật tư kỹ thuật, trang thiết bị máy móc, sản
xuất theo quy trình kỹ thuật chặt chẽ gần như công nghiệp, đạt năng suất cây
trồng vật nuôi và lao động cao. Khoảng 10% lao động xã hội trực tiếp làm nông
nghiệp những vẫn đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng và xuất khẩu. Nông nghiệp
công nghiệp hoá gây nên nhiều hậu quả sinh thái nghiêm trọng, làm ô nhiễm
môi trường, giảm tính đa dạng sinh học và hao hụt nguồn gen thiên nhiên [5].
Hiện nay, nông nghiệp công nghiệp hoá được hiểu là một nền nông
nghiệp được công nghiệp hoá khi áp dụng đầy đủ các thành tựu của một xã hội
17


công nghiệp vào nông nghiệp. Các thành tựu đó thể hiện trên nhiều mặt: thông
tin, điện tử, sinh học, hoá học, cơ khí… Thực tế nền nông nghiệp công nghiệp
hoá đạt được nhiều thành tựu đáng kể. Tuy nhiên nền nông nghiệp này là
nguyên nhân tác động lên môi trường tự nhiên [7].
* Nông nghiệp sinh thái: đưa ra nhằm khắc phục những nhược điểm của
nông nghiệp công nghiệp hoá, nông nghiệp sinh thái nhấn mạnh việc đảm bảo
tuân thủ những nguyên tắc về sinh học nông nghiệp trong nông nghiệp. Mục
tiêu của nông nghiệp sinh thái:
+ Giảm thiểu những tác hại do sử dụng hoá chất nông nghiệp và phương
pháp công nghiệp gây ra cho môi trường và chất lượng nông sản;
+ Cải thiện chất lượng dinh dưỡng thức ăn;
+ Nâng cao độ phì nhiêu của đất bằng cách sử dụng phân bón hữu cơ,
tăng chất mùn trong đất…
+ Hạn chế mọi dạng ô nhiễm môi trường với đất, nước, môi trường,
thức ăn [5].
Gần đây nhiều nhà khoa học đã nghiền cứu nền nông nghiệp bền vững,
đó là một dạng của nông nghiệp sinh thái với mục tiêu sản xuất nông nghiệp đi
đôi với giữ gìn và bảo vệ môi trường sinh thái đảm bảo cho nông nghiệp phát
triển bền vững, lâu dài.
Trong thực tế phát triển theo những dạng tổng hợp, đan xen các xu hướng
vào nhau ở nhiều mức độ khác nhau. Cụ thể như :
- “Cách mạng xanh’’ được thực hiện vào những năm của thập kỷ 60, chủ
yếu ở các nước đang phát triển và đem lại những bước phát triển lớn ở những
nước đó. Thực chất cuộc cách mạng này dựa chủ yếu vào việc áp dụng đối với
trồng trọt, xây dựng hệ thống thuỷ lợi, sử dụng nhiều loại phân hoá học. “Cách
mạng xanh” đã dựa vào cả một số yếu tố sinh học, một số yếu tố hoá học và cả
thành tựu của công nghiệp [15].
18


- “Cách mạng trắng’’ được thực hiện đối với ngành chăn nuôi dựa vào
việc tạo ra các giống gia súc có tiềm năng cho sữa cao và những tiến bộ khoa học
đạt được trong việc tăng năng suất và chất lượng các loại gia súc, trong các
phương thức chăn nuôi mang ít nhiều tính chất công nghiệp. Cuộc cách mạng này
đã tạo được những bước phát triển lớn trong chăn nuôi ở một số nước và được
thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với “cách mạng xanh” [15] .
- “Cách mạng nâu’’ diễn ra trên cơ sở giải quyết mối quan hệ của
nông dân với ruộng đất. Trên cơ sở khơi dậy lòng yêu quý của nông dân đối
với đất đai, khuyến khích tính cần cù của họ để năng suất và sản lượng
trong nông nghiệp [15].
Cả ba cuộc cách mạng này mới chỉ dừng lại ở việc, tháo gỡ những khó
khăn trước mắt chứ không phải là cơ sở cho một chiến lược phát triển nông
nghiệp lâu dài và bền vững.
Từ những bài học của lịch sử phát triển nông nghiệp, những thành tựu đạt
được của khoa học công nghệ, ở giai đoạn hiện nay muốn đưa nông nghiệp đi
lên phải xây dựng và thực hiện một nền nông nghiệp trí tuệ. Nông nghiệp trí tuệ
thể hiện ở việc phát hiện, nắm bắt và vận dụng các quy luật tự nhiên và xã hội
trong mọi mặt hoạt động của hệ thống nông nghiệp phong phú, biểu hiện ở việc
áp dụng các giải pháp phù hợp, hợp lý. Nông nghiệp trí tuệ là bước phát triển ở
mức cao, là sự kết hợp ở đỉnh cao của các thành tựu sinh học, công nghiệp, kinh
tế, quản lý được vận dụng phù hợp, với điều kiện cụ thể của mỗi nước, mỗi
vùng [15].
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển thành công về sản xuất nông
nghiệp và tăng trưởng về mức sống, nhiều nước đã đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu
cây trồng và đa dạng hoá sản xuất như: Philipin năm 1987 - 1992 chính phủ đã có
chiến lược chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá cây trồng nhằm thúc đẩy
nông nghiệp phát triển; Thái Lan những năm 1982 - 1996 đã có những chính sách
đầu tư phát triển nông nghiệp; Ấn Độ kể từ thập kỷ 80, khi sản xuất lương thực
đã đủ đảm bảo an ninh lương thực thì các chính sách phát triển nông nghiệp của
19


Chính phủ cũng chuyển sang đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đa dạng hoá
sản xuất, phát triển nhiều cây trồng ngoài lương thực...
2.3.2 . Phương hướng phát triển nông nghiệp Việt Nam trong những năm tới
Hiện nay, cơ cấu kinh tế nông nghiệp nước ta bước đầu đã gắn phương
thức truyền thống với phương thức công nghiệp hoá và đang từng bước giảm
bớt tính tự cấp, tự túc, chuyển dần sang sản xuất hàng hoá và hướng mạnh ra
xuất khẩu.
Trên cơ sở thành tựu nông nghiệp trong 20 năm đổi mới, dựa trên những
dự báo về khoa học kỹ thuật, căn cứ vào điều kiện cụ thể, phương hướng chủ yếu
phát triển nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm tới sẽ là:
- Phát triển vào sản xuất nông sản hàng hoá theo nhóm ngành hàng, nhóm
sản phẩm, xuất phát từ cơ sở dự báo cung cầu của thị trường nông sản trong nước,
thế giới và dựa trên cơ sở khai thác tốt lợi thế so sánh của các vùng.
- Phát triển sản xuất trên cơ sở các tiềm năng tự nhiên, kinh tế, xã hội của
từng vùng, lấy hiệu quả kinh tế tổng hợp làm thước đo để xác định cơ cấu, tỷ lệ
sản phẩm hợp lý về các chỉ tiêu, kế hoạch đối với từng nông sản hàng hoá [16].
- Chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp theo hướng tăng tỷ trọng ngành chăn
nuôi, tăng tỷ trọng cây công nghiệp, rau quả so với cây lương thực. Giảm tỷ
trọng lao động nông nghiệp xuống còn 50% [16], tăng quỹ đất nông nghiệp bình
quân trên một lao động nông nghiệp [17]. Đồng thời đẩy mạnh công nghiệp
hoá, phát triển ngành nghề công nghiệp, dịch vụ ngoài nông nghiệp. Mặt khác,
cần phải phát triển mạnh các ngành nghề, dịch vụ trong nông nghiệp để giải
quyết lao động nông nhàn.
- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế chính sách phù hợp với yêu cầu cao hơn của
công nghiệp hoá [16]. Để khuyến khích sản xuất nông sản hàng hoá, khuyến
khích các sản phẩm xuất khẩu, cần tiếp tục tạo lập đồng bộ các yếu tố của kinh tế
20


thị trường và từng bước hoàn thiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đặc biệt là thị trường ruộng đất, tạo ra sự lưu chuyển đất nông nghiệp
nhằm tạo ra các doanh nghiệp sản xuất nông nghiệp hàng hoá với quy mô thích
hợp [18].
- Đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ trong nông nghiệp. Cần ứng
dụng đồng bộ các yếu tố khoa học công nghệ vào sản xuất nông sản hàng hoá,
nâng cao trình trình độ khoa học công nghệ trong sản xuất, chế biến, lưu thông
tiếp thị nông sản hàng hoá.
Sản phẩm làm ra chứa đựng một lượng tri thức khoa học - kỹ thuật và tổ
chức quản lý cao để không ngừng nâng cao năng suất, chất lượng, hạ giá thành
sản phẩm và tiếp cận tích cực nhất với kinh tế tri thức đang diễn ra trên toàn cầu
[9].
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2011-2015: phục hồi tăng
trưởng, tăng hiệu quả sản xuất nông nghiệp; phát huy dân chủ cơ sở, huy động
sức mạnh cộng đồng để phát triển nông thôn; tăng thu nhập và giảm đáng kể tỷ
lệ nghèo, bảo vệ môi trường
- Tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ổn định 3,3 - 3,8%. Tạo chuyển biến rõ
rệt về mở rộng quy mô sản xuất bình quân của hộ và ứng dụng khoa học công
nghệ.
- Tạo bước đột phá trong đào tạo nhân lực. Nâng cao cả kiến thức, kỹ năng
sản xuất kinh doanh nông lâm ngư nghiệp và phi nông nghiệp cho lao động nông
thôn.
- Tạo chuyển biến rõ rệt phát triển kinh tế hợp tác, hiệp hội, phát triển liên
kết dọc theo ngành hàng, kết nối giữa sản xuất - chế biến - kinh doanh. Phát
triển doanh nghiệp nông thôn.
- Hình thành kết cấu hạ tầng căn bản phục vụ hiệu quả sản xuất nông
nghiệp, phát triển kinh tế nông thôn. Cải thiện căn bản môi trường và sinh thái
21


nông thôn tập trung vào đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, phòng chống dịch
bệnh cho cây trồng và vật nuôi, phòng chống thiên tai [19].
* Mục tiêu phát triển nông nghiệp giai đoạn 2016-2020: phát triển nông
nghiệp theo hướng toàn diện, hiện đại, sản xuất hàng hóa lớn, vững bền; phát
triển nông thôn gắn với quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa đất nước, tăng
thu nhập và cải thiện căn bản điều kiện sống của cư dân nông thôn, bảo vệ môi
trường.
- Đảm bảo duy trì tốc độ tăng trưởng nông nghiệp ở mức bình quân 3,54%/năm. Hình thành một số ngành sản xuất kinh doanh mũi nhọn của Việt Nam
trên thị trường quốc tế.
- Cơ cấu sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn chuyển đổi theo nhu
cầu thị trường. Phát triển chăn nuôi, thủy sản và lâm nghiệp. Công nghiệp, dịch
vụ và kinh tế đô thị phối hợp hiệu quả với sản xuất và kinh doanh nông nghiệp
và phát triển kinh tế nông thôn.
- Chuyển phần lớn lao động nông thôn ra khỏi nông nghiệp, lao động
nông nghiệp còn khoảng 30% lao động xã hội. Hình thành đội ngũ nông dân
chuyên nghiệp, có kỹ năng sản xuất và quản lý, gắn kết trong các loại hình kinh
tế hợp tác và kết nối với thị trường.
- Phong trào xây dựng nông thôn mới phát triển mạnh với ít nhất 50% số xã
đạt tiêu chuẩn. Nâng cao thu nhập của cư dân nông thôn lên 2,5 lần so với hiện
nay. Quy hoạch dân cư, quy hoạch lãnh thổ nông thôn gắn với phát triển đô thị,
công nghiệp.
- Phát triển lâm nghiệp tăng độ che phủ của rừng lên 43- 45%, bảo vệ đa
dạng sinh học, đảm bảo đánh bắt thủy sản nội địa và gần bờ trong khả năng tái tạo
và phát triển, khắc phục tình trạng ô nhiễm trong sản xuất nông nghiệp, khắc phục
và giảm thiểu thiệt hại thiên tai, dịch bệnh và các tác động xấu của biến đổi khí hậu
[19].
22


MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình quản lý và sử dụng đất sản xuất nông nghiệp của
xã Nghĩa Hưng.
23


- Đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng đất đáp
ứng yêu cầu phát triển nông nghiệp bền vững.
3.2. Đối tượng nghiên cứu
* Đối tượng nghiên cứu: nghiên cứu những vấn đề có tính lý luận và thực tiễn
về hiệu quả sử dụng đất. Đối tượng nghiên cứu trực tiếp của đề tài là quỹ đất
sản xuất nông nghiệp và vấn đề liên quan đến quá trình sử dụng đất nông
nghiệp.
3.3. Phạm vi nghiên cứu
* Phạm vi nghiên cứu: đề tài tiến hành trên địa bàn xã Nghĩa Hưng. Việc xác
định hiệu quả về mặt môi trường của quá trình sử dụng đất nông nghiệp là rất
phức tạp, nó đòi hỏi phải được nghiên cứu, phân tích trong thời gian dài. Vì vậy,
đề tài nghiên cứu của chúng tôi chỉ dừng lại ở việc đánh giá hiệu quả môi
trường thông qua kết quả điều tra về việc đầu tư phân bón, thuốc bảo vệ thực
vật và kết quả phỏng vấn nông hộ về nhận xét của họ đối với các loại hình sử
dụng đất hiện tại.
3.4. Nội dung nghiên cứu
3.4.1. Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội vùng nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên về vị trí địa lý, đất đai, khí hậu, địa hình,
thuỷ văn.
- Đánh giá điều kiện kinh tế xã hội: Cơ cấu kinh tế, tình hình dân số, lao
động, trình độ dân trí, tình hình quản lý đất đai, thị trường tiêu thụ nông sản phẩm,
dịch vụ, và cơ sở hạ tầng (giao thông, thuỷ lợi, công trình phúc lợi...).
- Đánh giá những cơ hội và thách thức đối với phát triển nông nghiệp bền
vững.
3.4.2. Tình hình quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn xã
- Tình hình quản lý đất đai.

24


- Hiện trạng sử dụng đất đai.
3.4.3. Thực trạng sử dụng đất nông nghiệp xã Nghĩa Hưng
- Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp của xã.
- Nghiên cứu các kiểu sử dụng đất hiện trạng, diện tích và sự phân bố các
kiểu sử dụng đất trong xã.
3.4.4. Hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp xã Nghĩa Hưng
- Hiệu quả kinh tế các kiểu sử dụng đất
+ Tính giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian của từng cây trồng
trên 1 ha đất canh tác.
+ Tính giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian của các kiểu sử
dụng đất trên 1 ha đất canh tác.
+ Tính giá trị sản xuất, giá trị gia tăng, chi phí trung gian trên 1 công lao
động quy đổi.
- Hiệu quả về mặt xã hội của các kiểu sử dụng đất
+ Mức độ sử dụng lao động;
+ Giá trị ngày công lao động;
- Hiệu quả về mặt về môi trường của các kiểu sử dụng đất
+ Mức độ đầu tư phân bón và thuốc bảo vệ thực vật của các cây trồng,
các kiểu sử dụng đất.
- Đánh giá tổng hợp
Trên cơ sở những đánh giá hiệu quả kinh tế, hiệu quả xã hội và hiệu quả
môi trường của các loại hình sử dụng đất sẽ đưa ra:
+ Tổng quát sự phát triển sản xuất nông nghiệp với các loại hình sử dụng
đất hiệu quả và có xu hướng phát triển.
25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×