Tải bản đầy đủ

Pháp luật về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO và bài học kinh nghiệm cho việt nam (luận văn thạc sĩ luật học)

MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU…………………………………………………………………...….1
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài………………………………………1
2. Mục đích nghiên cứu………………..…………………………………………...2
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu……………………………….……………...3
4. Tình hình nghiên cứu…………………..………………………………………..3
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu……………………………...……..4
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài………………………………………4
7. Bố cục của luận văn…………………………………..…………………………4
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ VÀ
PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ………………………………………….5
1.1. Khái quát chung về bán phá giá……………………………………………...5
1.1.1. Khái niệm bán phá giá………………………………………………………..5
1.1.2. Tác động của bán phá giá…………………………………...………………..9
1.1.3. Cơ sở lý luận xác định hành vi bán phá giá không lành mạnh……………...11
1.2. Vấn đề chống bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá…………..…...16
1.2.1. Vấn đề chống bán phá giá…………………………………………………...16
1.2.2. Pháp luật về chống bán phá giá……………………………………...……...18
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1……………………………………..…………………..25
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
TRONG KHUÔN KHỔ CỦA WTO….……………………………………..…..26

2.1. Một số quy định cơ bản của WTO về chống bán phá giá………………….26
2.1.1. Xác định hành vi bán phá giá………………………………...……………..26
2.1.2. Xác định thiệt hại……………………………………………………………33
2.1.3. Xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc bán phá giá và thiệt hại...………39
2. 1.4. Áp dụng các biện pháp chống bán phá giá...……………………………….41
2.1.5. Pháp luật chống bán phá giá của WTO đối với quốc gia đang phát triển
(LDCs) và quốc gia có nền kinh tế phi thị trường (NME)…………………………50
2.2. Một số vụ tranh chấp trong khuôn khổ WTO về chống bán phá giá……..52
2.2.1. Vụ tranh chấp giữa Hội đồng Châu Âu (EC) - Ấn Độ đối với mặt hàng khăn
trải giường cotton………………………………………………………………..52
2.2.2. Vụ tranh chấp giữa Mexico – Mỹ đối với sản phẩm ngũ cốc……………….54
2.2.3. Vụ tranh chấp giữa Argentina – Braxin đối với sản phẩm gia cầm………...55
2.2.4. Vụ kiện chống bán phá giá sản phẩm bán dẫn của Nhật Bản……...……….57


2.2.5. Vụ kiện chống bán phá giá sản phẩm bóng hình ti vi từ Trung Quốc………58
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2…………………………………..…………………….60
CHƯƠNG 3: VẤN ĐỀ CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA VIỆT NAM VÀ
NHỮNG BÀI HỌC KINH NGHIỆM RÚT RA TỪ THỰC TIỄN PHÁP LUẬT
CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ TRONG KHUÔN KHỔ WTO……………………..61
3.1. Vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam…………………………………...61
3.1.1. Mức độ tương thích của pháp luật Việt Nam so với các quy định của WTO về
chống bán phá giá………………………………………………………………….61
3.1.2. Thực tiễn chống bán phá giá của Việt Nam…………………………………70
3.2. Bài học kinh nghiệm và một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả
thực thi pháp luật về chống bán phá giá ở Việt Nam…………………………..77
3.2.1. Hoàn thiện pháp luật chống bán phá của Việt Nam……………...…………78
3.2.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật chống bán phá giá……..…83
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 ………………………..……….……………………...88
KẾT LUẬN…………………………………………...…………………………...89
PHỤ LỤC
DANH MỤC VĂN BẢN PHÁP LUẬT
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


3

LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Quá trình mở rộng, phát triển của thương mại quốc tế trong bối cảnh toàn cầu


hóa đã và đang làm cho sự cạnh tranh giữa các nền kinh tế ngày một gia tăng; vì
thế, việc xuất hiện nhiều hơn các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, điển hình
như hiện tượng bán phá giá (BPG) tiêu cực, là điều khó tránh khỏi. Vấn đề này đặt
ra cho các ngành sản xuất nội địa những thách thức lớn hơn bao giờ hết và nguy cơ
tổn hại không chỉ còn là khả năng, mà sẽ trở thành hiện hữu nếu như quốc gia nhập
khẩu không tự trang bị cho mình những công cụ cần thiết để ứng phó kịp thời.
Trước yêu cầu duy trì một nền cạnh tranh công bằng, lành mạnh, Tổ chức
thương mại thế giới (WTO), ngay từ khi thành lập, đã có những quy định cơ bản về
chống bán phá giá (CBPG) với ý nghĩa là một công cụ phòng vệ thương mại cho
các quốc gia thành viên. Đây là cơ sở giúp các thành viên chủ động bảo hộ ngành
sản xuất trong nước trước các hành vi BPG tiêu cực. Tuy nhiên, việc bảo hộ ở mức
độ nào còn phụ thuộc vào quá trình nội luật hóa cũng như sự áp dụng các quy định
này trong những điều kiện cụ thể của từng quốc gia.
Việt Nam chính thức trở thành thành viên của WTO từ ngày 11/01/2007.
Trước đó, từ năm 2004, để bảo đảm yêu cầu về điều kiện pháp lý chuẩn bị cho sự
gia nhập Tổ chức này, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống các quy định cơ
bản về CBPG trên cơ sở nền tảng các quy định tương ứng của WTO. Sau hơn 11
năm thi hành, thực tiễn cho thấy những quy định này chưa mang lại hiệu quả mong
muốn. Thực tế, tính đến năm 2016, Việt Nam mới chỉ khởi xướng và áp dụng được
thuế CBPG hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam với duy nhất một trường hợp1. Mặt
khác, tại thị trường nước ngoài, Việt Nam đã phải đối mặt với 72 vụ kiện CBPG2
đối với hàng hóa khi xuất khẩu (kết quả là có thời điểm hàng xuất khẩu Việt Nam bị
áp thuế CBPG đến hơn 300%3). Rõ ràng, điều này cho thấy năng lực phòng vệ trước
hiện tượng BPG của Việt Nam còn nhiều hạn chế.
Xét trong mối quan hệ với các biện pháp phòng vệ thương mại khác, việc sử
dụng các công cụ bảo hộ trong nước của Việt Nam hiện nay có vẻ đang đi ngược
với xu hướng chung của thế giới4. Theo đó, trong khi đa phần các nước coi CBPG
1 http://chongbanphagia.vn/Modules/News/Uploaded/38/2016040615255383thong-ke-cac-vu-dieu-tra-chong-ban-pha-gia-do-viet-namtien-hanh-voi-hang-hoa-nuoc-ngoai-nhap-khau.pdf, truy cập ngày 20/7/2016.
2 http://chongbanphagia.vn/thong-ke-cac-vu-kien-cbpg-doi-voi-hang-xuat-khau-viet-nam-tinh-den-3092015-n14331.html, truy cập ngày
20/7/2016.
3
Vụ kiện mặt hàng đinh thép Việt Nam xuất khẩu sang Hoa Kỳ tháng 6 năm 2014, thuế chống BPG bị áp dụng với Việt Nam là từ
288,56% - 313,97% trong thời hạn 5 năm.


4

là một trong những công cụ phòng vệ hữu hiệu nhất thì Việt Nam lại sử dụng công
cụ này ít nhất, thay vào đó là việc áp dụng triệt để biện pháp tự vệ thương mại, với
lý do công cụ này “né tránh” được việc trải qua các thủ tục điều tra phức tạp; đồng
thời, để tạm thời hạn chế nhập khẩu hàng hóa nhất định nhằm bảo vệ ngành sản
xuất nội địa tương ứng thì công cụ này chỉ đòi hỏi việc trả giá bằng tiền để bồi
thường thương mại cho các nước có hàng hoá bị áp dụng biện pháp tự vệ.
Thực hiện chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được Đảng nhấn mạnh từ
Đại hội IX, Việt Nam đang tiếp tục tích cực kí kết, gia nhập các hiệp định thương
mại song phương, đa phương. Điều này đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ phải đối
mặt nhiều hơn với những nguy cơ từ BPG, không chỉ đối với hàng hóa xuất khẩu
mà còn đối với cả thị trường trong nước khi hàng rào thuế quan theo cam kết tự do
hóa thương mại bị cắt giảm triệt để. Vì thế, nếu tiếp tục vận hành công cụ CBPG
không hiệu quả như hiện tại, thì những tổn hại mà Việt Nam nhận được từ hội nhập
sẽ không dừng lại, mà còn cao hơn nhiều lần.
Hiện nay, WTO là tổ chức thương mại lớn nhất toàn cầu với sự quy tụ của
đông đảo thành viên chiếm số đông các quốc gia trên thế giới. Với ý nghĩa đó, luật
lệ của WTO luôn được đánh giá là hệ thống luật lệ điển hình, có vai trò quan trọng
nhất điều chỉnh các hoạt động thương mại quốc tế. Vì thế, trước bối cảnh hội nhập
sâu rộng, Việt Nam - với vị trí là thành viên còn non trẻ, có những đặc thù của nền
kinh tế đang phát triển và thể chế kinh tế thị trường chưa hoàn thiện, việc nắm bắt
từ lý luận đến quy định và thực tiễn CBPG trong khuôn khổ WTO là điều hết sức
cần thiết, góp phần tích lũy những bài học kinh nghiệm quý báu cho thực tiễn
CBPG ở Việt Nam. Xuất phát từ lý do trên, tác giả mạnh dạn chọn đề tài “Pháp
luật về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO và bài học kinh nghiệm cho
Việt Nam” để làm luận văn thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu
Luận văn hướng đến việc tìm hiểu, làm rõ những vấn đề lý luận chung để thấy
được bản chất của BPG, CBPG; từ đó đi sâu nghiên cứu những quy định cơ bản
pháp luật CBPG trong khuôn khổ WTO, cũng như thực tiễn CBPG của một số quốc
gia thành viên WTO. Trên cơ sở đó, đối chiếu với thực trạng vấn đề CBPG của Việt
Nam để rút ra những bài học kinh nghiệm và đề xuất giải pháp cho quá trình xây
4 Nguyễn Thị Thu Trang (2014), Giải pháp tăng cường sử dụng các công cụ phòng vệ thương mại nhằm chuẩn bị cho doanh nghiệp
trong nước sẵn sàng cho việc mở cửa thị trường thực thi các FTA và cộng đồng kinh tế ASEAN, Trung tâm WTO - Phòng Thương mại
và Công nghiệp Việt Nam, Hà Nội, tr.14.


5

dựng và thực thi pháp luật về CBPG của Việt Nam trong bối cảnh tự do hóa thương
mại ngày càng mở rộng, nhằm vừa bảo đảm sự tương thích với những quy định của
WTO; vừa phát huy được ưu thế, nội lực sẵn có và phòng tránh, hạn chế tới mức
thấp nhất thiệt hại từ các vụ kiện CBPG khi tham gia các quan hệ thương mại quốc
tế; thực sự biến những thách thức từ hội nhập thành cơ hội.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
CBPG là lĩnh vực lớn và hết sức phức tạp. Trong khuôn khổ của luận văn
này, tác giả không đặt mục tiêu đi xem xét chi tiết, cụ thể tất cả các vấn đề về
CBPG mà chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau đây: (1) Những vấn đề
lý luận cơ bản về BPG, CBPG nhằm làm rõ bản chất của BPG và CBPG; (2) Những
nội dung cơ bản của pháp luật về CBPG trong khuôn khổ WTO liên quan đến: xác
định BPG; xác định thiệt hại; xác định mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt
hại; việc áp dụng các biện pháp CBPG; quy chế CBPG đối với các quốc gia thành
viên đang phát triển, các quốc gia thành viên có nền kinh tế phi thị trường; (3) Thực
tiễn CBPG của một số nước thành viên WTO; (4) Thực trạng vấn đề CBPG của
Việt Nam dưới góc độ đối chiếu với quy định pháp luật, thực tiễn CBPG trong
khuôn khổ WTO; (5) Những bài học kinh nghiệm rút ra và giải pháp nâng cao hiệu
quả hoạt động CBPG của Việt Nam.
4. Tình hình nghiên cứu
Cho đến nay, vấn đề CBPG luôn thu hút được sự quan tâm nghiên cứu từ
nhiều tác giả cả trong và ngoài nước. Riêng tại Việt Nam, số lượng các công trình
liên quan đến vấn đề này chiếm con số không nhỏ, điển hình có thể kể đến: Sách
chuyên khảo “Pháp luật về chống bán phá giá trong thương mại quốc tế và những
vấn đề đặt ra đối với Việt Nam” của tác giả Vũ Thị Phương Lan do NXB. Chính trị
quốc gia – Sự thật xuất bản năm 2012; Luận án Tiến sĩ Luật học “Pháp luật chống
bán phá giá hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam” (Nguyễn Ngọc
Sơn, Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, 2010); Luận văn Thạc sĩ Luật
học về “Pháp luật chống bán phá giá ở Việt Nam” (Đoàn Trung Kiên, Đại học Luật
Hà Nội, 2005),… và nhiều bài nghiên cứu trên các báo, tạp chí chuyên ngành. Các
công trình nghiên cứu trên đã tiếp cận vấn đề pháp luật CBPG ở nhiều góc độ khác
nhau và là những tài liệu cho quá trình nghiên cứu đề tài luận văn này của tác giả.
Đối với luận văn này tác giả đã tiếp cận vấn đề dưới góc độ riêng, đó là: tìm ra
những bài học kinh nghiệm về CBPG cho Việt Nam trong bối cảnh mới khi Việt
Nam đang tích cực hội nhập sâu rộng, khẳng định vị trí của mình trên trường quốc


6

tế, từ việc nghiên cứu bản chất vấn đề BPG, CBPG và phân tích, đối chiếu, đánh giá
quy định, thực tiễn áp dụng các quy định về CBPG trong khuôn khổ WTO.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu đề tài được dựa trên cơ sở những quan điểm của Chủ nghĩa
Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối đổi mới của Đảng cộng sản Việt
Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng kết hợp các phương pháp
nghiên cứu: Phương pháp thống kê, phân tích - tổng hợp, khái quát hóa, khảo sát
thực tiễn và đặc biệt là phương pháp so sánh luật học để giải quyết các vấn đề mà
nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài đặt ra.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Về mặt khoa học: Luận văn góp phần góp phần củng cố, xây dựng cơ sở lý
luận một cách có hệ thống về BPG, CBPG; đồng thời, cung cấp góc nhìn toàn diện
ở cả hai mặt: quy định và thực trạng áp dụng pháp luật CBPG trong khuôn khổ
WTO trong sự đối chiếu, đánh giá với thực tiễn vấn đề CBPG của Việt Nam.
Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo hữu ích trong việc nghiên cứu về lý luận và pháp luật CBPG, làm tài liệu
giảng dạy và học tập cho sinh viên đại học chuyên ngành luật học.
Về thực tiễn: những nghiên cứu, kết luận, đề xuất của luận văn có ý nghĩa
trong việc hoàn thiện pháp luật CBPG tại Việt Nam và nâng cao hiệu quả áp dụng
pháp luật trong lĩnh vực này trên thực tế.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, phần Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
Danh mục từ viết tắt, Mục lục, Luận văn được chia làm 03 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về bán phá giá và pháp luật chống
bán phá giá
Chương 2: Thực trạng pháp luật về chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO
Chương 3: Vấn đề chống bán phá giá của Việt Nam và những bài học kinh
nghiệm rút ra từ thực tiễn pháp luật chống bán phá giá trong khuôn khổ WTO


7

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ BÁN PHÁ GIÁ
VÀ PHÁP LUẬT CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ
1.1. Khái quát chung về bán phá giá
1.1.1. Khái niệm bán phá giá
BPG là hiện tượng khách quan trong nền kinh tế thị trường. Có thể thấy, dưới
áp lực cạnh tranh, các chủ thể kinh doanh luôn phải tìm cách để “sinh tồn” trước
những đối thủ khác, thậm chí là việc bán hàng hóa với giá thấp dưới mức giá thị
trường của sản phẩm. Những hành vi như vậy thông thường được hiểu là BPG. Tuy
nhiên, đây chỉ là quan niệm đơn giản về mặt ngôn ngữ, phản ánh hiện tượng BPG.
Thực tế, BPG là một nội dung hết sức phức tạp, đặc biệt trong hoạt động thương
mại quốc tế.
Lịch sử thương mại quốc tế đã chứng kiến sự xuất hiện những hành vi BPG
đầu tiên từ khoảng cuối thế kỷ XVI ở Anh, khi những chủ kinh doanh nước ngoài
đem bán giấy với mức giá chịu lỗ nhằm bóp nghẹt nền công nghiệp giấy của Anh.
Tuy nhiên, phải đến năm 1923 thuật ngữ này mới được khái niệm hóa nhờ công của
Jacob Viner – học giả kinh tế được biết đến nhiều nhất trong lĩnh vực CBPG. Theo
ông, “BPG là việc bán hàng hóa ở những mức giá khác nhau ở các thị trường quốc
gia”. Quan điểm của Viner nhấn mạnh yếu tố “phân biệt về giá” giữa các thị trường
quốc gia của hành vi BPG, song, điều này chưa làm rõ được những đặc trưng của
BPG, bởi cần thấy rằng:
- Thực tế có nhiều lý do khách quan dẫn đến sự khác biệt về giá bán hàng hóa
giữa thị trường các quốc gia như về điều kiện kiện khách quan về hạ tầng kinh tế xã hội, tỉ giá đồng tiền,... Tuy nhiên, những biểu hiện đó được xem là tất yếu trong
môi trường kinh doanh. Một hành vi chỉ nên được xem là BPG nếu việc thực hiện
hành vi đó phản ánh tính có chủ đích, tính hệ thống, thể hiện chiến lược của các
doanh nghiệp khi cạnh tranh trên thị trường nhập khẩu.
- Để thấy được sự phân biệt giá hàng hóa ở thị trường của các quốc gia khác
nhau (giữa nước nhập khẩu với nước xuất khẩu) đòi hỏi phải có sự so sánh hợp lý
giữa giá bán hàng hóa tại thị trường của các quốc gia này. Nói cách khác, việc phân
biệt giá cần có những điều kiện được coi là tiêu chuẩn để làm cơ sở cho quá trình so
sánh, như: mặt hàng được xác định là đối tượng để so sánh giá giữa thị trường nước
nhập khẩu và thị trường nước xuất khẩu phải là những hàng hóa tương tự nhau;
hoặc, điều kiện xác định mức giá giữa các thị trường như về giá trị giao dịch, thời


8

điểm giao dịch, công đoạn thương mại (khâu xuất xưởng hay phân phối) cần có sự
tương đương để bảo đảm mức giá so sánh là công bằng, hợp lý.
- Đối với cùng một loại sản phẩm, giữa mức giá bán thông thường tại thị
trường nội địa và GXK sang thị trường quốc gia khác luôn tồn tại nhiều khả năng,
trong đó, giá bán hàng hóa ở nước nhập khẩu có thể cao hơn, thấp hơn hoặc không
khác so với mức giá ở nước xuất khẩu. Tuy nhiên, cần thấy rằng, hàng hóa sản xuất
ở một nước khi đem bán ở một nước khác sẽ phải chịu thêm nhiều khoản chi phí
như vận chuyển, đóng gói, bảo quản, thuế quan,… khi nhập khẩu, vì thế trường hợp
giá bán hàng hóa ở nước nhập khẩu cao hơn giá bán ở nước xuất khẩu là điều hoàn
toàn phù hợp với mục đích lợi nhuận của hoạt động thương mại. Ngược lại, hàng
hóa nhập khẩu được bán với giá ngang bằng hoặc thấp hơn giá bán hàng hóa tại
nước xuất khẩu sẽ được coi là dưới mức thông thường của sản phẩm và trong
trường hợp này chủ thể kinh doanh có nguy cơ chịu lỗ. Tuy nhiên, hiện nay, sự phát
triển của khoa học công nghệ, dịch vụ vận chuyển, chính sách xuất – nhập khẩu
thông thoáng dưới tác động của mở rộng tự do hóa thương mại,... cho phép các chủ
thể kinh doanh xuất khẩu những luồng hàng hóa giá rẻ với mức giá không khác so
với giá bán hàng hóa tại nước xuất khẩu mà vẫn có lãi. Vì vậy, việc coi những
trường hợp này là BPG theo quan niệm trên không còn phù hợp với điều kiện mới.
Nói cách khác, hiện tượng BPG, dưới góc độ phân biệt giá, chỉ nên được hiểu là
trường hợp mức giá bán hàng hóa tại nước nhập khẩu thấp hơn giá bán hàng hóa tại
nước xuất khẩu.
Như vậy, quan niệm của Viner, mặc dù đã trở thành viện dẫn kinh điển trong
kinh tế học về BPG, song, với mức độ khái quát cao như vậy, định nghĩa này đã
vướng phải những trở ngại về mặt thực tiễn trong việc xác định hành vi BPG cụ thể
với các hành vi phân biệt giá nói chung.
Từ những phân tích trên, có thể hiểu: BPG trong thương mại quốc tế là hiện
tượng phân biệt giá quốc tế mà mức giá xuất khẩu (GXK) của một loại hàng hóa từ
nước xuất khẩu sang một nước nhập khẩu thấp hơn giá trị thông thường (GTTT) có
thể so sánh được của hàng hóa tương tự tại nước xuất khẩu. Đây cũng là cách hiểu
phổ biến trong thương mại quốc tế hiện nay, thống nhất với tinh thần của WTO
được thể hiện tại khoản 1 Điều VI của Hiệp định chung về thuế quan và thương
mại năm 1994 và khoản 2.1 Điều 2 Hiệp định chống BPG năm 1994. Từ quan niệm
này, có thể thấy, hiện tượng BPG có một số đặc điểm sau:


9

Thứ nhất, về đối tượng của hành vi BPG: Đối tượng của hành vi BPG là
những hàng hóa được phép lưu thông trong thương mại quốc tế. BPG trong thương
mại quốc tế hiện nay chỉ được đề cập trong lĩnh vực hàng hóa, mà không bao hàm
lĩnh vực dịch vụ. Điều này có thể được lý giải từ nhiều nguyên nhân khác nhau: Một
là, từ sự khác nhau về bản chất giữa hàng hóa và dịch vụ. Có thể thấy, với ba đặc
trưng cơ bản của dịch vụ là: (i) tính vô hình; (ii) quá trình sản xuất (cung ứng) và
tiêu dùng xảy ra đồng thời; (iii) không thể lưu trữ, dịch vụ khó có thể được lượng
hóa một cách trực tiếp về chất lượng hay thống nhất các nguyên tắc xác định chi
phí, giá thành của dịch vụ trên phạm vi toàn cầu… trong khi những vấn đề nói trên
có thể thực hiện được trong thị trường hàng hóa.
Hai là, pháp luật tiếp cận hiện tượng BPG với ý nghĩa là công cụ để chống lại
các hành vi BPG tiêu cực, trong đó, vấn đề CBPG được xây dựng trên cơ sở nguyên
tắc đối vật. Tức là, khi hàng hóa nhập khẩu BPG một cách không lành mạnh và gây
thiệt hại cho ngành sản xuất trong nước, pháp luật sẽ được sử dụng để xử lý hàng
hoá nhập khẩu mà không xử phạt người đã thực hiện hành vi. Trong khi đó, việc
cung ứng dịch vụ luôn gắn liền người cung ứng dịch vụ. Vì thế, trong lĩnh vực dịch
vụ, nguyên tắc đối vật khó có thể áp dụng khi chưa có những tiêu chuẩn phân tách
đối tượng phá giá và chủ thể thực hiện hành vi.
Ba là, từ góc độ lịch sử pháp luật CBPG, vấn đề BPG dịch vụ đã từng được
bàn luận trong quá trình dự thảo Hiến chương Havana5, song, với giới hạn rất hẹp
chỉ trong lĩnh vực vận chuyển tàu biển, mà không bao gồm hết các ngành dịch vụ
trong thương mại quốc tế. Đến nay, khái niệm phá giá dịch vụ chỉ có giá trị nghiên
cứu về lý thuyết mà không được phản ánh trong các quy tắc về chống BPG hiện
hành của WTO và của các nước6.
Thứ hai, về phạm vi không gian: BPG trong thương mại quốc tế xảy ra trong
quá trình xuất – nhập khẩu hàng hóa, vì thế, nó đòi hỏi phải có sự xuất hiện của hai
thị trường riêng biệt. Trong đó, hai thị trường này có sự ngăn cách bởi những đường
biên giới quốc gia hay vùng lãnh thổ. Đây là đặc trưng khác biệt cơ bản về phạm vi
giữa BPG trong thị trường nội địa và thương mại quốc tế.
Thứ ba, về hành vi: BPG trong thương mại quốc tế là sự phân biệt giá quốc tế.
Tuy nhiên, không phải mọi biểu hiện phân biệt giá cả quốc tế đều được coi là BPG.
5 Hiến chương của Tổ chức thương mại quốc tế (ITO) (Tổ chức ITO mặc dù sau đó không được thành lập, nhưng những quy định tại
Hiến chương Havana có ý nghĩa quan trọng trong lịch sử phát triển của pháp luật chống BPG thế giới).
6 Nguyễn Ngọc Sơn (2010), Pháp luật chống BPG hàng hóa nhập khẩu và cơ chế thực thi tại Việt Nam, Luận án Tiến sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật thành phố Hồ Chí Minh, thành phố Hồ Chí Minh, tr.26.


10

Hành vi BPG, dưới góc độ phân biệt giá, đòi hỏi điều kiện:
(i) Việc phân biệt giá phải được áp dụng đối với những giao dịch tương tự
nhau. Thông thường, yếu tố tương tự này được xác định thông qua các tiêu chí:
- Đối tượng của các giao dịch là những loại hàng hóa tương tự nhau. Đó là
những hàng hóa có khả năng năng thay thế cho nhau. Điều này không đòi hỏi các
sản phẩm giống nhau một cách tuyệt đối ở mọi mặt, mà có thể chỉ giống nhau về
nhiều đặc tính cơ bản cho phép người tiêu dùng lựa chọn để thay thế, như đặc tính:
vật lý, hóa học, chức năng,…
- Các giao dịch được so sánh phải tương đương về giá trị, trong đó, giá trị của
giao dịch có thể được xác định thông qua trị giá của sản phẩm, số lượng, khối lượng
được mua bán trong giao dịch. Điều kiện này được đặt ra bởi trong thực tế, nhiều
doanh nghiệp khi xuất khẩu có thể dành ưu đãi giá cho các giao dịch có giá trị lớn,
có tính thường xuyên,....
- Thời điểm xác lập các giao dịch phải ở những giai đoạn mà điều kiện thị
trường giống nhau bởi thực tế những biến động thị trường có thể tạo ra sự khác biệt
về giá. Tuy nhiên, điều này cũng không đòi hỏi chúng phải được hình thành tại cùng
một thời điểm mà có thể ở những thời điểm khác nhau nhưng trong giai đoạn đó
những điều kiện thị trường chưa thay đổi, hoặc nếu có thay đổi thì mức độ thay đổi
chưa làm cho điều kiện thương mại giữa các giao dịch trở nên khác nhau.
- Các giao dịch được dùng để so sánh phải nằm ở những tầng phân phối (bán
lẻ, bán buôn) hay công đoạn thương mại tương đương của quá trình kinh doanh.
Thông thường người ta lấy “mốc” để so sánh là ở khâu xuất xưởng.
(ii) Xác định hành vi BPG, không chỉ đòi hỏi có sự so sánh để thấy được yếu
tố khác biệt về giá cả giữa GXK hàng hóa và GTTT của hàng hóa tại nước xuất
khẩu, mà còn yêu cầu mức GXK hàng hóa này phải thấp hơn GTTT của hàng hóa
tương tự tại nước xuất khẩu thì có thể coi là có hiện tượng BPG.
Ở đây, cần lưu ý phân biệt giữa hiện tượng BPG và buôn lậu. Mặc dù hai hành
vi này có thể cùng có biểu hiện chung là hàng hóa được nhập bán qua biên giới với
giá thấp. Tuy nhiên, bản chất của buôn lậu là hành vi thương mại trái phép bị ngăn
cấm hoàn toàn. Hành vi buôn lậu luôn trốn tránh sự kiểm soát và nghĩa vụ tài chính
tại nước nhập hàng, do đó không cho phép xác định GXK hàng hóa làm cơ sở để so
sánh giá.
Như vậy, thực tế bản chất của BPG trong thương mại quốc tế là sự phân biệt
giá quốc tế mà GXK của hàng hóa thấp hơn GTTT có thể so sánh được của hàng


11

hóa tương tự tại nước xuất khẩu. Nhiều quan điểm khi nghiên cứu về BPG đã gắn
thêm cho hiện tượng này bản chất cạnh tranh không lành mạnh. Tuy nhiên, cần thấy
rằng, trong thương mại quốc tế, không phải mọi hành vi BPG đều có tác động tiêu
cực đến môi trường cạnh tranh (điều này sẽ được làm rõ ở phần 1.1.2). Nói cách
khác, tính chất không lành mạnh không phải là tính chất chung của mọi hành vi
BPG, vì thế, bản chất của BPG chỉ nên được hiểu là sự phân biệt giá quốc tế như đã
phân tích ở trên.
1.1.2. Tác động của bán phá giá
Trong thương mại quốc tế, BPG luôn có những ảnh hưởng nhất định đối với
nền kinh tế của cả nước nhập khẩu và nước xuất khẩu. Việc thực hiện hành vi BPG
với mục đích tích cực hay tiêu cực có thể tạo ra những tác động tốt hay xấu tương
ứng cho thị trường; thậm chí, có những ảnh hưởng nằm ngoài mục đích mà doanh
nghiệp hướng đến. Nhìn chung, những tác động cơ bản của hành vi BPG được thấy
rõ ở hai góc độ sau:
Thứ nhất, đối với thị trường nước xuất khẩu:
BPG là chiến lược kinh doanh mà chính doanh nghiệp xuất khẩu đã lựa
chọn. Vì thế, dù ở hoàn cảnh “bất đắc dĩ” buộc phải thực hiện BPG như: bán chủng
hàng cũ để chuẩn bị thay thế mặt hàng tiên tiến hơn, bán hàng tồn kho,… thì hành
vi này vẫn mang lại những lợi ích nhất định cho doanh nghiệp, điển hình, trong
những trường hợp trên, BPG được xem là biện pháp “cứu cánh” để bù lỗ cho doanh
nghiệp. Trong thương mại quốc tế, nhiều doanh nghiệp cũng tìm đến BPG như
phương án cạnh tranh hữu hiệu nhằm xâm nhập thị trường nước ngoài, thử nghiệm
mặt hàng mới, tạo lợi thế về giá để chiếm lĩnh thị trường quốc tế,… Như vậy, BPG
mang lại cơ hội để phát triển thị trường và thu lợi nhuận cho doanh nghiệp, từ đó
góp phần gia tăng năng lực cho doanh nghiệp trong việc tái đầu tư hoặc đầu tư sang
những loại hình khác một cách tốt hơn. Đây được coi là động lực thúc đẩy sự phát
triển chung của nền kinh tế, xã hội nước nhập khẩu.
Ở góc độ tiêu cực, tất nhiên, doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với những bất lợi
về tài chính trong thời gian đầu khi thực hiện hành vi BPG. Điều này có thể buộc
doanh nghiệp xuất khẩu, đặc biệt những doanh nghiệp quyền lực trên thị trường,
đẩy giá hàng hóa nội địa lên cao để bù đắp lỗ từ BPG, gây ra thiệt hại cho người
tiêu dùng. Đồng thời, tác hại có thể nhìn thấy được đó là nếu doanh nghiệp duy trì
BPG quá lâu dẫn tới vượt qua cả nội lực của mình thì có khả năng sẽ phải đối mặt
với thua lỗ, thậm chí phá sản.


12

Thứ hai, đối với thị trường nước nhập khẩu:
Đối tượng chịu tác động đầu tiên từ hành vi BPG trong thương mại quốc tế tại
nước nhập khẩu chính là người tiêu dùng. Có thể thấy, trong ngắn hạn, BPG tạo ra
động lực kích thích tiêu dùng thông qua việc cung cấp cho người tiêu dùng cơ hội
thụ hưởng những mặt hàng giá rẻ. Ngoài ra, việc hàng hóa nhập khẩu phá giá với
giá bán rẻ hơn so với hàng hóa nội địa đẩy doanh nghiệp nội địa vào tình trạng hoặc
tìm cách giảm chi phí để tăng khả năng cạnh tranh về giá, hoặc mất khách hàng. Áp
lực cạnh tranh tăng sẽ có tác dụng làm giảm sức ỳ của các doanh nghiệp nội địa,
làm giảm khả năng bóc lột khách hàng của các doanh nghiệp nội địa, đặc biệt khi
những doanh nghiệp này đang có vị trí thống lĩnh hay độc quyền trên thị trường. Vì
thế, lợi ích cuối cùng vẫn thuộc về người tiêu dùng khi họ được mở rộng sự lựa
chọn hàng hóa với giá rẻ đối với cả mặt hàng trong nước và hàng hóa nhập khẩu.
Với tư cách là khách hàng, những doanh nghiệp nội địa sử dụng hàng hóa
nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất cũng được hưởng lợi tương tự như người tiêu
dùng. Theo đó, nguồn đầu vào giá rẻ sẽ góp phần tiết kiệm chi phí và thúc đẩy tăng
trưởng cho ngành sản xuất mà họ hoạt động.
Ở góc độ tiêu cực, nếu doanh nghiệp nước ngoài BPG hàng hóa để thực hiện
chiến lược chiếm đoạt thị trường bằng cách định giá hủy diệt ngành sản xuất trong
nước thì ngay sau khi loại bỏ đối thủ cạnh tranh là các doanh nghiệp nội địa, doanh
nghiệp nước ngoài sẽ có xu hướng tăng giá để bù đắp những gì đã mất từ việc BPG.
Người tiêu dùng có nguy cơ trở thành nạn nhân của mức giá độc quyền do các
doanh nghiệp nước ngoài ấn định.
Về phía ngành sản xuất nội địa, nếu hàng hóa nhập khẩu bị BPG với mức thấp
hơn chi phí sản xuất của hàng hóa tương tự tại thị trường nội địa, doanh nghiệp
trong nước sẽ phải đối mặt với tình trạng thua lỗ, thậm chí phá sản dù có hay không
lựa chọn theo đuổi cạnh tranh về giá. Trường hợp mức BPG chỉ thấp hơn giá bán
hiện tại, nhưng không thấp hơn chi phí sản xuất của hàng hóa nội địa thì ngành sản
xuất nội địa vẫn phải gánh chịu thiệt hại là sự suy giảm lợi nhuận. Có thể thấy, với
khả năng làm giảm, triệt tiêu lợi nhuận kinh doanh của doanh nghiệp nội địa, BPG
có thể dẫn đến việc làm giảm tính hấp dẫn về đầu tư đối với ngành hàng tương tự tại
thị trường nội địa, biến đổi cơ cấu ngành sản xuất trong nước. Đây là mối lo ngại
của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới khi đối mặt với tình trạng BPG.
Như vậy, ảnh hưởng của BPG, dù đối với nước nhập khẩu hay nước xuất
khẩu, luôn có tính hai mặt: tích cực và tiêu cực. Tuy nhiên, bởi là môi trường trực


13

tiếp diễn ra hành vi BPG nên nước nhập khẩu luôn chịu những ảnh hưởng lớn hơn
từ hành vi này. Có thể nói, trong lịch sử thương mại quốc tế, vấn đề BPG được đặt
ra chính là xuất phát từ mối quan tâm về tác động của BPG đối với nền kinh tế nước
nhập khẩu, cụ thể là lợi ích của nhà sản xuất nội địa và quyền lợi người tiêu dùng.
Dưới tác động của BPG, quyền lợi của người tiêu dùng đang được thụ hưởng
(hiện tại đang mua được hàng hoá giá rẻ) và lợi ích của nhà sản xuất trong nước
(phải hạ giá thành để có thể cạnh tranh với hàng hoá đang phá giá, và việc mất dần
thị phần của họ) luôn có sự xung đột. Vấn đề đặt ra là: Đâu là lợi ích cơ bản, quan
trọng cần được bảo vệ? Đây là cơ sở quyết định đến việc nên hay không nên duy trì
hành vi BPG hàng hóa nhập khẩu. Thực tế, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều
đặt lợi ích kinh tế của ngành sản xuất trong nước cao hơn. Điều này thể hiện thông
qua sự thống nhất của các quốc gia khi tạo lập nên cơ chế CBPG dựa vào yếu tố
thiệt hại của ngành thương mại nội địa. Tuy nhiên, biện pháp này gây ra ảnh hưởng
không nhỏ đến lợi ích của người tiêu dùng, bóp méo cạnh tranh và cản trở tự do
thương mại. Vì thế, quốc gia nhập khẩu cần phải đánh giá được tính không lành
mạnh của hành vi BPG để cân nhắc việc áp dụng biện pháp này.
1.1.3. Cơ sở lý luận xác định hành vi bán phá giá không lành mạnh
Giai đoạn đầu khi tiếp cận về BPG, các học giả kinh tế cũng như các nhà làm
luật đều mặc định coi mọi hành vi BPG là hành vi cạnh tranh tranh không lành
mạnh bởi mối nguy hại của hành vi này đối với ngành sản xuất nội địa. Tuy nhiên,
quan điểm về bản chất của BPG hiện nay đã có nhiều thay đổi. Như đã phân tích,
hành vi BPG tạo ra cả tác động tích cực và tiêu cực, vì thế, để xác định tính chất
không lành mạnh của hành vi này đòi hỏi phải có sự đánh giá từ nhiều mặt. Hiện
nay, nhiều lý luận kinh tế - pháp lý đã được sử dụng để xác định những hành vi
BPG không lành mạnh như: lý thuyết về thương mại tự do, lý thuyết về hành vi
phân biệt giá và lý thuyết về hành vi định giá hủy diệt. Các lý thuyết này được sử
dụng để lý giải cơ chế hình thành tính chất không lành mạnh của hành vi BPG, giới
hạn sự không lành mạnh của những hành vi đó và đưa ra cơ sở lý luận về việc áp
dụng các biện pháp CBPG trong thương mại quốc tế.
- Lý thuyết về thương mại tự do:
Tự do thương mại là xu hướng tất yếu của nền kinh tế trong bối cảnh toàn cần
hóa. Nó tạo ra môi trường kinh doanh mà ở đó các hoạt động thương mại được diễn
ra tự do và vận động theo những quy luật khách quan của thị trường. Thương mại tự


14

do tạo ra cạnh tranh, nhưng đồng thời cũng đòi hỏi sự hạn chế can thiệp của Nhà
nước trong việc điều chỉnh các hoạt động kinh tế.
Có thể thấy, một thị trường thương mại tự do có tồn tại cạnh tranh và ít bị chi
phối bởi nhà nước tất yếu dẫn đến việc xuất hiện những hành vi lạm dụng tự do để
cạnh tranh không lành mạnh hoặc hạn chế cạnh tranh. Dưới sự thúc giục của lợi
nhuận, các doanh nghiệp có xu hướng thực hiện những hành vi cạnh tranh bất chính
nhằm loại bỏ đối thủ hoặc chiếm đoạt thị phần. Theo đó, những chiến lược cạnh
tranh về giá như thông qua BPG có thể là phương án mà doanh nghiệp sẽ lựa chọn
để thực hiện mục đích bất chính trên của mình. Trong trường hợp này, BPG sẽ trực
tiếp đẩy các doanh nghiệp nội địa vào thế bất lợi, giảm khả năng tham gia cạnh
tranh trên thị trường thông qua cản trở phát triển những lợi thế so sánh của các
doanh nghiệp này bằng cách đặt ra áp lực về giá. Điều này sẽ dần làm suy giảm
ngành sản xuất nội địa; đồng thời, quyền lợi người tiêu dùng, sau đó, cũng có thể bị
xâm hại khi những doanh nghiệp xuất khẩu thực hiện xong chiến lược chiếm lĩnh
thị trường của mình. Như vậy, dưới góc độ lý thuyết về tự do thương mại, tính chất
không lành mạnh của hành vi BPG được xác định là sự lạm dụng tự do để xâm hại
tự do thương mại bằng cách tranh giành thị trường nội địa với các doanh nghiệp
trong nước.
Cần thấy rằng, thương mại tự do, mặc dù đòi hỏi sự hạn chế can thiệp của nhà
nước, song, để quay ngược lại bảo vệ thương mại tự do, bảo vệ lợi thế so sánh của
quốc gia nhập khẩu đang bị đe dọa bởi hành vi BPG hàng hóa nhập khẩu, vai trò
của nhà nước trong việc thiết lập và sử dụng các biện pháp CBPG như một công cụ
bảo hộ thích hợp tự do thương mại và ngành sản xuất nội địa là điều cần thiết.
Ngược lại, có quan điểm cho rằng, xét theo tinh thần kinh tế thị trường và mậu
dịch tự do thì không có lý do gì để cấm một doanh nghiệp xuất khẩu với giá thấp
hơn giá bán trong nội địa7. Tư tưởng chống lại BPG là sự sa lầy trong tư duy kinh
tế chỉ huy, thay vì tôn trọng sự vận động khách quan của quy luật thị trường. Tuy
nhiên, có thể thấy, quan niệm này đã phủ nhận hoàn toàn vai trò chủ quan của con
người trong thế giới khách quan. Thực tế, ý thức có thể tác động, biến đổi thực tại
khách quan theo hướng tích cực. Vì thế, Nhà nước hoàn toàn có thể bằng những
chính sách, hành động của mình để ngăn chặn, xử lý những hành vi BPG không
lành mạnh nhằm bảo vệ những lợi ích chính đáng của thương mại tự do.
7 Đoàn Trung Kiên (2005), Pháp luật chống BPG ở Việt Nam, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội,tr.8.


15

Tuy nhiên, xác định những hành vi BPG này không phải điều đơn giản, đặc
biệt trong môi trường thương mại quốc tế hiện nay luôn tồn tại những khác biệt về
điều kiện thị trường, tiền tệ,…ở mỗi quốc gia; chưa kể đến, những căn cứ để so
sánh luôn ở trong tình trạng biến động theo thời gian và theo thị trường.
- Lý thuyết về phân biệt giá:
Phân biệt giá là một trong những yếu tố cấu thành nên đặc điểm về mặt hành
vi của BPG. Phân biệt giá được hiểu là việc tại cùng một thời điểm, với cùng một
sản phẩm, doanh nghiệp áp dụng các mức giá khác nhau cho những khách hàng
khác nhau8. Ở đây, hành vi phân biệt giá không xuất phát từ sự khác nhau trong chi
phí sản xuất sản phẩm mà dựa trên loại khách hàng.
Có thể thấy, thông thường, doanh nghiệp có quyền áp dụng những mức giá
khác nhau cho các giao dịch không giống nhau. Tuy nhiên, trong những giao dịch
tương tự mà về cơ bản chi phí sản xuất không chênh lệch nhau, việc áp đặt mức giá
khác nhau đối với khách hàng (phân biệt giá) đôi khi sẽ là không công bằng, thậm
chí tác động xấu đến môi trường cạnh tranh.
Trong thực tế, nhiều hành vi phân biệt giá trong thương mại quốc tế chỉ là kết
quả ngẫu nhiên do tác động của các điều kiện khách quan hoặc là kết quả của
những chiến lược kinh doanh hợp lý của doanh nghiệp, như: thực hiện phân khúc
giá thị trường theo mức độ thanh toán của khách hàng để tối đa hóa lợi nhuận. Ở
góc độ này, phân biệt giá chưa tạo ra những ảnh hưởng tiêu cực. Tác hại chỉ được
nhìn thấy nếu như phân biệt giá được áp dụng để thực hiện chiến lược đòn bẩy
trong cạnh tranh. Lý thuyết về phân biệt giá đã lý giải rõ: các doanh nghiệp xuất
khẩu khi thực hiện phân biệt giá bằng cách xuất khẩu hàng hóa với mức giá thấp
hơn giá thành sản xuất (BPG), dù trước mắt phải chịu lỗ, nhưng doanh nghiệp xuất
khẩu sẽ dễ dàng chiếm lĩnh thị trường, loại bỏ đối thủ cạnh tranh tại nước nhập
khẩu và sau đó sẽ dần nâng giá, thậm chí nhiều trường hợp áp đặt giá độc quyền, để
bù đắp những gì mình đã bỏ ra do BPG. Điều này sẽ không chỉ gây ra thiệt hại đối
với các doanh nghiệp cạnh tranh nội địa, mà còn đe dọa đến toàn bộ ngành sản xuất
trong nước của quốc gia nhập khẩu và người tiêu dùng.
Như vậy, dưới góc độ phân biệt giá, những hành vi BPG có mục đích tiêu cực,
hướng đến cản trở, bóp méo cạnh tranh - cái được coi là nguyên nhân gây ra thiệt
hại cho doanh nghiệp, người tiêu dùng và ngành sản xuất nước nhập khẩu, là những
8http://hvta.toaan.gov.vn/portal/page/portal/tandtc/Baiviet?p_page_id=1754190&p_cateid=1751909&item_id=8610574&article_details
=1, truy cập ngày 20/6/2016


16

hành vi không lành mạnh cần phải ngăn chặn, xử lý kịp thời.
Lý thuyết về phân biệt giá cũng lưu ý thêm những giới hạn đặc biệt khi xác
định hành vi BPG. Đó là:
- Những điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia, vùng kinh tế có thể chi phối và
tạo ra những mức giá khác nhau. Vì thế, không phải lúc nào biểu hiện khác biệt về
giá cũng đều được xác định là phân biệt giá hay BPG. Việc xác định hành vi phân
biệt giá nói chung, trong đó có BPG cần tính đến những dị biệt khách quan này để
có sự so sánh giá chính xác nhất. Theo đó, người ta có thể bằng cách khấu trừ hoặc
cộng thêm một số loại chi phí nhất định nào đó để quy đổi chúng về một tiêu
chuẩn chung.
- Giá bán hàng đơn lẻ giữa các nhóm khách hàng cụ thể có thể có sự khác
biệt, xuất phát từ nhiều nguyên do như: năng lực đàm phán chênh lệch giữa các
khách hàng khác nhau; những phản ứng với những thay đổi nhất thời trên thị
trường; hoặc là một hành động để tạo sự chú ý khi gia nhập thị trường…. Tuy
nhiên đó chỉ là những biểu hiện tạm thời không cần thiết phải xem xét điều chỉnh.
Nói cách khác, chỉ nên cân nhắc đến những hành vi BPG khi nó được áp dụng có
tính hệ thống hoặc phản ánh chiến lược bán hàng lâu dài của doanh nghiệp. Vì
thế, quá trình xác định hành vi BPG đòi hỏi sự tính toán, tổng hợp nhiều giao dịch
xuất khẩu và giao dịch nội địa trong một khoảng thời gian dài đủ để thấy rõ tính
hệ thống của hành vi này.
Tuy nhiên, chỉ với những giới hạn hành vi và dấu hiệu về mặt mục đích như
trên thì việc xác định những hành vi BPG tiêu cực vẫn không đơn giản bởi tính đa
dạng, phức tạp, tinh vi trong các hành vi thương mại thực tế của doanh nghiệp. Vì
thế, đỏi hỏi phải có sự nghiên cứu kết hợp giữa nhiều lý luận kinh tế khác nhau, đặc
biệt là lý thuyết về định giá hủy diệt.
- Lý thuyết về định giá hủy diệt:
Trong lịch sử thương mại quốc tế, có thể nói, lý thuyết về định giá hủy diệt là
một trong những cơ sở lý luận đầu tiên mà các nhà kinh tế dùng để lý giải về BPG.
Ở thời điểm đó, người ta nhìn nhận BPG dưới góc độ một hành vi định giá hủy diệt,
tức là việc các doanh nghiệp có quyền lực thị trường ấn định giá bán sản phẩm thấp
một cách bất hợp lý trong khoảng thời gian đủ dài nhằm loại bỏ đối thủ cạnh tranh
ra khỏi thị trường hoặc (và) ngăn cản không cho các đối thủ cạnh tranh mới gia
nhập thị trường. Sau khi hoàn tất mục đích ngăn cản hoặc loại bỏ, doanh nghiệp này
sẽ tăng giá một cách đáng kể nhằm bù đắp lại các khoản lỗ và các khoản lợi nhuận


17

đã bỏ qua bởi mức độ cạnh tranh trên thị trường đã bị giảm9. Với quan niệm về
những dấu hiệu hành vi, mục đích như vậy, trong giai đoạn đầu, BPG luôn bị coi là
hành vi tiêu cực.
Tuy nhiên, cùng với sự thay đổi trong cách nhìn nhận về bản chất của BPG:
đơn thuần là sự phân biệt giá mà mức giá bán thấp hơn GTTT của sản phẩm, có thể
thấy, BPG không phải lúc nào cũng biểu hiện là hành vi định giá hủy diệt. Vì thế,
đến nay, lý luận về hành vi định giá hủy diệt không còn là căn cứ để xác định hành
vi BPG, mà chỉ có ý nghĩa là cơ sở để quyết định có hay không áp dụng các biện
pháp để CBPG.
Ở góc độ khác, lý thuyết về định giá hủy diệt cũng cho thấy rõ rằng: mức giá
hủy diệt không phải lúc nào cũng là sản phẩm của hành vi cạnh tranh tiêu cực.
Trường hợp doanh nghiệp do đầu tư công nghệ dẫn đến giảm chi phí sản xuất, kinh
doanh so với mặt bằng chung của thị trường, từ đó tạo ra mức giá hàng hóa thấp
hơn giá thông thường, thì dù làm cho đối thủ rời bỏ thị trường, nó vẫn được coi là
hành vi thương mại lành mạnh. Mức giá hủy diệt cũng có thể là kết quả của sự phản
ứng hợp lý trước hoàn cảnh đặc biệt của tình hình kinh doanh hoặc thị trường cạnh
tranh như: do sự tính toán sai lầm về sản lượng sản xuất dẫn đến sản xuất dư thừa;
thị trường có những suy thoái đột biến làm cho cầu giảm hoặc phản ứng tự vệ trước
hành vi chủ động định giá thấp của đối thủ đã thực hiện trước đó. Có thể thấy,
những hoàn cảnh này chỉ dẫn đến hành vi hạ giá tạm thời trong thời gian ngắn nên
mức độ tạo ra việc chuyển hướng tiêu dùng (nếu có) cũng chưa đủ lớn để tạo áp lực
buộc đối thủ hạ giá bán. Nhà nước sẽ không đặt ra việc ngăn chặn, xử lý những
hành vi định giá hủy diệt xuất phát từ việc khai thác lợi thế so sánh lành mạnh hoặc
phản ứng thương mại chính đáng như trên.
Thực chất, hành vi BPG, dưới góc độ định giá hủy diệt, bị lên án xuất phát bởi
mục đích không lành mạnh và những thiệt hại thực tế mà nó gây ra. Ở đây, người ta
không lo ngại việc BPG làm cho giá hàng hóa trên thị trường giảm ở hiện tại, mà là
sự đe dọa làm suy giảm sản lượng của ngành sản xuất nội địa và nguy cơ tăng vọt
giá trong tương lại gây thiệt hại cho người tiêu dùng. Vì thế, xác định thiệt hại vật
chất và mối quan hệ giữa BPG và những thiệt hại này có ý nghĩa hết sức quan trọng
để quyết định việc có ngăn chặn hành vi này hay không. Tất nhiên, dấu hiệu mục
đích cũng được xem xét, nhưng trên thực tế, để xác định mục đích thực sự của hành
9 David W. Pearce (1999), Từ điển kinh tế học hiện đại, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.808.


18

vi BPG là không đơn giản, vì thế, thông thường người ta mặc nhiên coi BPG có
mục đích hủy diệt đối thủ nếu có đủ bằng chứng chứng minh được nó là nguyên
nhân gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho ngành sản xuất của nước nhập khẩu
(ngoại trừ các trường hợp được coi là BPG chính đáng đã nói ở trên).
Như vậy, bên cạnh xác định dấu hiệu của hành vi BPG, quá trình điều tra
CBPG đòi hỏi phải làm rõ yếu tố thiệt hại vật chất và mối quan hệ nhân quả giữa
hành vi và thiệt hại. Ở đây, yêu cầu xác định khả năng hủy diệt của hành vi đòi hỏi
pháp luật phải đặt ra nguyên tắc nhất định xác định số lượng, khối lượng hoặc trị
giá hàng hóa nhập khẩu là đáng kể hay không đáng kể, nguyên tắc về biên độ phá
giá tối thiểu, khoảng thời gian diễn ra việc bán hàng với giá thấp để làm cơ sở xác
định thiệt hại trên thực tế. Đồng thời, các nguyên tắc này phải hạn chế được sự chi
phối bởi những suy diễn chủ quan của cơ quan thực thi pháp luật.
1.2. Vấn đề chống bán phá giá và pháp luật chống bán phá giá
1.2.1. Vấn đề chống bán phá giá
Ở hầu hết các nước trên thế giới, CBPG được thừa nhận như là một giải pháp
cần thiết trong môi trường thương mại quốc tế. Nhu cầu CBPG được đặt ra khi
những hiện tượng BPG hàng hóa xuất khẩu không lành mạnh xuất hiện và cho thấy
tác động tiêu cực đối với ngành sản xuất nội địa, cũng như người tiêu dùng của
nước nhập khẩu. Vì thế, dù một mặt CBPG đi ngược lại với quyền tự do thương mại
của doanh nghiệp và hạn chế tự do cạnh tranh, nhưng trong chừng mực nhất định,
nó vẫn được coi là giới hạn hợp lý của tự do thương mại để bảo đảm duy trì môi
trường thương mại quốc tế lành mạnh.
Trong khoa học quốc tế, hiện chưa có khái niệm chính thức về CBPG. Vấn đề
CBPG mới chỉ được nhìn nhận thông qua các biện pháp cụ thể mà các quốc gia thỏa
thuận thống nhất, cho phép nước nhập khẩu được sử dụng để chống lại việc xuất
khẩu phá giá vào thị trường nội địa đối với những hành vi thương mại tiêu cực,
không công bằng, gây thiệt hại đến lợi ích của nước nhập khẩu. Dưới góc độ khái
quát nhất, có thể hiểu: CBPG là hành động của nước nhập khẩu nhằm chống lại các
hành vi BPG hàng hóa nhập khẩu không lành mạnh vào nước của họ, với mục đích
duy trì một nền thương mại công bằng, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của
doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng cạnh tranh trong nước và người tiêu dùng.
Như vậy, bản chất của CBPG không phải nhằm chống lại mọi hành vi BPG.
CBPG chỉ hướng tới việc chống lại những hành vi BPG mà việc hạ thấp giá dưới
mức GTTT của sản phẩm không phải do khai thác lợi thế chính đáng có được từ nội


19

lực doanh nghiệp, mà được coi như một chiến lược cạnh tranh không lành mạnh để
giành thị trường trước các doanh nghiệp đối thủ trên thị trường nước nhập khẩu, từ
đó, bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng
cạnh tranh nội địa nước nhập khẩu. Tuy vậy, điều này cũng không có nghĩa CBPG
được đặt ra chỉ để bảo hộ doanh nghiệp hay ngành sản xuất của nước nhập khẩu.
Bằng việc chống lại những hành vi BPG tiêu cực này, CBPG góp phần hạn chế và
loại bỏ những biểu hiện không lành mạnh trong cạnh tranh, hướng đến duy trì một
nền thương mại công bằng. Mặt khác, CBPG đảm bảo cho người tiêu dùng tránh
được khả năng có thể trở thành “nạn nhân” chịu mức giá thành cao bất hợp lý sau
khi những doanh nghiệp xuất khẩu BPG thực hiện xong chiến lược loại bỏ đối thủ
cạnh tranh tại thị trường nội địa, tiến hành nâng giá để bù đắp những chi phí đã mất
từ việc phá giá.
Có thể nói, công cụ CBPG chính là “sản phẩm” của sự hài hòa giữa yêu cầu
duy trì tự do thương mại và vấn đề đảm bảo an ninh thương mại; quyền, lợi ích của
người tiêu dùng tại nước nhập khẩu. Với ý nghĩa đó, các biện pháp CBPG luôn
được đặt trong những giới hạn nhất định, nó chỉ có hiệu lực đối với những hành vi
BPG được coi là tiêu cực, cho tới khi và trong phạm vi cần thiết nhằm ngăn chặn,
hạn chế những tổn hại thực tế hoặc nguy cơ tổn hại mà hành vi này gây ra.
Tuy nhiên, vấn đề đảm bảo việc áp dụng các biện pháp CBPG một cách đúng
nghĩa như vậy không phải là điều đơn giản. Quá trình xây dựng và thực thi các quy
định về CBPG phụ thuộc nhiều vào ý chí chủ quan của mỗi quốc gia. Trong khi đó,
cần thấy rằng, kinh tế nội địa luôn có ý nghĩa sống còn với mỗi nước. Việc thực
hiện chiến lược kích thích phát triển kinh tế bằng hội nhập thương mại quốc tế, luôn
đồng thời đặt ra vấn đề bảo hộ an toàn cho các doanh nghiệp nội địa. Điều này đã
dẫn đến tình trạng tùy tiện lạm dụng các biện pháp CBPG của nhiều quốc gia, coi
đó như là một cách thức hạn chế nhập khẩu nhằm bảo hộ, giảm áp lực cạnh tranh
cho doanh nghiệp nội địa hơn là để đạt được các mục tiêu nguyên nghĩa của CBPG.
Ở đây, CBPG được coi là chính sách dành riêng cho doanh nghiệp nội địa, cho phép
họ có thể sử dụng quyền lực nhà nước để giành lợi thế cạnh tranh trước các đối thủ
nước ngoài nhập khẩu hàng hóa vào nội địa10. Vì thế, trong quá trình xem xét áp
dụng các biện pháp CBPG, những lợi ích khác được mang lại từ BPG (như quyền
lợi của người tiêu dùng) dường như trở nên mờ nhạt, ít được coi trọng, cân nhắc đến
10 Trần Văn Hải (2007), Một số vấn đề cơ bản về pháp luật chống bán phá giá của WTO, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Khoa Luật –
Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.19.


20

khi so sánh với tác động tiêu cực mà hành vi này gây ra đối với kinh tế nội địa11.
Nói chung, CBPG chỉ phát huy được lợi ích khi nó được phản ánh đúng bản
chất của mình – với ý nghĩa là công cụ bảo hộ hợp lý của ngành sản xuất nội địa
trước những hành vi bán phá tiêu cực, nhằm duy trì một nền thương mại công bằng,
bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của doanh nghiệp sản xuất các mặt hàng cạnh
tranh trong nước và người tiêu dùng. Ngược lại, khi CBPG vượt ra khỏi giới hạn
“hợp lý” đó, tự nó sẽ gây ra tổn hại, đặc biệt cho chính nước áp dụng biện pháp
CBPG. Bởi, dù khi đó ngành sản xuất trong nước được bảo vệ nhưng lợi ích của
người tiêu dùng sẽ bị ảnh hưởng; môi trường cạnh tranh bị suy giảm, làm giảm đi
động lực phát triển của doanh nghiệp nội địa, đồng thời, làm giảm sức hút đầu tư.
Những tổn thất đó sẽ vượt xa những giá trị, lợi ích mà hành vi CBPG đang bảo hộ.
1.2.2. Pháp luật về chống bán phá giá:
1.2.2.1. Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật chống bán phá giá:
Ngay từ thế kỷ thứ XVI, sự xuất hiện các hành vi BPG cùng với những tác
động điêu cực của nó đối với kinh tế của nước nhập khẩu đã trở thành mối quan
ngại của nhiều quốc gia. Trước nhu cầu bảo hộ ngành sản xuất nội địa, các quốc gia
nhập khẩu đã cố gắng tìm cách can thiệp để đối phó với tình trạng BPG bằng các
phương thức khác nhau, trong đó, các biện pháp được áp dụng phổ biến là việc tăng
mức thuế nhập khẩu hoặc cấm nhập khẩu đối với hàng hóa BPG. Tuy nhiên, những
biện pháp này đều nhanh chóng bộc lộ nhược điểm, bởi tính thụ động, khó đáp ứng
được yêu cầu xử lý linh hoạt đối với các hành vi BPG cụ thể và khả năng dẫn đến
việc hạn chế hoặc triệt tiêu hoàn toàn sự gia nhập thị trường của loại hàng hóa
tương tự hàng hóa bị BPG; từ đó, cản trở tự do thương mại, hạn chế cạnh tranh,
không tạo ra được động lực phát triển cho doanh nghiệp nội địa và tước đi cơ hội
tiếp cận những mặt hàng ngoại giá rẻ của người tiêu dùng.
Ý thức được mặt trái đó, vấn đề chống BPG đã nhanh chóng được các nước
đưa lên một mức độ quan tâm mới. Canada là quốc gia đầu tiên trên thế giới đặt ra
chế định pháp lý riêng để điều chỉnh vấn đề CBPG12. Với ý tưởng ấn định mức
thuế đặc biệt đối với hàng hóa nhập khẩu bị BPG (gọi là thuế CBPG), mô hình
CBPG của Canada đã khắc phục được những nhược điểm của các biện pháp CBPG
truyền thống. Vì thế, nó đã dần trở thành khuôn mẫu định hướng cho sự ra đời pháp
11 Nguyễn Thị Thu Uyên (2015), Pháp luật về chống bán phá giá - Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội, tr.9.
12 Vũ Thị Phương Lan (2012), Pháp luật về chống BPG trong thương mại quốc tế và những vấn đề đặt ra đối với Việt Nam, NXB.
Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.62.


21

luật CBPG của nhiều nước trên thế giới như: Luật chống BPG của Newzealand năm
1905, của Australia năm 1906, của Nam Phi năm 1914, đạo luật chống BPG năm
1916 của Mỹ và năm 1921 của Anh,...
Khi giao thương quốc tế ngày càng phát triển, CBPG không còn là mối quan
tâm riêng của mỗi quốc gia mà trở thành vấn đề chung của cộng đồng quốc tế. Hội
Quốc liên (The League of Nations) - một trong những tổ chức quốc tế liên chính
phủ đầu tiên trên thế giới, đã có sự nhìn nhận rất sớm về vấn đề này. Tuy nhiên,
“sản phẩm” của những nỗ lực đó mới chỉ dừng lại ở Bản ghi nhớ về BPG
(Memorandum on Dumping) không có giá trị ràng buộc thực sự về mặt pháp lí đối
với các quốc gia thành viên13.
Vấn đề CBPG chỉ được nhìn nhận chính thức trên phạm vi quốc tế khi Hiệp
định chung về thuế quan và thương mại (GATT) năm 1947 ra đời. Theo đó, GATT
năm 1947 đã có riêng một điều khoản (điều VI) cho phép các bên ký kết được sử
dụng thuế CBPG để bù trừ mức phá giá của hàng nhập khẩu, miễn là chứng minh
được việc BPG đang gây ra, hoặc đe doạ gây ra thiệt hại vật chất cho các ngành sản
xuất nội địa có cạnh tranh. Đây được coi là nội dung cốt lõi xuyên suốt trong pháp
luật quốc tế về CBPG cho đến nay.
Tuy nhiên, sau thực tiễn nhiều năm thực thi GATT năm 1947, những quan
ngại về việc một số nước lạm dụng pháp luật CBPG để tạo nên hàng rào thương mại
mới đã đặt ra yêu cầu hoàn thiện lĩnh vực pháp luật này. Tại vòng đàm phán
Kennedy của GATT (1962 - 1967), các bên ký kết GATT đã thảo luận bộ luật
CBPG, đặt ra một loạt các quy tắc về thủ tục và nguyên lý cho việc áp dụng những
sắc thuế CBPG nhằm hạn chế các thủ tục và phương thức đánh thuế của những
Chính phủ có thể gây tổn hại đến thương mại quốc tế. Mặc dù vậy, với quy định cụ
thể: việc xác định hành vi BPG phải rõ ràng là nguyên nhân chính gây ra thiệt hại,
đã gây ra những khó khăn trên thực tế và chính nó đã tự làm giảm hiệu lực pháp lý
của mình.
Theo đó, một lần nữa, tại vòng đàm phán Tokyo 1973, các bên ký kết GATT
lại tiếp tục đặt ra yêu cầu hoàn thiện pháp luật về CBPG. Đạo luật CBPG mới thay
thế cho GATT năm 1967, đã được thỏa thuận thống nhất và có hiệu lực từ năm
1979 trên cơ sở sự tham gia ký kết của 26 nước thành viên. Nó đã giúp tạo sự linh
hoạt hơn về những điều kiện liên quan đến mối quan hệ nhân quả giữa hành vi BPG
13 Vũ Thị Phương Lan, tlđd chú thích 12, tr.67.


22

và thiệt hại thực tế.
Năm 1994, sự thỏa thuận thành công của 125 quốc gia trong việc thiết lập nên
Tổ chức thương mại thế giới WTO tại vòng đàm phán Urugoay, tiếp tục tạo điều
kiện cho bước hoàn thiện mới của pháp luật CBPG. GATT năm 1994 và Hiệp định
về việc thi hành điều VI của GATT năm 1994 (Hiệp định về CBPG – gọi tắt là
ADA) ra đời đã góp phần quy định cụ thể hơn các quy tắc CBPG và trở thành bộ
khung pháp lý cơ bản của WTO, cũng như thương mại quốc tế nói chung về CBPG.
Cho đến nay, cùng với sự phát triển của các quan hệ thương mại quốc tế, pháp
luật CBPG vẫn luôn tiếp tục được hoàn thiện. Bên cạnh những quy định đã được
xây dựng tại hai Hiệp định trên, luật lệ về CBPG của WTO còn thường xuyên được
bổ sung bởi các quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp WTO thông qua thực
tiễn giải quyết các tranh chấp cụ thể.
1.2.2.2. Vai trò của pháp luật chống bán phá giá
Vai trò của pháp luật CBPG được nhìn thấy rõ ở nhiều góc độ.
Thứ nhất, pháp luật CBPG là công cụ chống lại hành vi cạnh tranh không
lành mạnh, nhằm duy trì một nền thương mại công bằng, bình đẳng: Cạnh tranh là
động lực phát triển của nền kinh tế. Pháp luật luôn tôn trọng và khuyến khích việc
các doanh nghiệp sử dụng những lợi thế cạnh tranh xuất phát từ nội lực của mình để
thu lợi nhuận. Tuy nhiên, trong bối cảnh mở rộng tự do hóa thương mại, sự gia tăng
áp lực cạnh tranh khiến nhiều doanh nghiệp tìm đến những thủ đoạn không lành
mạnh để giành giật thị trường, kể cả thông qua việc BPG. Khi đó, doanh nghiệp sẵn
sàng chịu bán hàng hóa với giá thấp trong một thời gian đủ dài với mục đích giành
thị trường để sau đó có thể bù đắp chi phí đã bỏ ra bằng quyền lực thị trường có
được. Có thể thấy, trong trường hợp này, doanh nghiệp nội địa làm ăn chân chính
đã bị “tước đoạt” quyền cạnh tranh công bằng, lành mạnh. Vì vậy, việc can thiệp
của nhà nước bằng pháp luật CBPG sẽ góp phần hạn chế và loại bỏ những hành vi
BPG không lành mạnh và tác động tiêu cực của nó, từ đó, duy trì và bảo vệ môi
trường kinh doanh công bằng, bình đẳng14.
Thứ hai, pháp luật CBPG góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của ngành
sản xuất hàng hóa trong nước: Đây là vai trò chủ yếu của pháp luật CBPG hiện nay.
Về nguyên tắc, doanh nghiệp có quyền tự do ấn định giá đối với những hàng hóa
của mình. Tuy nhiên, sự tự do đó luôn phải đặt trong mối quan hệ với những chủ
14 Võ Thị Thúy Hằng (2012), Pháp luật của các nước đang phát triển và Việt Nam về chống bán phá giá, Luận văn Thạc sĩ Luật học,
Khoa Luật – Trường Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, tr.15.


23

thể khác trong xã hội. Có thể thấy, nhiều trường hợp, việc ấn định giá quá thấp sẽ
làm tổn hại đến môi trường kinh doanh. Cụ thể, nếu mức giá thấp được ấn định
không phải xuất phát từ việc khai thác nội lực của doanh nghiệp, đồng thời, cũng
không phải để ứng phó tạm thời với những tình huống bất thường của thị trường,
điều kiện đặc biệt của kinh tế - xã hội, tình trạng đặc biệt của tình hình kinh doanh
(như thử nghiệm sản phẩm mới, khuyến mãi,…),v.v, mà là chiến lược kinh doanh
có tính hệ thống xuất phát từ chủ đích tiêu cực muốn loại bỏ đối thủ cạnh tranh,
chiếm lĩnh thị trường, thì những lợi thế về giá mà doanh nghiệp dành được không
được coi là chính đáng. Những hành vi như vậy xâm hại trực tiếp đến lợi ích chính
đáng của doanh nghiệp nội địa làm ăn chân chính, buộc họ đứng trước sự lựa chọn:
một là, phải chịu lỗ để theo đuổi mức giá bị phá giá; hai là, mất khách hàng. Khi đó,
dù với lựa chọn nào, doanh nghiệp nội địa và ngành sản xuất trong nước đều phải
đứng trước việc gánh chịu những thiệt hại. Pháp luật CBPG hướng đến ngăn chặn
tình trạng lạm dụng BPG để cạnh tranh không chính đáng, từ đó góp phần bảo vệ
ngành sản xuất hàng hóa cạnh tranh trong nước. Tất nhiên, nếu hành vi BPG xuất
phát từ khả năng khai thác nội lực doanh nghiệp như việc sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực: vốn, nhân công,…để dành lợi thế so với các doanh nghiệp đối thủ khác
thì nó sẽ được coi hành vi thương mại chính đáng. Pháp luật không can thiệp, mà
ngược lại, luôn khuyến khích những hành vi cạnh tranh lành mạnh như vậy.
Thứ ba, pháp luật CBPG góp phần bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của
người tiêu dùng: Thực tế, BPG luôn mang lại cho người tiêu dùng cơ hội được tiếp
cận và thụ hưởng những mặt hàng có tính cạnh tranh hơn, đặc biệt về giá cả. Tuy
nhiên, lợi ích đó sẽ chỉ được nhìn thấy trong ngắn hạn nếu như hành vi BPG là tiêu
cực, hướng đến thôn tính và chiếm đoạt thị trường. Có thể thấy, trong những trường
hợp này, doanh nghiệp xuất khẩu, sau khi thực hiện xong chiến lược loại bỏ đối thủ
cạnh tranh tại thị trường nội địa, sẽ nhanh chóng tiến hành nâng giá để bù đắp
những chi phí đã mất từ việc BPG. Khi đó, người tiêu dùng sẽ là người chịu thiệt
hại lớn nhất, không chỉ bởi mất đi cơ hội có thể lựa chọn hàng hóa từ các nhà sản
xuất khác nhau, mà còn bị áp đặt mức giá cao bất hợp lý so với trước đây. Vì thế, sự
xuất hiện của pháp luật CBPG với tư cách là công cụ ngăn chặn hành vi BPG tiêu
cực, có ý nghĩa lớn trong việc loại bỏ, hạn chế khả năng mà người tiêu dùng trở
thành “nạn nhân” của những hành vi này.
Có thể nói, trong những vai trò trên, vai trò chủ đạo không thể phủ nhận của
pháp luật CBPG chính là bảo vệ quyền lợi chính đáng các doanh nghiệp trong nước;


24

việc duy trì môi trường cạnh tranh lành mạnh công bằng, bảo vệ người tiêu dùng chỉ
được coi là vai trò thứ yếu. Đây cũng chính là lý do mà pháp luật hầu hết các nước
trên thế giới coi thiệt hại của ngành sản xuất nội địa là một trong những yếu tố điều
kiện quyết định có hay không việc ngăn chặn hành vi BPG đó, trong khi những tác
động đến lợi ích công cộng hiếm khi xuất hiện như một căn cứ CBPG trong lịch sử
pháp luật CBPG.
Như đã nói, hiện nay nhiều quốc gia đang có sự lạm dụng CBPG để dựng lên
những rào cản thương mại mới. Pháp luật CBPG bị biến thành công cụ bảo hộ cho
sự yếu kém của ngành sản xuất nội địa. Điều này đang đi ngược lại với mục đích,
vai trò của pháp luật CBPG. Vì thế, trong thời gian tới cần những nỗ lực hơn nữa
của các quốc gia trong việc nhìn nhận và đưa pháp luật CBPG trở lại đúng vai trò
của mình.
1.2.2.3. Khái quát về pháp luật chống bán phá giá của WTO – nền tảng của
hệ thống pháp luật chống bán phá giá trong thương mại quốc tế
Tổ chức thương mại thế giới (WTO) ra đời là thành quả quan trọng sau nhiều
năm nỗ lực đàm phán của các quốc gia. Để nhanh chóng tạo những cơ sở nền tảng
cho việc vận hành của tổ chức này, 125 quốc gia thành viên, ngay khi thỏa thuận
thống nhất ký kết Hiệp định Marakesh – Hiệp định thành lập WTO, đã đồng thời
thông qua nhiều Hiệp định thương mại đa biên. Riêng trong lĩnh vực CBPG đã
chứng kiến sự ra đời của hai cơ sở pháp lý quan trọng là: Hiệp định chung về thuế
quan và mậu dịch (GATT năm 1994) và Hiệp định về việc thực thi Điều VI của
GATT năm 1994 (thường được gọi là Hiệp định về CBPG năm 1994 hay ADA năm
1994). Các văn kiện này đều có hiệu lực bắt buộc đối với mọi thành viên của WTO.
Tính đến ngày 30/11/2015, WTO đã có đến 162 thành viên là các quốc gia và
vùng lãnh thổ ở mọi khu vực trên thế giới15. Với mức độ rộng khắp đó, pháp luật
CBPG của WTO gần như trở thành nền tảng chung cho hệ thống pháp luật của
thương mại quốc tế về CBPG. Thực tế, nhiều quốc gia, dù không phải là thành viên
WTO, nhưng vẫn dựa trên những quy định chung của WTO để hoàn thiện pháp luật
CBPG ở quốc gia mình, bởi những nguyên tắc của WTO về CBPG đã nhận được sự
đồng thuận cao từ đa số các quốc gia trên thế giới và đã được kiểm nghiệm qua quá
trình thực tiễn lâu dài (Việt Nam trước khi gia nhập WTO là ví dụ điển hình tiếp thu
trước những quy định này để xây dựng hệ thống pháp luật quốc gia về CBPG).
15 https://www.wto.org/english/thewto_e/whatis_e/tif_e/org6_e.htm, truy cập ngày 30/4/2016.


25

Pháp luật CBPG trong khuôn khổ WTO gồm hai nguồn cơ bản là Điều VI của
GATT năm 1994 và ADA năm 1994. Bên cạnh đó, pháp luật CBPG của WTO còn
được bổ sung bởi các quyết định của Cơ quan giải quyết tranh chấp của WTO - là
những tài liệu pháp lý dựa trên thực tiễn giải quyết các tranh chấp theo từng vụ việc
cụ thể để giải thích rõ ràng hơn quy định của WTO về CBPG. Nhìn chung, về cơ
bản, pháp luật CBPG của WTO gồm những nhóm nội dung sau: (i) Các quy định về
nội dung (bao gồm các điều khoản chi tiết về cách thức, tiêu chí xác định việc BPG;
thiệt hại; mối quan hệ nhân quả giữa việc BPG và thiệt hại); (ii) Các quy định về thủ
tục (bao gồm các điều khoản liên quan đến thủ tục điều tra, các biện pháp và thủ tục
khi áp dụng các biện pháp CBPG); (iii) Các quy định về giải quyết tranh chấp giữa
các quốc gia thành viên liên quan đến biện pháp chống phá giá (bao gồm các quy
tắc áp dụng cho việc giải quyết tranh chấp giữa các quốc gia thành viên WTO liên
quan đến biện pháp CBPG của một quốc gia thành viên); (iv) Các quy định về thành
viên; thẩm quyền của Ủy ban về Thực tiễn Chống BPG (bao gồm các quy định về
quyền, nghĩa vụ của các thành viên; chức năng và hoạt động của Ủy ban trong quá
trình điều hành các biện pháp CBPG thực hiện tại các quốc gia thành viên).
Có thể nói, quy định của WTO về CBPG đã tạo ra cơ hội cho các thành viên
chủ động phòng vệ trước những hành vi BPG tiêu cực để thiết lập lại môi trường
kinh doanh lành mạnh, công bằng. Đồng thời, pháp luật của WTO về CBPG cũng tự
nó đặt ra những giới hạn nhằm ngăn ngừa sự lạm dụng biện pháp này như là một
rào cản phi thuế quan mới trong thương mại quốc tế. Mỗi quốc gia thành viên WTO
có quyền ban hành và áp dụng pháp luật về CBPG tại nước mình trên cơ sở tuân thủ
đầy đủ các quy định mang tính bắt buộc về nội dung cũng như thủ tục ghi nhận tại
Điều VI của GATT năm 1994 và ADA năm 1994. Điều đặc biệt là trong khuôn khổ
được áp dụng chung cho mọi thành viên WTO, ADA năm 1994 vẫn tính đến đặc
thù hạn chế của các thành viên đang phát triển để đặt ra những điều kiện công bằng
hơn đối với những thành viên này.
1.2.2.4. Xu hướng phát triển của pháp luật chống bán phá giá
Mở rộng tự do thương mại là xu hướng tất yếu của thương mại quốc tế trong
bối cảnh toàn cầu hóa. Điều này đòi hỏi nỗ lực của các quốc gia trong việc giảm
thiểu và loại bỏ những rào cản thương mại đang hiện hữu, để tạo điều kiện cho dòng
chảy thương mại được thông suốt, tự do. Dưới góc độ CBPG, pháp luật CBPG hiện
nay đang được sử dụng như một công cụ bảo hộ ngành sản xuất nội địa của các
quốc gia nhập khẩu; vì thế, sẽ là kìm hãm tự do thương mại nếu như tiếp tục duy trì


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×