Tải bản đầy đủ

Phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu tại công ty cổ phần may việt tiến

MỤC LỤC

1/42


LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại ngày nay, không một doanh nghiệp nào bắt tay vào kinh
doanh lại không muốn gắn kinh doanh của mình với thị trường. Vì trong cơ chế
thị trường chỉ có như vậy doanh nghiệp mới có hy vọng tồn tại và phát triển được.
Do đó, để nâng cao hiệu quả kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh trong
quá trình hội nhập vào hệ thống kinh doanh quốc tế và khu vực, các doanh phải
tìm mọi cách để quảng bá được mẫu mã sản phẩm của mình tới tay người tiêu
dùng hay nói cách khác các nhà kinh doanh phải làm thế nào để có thể đưa sản
phẩm của mình tiếp cận được với thị trường một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất.
Để trả lời cho câu hỏi này tôi cho rằng không một giải pháp nào tốt hơn là khi
doanh nghiệp đó áp dụng Marketing vào hoạt động của doanh nghiệp.
Sự phát triển của nền sản xuất hàng hoá làm cho của cải vật chất ngày càng
tăng song việc tiêu thụ ngày càng khó khăn, cạnh tranh ngày càng gay gắt, mâu
thuẫn giữa cung và cầu ngày càng phức tạp. Trước tình hình đó buộc các nhà kinh
doanh phải phân đoạn thị trường, lùa chọn thị trường mục tiêu cũng như định vị
hàng hoá của doanh nghiệp để tìm ra những giải pháp tối ưu trong sự đồng nhất về

nhu cầu, đặc tính, hành vi ứng xử của người tiêu đùng và thực hiện những mục
đích kinh doanh của mình là tối tối đa hoá lợi nhuận. Từ những năm đầu của thế
kỷ 20, các nhà kinh doanh có chủ trương tạo mọi điều kiện thuận tiện nhất cho
khách hàng, dùng mọi biện pháp mưu mẹo để bán được hàng từ việc quảng cáo
bày hàng cho đẹp, mua hàng có khuyến mại.
Từ đó các nhà kinh nhận thức được cần phải tiến hành phân đoạn thị
trường, lựa chọn thị trường mục tiêu và định vị hàng hoá của doanh nghiệp. Đây
là những nội dung quan trọng nhất của lý thuyết Marketing và là một khâu không
thể thiếu được của tiến trình hoạch định các chiến lược Marketing. Xét trong
phạm vi của khái niệm, ta thấy rằng, đối với Marketing, các doanh nghiệp chỉ có
thể đáp ứng được nhu cầu và mong muốn chọn được một thị trường mục tiêu phù
hợp. Tuy nhiên, để doanh nghiệp có thể chọn được một vị trí trên thị trường thì
thật là khó bởi lẽ không phải chỉ có một mình họ chiếm lĩnh trên thị trường mà
trước mắt họ là rất nhiều các đối thủ cạnh tranh có cùng những cách thức lôi kéo
khách hàng rất tinh vi và khôn khéo. Cho nên, phân khúc thị trường, xác định thị
trường mục tiêu được hiểu thực chất là vấn đề biết tập trung nỗ lực của doanh
nghiệp đúng thị trường, xác định cho mình một thị trường, một hình ảnh riêng,
2/42


mạnh mẽ và nhất quán để khẳng định khả năng vốn có của doanh nghiệp một cách
hiệu quả nhất.

CHƯƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN PHÂN KHÚC THỊ
TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG
MỤC TIÊU

3/42


1.1. Quy trình phân khúc thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu

1.2. Phân khúc thị trường
1.2.1.

Định nghĩa về phân khúc thị trường

Phân khúc thị trường là chia thị trường tổng thể không đồng nhất thành các
khúc thị trường đồng nhất để làm nổi rõ lên sự khác biệt về nhu cầu, tính cách hay


hành vi.
Sở dĩ doanh nghiệp phải phân khúc thị trường là để nhận rõ nhu cầu của
khách hàng trong từng khúc, từ đó giúp doanh nghiệp triển khai một hỗn hợp
Marketing (Marketing Mix) thích ứng nhằm thỏa mãn nhu cầu đó. Thông qua
những chương trình Marketing tương ứng với từng khúc thị trường riêng biệt, nhà
quản trị có thể thực hiện các công việc Marketing tốt hơn, sử dụng các nguồn lực
hiệu quả hơn.
1.2.2.

a

Các tiêu thức để phân khúc thị trường
Phân khúc thị trường trước và sau nghiên cứu thị trường

Phân khúc Trước nghiên cứu thị trường:
Đưa ra quyết định về phân khúc trên cơ sở một số tiêu thức phù hợp đã
được xác định trước khi tiến hành nghiên cứu thị trường.
Ví dụ: một doanh nghiệp có thể quyết định chia thị trường thành: nhóm
người không sử dụng, nhóm người sử dụng ít, nhóm người sử dụng nhiều đối với


4/42


một sản cụ thể trước khi tiến hành nghiên cứu thị trường để xác định quy mô từng
nhóm cũng như các tiêu thức để phân khúc thị trường.
Phân khúc Sau nghiên cứu thị trường:
Phân chia người mua thành các nhóm dựa vào các kết quả nghiên cứu trên
thị trường
Ví dụ: những người mua sẽ được phỏng vấn về thái độ hoặc lợi ích mà họ
cảm thấy khi tiêu dùng 1 loại sản phẩm nào đó và sẽ được phân loại vào nhóm tuỳ
theo câu trả lời của họ. Quy mô cà tiêu thức được xác định sau khi nghiên cứu thị
trường.


b

Các tiêu thức phân khúc thị trường

Có rất nhiều tiêu thức dùng để phân khúc thị trường người làm Marketing
phải nghiên cứu, thử nghiệm để đưa ra tiêu thức phân khúc thích hợp. Họ có thể
sử dụng một tiêu thức hay sử dụng nhiều tiêu thức để phân khúc thị trường. Các
tiêu thức thường được sử dụng để phân khúc thị trường như địa lý, dân số, tâm lý
và hành vi.
Theo tiêu thức địa lý
Phương pháp này đòi hỏi thị trường phân thành các khu vực địa lý khác
nhau như các quốc gia, các vùng, các tỉnh, thành phố, huyện. Công ty sẽ quyết
định kinh doanh một hoặc nhiều khu vực. Mỗi khu vực thị trường lại lại mang một
sự khác biệt về khí hậu cũng như kinh tế, văn hóa...


Theo tiêu thức nhân khẩu học
Được chia ra làm nhiều loại.
 Nhóm tiêu thức thuộc loại này bao gồm: độ tuổi, giới tính, nghề nghiêp, trình độ
văn hoá, quy mô gia đình, tình trạng hôn nhân, thu nhập, giai tầng xã hội, tín
ngưỡng, dân téc, sắc tộc…
 Các tiêu thức thuộc loại này đa số thường có sẵn số liệu do được sử dụng vào
nhiều mục đích khác nhau vì vậy các mặt hàng tiêu dùng đều áp dụng tiêu thức
này trong phân đoạn.
VD: Khi đi phân tích thị trường sữa hộp ở Biên Hòa. Như chúng ta đã biết,
sữa được hầu hết mọi người tiêu dùng yêu thích vì sự bổ dưỡng của nó. Tuy nhiên,
không phải tất cả mọi loại sữa đều phù hợp với mọi lứa tuổi từ trẻ sơ sinh đến
người cao tuổi, bởi lẽ mỗi một độ tuổi chỉ có thể hấp thụ được một lượng chất dinh
dưỡng phù hợp với cơ thể và độ tuổi của mình. Nắm bắt được đặc tính này, các
nhà sản xuất đã áp dụng tiêu thức theo độ tuổi để phân đoạn, họ tung ra thị trường


5/42


các loại sữa mà trong đó mỗi loại có các chất dinh dưỡng khác nhau phù hợp với
từng độ tuổi (sữa dành cho trẻ sơ sinh từ 1-3 tháng tuổi, từ 3-6 tháng tuổi, sữa
dành cho người trung niên, người cao tuổi chống loãng xương…). Ngoài ra, thị
trường này cũng liên quan đến thu nhập của người tiêu dùng do giá thành của mỗi
loại sữa còn khá cao, vì vậy những người có thu nhập thấp ít quan tâm đến sản
phẩm này.
Theo tiêu thức tâm lý học
Cơ sở phân khúc này dựa trên các tiêu thức như: thái độ, động cơ, lối sống,
sự quan tâm, quan điểm, giá trị văn hoá…
 Các tầng lớp xã hội: trong xã hội có nhiều tầng lớp và mỗi tầng lớp đều có sự khác
biệt về tâm lý tiêu dùng.
 Lối sống: sự quan tâm của người tiêu dùng đối với các loại khách hàng đã chịu
ảnh hưởng của lối sống, thể hiện qua việc lựa chọn món hàng.
 Cá tính: đây cũng là một tiêu thức rất được chú ý trong phân khúc thị trường như
các sản phẩm xe hơi, xe gắn máy, thời trang…
Việc sử dụng các tiêu thức này cho thấy các yếu tố thuộc tâm lý ảnh hưởng
tới hành vi lựa chọn và mua sắm hàng hoá của người tiêu dùng như thế nào. Cho
nên, khi phân khúc, nó thường được sử dụng để hỗ trợ cho các tiêu thức thuộc
nhóm nhân khẩu học.


Theo tiêu thức hành vi tiêu dùng
Trên cơ sở này, thị trường người tiêu dùng sẽ được phân chia thành các
nhóm đồng nhất về các đặc tính: lý do mua sắm, lợi ích tìm kiếm, tính trung thành,
số lượng, tỷ lệ sử dụng, cường độ tiêu thụ, tình trạng sử dụng (đã sử dụng, chưa sử
dụng, không sử dụng…).
Theo ý kiến các nhà Marketing, các đặc tính về tiêu thức này là khởi
điểmtốt nhất để hình thành các đoạn thị trường.
 Lý do mua hàng: người mua trong trường hợp này được phân biệt theo những lý
do mua khác nhau. Nó bao gồm mua cho nhu cầu cá nhân, mua cho nhu cầu gia
đình, công việc, hoặc cho nhu cầu giao tiếp…
Ví dụ: chẳng hạn có một người nào đó đến văn phòng bán vé máy bay mua
vé đi du lịch tặng đối tác làm ăn của mình thì đây là lý do mua cho nhu cầu giao
tiếp, với một mục đích gây được ấn tượng tốt và duy trì mối quan hệ làm ăn lâu
dài với bạn hàng.


6/42


Lợi ích tìm kiếm: là lợi ích mà người mua tìm kiếm khi sử dụng sản phẩm. Khách
hàng sẽ xem xét mức lợi ích mà món hàng sẽ đem lại như lợi ích về kinh tế, y tế,
thẩm mỹ…
 Mức độ trung thành với nhãn hiệu: điều này được thể hiện trong việc mua sắm và
sử dụng của khách hàng, do đó chúng ta có các loại khách hàng không trung
thành, ít trung thành, mức độ trung thành trung bình, rất trung thành, tuyệt đối
trung thành
 Dịp mua: xác định dịp nào trong tháng, quý, năm để đáp ứng nhu cầu mang tính
thời vụ.
 Mức sử dụng: căn cứ vào mức sử dụng để phân loại khách hàng: không mua, ít
mua, mua vừa, mua nhiều.


1.2.3.








Các yêu cầu của việc phân khúc thị trường

Từ những tiêu thức trên, để xác định được một đoạn thị trường có hiệu quả
việc phân đoạn thị trường phải đạt những yêu cầu sau:
Tính đo lường được: tức là quy mô và hiệu quả của đoạn thị trường đó phải đo
lường được.
Tính đủ lớn: những đoạn thị trường này phải khá lớn và sinh lời xứng đáng để
phục vụ. Ví dụ: đoạn thị trường ôtô cho người tàn tật là không đủ lớn để mang lại
hiệu quả trong việc sản xuất kinh doanh ôtô
Tính tiếp cận được: tức là doanh nghiêp phải nhận biết và phục vụ được đoạn thị
trường đã phân chia theo tiêu thức nhất định.
Tính quan trọng: tức là các đoạn thị trường phải bao gồm các khách hàng có nhu
cầu đồng nhất với quy mô đủ lớn để có khả năng sinh lời cao.
Tính khả thi: tức là sản phẩm sau khi phân loại các hoạt động của Marketing phải
được bảo đảm là có hiệu quả.
1.3. Lựa chọn thị trường mục tiêu.
1.3.1.

Định nghĩa

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm các khách hàng có cùng nhu cầu
hay mong muốn mà doanh nghiệp có khả năng đáp ứng, hoặc đồng thời có thể tạo
ra ưu thế hơn so với đối thủ cạnh tranh và đạt được các mục tiêu Marketing.
Phân khúc thị trường đã mở ra một số cơ hội thị trường trước một công ty.
Bước tiếp theo của tiến trình xác định thị trường mục tiêu là lựa chọn thị
trường mục tiêu
1.3.2.

Đánh giá các phân khúc thị trường:
7/42


Để có thể đánh giá một cách chính xác các phân khúc thị trường, chúng ta
phải xác định được quy mô và tốc độ phát triển của phân khúc thị trường, cơ cấu
và sự thu hút của các khúc thị trường, mục đích kinh doanh và nguồn tài lực của
doanh nghiệp trong mối quan hệ với từng phân khúc. Do đó, việc lựa chọn thị
trường cụ thể đòi hỏi phải dựa trên các yếu tố chủ yếu sau:
c

Quy mô và sự tăng trưởng của từng đoạn thị trường

Quy mô và sự tăng trưởng và sự tăng trưởng là thuật ngữ được sử dụng để
chỉ các đoạn thị trường tiềm năng nhất đối với mỗi doanh nghiệp, là một tiêu
chuẩn mang tính tương đối.
Trong đó, mức tăng trưởng của thị trường thường được các nhà kinh doanh
đánh giá cao hơn. Bởi vì, tốc độ tăng trưởng của thị trường càng nhanh thì càng
đưa lại hứa hẹn mức tiêu thụ và khả năng sinh lời càng lớn. tuy nhiên, mức tăng
trưởng cao lại lôi kéo nhiều đối thủ cạnh tranh tham gia nên khả năng sinh lời
thường giảm xuống nhanh chóng.
Việc xác định đúng quy mô và mức độ tăng trưởng của thị trường là một
bước hết sức quan trọng đối với doanh nghiệp chọn thị trường mục tiêu. Các
doanh nghiệp có quy mô lớn thường hướng tới các đoạn hị trường có dung lượng
lớn và bỏ qua các đoạn thị trường nhỏ.
Để đánh giá được quy mô và sự tăng trưởng của thị trường doanh nghiệp
cần thu thập được những thông tin về doanh số, tốc độ tăng của doanh số bán ra,
mức lãi và tỷ lệ thay đổi của mức lãi, mật độ dân cư và tốc độ gia tăng dân số.
d

Mức độ hấp dẫn của từng đoạn thị trường

Trên một đoạn thị trường, thông thường có rất nhiều doanh nghiệp khác
nhau. Vì vậy doanh nghiệp thường phải đương đầu với những đòi hỏi ngày càng
cao của khách hang. Một phân đoạn thị trường mà có quá nhiều đối thủ cạnh tranh
thì không phải là đoạn thị trường hấp dẫn. Muốn kinh doanh có hiệu quả và tìm
kiếm được nhiều cơ hội tốt thì dn cần phải nghiên cứu để tìm ra đoạn thị trường
nào mà doanh nghiệp ít chú ý tới. Đó là những đoạn rất khó xâm nhập nhưng nếu
xâm nhập thành công thì doanh nghiệp lại có được một cơ hội kinh doanh rất cao.
Sự hấp dẫn của thị trường được đánh giá qua mức độ cạnh tranh trên đoạn
thị trường đó. Muốn đánh giá chính xác mức độ hấp dẫn của thị trường, doanh
nghiệp có thể lựa chọn 1 trong những tiêu chuẩn sau:
 Thứ nhất: Khả năng gia nhập và rút lui khỏi thị trường
Một đoạn thị trường mà các đối thủ cạnh tranh có thể dễ dàng gia nhập có
thể coi là đoạn thị trường kém hấp dẫn. Khi có 1 đối thủ tham gia vào thị trường
8/42


cũng có nghĩa là họ đưa vào thị trường những khả năng và lợi ích mới. điều đó
đồng nghĩa với việc dn có nguy cơ bị giảm thị trường rất cao. Trên những đoạn thị
trường xuất hiện các rào cản gia nhập và rút lui thường có lợi nhuận tiềm năng cao
nhưng đem đến cho doanh nghiệp rủi ro cao hơn trong cạnh tranh sinh tồn. Các
đọan thị trường không có rào cản gia nhập và rút lui, các doanh nghiệp dễ dàng
gia nhập song tính ổn định của thị trường không cao.
 Thứ hai: sự xuất hiện của các sản phẩm thay thế
Thị trường sẽ trở nên kém hấp dẫn nếu trong hiện tại và tương lai nhanh
chóng xuất hiện các sản phẩm thay thế. Sản phẩm thay thế là một trong những yếu
tố có vai trò không kém phần quan trọng trong việc xác định giới hạn cho giá cũng
như lợi nhuận từ sản phẩm trong tương lai trên thị trường. Các sản phẩm thay thế
càng gia tăng thì giá cả và lợi nhuận có xu hướng giảm.
 Thứ ba: sức ép của khách hàng
Trên 1 đoạn thị trường mà khách hang có sức mạnh chi phối thị trường, dn
thường gặp nhiều bất lợi trong kinh doanh. Khách hang thường đòi hỏi cao hơn
đối với hang hóa/dịch vụ sau khi bán nhiều hơn nhưng không muốn trả giá cao,
thậm chí còn ép giá. Một đoạn thị trường như vậy thường không có tính hấp dẫn
cao trong kinh doanh
Quyền lực của khách hàng trên thị trường thường được biểu hiện thông qua
một số đặc điểm cơ bản sau:
- Số lượng người mua không nhiều nhưng khối lượng hang mau cảu họ chiếm tỷ
trọng tương đối cao trong tổng sản lượng tiêu thụ
- Sản phẩm cung ứng tương đối giống nhau
- Khách hàng rất nhạy cảm về giá
- Khách hàng có khả năng liên kết cao.


Thứ tư: sức ép từ các nhà cung ứng
Các nhà cung ứng còn có ảnh hưởng không nhỏ tới quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Nếu trong 1 đoạn thị trường mà các nhà cung ứng có khả
năng chi phối tới nguyên liệu, thiết bị, vốn…họ có ảnh hưởng rất lớn trong việc
quyết định tới giá bán hàng hóa.
e

Các mục tiêu và khả năng của doanh nghiệp

Sau khi phân tích các mức độ hấp dẫn khác nhau của từng đọan thị trường
một cách khách quan, để chọn lựa được thị trường mục tiêu thì doanh nghiệp cần
phải xác định rõ mục tiêu mà mình đang theo đuổi cũng như phân tích chính xác
năng lực thực sự của mình. Một đoạn thị trường hấp dẫn vẫn có thể bỏ qua nếu nó
9/42


không phù hợp với mục tiêu lâu dài và khả năng của doanh nghiệp. Nếu doanh
nghiệp không cưỡng lại được sự hấp dẫn của các đạon thị trường đó sẽ dẫn đến
việc phân tán nguồn lực, không tập trung được nguồn lực cho các mục tiêu quan
trọng.
Từ các mục tiêu được đặt ra trong ngắn hạn và dài hạn, doanh nghiệp cần
xác định đúng đắn các nguồn lực thực tế của mình trên tất cả các phương diện
như: tài chính, công nghệ, nhân lực, năng lực quản lý, khả năng Marketing
1.3.3.

f

Xác định phân khúc thị trường mục tiêu:
Các mô hình lựa chọn thị trường mục tiêu

Phân khúc thị trường đã mở ra một số cơ hội thị trường cho rất nhiều nhà
doanh nghiệp, các mục tiêu là một phần quan trọng của tiến trình Marketing. Các
doanh nghiệp phải đưa ra được các quyết định về số lượng khúc thị trường được
lựa chọn và khúc hấp dẫn nhất.
Sau đây là 1 số thị trường mục tiêu được chọn và hấp dẫn nhất:
 Tập trung vào một khúc thị trường:
Ở đây, khúc thị trường được chọn có thể chưa có đối thủ cạnh tranh hoặc là
thị trường duy nhất mà doanh nghiệp chọn để chỉ bán những loại sản phẩm phù
hợp với thị trường đó. Do vậy, đây là khúc thị trường đầy tiềm năng cho những
công ty có vốn nhỏ.
Ví dụ: Sữa Anlene là sữa dành cho người trung niên, người cao tuổi chống
loãng xương.
 Chuyên môn hoá có chọn lọc (chuyên môn hoá tuyển chon):
Phương án này thích hợp với các doanh nghiệp có ít hoặc không có năng
lực trong việc phối hợp các khúc thị trường với nhau. So với phương án tập trung
vào một khúc thị trường, phương án này ít rủi ro trong kinh doanh hơn, bởi lẽ khi
một khúc thị trường lựa chọn bị đe doạ do sự cạnh tranh gay gắt thì sự hấp dẫn
của sản phẩm không còn nữa. Tuy nhiên các doanh nghiệp vẫn có thể tiếp tục kinh
doanh ở những khúc thị trường khác.
Ví dụ: Hãng xe máy Honda đã cho ra đời các loại xe máy như SH, Dylan để
phục vụ cho phân khúc thị trường xe máy cao cấp và các loại xe như Wave,
Dream, Future để phục vụ cho phân khúc thị trường xe máy trung bình.
 Chuyên môn hoá theo sản phẩm:
Ở phương án này, doanh nghiệp có thể tập trung vào việc sản xuất một loại
sản phẩm có đặc tính nhất định để đáp ứng cho nhiều khúc thị trường. Lợi thế lớn
10/42


của việc áp dụng phương án này trong kinh doanh là tạo được hình ảnh tốt trong
tâm trí người tiêu dùng về loại sản phẩm đó.
Ví dụ: Công ty kính hiển vi chuyên sản xuất các loại kính hiển vi để phục
vụ cho các trường học, các viện nghiên cứu, các bệnh viện…
Chuyên môn hoá theo thị trường:
Ở phương án này, doanh nghiệp có thể chọn một nhóm khách hàng riêng
biệt làm thị trường mục tiêu và tập trung vào việc thoả mãn nhu cầu đa dạng của
một nhóm khách hàng đó, do đó doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc tạo dựng
danh tiếng trong nhóm khách hàng đó và vì thế việc tăng lượng bán sản phẩm sẽ
trở nên hết sức thuận lợi.
Ví dụ: Công ty Nokia đã sản xuất ra các loại điện thoại di động có giá từ 5
-10 triệu đồng để phục vụ cho phân khúc thị trường là giới doanh nhân. Cung cấp
nhiều loại điện thoại để tạo ra nhiều sự lựa chọn thỏa mãn tốt nhất phân khúc này
 Bao phủ toàn bộ thị trường:
Những doanh nghiệp nào áp dụng phương án này đều coi mọi khách hàng
đều là thị trường mục tiêu của họ, từ đó họ sẽ đáp ứng nhu cầu về mọi chủng loại
mặt hàng mà khách hàng của họ cần. Do đó thường chỉ có những doanh nghiệp
lớn mới có khả năng áp dụng phương án này.
Ví dụ: Hệ thống siêu thị Big C là hệ thống siêu thị cung cấp nhiều mặt hàng
phục vụ cho tất cả các nhóm khách hàng.


g

Các chiến lược marketing tương ứng các thị trường mục tiêu

Bao phủ toàn bộ thị trường được thực hiện theo các cách: Marketing phân
biệt, marketing không phân biệt, marketing tập trung
 Marketing không phân biệt:
Công ty có thể quyết định không xét đến những khác biệt giữa các khu vực
và theo đuổi cả thị trường bằng một mặt hàng. Họ định hình một sản phẩm và một
chương trình marketing hướng tới đại đa số khách mua.
Cung cấp cho thị trường một sản phẩm đồng nhất với các hoạt động
marketing giống nhau như bán sản sản phẩm với cùng một mức giá, cùng hình
thức quảng cáo, cùng phương thức khuyến mãi….
Ưu điểm: đạt hiệu quả kinh tế theo quy mô, chi phí sản xuất thấp, tiết kiệm
chi phí marketing dẫn đến giá thành sản phẩm thấp hơn so với các phương thức
khác. Chiến lược này cũng đơn giản dễ quản lý.
11/42


Hạn chế: khai thác thị trường kém hiệu quả do có nhiều người tiêu dùng có
nhu cầu khác biệt sẽ không chấp nhận một loại sản phẩm của công ty, Công ty dễ
gặp rủi ro khi hoàn cảnh thị trường thay đổi.
 Marketing phân biệt:
Là việc doanh nghiệp phát triển và thực hiện nhiều chiến lược marketing
hỗn hợp nhằm vào nhiều đoạn thị trường khác nhau. Mỗi nhóm khách hàng (phân
khúc thị trường) được đáp ứng bằng một chiến lược marketing riêng với sản phẩm
khác nhau, phân phối qua những kênh khác nhau, bán với những mức giá khác
nhau, ….
Ưu điểm: đáp ứng được nhu cầu và mong muốn đa dạng của khách hàng
nên đạt hiệu quả khai thác thị trường cao, doanh số và lợi nhuận cao, mức độ rủi
ro trong kinh doanh được giảm bớt do doanh nghiệp khai thác đồng thời nhiều hị
trường.
Hạn chế: chi phí thực hiện chiến lược cao, quản lý phức tạp nếu trình độ
quản lý kém dễ gây nên xung đột nội bộ giữa các chiến lược marketing của doanh
nghiệp
 Marketing tập trung:
Marketing tập trung là việc công ty chọn 1 đoạn thị trường và chỉ tập trung
mọi hoạt động vào khai thác khúc thị trường đã chọn.
Ưu điểm: doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh và vì vậy có thể trở
thành người độc quyền khia thác đoạn thị trường đó. Đạt được lợi thế về chuyên
môn hoá sản xuất, phân phối và các hoạt động marketing khác. Hiệu quả khai thác
thị trường cao với tỷ suất lợi nhuận lớn.
Hạn chế: rủi ro cao vì công ty đầu tư tập trung vào một đoạn thị trường, nếu
nhu cầu của đoạn thị trường thau đổi công ty sẽ khó đối phó.

12/42


Hệ thống Marketing - Mix

Thị trường tổng thể

Marketing không phân biệt

Đoạn thị trường I
Đoạn thị trường II
Đoạn thị trường III

Hệ thống marketing Mix I
Hệ thống marketing Mix II
Hệ thống marketing Mix III

Marketing phân biệt

Đoạn thị trường I
Đoạn thị trường II
Đoạn thị trường III

Hệ thống Marketing –Mix I

Marketing tập trung

Hình: Các chiến lược marketing tương ứng thị trường

Nhân tố
chiến
lược
Xác định
chiến
lược thị
trường

Marketing không
phân biệt

Marketing tập
trung

Marketing phân
biệt

Một bộ phận lớn
khách hàng

Một nhóm khách
hàng tiềm năng

Hai hoặc vài nhóm
khách hàng tiềm
năng

Một số lượng hạn chế
sản phẩm dưới một
thương hiệu cho
nhiều đối tượng
khách hàng

Một loại sản phầm
cho một nhóm
khách hàng

Mỗi loại sản phẩm
cho một nhóm
khách hàng

Chính
sách giá

Một mức giá phổ
biến

Một mức giá trong
một nhóm khách
hàng

Chính
sách

Sử dụng mọi kênh
phân phối

Sử dụng mọi kênh
phù hợp

Chính
sách sản
phẩm

Nhiều mức giá khác
nhau cho những
nhóm khách hàng
khác nhau
Mỗi nhóm khách
hàng có một kênh
13/42


phân
phối
Trọng
tâm
chiến
lược

phân phối phù hợp
Hướng đến một
Tập trung vào hai
Hướng đến nhiều loại
nhóm người mua cụ hoặc một số đoạn
người mua thông qua
thể thông qua một thị trường thông qua
một chương trình
chương trình
nhiều chương trình
marketing rộng rãi và
marketing đồng
marketing khác
đồng nhất
nhất và tập trung
nhau
Bảng: Các nhân tố chiến lược cho từng chiến lược marketing

1.4. Định vị sản phẩm trong thị trường mục tiêu
1.4.1.

Khái niệm định vị sản phẩm trong thị trường

Sau khi đã định vị được thị trường mục tiêu, vấn đề quan trọng tiếp theo là
doanh nghiệp cần xác định vị trí nào mình mong muốn trên thị trường. Việc đó
được gọi là định vị, để tiến hành định vị đòi hỏi doanh nghiệp phải quyết định
xem cần khuếch trương bao nhiêu điểm khác biệt, trong đó những điểm khác biệt
nào là dành cho khách hàng mục tiêu. Như vậy, định vị là việc doanh nghiệp thiết
kế sản phẩm và hình ảnh của mình như thế nào đề nó chiếm được vị trí đặc biệt
và có giá trị trong tâm trí của khách hang mục tiêu. Để định vị hình ảnh của mình,
doanh nghiệp có thể tiến hành bằng nhiều sự khác biệt, trong đó quan trọng và có
tính chất lâu dài nhất là làm khác biệt sản phẩm của mình hay còn gọi là định vị
sản phẩm.
Định vị sản phẩm là việc doanh nghiệp thiết kế một sản phẩm mang những
đặc tính khác so với các sản phẩm của đối thủ cạnh tranh, tạo nên hình ảnh riêng
biệt và đặc trưng đối với khách hang nhằm thỏa mãn nhu cầu của đoạn thị trường
mục tiêu đã lựa chọn
Về bản chất, định vị sản phẩm chính là hoạt động của các nhà kinh doanh
nhằm xác định vị trí của sản phẩm trên thị trường. Hoạt động này được tiến hành
khi phân đoạn và xác định thị trường mục tiêu của doanh nghiệp. Nếu phần thị
trường mà doanh nghiệp quyết định xâm nhập đã ổn định thì cũng có nghĩa là
trên thị trường ấy đã có cạnh tranh và các đối thủ cạnh tranh đã chiếm được các vị
trí của mình trong phạm vi của đoạn thị đó. Với kết quả của quá trình định vị sản
phẩm, doanh nghiệp sẽ có trong tay mình một sản phẩm đặc trưng mang lại những
thuộc tính riêng biệt thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của khách hàng trên thị trường
mục tiêu của mình trong quá trình phân đoạn thị trường. Như vậy, phân đoạn thị
trường không chỉ giúp doanh nghiệp tăng cường khả năng chuyên môn hóa trong
kinh doanh mà còn tìm ra được những giải pháp khai thác tốt nhất nhu cầu thị
14/42


trường, tại hình ảnh, nâng cao uy tín và khả năng cạnh tranh sản phẩm . Mặt khác,
kết quả của quá trình định vị sản phẩm còn là cơ sở để doanh nghiệp hoạch định
có hiệu quả hệ thống Marketing – mix, tăng cường khả năng thích ứng của các
giải pháp Marketing.
Như vậy, định vị sản phẩm chính là quá trình làm cá biệt hóa và nổi bật sản
phẩm để từ đó tác động đến quyết định mua hang của khách
Ví dụ: Khi Nescafe Café Việt được truyền thông là “ mạnh”, nó phải dựa
vào thuộc tính nổi trội là nồng độ Café cao. Khi Dr Thanh được truyền thông là
“không lo bị nóng”, nó phải dựa vào thuộc tính nổi trội đó là “ thanh lọc cơ thể”,
hoặc Honda là nhãn hiệu xe gắn máy của Nhật được biết đến tại Việt Nam như
một sản phẩm chất lượng cao.
Việc định vị có hiệu quả phụ thuộc vào khả năng của doanh nghiệp làm sự
khác biệt những sản phẩm của họ với sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh bằng
cách đáp ứng các giá trị vượt trội cho khách hàng.
Để tạo sự khác biệt trong cạnh tranh Marketing thường sử dụng 4 yếu tố để
làm nên sự khác biệt được thể hiện trong bảng sau:
CÁC HÌNH THỨC TẠO SỰ KHÁC BIỆT
Sản phẩm
Dịch vụ
Nhân sự
Hình ảnh
-Tính năng
-Giao hàng
-Năng lực
-Biểu tượng
-Công dụng
-Lắp đặt
-Tác phong
-Các hình thức
- Độ bền
-Đào tạo khách
-Độ tin cậy
truyền thông
- Độ tin cậy
hàng
-Độ chính xác viết & hình ảnh
-Sửa chữa
-Tư vấn KH
trong công việc -Không khí
-Kiểu dáng
-Bảo hành & sửa
-Biết giao tiếp -Sự kiện
-Thiết kế
chữa
-Nhiệt tình



Yêu cầu của đặc điểm khác biệt
Doanh nghiệp chỉ tạo nên sự khác biệt khi nó thõa mãn những tiêu chí như
sau:
Tính quan trọng: điểm khác biệt đó đem lại lợi ích có giá trị lớn cho một số
khá đông người mua
Tính phân biệt: điểm khác biệt đó không có ai đã tạo ra hay được doanh
nghiệp tạo ra một cách đặc biệt
15/42


Tính vượt trội: điểm khác biệt đó là cách tốt hơn so với những cách khác
để đạt được ích lợi như nhau
Tính thông đạt: điểm khác biệt đó dễ truyền đạt và đập vào mắt người mua
Tính dẫn đầu: điểm khác biệt đó không thể dễ dàng bị các đối thủ khác
cạnh tranh, sao chép lại.
1.4.2.

h

Các loại định vị:
Xác định và lựa chọn hình ảnh dựa trên thuộc tính của sản
phẩm.

Mỗi khi nhắc đến tên sản phẩm, người tiêu dùng lập tức liên tưởng đến một
thuộc tính của sản phẩm.
Sự liên tưởng này phải rõ ràng, nhất quán và trường tồn. Quan trọng hơn,
thuộc tính mà người tiêu dùng liên tưởng đến phải thực sự độc đáo, đem lại lợi ích
khác biệt hoặc vượt trội so với sản phẩm cùng loại khác.
Người tiêu dùng ngày nay thường bị quá tải thông tin do sản phẩm, dịch vụ
được quảng cáo, truyền thông bằng nhiều cách, với cường độ và thời lượng ngày
càng cao, nên khó thể nhớ hết đặc tính của từng loại sản phẩm, dịch vụ. Họ chỉ có
thể nhớ các đặc tính nổi trội của sản phẩm, dịch vụ nhận biết được qua quá trình
trải nghiệm hoặc do tác động của truyền thông.
Vì vậy phải hướng sự liên tưởng của người tiêu dùng theo ý mình, tức chọn
một vị trí phù hợp nhất cho sản phẩm mang tên thương hiệu của mình trong tâm
trí người tiêu dùng. Ví dụ, Volvo định vị cho mình là loại ô tô an toàn, trong khi
Mercedes muốn người tiêu dùng liên tưởng tới sự sang trọng, đẳng cấp. Nescafé
Café Việt được định vị là “mạnh”, trong khi G7 lại truyền thông là “mạnh chưa
đủ, phải đúng gu”...
i

Xác lập hình ảnh thông qua biểu tượng

Công cụ để tạo nên đặc điểm nhận dạng là tên, logo, biểu tượng, bầu không
khí, các sự kiện. Hy vọng rằng công việc này sẽ tạo được hình ảnh mong muốn
của nhãn hiệu. Những điều quan trọng là phải phân biệt rõ đặc điểm nhận dạng và
hình ảnh.

16/42


Đặc điểm nhận dạng là những cách mà công ty sử dụng để làm cho công
chúng nhận ra mình. Còn hình ảnh là cách công chúng nhận thức về công ty Công
ty thiết kế đặc điểm nhận dạng của mình để hình ảnh của mình trong công chúng,
nhưng có những yếu tố khác cũng can dự vào việc quyết định hình ảnh của mỗi
người về Công ty Người ta đi tìm kiếm những đặc trưng nhất định trong một hình
ảnh. Nó phải truyền đạt một thông tin độc đáo tạo nên những nét chính của sản
phẩm và vị trí của nó. Nó phải truyền đạt thông tin đó một cách khác biệt để
không thể nhầm lẫn với thông tin tương tự của các đối thủ cạnh tranh. Nó phải có
sức truyền cảm để làm rung động trái tim và tâm trí người mua.
Một hình ảnh sâu sắc gồm một hay nhiều biểu tượng làm cho người ta liên
tưởng đến công ty hay nhãn hiệu. Logo của Công ty và nhãn hiệu phải được thiết
kế để có thể nhận ra ngày lập tức.
Ví dụ: Biểu tượng như con sư tử (Harris Bank), quả táo (Máy tính Apple)
hay người lính (Pillabury)
Hay trường hợp thành công của thuốc lá Marlboro. Con đường chủ yếu để
Marlboro giành được một thị phần lớn khác thường trên khắp thế giới (trong 30%)
là hình ảnh “chàng cao bồi hung hăng” của Marlboro đã đánh đúng vào tâm lý
thích thú của hầu hết những người hút thuốc lá.
1.4.3.

j

Các chiến lược định vị sản phẩm.

Cạnh tranh với sản phẩm có sẵn (chiến lược định vị cạnh tranh trực

tiếp)
Với những ưu thế tuyệt đối và tiềm năng về công nghệ kỹ thuật, giá cả, uy
tín… của mình, doanh nghiệp thiết kế sản phẩm của mình với chất lượng và công
dụng nổi bật, độc đáo có khả năng cạnh tranh mạnh hơn hẳn so với các sản phẩm
của đối thủ cạnh tranh khác. Cùng với các giải pháp Marketing hỗ trợ khác, hoạt
động định vị phải tạo ra được hình ảnh sản phẩm phải thật hấp dẫn có khả năng
tác động mạnh mẽ và có sức thuyết phục cao đối với khách hang.
Với mục tiêu này, chiến lược không chỉ dừng lại ở việc tạo dựng một hình
ảnh mà còn phải xác định cho hình ảnh đó một vị thế trên thị trường mục tiêu. Vị
thế đó là do khách hang đánh giá thông qua thái độ của họ đối với sản phẩm như:
ưa chuộng, tẩy chay, thờ ơ…. Đặc biệt là xem sản phẩm đó có khả năng hấp dẫn
17/42


và giữ được khách hang khi họ đang tiếp cận với các sản phẩm cạnh tranh hay
không?
k

Chiếm lĩnh vị trí mới

Với mục tiêu này, sau khi phân tích sơ đồ định vị sản phẩm, các doanh
nghiệp tìm cách khai thác thị trường bằng các sản phẩm hoàn toàn mới với những
đặc trưng cơ bản phù hợp với đặc điểm tiêu dung của khách hang trên đoạn thị
trường mục tiêu. Đây cũng chính là một phương pháp hữu hiệu đảm bảo cho
doanh nghiệp không gặp phải sự cạnh tranh đối đầu trực diện trên thị trường. khi
định vị sản phẩm, doanh nghiệp phải tạo ra được một hình ảnh cụ thể nhưng mới
lạ về sản phẩm cũng như thương hiệu của doanh nghiệp trong tâm trí khách hang
trên thị trường mục tiêu.
l

Tiến trình định vị sản phẩm

Để định vị sản phẩm thành công, công ty cần phải lên kế hoạch định vị sản
phẩm bao gồm các nội dung cơ bản sau:
Dựa vào phân đoạn thị trường, lựa chọn đoạn thị trường mục tiêu (kết quả
của bước 2 trong tiến trình phân đoạn thị trường và lựa chọn thị trường mục tiêu),
xác định vị trí hiện có của sản phẩm của chính mình và của đối thủ cạnh tranh
theo những tiêu chuẩn mà người mua cho là quan trọng khi đánh giá sản phẩm. Ví
dụ: khách hàng mua xe đạp sẽ chú ý đặc biệt tới hai tiêu chuẩn là độ bền và giá cả.
Kết quả nghiên cứu marketing cho biết hình ảnh nhãn hiệu của công ty và nhãn
hiệu của các đối thủ cạnh tranh trong giới khách hàng.
Căn cứ vào điều kiện của công ty và kết quả xác định vị trí các hàng hóa
hiện có, công ty sẽ quyết định chiến lược được định vị cạnh tranh với sản phẩm
sẵn có hay nhảy vào xác lập vị trí mới?
Sau khi đã xác định chiến lược định vị, công ty bắt đầu vào soạn thảo hệ
thống marketing - mix. Hệ thống marketing - mix phải có sự nhất quán trong việc
khắc hoạ hình ảnh về công ty và nhãn hiệu đúng tầm với vị trí mà công ty đã
chọn. Ví dụ: Nếu công ty thông qua chiến lược cạnh tranh với các nhãn hiệu sẵn
có, thì phải cố gắng tạo ra sự khác biệt so với đối thủ cạnh tranh hoặc về các đặc
tính sản phẩm (giá cả, chất lượng, bao bì, dịch vụ...); tuyển chọn kênh phân phối
18/42


thích hợp; làm quảng cáo ... tất cả đều mạnh hơn đối thủ cạnh tranh. Chiến lược
định vị phải có được một lợi thế cạnh tranh càng dài càng tốt.

19/42


CHƯƠNG 2.
THỰC TRẠNG PHÂN KHÚC THỊ
TRƯỜNG VÀ LỰA CHỌN THỊ TRƯỜNG
MỤC TIÊU TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN
MAY VIỆT TIỀN

20/42


2.1. Giới thiệu sơ lược về Công ty Cổ phần may Việt Tiến
2.1.1.

-

-

-

Giới thiệu tổng quan

Tên đầy đủ DN : Công ty Cổ phần may Việt Tiến.
Tên viết tắt DN : VTEC.
Trụ sở : 07 Lê Minh Xuân, Quận Tân Bình - TP Hồ Chí Minh, Việt Nam.
Ngày tháng năm thành lập : 1976.
Loại hình doanh nghiệp : Công ty cổ phần.
Tel : 84-8-38640800.
Website : http://www.viettien.com.vn.
Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp
Sản xuất quần áo các loại.
Dịch vụ xuất nhập khẩu, vận chuyển giao nhận hàng hóa.
Sản xuất và kinh doanh nguyên phụ liệu ngành may; máy móc phụ tùng và các
thiết bị phục vụ ngành may công nghiệp; thiết bị điện âm thanh và ánh sáng.
Kinh doanh máy in, photocopy, thiết bị máy tính; các thiết bị, phần mềm trong
lĩnh vực máy vi tính và chuyển giao công nghệ; điện thoại, máy fax, hệ thống điện
thoại bàn; hệ thống điều hoà không khí và các phụ tùng (dân dụng và công
nghiệp); máy bơm gia dụng và công nghiệp.
Kinh doanh cơ sở hạ tầng đầu tư tại khu công nghiệp.
Đầu tư và kinh doanh tài chính.
Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
Xác định các hoạt động kinh doanh chiến lược (SBU) (Chỉ đề cập đến
Ngành dệt may):
Việt Tiến.
TT-up.
San Sciaro.
Manhattan.
Smart Casual.
Việt Long.
2.1.2.

Quá trình hình thành và phát triển

Tiền thân công ty là một xí nghiệp may tư nhân “Thái Bình Dương kỹ nghệ công
ty”- tên giao dịch là Pacific Enterprise. Xí nghiệp này được 8 cổ đông góp vốn do
ông Sâm Bào Tài – một doanh nhân người Hoa làm Giám Đốc. Xí nghiệp hoạt
động trên diện tích 1,513m2 với 65 máy may gia đình và khoảng 100 công nhân.
 Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, Nhà nước tiếp quản & quốc hữu hóa
rồi giao cho Bộ Công nghiệp Nhẹ quản lý( nay là Bộ Công Nghiệp).


21/42












Tháng 5/1977 được Bộ Công Nghiệp công nhận là xí nghiệp quốc doanh và đổi
tên thành Xí Nghiệp May Việt Tiến.
Ngày 13/11/1979, xí nghiệp bị hỏa hoạn, thiệt hại hoàn toàn. Tuy thế, được sự trợ
giúp từ những đơn vị bạn, cộng với lòng hăng say gắn bó với xí nghiệp , toàn thể
công nhân và lãnh đạo Việt Tiến đã đưa đơn vị đi vào hoạt động trở lại và ngày
càng khẳng định vị trí của mình trên thương trường.
Nhờ vào nổ lực cố gắng đó mà theo quyết định số 103/CNN/TCLĐ, xí nghiệp
được Bộ Công Nghiệp chấp nhận nâng lên thành Công Ty May Việt Tiến. Sau đó,
lại được Bộ Kinh Tế Đối Ngoại cấp giấy phép xuất nhập khẩu trực tiếp với tên
giao dịch đối ngoại là VIET TIEN GARMENT IMPORT-EXPORT COMPANY
viết tắt là VTEC( theo giấy phép số 102570 ngày 08/02/1991)
Vào ngày 24/03/1993, công ty được Bộ Công Nghiệp cấp giấy phép thành lập
doanh nghiệp số 214/CNN-TCLĐ.
Trước năm 1995, cơ quan quản lý trực tiếp công ty là Liên hiệp Sản xuất – Xuất
nhập khẩu may. Do yêu cầu của các doanh nghiệp và của Bộ Công Nghiệp, cần
phải có một Tổng Công Ty Dệt May làm trung gian cầu nối giữa các doanh nghiệp
với nhau và cấp vĩ mô, tiếp cận với thế giới nhằm hỗ trợ thông tin về thị trường,
cần có sự cụ thể hóa các chính sách, pháp luật …. Chính vì thế, ngày 29/04/1995
Tổng Công ty dệt may Việt nam ra đời.
Căn cứ Nghị định số 55/2003/NĐ-CP ngày 28 tháng 5 năm 2003 của Chính phủ
quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Công nghiệp.
Căn cứ Văn bản số 7599/VPCP-ĐMDN ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Văn
phòng Chính phủ về việc tổ chức lại Công ty May Việt Tiến. Xét đề nghị của Tập
đoàn Dệt May Việt Nam tại Tờ trình số 28/TĐDM-TCLĐ ngày 09 tháng 01 năm
2007 và Đề án thành lập Tổng công ty May Việt Tiến.Theo đề nghị của Vụ trưởng
Vụ Tổ chức - Cán bộ quyết định: Thành lập Tổng công ty May Việt Tiến trên cơ
sở tổ chức lại Công ty May Việt Tiến thuộc Tập đoàn Dệt May Việt Nam.
2.1.3.

Liên doanh liên kết:

Hiện nay, doanh nghiệp có 21 đơn vị sản xuất trực thuộc; ngoài ra có 16
đơn vị là các nhà máy liên doanh trong nước và 05 đơn vị liên doanh nước ngoài.
2.1.4.

Cơ cấu tổ chức

22/42


Nguồn: www.viettien.com.vn

2.1.5.

Hệ thống phân phối
23/42


Hệ thống phân phối của Công ty trải dài khắp 64 tỉnh, thành phố trên cả
nước.

2.1.6.

m

Tầm nhìn chiến lược, sứ mạng kinh doanh của doanh nghiệp:
Tầm nhìn chiến lược:
24/42


Công ty cổ phần may Việt Tiến định hướng sẽ trở thành Doanh nghiệp dệt
may tiêu biểu nhất của ngành dệt may Việt Nam. Tạo dựng và phát triển thương
hiệu của công ty, nhãn hiệu hàng hóa, mở rộng kênh phân phối trong nước và
quốc tế. Xây dựng nền tài chính lành mạnh.
n
-

-

-

Sứ mạng kinh doanh:

Việt Tiến xác định nhiệm vụ chính là xây dựng công ty vững mạnh về mọi mặt,
tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người lao động, tham gia tích cực các hoạt
động xã hội... góp phần ổn định đời sống của người lao động, tạo sự gần giũ với
cộng đồng. Để các thương hiệu có chỗ đứng vững chắc trên thị trường cũng như
được người tiêu dùng tín nhiệm.
Sản xuất các loại quần áo phục vụ cho các lứa tuổi từ thanh niên đến những đối
tượng công sở và những đối tượng có thu nhập cao.
Mở rộng thị trường, khẳng định tên tuổi ở các thị trường Bắc Mỹ, Nam Mỹ, Đông
Âu, Khu vực Đông Nam Á, Đông Á, Tây Âu.
Với lợi thế cạnh tranh về công nghệ là mục tiêu hàng đầu trong chiến lược kinh
doanh của công ty, Việt Tiến sẽ luôn đưa ra những mẫu sản phẩm ngày một tốt
hơn, phong phú hơn và làm hài lòng hơn các đối tượng khách hàng của Việt Tiến.
Việt Tiến không chỉ quan tâm đến sự phát triển và khả năng sinh lợi của mình mà
còn đồng thời là mối quan tâm đến đội ngũ nhân viên, giúp nhân viên được đào
tạo và tạo môi trường sáng tạo khiến các nhân viên năng động hơn.
2.1.7.

Thương hiệu Việt Tiến

Với doanh số hơn 20 tỉ USD và sở hữu 4 thương hiệu thời trang cao cấp
dành riêng cho thị trường nội địa là Vee Sendy, TT-up, San Sciaro và Mahatan,
Việt Tiến hiện đang là doanh nghiệp dệt may hàng đầu trong việc chinh phục sân
nhà. Thương hiệu May Việt Tiến được xây dựng trên cơ sở thể hiện đầy đủ tiêu
chí về chính sách phát triển, hiệu quả kinh tế, văn hóa doanh nghiệp, chất lượng
sản phẩm, mẫu mã thời trang, sự tín nhiệm của khách hàng.
25/42


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×