Tải bản đầy đủ

ứng dụng Tâm Lí học quản lí trong các công tác của cơ quan , đơn vị

LỜI MỞ ĐẦU
Trong xu thế hội nhập của đất nước ta, vấn đề đặt ra là cần phải đổi mới
công tác quản lý lãnh đạo. Quản lý được xác định là khâu quyết định hiệu quả hoạt
động của nhóm, tập thể. Vì vậy cần phải nghiên cứu về tâm lý con người nói chung
và tâm lý của người lãnh đạo, quản lý nói riêng. Việc nắm được đặc điểm tâm lý
của mỗi con người trong tổ chức sẽ là cơ sở cho quyết định quản lý đúng đối với tổ
chức đó.Việc đổi mới nâng cao năng lực quản lí không chỉ đòi hỏi có những thay
đổi trong việc hoạch định và thực thi các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà
nước mà cần có sự tham gia của các ngành khoa học, trong đó có khoa học tâm lí.
Bởi lẽ, yếu tố quyết định hiệu quả quản lí xã hội là con người - con người với thế
giới tâm: lí phức tạp của mình. Tâm lí học quản lí có thể giúp các nhà lãnh đạo và
quản lí hiểu tốt hơn vể con người - con người với tư cách là đối tượng của hoạt
động quản lí và có thể giúp họ có những kĩ năng, biện pháp quản lí phù hợp. Do
vậy, việc ứng dụng Tâm Lí học quản lí trong các công tác của cơ quan , đơn vị và
việc tiến hành các đề tài nghiên cứu về lĩnh vực tâm lí học này đã trở nên cần thiết
không thể thiếu được.


NỘI DUNG
I. TỔNG QUAN VỀ TÂM LÝ VÀ TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ
1. Tâm lý học là gì?

Tâm lý học là khoa học nghiên cứu tâm lý con người, nó vừa nghiên
cứu cái chung trong tâm tư con người, những quan hệ tâm lý của con người với
nhau. Hay nói cách khác, tâm lý là sự hiểu biết về ý muốn, nhu cầu thị yếu của
người khác, là cư xử hoặc cách xử lý tình huống của người nào đó, khả năng chinh
phục đối tượng.
2. Khái niệm tâm lý học quản lý
Tâm lý học quản lý là một ngành của khoa học tâm lý. Nó nghiên cứu đặc
điểm tâm lý của con người trong hoạt động quản lý, đề ra, kiến nghị và sử dụng
các nhân tố khi xây dựng và điều hành các hệ thống xã hội.
Tâm lý học quản lý giúp cho người lãnh đạo nghiên cứu những người dưới
quyền mình, nhìn thấy được những hành vi của cấp dưới, sắp xếp cán bộ một cách
hợp lý phù hợp với khả năng của họ. Tâm lý học quản lý giúp người lãnh đạo biết
cách ứng xử, tác động mềm dẻo nhưng cương quyết với cấp dưới và lãnh đạo được
những hành vi của họ, đoàn kết thống nhất tập thể những con người dưới quyền.
Như vậy, muốn thực hiện tốt chức năng quản lý của mình, người lãnh đạo
không chỉ có những kiến thức kinh tế, kỹ thuật và quản lý mà cần am hiểu kiến
thức về tâm lý nữa.
Nghệ thuật quản lý và lãnh đạo là giúp cho họ am hiểu được kiến thức tâm
lý và làm chủ nó nhằm phát huy khả năng chủ quan của con người tạo ra một sức
mạnh quần chúng lớn lao, đem lại hiệu quả tổng hợp cao.


3. Vai trò của tâm lý học quản lý
Về mặt lý thuyết tâm lý học quản lý giúp các nhà quản lý có được một hệ
thống lý luận và nhận thức được các quy luật chung nhất trong việc quản lý con
người trong đối nhân xử thế khi quản lý và lãnh đạo quần chúng. Mặt khác, nó
còn giúp các nhà lãnh đạo tránh được những sai lầm trong tuyển chọn cán bộ,
trong ứng xử, trong giao tiếp trong họach định chính sách và kế họach quản lý.
Về mặt thực tiễn và ứng dụng, tâm lý học quản lý đã mang lại nhiều lợi
ích cho công tác quản lý, tạo ra năng suất và hiệu quả lao động cao hơn, làm cho
xã hội ngày càng văn minh và tiến bộ hơn. Có thể nêu một số vai trò chính của
tâm lý học trong quản lý như sau:
- Vận dụng tâm lý học trong công tác quản lý nhân sự
Thực chất là vận dụng tâm lý học trong việc tổ chức, sử dụng đánh giá,
điều khiển con người. Các tri thức về tâm lý học giúp các nhà quản lý hiểu biết
về năng lực, sở trường, tính cách, đạo đức, sức khỏe … của con người. Từ đó có
sự phân công hợp lý, phát huy thế mạnh của mỗi cá nhân, tạo năng suất lao động
cao và tạo điều kiện phát triển con người.
Ngoài ra, tâm lý học quản lý còn giúp cho việc tuyển dụng nhân viên phù
hợp với yêu cầu của doanh nghiệp.


- Vận dụng tâm lý học trong việc hoàn thiện các quy trình sản xuất, cải tiến
các thao tác lao động.
Trong lĩnh vực này tâm lý học giúp các nhà quản lý giải quyết mối quan
hệ giữa con người và máy móc. Con người phải học cách sử dụng, điều khiển
máy móc đồng thời con người phải chế tạo, cải tiến máy móc cho phù hợp với


đặc điểm tâm sinh lý của con người để đạt hiệu quả làm việc tốt nhất.
Việc đưa ra các yếu tố thẩm mỹ vào môi trường sản xuất, kinh doanh như
màu sắc âm nhạc…tạo nên tâm trạng thỏai mái, nhẹ nhàng, giảm mệt mỏi, căng
thẳng cho người lao động.
- Vận dụng tâm lý học trong việc giải quyết những vấn đề tâm lý học xã hội
trong tập thể lao động
Mối quan hệ giữa các nhóm các phòng ban trong doanh nghiệp, xây
dựng bầu không khí tâm lý tốt đẹp, lành mạnh của tập thể, dư luận tập thể,
truyền thống của doanh nghiệp, ngăn chặn và xử lý kịp thời các mâu thuẩn và
xung đột xảy ra trong tập thể nếu có …
- Vận dụng tâm lý học để hoàn thiện nhân cách, năng lực quản lý bộ máy,
quản lý doanh nghiệp và của bản thân người lãnh đạo.
Nhân cách con người quản lý ảnh hưởng quan trọng đến hoạt động quản
lý, tâm lý học nêu ra những phẩm chất và năng lực cần thiết giúp các nhà lãnh
đạo dựa vào đó để hoàn thiện mình hơn. Các vấn đề uy tín phong cách của người
lãnh đạo…và các vấn đề khác có thể giúp các nhà các nhà lãnh đạo tránh được
sai lầm trong quan hệ người với người.
Công tác quản lý vừa là khoa học, vừa là nghệ thuật và cả sự sáng tạo. Vì
vậy nhà lãnh đạo rất cần những tri thức về quản lý, về tâm lý học và các tri thức
khác để có thể đảm đương tốt vai trò “người cầm lái” trong tập thể lao động.


II. ỨNG DỤNG CỦA TÂM LÝ HỌC QUẢN LÝ TRONG CÔNG
TÁC CỦA CƠ QUAN, ĐƠN VỊ.
Hơn 8000 năm trước, khi con người sống thành xã hội thì người ta đã ý
thức được vị trí rất quan trọng của con người trong tổ chức.
Đến các nhà tư tưởng thời cổ đại, ví dụ như trong lý thuyết thiên, địa
nhân đã khẳng định, trời đất biến đổi khôn lường nhưng cũng không phức tạp
bằng sự biến đổi trong tâm lý người. Được lòng người là được tất cả, thu phục
được lòng người sẽ chiến thắng. (Thiên thời không bằng địa lợi, địa lợi không
bằng nhân hoà.)
Cho đến khi môn tâm lý học quản lý ra đời và trở thành một môn khoa
học độc lập, người ta thấy rằng cũng có rất nhiều yếu tố tham gia vào hệ thống
quản lý như vật chất, kinh tế, văn hoá, thông tin… nhưng yếu tố con người vẫn
là một yếu tố quan trọng nhất của ngành khoa học này.
Trong khuôn khổ nhỏ hẹp của tiểu luận này, chúng tôi chỉ đề cập đến
việc Ứng dụng tâm lý học trong công tác quản lý con người
1. Vai trò của con người trong hệ thống quản lý
Như chúng ta biết, việc quản lý con người, tập thể là nhiệm vụ chính của
công tác quản lý quản lý không chỉ đối với toàn xã hội và đối với từng cấp,
ngành, xã hội. Có thể nói, con người có vai trò chủ đạo trong hệ thống quản lý.
Trong lĩnh vực quản lý người ta xém xét con người và hoạt động của con người
trên 3 góc độ.
-

Con người với tư cách là chủ thể quản lý: cùng với năng lực, uy tín,

nhân cách của mình giúp co người đưa ra các quyết định quản lý của mình. Điều


này ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của tổ chức và sự phát triển của
tổ chức.
-

Con người với tư cách là khách thể quản lý (hay đối tượng quản

lý): Đó là những người dưới quyền ở nhiều cấp độ cá nhân, tập thể… với những
đặc điểm văn hoá, nhân cách riêng của họ.
-

Thứ 3 nhìn nhận con người trong mối quan hệ giữa chủ thể và

khách thể quản lý (mối quan hệ giữa những người lãnh đạo và người dưới
quyền)
Tuy nhiên, con người và tập thể không thụ động trước tác động quản lý
bởi mỗi người đều có ý chí, ý thức, có những lợi ích và nhu cầu riêng, có nhận
thức về các sự kiện. Trong hệ thống quản lý, con người có thể tiếp nhận các quyết
định quản lý, tuân theo nó hoặc có thể không tiếp nhận hay chỉ tiếp nhận ở một
mức độ nhất định. Chính vì thế trong việc quản lý con người không thể theo các
quyết định cứng nhắc mà mang tính linh hoạt, mềm dẻo.
2. Công tác quản lý con người.
Con người là tổng hoà các quan hệ xã hội, con người sống trong xã hội và
không thể tách rời xã hội do đó quản lý con người không thể tách rời xã hội. Có
thể nói “Quản lý con người một cách có khoa học là phải thiết lập được sự hài
hoà, tối ưu giữa những lợi ích, nguyện vọng và sự phát triển của cá nhân, tập thể
cũng như phải điều hoà được những yêu cầu của cá nhân, tập thể và xã hội với
nhau”.
Công tác quản lý con người là một công việc khó khăn phức tạp không
phải ai cũng có thể làm được. Với quan niệm về bản chất quản lý con người như
trên, chúng ta có thể luận giải nó quan các mặt cụ thể sau:


Quản lý con người trước tiên là phải xác định được vị trí đúng đắn của
mỗi người trong tập thể, trong hệ thống xã hội, quy định rõ chức năng, quyền hạn
và vai trò xã hội của họ.
Quản lý con người có nghĩa là đào tạo, bồi dưỡng con người; hướng dẫn,
giúp đỡ họ thực hiện vai trò xã hội, những chức năng, nghĩa vụ và quyền hạn của
họ với tư cách là một chủ thể hoạt động ở vị trí của họ trong hệ thống tổ chức. ở
đây, vai trò của công tác giáo dục, đào tạo có ý nghĩa vô cùng quan trọng được
các nước đưa lên quốc sách hàng đầu.
Quản lý con người còn có ý nghĩa là tạo ra cho mọi cá nhân (trước hết là
trong công việc và trong sinh hoạt) những điều kiện thuận lợi nhất để họ thực
hiện tốt nhất vai trò xã hội của mình; gắn lợi ích của mỗi cá nhân với lợi ích của
tập thể, dân tộc.
Như vậy, muốn tạo điều kiện thuận lợi cho mỗi cá nhân trong tổ chức thực
hiện vai trò xã hội của mình, người lãnh đạo cần giúp họ thích nghi, hoà hợp với
nhau, với tập thể nhằm tạo cho cá nhân vừa có tính độc lập, sáng tạo, vừa có mối
quan hệ gắn bó hữu cơ giữa họ và các thành viên khác. Thực tế cho thấy, có một
số yếu tố của sự thích ứng, hoà nhập sau:
-

Sự thích ứng về mặt thể chất, sinh lý, về những điều kiện của

hoạt động: trình độ chuyên môn, kỹ thuật, mức độ căng thẳng, thời gian
làm việc…
-

Sự thích ứng với nhau về mặt tâm lý, khí chất, tính cách, xu

hướng, định hướng giá trị, hứng thú, quan niệm, thói quen… nhằm tạo ra
không khí tâm lý tốt trong tập thể.
-

Sự thích nghi về mặt xã hội – tâm lý, sự thích nghi giữa cá


nhân và tập thể, đồng nghiệp với lãnh đạo… giúp cho mọi người có nhận
thức và chấp nhận tự giác các quy tắc, các giá trị, tiêu chuẩn hành vi đã
được quy định bởi tập thể xã hội.
Quản lý con người còn có nghĩa là thường xuyên kiểm tra xem mỗi con
người có thực hiện đúng vai trò xã hội của mình hay không.
Muốn làm được điều đó cần thường xuyên tác động, uốn nắn và đánh giá
đúng về kết quả hoạt động của con người (phải hiểu rõ các nét tâm lý chung của
những người bị lãnh đạo để có những cách thức cư xử hợp lý).
3. Vận dụng tâm lý học trong công tác lãnh đạo
Một trong những yêu cầu đầu tiên đề ra cho người lãnh đạo là:
Người ta muốn thấy người lãnh đạo nghĩa cả và công bằng, có kinh
nghiệm trong công việc của mình, thông minh và quyết đoán. Đối với mọi việc
anh ta đều có thái độ bình tĩnh và tựu tin, bình dị và biết kiềm chế trong cư sử,
không quá bận tâm về bản thân và những nhu cầu của mình. Lường tránh tính
tham lam và vụ lợi vì người vụ lợi thì người tốt không yêu mến mà kẻ thù thì coi
khinh.
Người lãnh đạo phải tôn trọng các quyền của thuộc cấp, ít ngủ và thường
đêm nghĩ xem trong tương lai phải làm gì.
Sau khi đã quyết định phải hành động mau lẹ, bởi lẽ dịp may hiếm đến
phải kịp thời chớp thời cơ. Không phởn chí khi thành công và không ngã lòng khi
thất bại.
Biết tiên đoán là một trong những phẩm chất giá trị nhất.


Phải biết xác định chính xác có thể giao cho ai làm việc gì. Nên tránh xa
những kẻ láu cá hơn là những người dữ tính.
Một người quản lý giỏi cần có những tố chất sau: trí thông minh, có học
vấn, có kinh nghiệm, khôn khéo, linh hoạt, có nghị lực sáng suốt, trung thực, suy
nghĩ lành mạnh, có sức khoẻ.
Theo B.Karlof trong “Chiến lược làm ăn” năm 1991 có đưa ra: “Một
người lãnh đạo giỏi là người vững tin, cởi mở, ham học hỏi, biết chấp nhận,
hướng vào kết quả, dứt khoát, có óc phê phán, có kinh nghiệm, biết chấp nhận
khi phạm sai lầm, có sức lôi cuốn thuyết phục và gây được lòng tin, nhiệt tình,
bình tĩnh, biết lắng nghe người khác, thiện tâm và chu đáo, tự do, niềm nở, mềm
dẻo, sẵn sàng giúp người khác phát triển”.
Những phẩm chất về chính trị tư tưởng: Họ coi nhóm này là linh hồn
sống, là hạt nhân của lãnh đạo, thể hiện thế giới quan, nhân sinh quan, quan điểm
về giá trị, tư duy lãnh đạo, nó phản ánh cả trình độ tư duy chính trị của người lãnh
đạo. Hai ông nhấn mạnh: “người lãnh đạo phải có lập trường chính trị kiên định
và phải một lòngmột dạ phục vụ nhân dân”
Những phẩm chất về tri thức: Phải có một trình độ nhận thức phù hợp về
mặt lý luận cũng như về văn hoá, tri thức chuyên môn, quản lý và pháp luật.
Nhóm các phẩm chất năng lực: Đưa ra 2 loại năng lực cơ bản phải có ở
người lãnh đạo là năng lực sáng tạo (phải có tài quan sát, tài dự kiến, tài quyết
đoán, tài ứng biến). Thứ hai đó là năng lực tổng hợp thể hiện ở khả năng thu thập
và xử lý thông tin, tổng hợp các tri thức, điều hoà lợi ích.
Nhóm các phẩm chất về tâm lý: có kỹ năng biết nói, biết viết và biết đi.


Tóm lại để công tác quản lý con người thành công, yếu tố người lãnh đạo
là quan trọng nhất. Từ các tiêu chí về phẩm chất của người cán bộ lãnh đạo, người
quản lý theo góc độ tâm lý học tôi đưa ra bên trên và xét về cơ quan đơn vị nơi
mình đang công tác. Tôi thấy rằng: Công tác quản lý con người lấy phục tùng làm
gốc. Nếu muốn người khác phục tùng người lãnh đạo phải có tố chất cao hơn
người một cái đầu, phải có biện pháp khiến người ta tin phục, chế độ quản lý chặt
chẽ và nguyên tắc kiên định. Bản lĩnh nhìn người, nhận biết con người, biết tỏ rõ
uy nghiêm ngăn cấm và lời nói thuyết phục lòng người”.
Một số vấn đề tâm lý trong tổ chức nhân sự:
- Xây dựng hệ thống tổ chức hợp lý
- Xây dựng bộ máy quản lý có tính hiệu lực
+ Mỗi thành viên đều có đủ năng lực đảm đương trách nhiệm, hoàn thành
nhiệm vụ được giao.
+ Các thành viên có sự phối hợp đồng bộ, phục tùng lẫn nhau, phục tùng
nhà quản trị
+ Các thành viên có uy tín với tập thể
- Nắm vững kịp thời tình hình tư tưởng, tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề
tâm lý nảy sinh trong tập thể và giải quyết kịp thời
- Tuyển chọn, sử dụng, đánh giá, huấn luyện, đề bạt các thành viên một cách
hợp lý.
- Truyền đạt giao nhiệm vụ, mệnh lệnh rõ ràng, cụ thể.
- Có kế hoạch sử dụng, tuyển chọn người tài, bồi dưỡng huấn luyện để sử


dụng lâu dài.
Trước những vấn đề tâm lý đó. Đòi hỏi người lãnh đạo trong tổ chức cơ quan,
đơn vị cần có tâm lý đàm phám, tâm lý điều khiển hội họp,… ngoài ra cần có:
Tố chất của người lãnh đạo
Lấy đức quản người: Người xưa nói “Bản thân phải chính trực, không
cần ra lệnh cấp dưới vẫn nghe theo, bản thân không chính trực, có ra lệnh cấp
dưới cũng không thi hành” Như vậy, người lãnh đạo lợi dụng chức quyền, vi
phạm pháp luật, kỷ luật làm tổn hại đến của công vì lợi ích cá nhân thì sẽ mất hết
uy tín. Ngược lại “Không tư lợi, thân giá sẽ cao, không kiêu căng, uy càng lớn”
Lấy học thức quản người: Một người lãnh đạo nếu không có đủ tri thức và
trình độ nghiệp vụ cao, thậm chí vô học mà lại khoa chân múa tay trứoc mặt cấp
dưới có chuyên môn thật khó tưởng tượng liệu có ai phục anh ta. Ví dụ hiệu
trưởng một trường lại không thể lên lớp giảng bài, viện trưởng bệnh viện lại
không biết gì về y thuật, thì làm gì có uy tín. Ngược lại, nếu có đầy đủ chuyên
môn cần thiết, không những có thể vận dụng hiểu biết của mình lãnh đạo tốt công
tác của nàgnh mình đồng thời lại có nhiều tiếng nói chung với cấp dưới. Người
lãnh đạo như thế ai cũng phải kính phục.
Lấy tài quản người: Một người lãnh đạo tài hoa có thể tạo ra cho người
khác cảm giác tin cậy, an toàn dù trong hoàn cảnh cực kỳ khó khăn và hết sức
nguy hiểm, nhân viên do người đó lãnh đạo vẫn đồng tâm nhất trí theo người lãnh
đạo vượt qua mọi khó khăn. Nếu người lãnh đạo có cách nói năng sinh động, lưu
loát, ngắn gọn, có tính logic, có sức thuyết phục lan truyền thì đó là một người
lãnh đạo có tư tưởng sâu sắc, hiểu biết rộng, trình độ cao. Còn nói năng thô thiển,
khô khan, sáo rỗng, lề mề, câu sau không ăn nhập với câu trước, không hề có một


sự khiêu gợi, khuyến khích khiến người ta cảm thấy đó là một người lãnh đạo có
trình độ quá tồi.
Biện pháp của người lãnh đạo
Quản lý truyền thống. Cấp dưới bị coi như “người máy”, “bộ phận máy
móc”, quản lý một cách tàn nhẫn, phi nhân tính.
Quản lý khoa học. Ông chủ coi cấp dưới là “con người kinh tế” chủ yếu
dựa vào hiền tài và định mức để kích thích tính tích cực của con người.
Khoa học hành vi. Coi cấp dưới là “con người xã hội, điều động tính tích
cực của con người từ góc độ qua hệ giữa người với người”
Quản lý hiện đại. Coi cấp dưới là “con người phức tạp”, chú ý nghiên cứu
từ các khía cạnh thoả mãn các yêu cầu cảu cấp dưới, điều động tính tích cực của
họ.
Diễn biến từ “con người máy” đến “con người kinh tế” đến “con người xã
hội” và “con người phức tạp” con người đã làm thay đổi được địa vị bị nô dịch,bị
bóc lột, phát huy được tính chủ động, tích cực, sáng tạo của họ, mở ra một tương
lai rộng lớn.
Chế độ của người lãnh đạo
-

Xây dựng bộ máy quản lý nhân tài và đặt ra các quy tắc, chế độ quản

lý nhân tài.
-

Đề ra các chính sách, kế hoạch khai thác và phát triển nhân tài và

giám sát tình hình thực hiện.


-

Tổ chức giao lưu và luân chuyển hợp lý nhân tài giữ các vị trí khác

nhau trong ngành, trong các xí nghiệp và trong nội bộ xí nghiệp.

-

Xây dựng hồ sơ nhân tài, làm căn cứ để quản lý nhân tài.

Nguyên tắc của người lãnh đạo
-

Nguyên tắc có thể lên, có thể xuống. Phải dựa vào tính chất khác

nhau, trình độ khác nhau của nhân tài để quản lý đúng vị trí và nâng cao tài năng
từng cấp.
-

Nguyên lý điều tiết tầng thứ theo hệ thống. Quản lý phải có tầng thứ.

Tầng thứ ít, biên độ quản lý phải rộng, biên độ quản lý hẹp, tàng thứ sẽ tăng.
-

Nguyên tắc bổ sung cho nhau. Xí nghiệp hiện đại cần phải có nhiều

nhân tài.
-

Nguyên tắc phải theo tình hình động. Tình hình công tác có thay đổi,

nhân tài cũng sẽ thay đổi, nhân tài lưu động sẽ giúp cho việc phát huy tài năng.
Phương pháp của người lãnh đạo
-

Coi công việc của cấp dưới là việc của mình.

-

Phải hoà mình với cấp dưới. Hành vi thường ngày của người lãnh đọ

cấp dưới đã nhìn thấy rõ. Đừng nên cho rằng mình có thể thao túng mọi người mãi
mãi, khi lợi ích thiết thân của nhân viên bị tổn hại, họ cũng sẽ vùng lên chống lại.
Cho nên phải hoà mình với họ, có thể xoá bỏ được ý nghĩ thù hằn của họ.
-

Phải đặt mình vào vị trí của họ. PhảI luôn xuất phát từ quan điểm của

họ để kiểm nghiệm quyết định của mình.


-

Phải biết giao quyền, một người lãnh đạo kinh doanh có hiệu suất cao

cần phải hết sức phóng tay giao quyền để dành thời gian vào những việc người
lãnh đạo cần làm.
-

Phải nói cho nhân viên biết những khó khăn, và ngăn ngừa những mâu

-

Phải quan tâm đến nhân viên. Có khi chỉ quan tâm đến một việc nhỏ

thuẫn.
cũng có thể cải thiện rất lớn đến quan hệ quần chúng của bạn.
-

Khai thác phát triển trí tuệ của nhân viên. Tranh thủ ý kiến của nhân

viên dưới quyền, khiến họ phải động não suy nghĩ, khai thác phát triển trí tuệ của
họ.
-

Phải biết lắng nghe nhiều loại ý kiến. Khi đưa ra quyết định, phải biết

lựa chọn những phương án có thể lựa chọn. Phương án tốt là phương án được chọn
ra qua việc loại các phương án kém hơn.
-

Phải quan tâm đến cách thức bố trí các nhiệm vụ. Người cấp trên

thông minh nhất là người rất ít phải sử dụng đến uy quyền.
-

Phải nhìn vào kết quả công việc chứ không phải lượng công việc

nhiều hay ít. Đánh giá một con người phải chú trọng đến những cống hiến của anh
ta.
-

Phải có dũng khí nói “không”. Một nhà kinh doanh giỏi phải có dũng

khí nói không và sau chữ không mạnh mẽ đó phải làm cho cấp dưới thấy sự uy
nghiêm của người lãnh đạo.
Bản lĩnh của người lãnh đạo
-

Phải biết nói năng: Đó là năng lực cơ bản nhất của con người dù là ra

lệnh, biện hộ cho bản thân hay trình bày lập trường của mình, nếu nói năng khéo
léo có thể có được hiệu quả lớn gấp bội.


-

Quan hệ tốt với mọi người: Đó là một nghệ thuật, trong đời sống hàng

ngày, có nhiều lúc ta phải có quan hệ với người khác, cả khi quan hệ với cấp dưới
khó xử ta vẫn là người chiến thắng.
-

Phải có tính hài hước: Tính hài hước là một vũ khí khá quan trọng

trong công tác quản lý vì nó có thể hoá giải mối quan hệ căng thẳng giữa người với
người, có thể làm dịu sự căng thẳng giữa người này với người kia, đó là một công
cụ không đắt mà lại có hiệu quả nhất.

Lời nói của người lãnh đạo
-

Phải học cách nói năng để có tài nói.

-

Phải có tính quyền uy, người lãnh đạo cần phải sử dụng ngôi thứ nhất

“tôi” làm cách nói khẳng định.
-

Thường dùng cách nói ở thời hiện tại, không được dùng “lần sau anh

nhất định phải giữ bình tĩnh” vì thật sự là nếu bỏ qua một lần thì lần sau người lãnh
đạo cũng sẽ bỏ qua như thế, như vậy sẽ không tạo được sự uy nghiêm, không bao
giờ xoá bỏ được hiện trạng.
-

Cách nói nhật định phải rõ ràng, tuyệt đối không được phép do dự trù

trừ. Nhất thiết phải tránh cách nói dùng những từ như “tương đối” hoặc “nếu có
điều kiện” mà phải dùng các cụm từ khẳng định “anh phải hiểu”, “anh phải thực
hiện như thế”
-

Mỗi lần chỉ nói một việc. Không được nói kèm việc này vào việc

khác, khi nói lý do, chỉ nói 1 lý do, không nói nhiều nữa.
-

Tăng cường ngữ khí trong lời nói sẽ làm lời nói có thêm sức mạnh. Ví

dụ cách nói “mọi người phải tin tưởng” cũng tốt nhưng nếu thêm vào thành “tôi tin
mọi người đều tin tưởng” thì hiệu quả còn tốt hơn nữa.


-

Nghĩ kỹ rồi hãy nói. Tuyệt đối kiêng kị nói ra một việc chưa được suy

nghĩ kỹ, vì lỡ một, hai lần nhất định sẽ làm cấp dưới mất tin tưởng. Cho nên khi đề
ra mục tiêu phải thực tế và có khả năng thực hiện được. Các cụm từ như “vĩnh
viễn”, “tuyệt đối”, “hoàn mỹ”, “hoàn toàn” nên tránh dùng.
-

Nên vận dụng những câu danh ngôn. Những câu danh ngôn lập chí

cần được treo ở chỗ dễ thấy để có thể vận dụng được thường xuyên nhờ đó mà
nâng cao uy tín.
4. Vận dụng tâm lý để hoàn thiện nhân cách và bộ máy lãnh đạo
Tâm lý học được vận dụng trong việc xây dựng bộ máy, làm cho bộ máy có
tính hiệu lực cao. Việc đánh giá nhân cách nhất là khả năng lãnh đạo được dựa
vào đặc điểm của hoạt động quản lý và đặc điểm tâm lý của nhà lãnh đạo.
Trên cơ sở của những quy luật tâm lý, người ta đề xuất những phương pháp
quản lý, đường lối lãnh đạo và những thủ thuật giải quyết những tình huống đặc
biệt nảy sinh trong hoạt động quản lý. Các nhà lãnh đạo đã tập trung giải quyết
rất nhiều vấn đề trong tâm lý hoạt động của nhà lãnh đạo và giải quyết rất nhiều
vấn đề tâm lý trong hoạt động của người lãnh đạo như uy tín của nhà lãnh đạo…
Nhất là phẩm chất nhân cách của người lãnh đạo, phương hướng đề hoàn
thiện nhân cách của nhà lãnh đạo.
Người ta vận dụng tâm lý học để tìm hiểu tâm lý con người, nắm vững con
người về cá nhân, đạo đức, năng lực để có kế hoạch sử dụng con người một cách
phù hợp, nhằm mục đíhc giải quyết tốt nhất mối quan hệ giữa con người với
công việc. Trên cơ sở hiểu rõ tâm lý con người, người ta sắp xếp con người vào
những công việc thích hợp để phát huy được khả năng của họ, vừa tạo điều kiện


cho công việc đạt tới hiệu quả cao nhất.


KẾT LUẬN
Ngày nay, công tác quản lí đã trở thành một trọng những yếu tố có tầm
quan trọng hàng đầu đối với việc phát triển kinh tế - xã hội ở nước ta. Đã đến lúc
chúng ta cần phải nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ quản lí, nâng cao hiệu
quả hoạt động của các tổ chức trong mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội. Những
yêu cầu trên đã đặt ra cho chúng ta cần ứng dụng tâm lí học quản lý vào công tác
của những người lãnh đạo và của các tổ chức. Bởi lẽ mỗi con người, mỗi tổ chức
xã hội là một thế giới tâm lí rất phức tạp và phong phú. Thế giới tâm lí này là
động lực nội tâm chi phối từ nhận thức đến hành vi của các chủ thể. Chính vậy
vậy, chúng ta nên có nhiều nghiên cứu và nâng cao việc ứng dụng tâm lý học vào
công tác quản lý như thế nào cho hợp lý, đúng đắn, phù hợp, sáng tạo,... để đạt
được hiệu quả cao góp phần vào sự phát triển của cơ quan, tổ chức, đơn vị cũng
như cho sự phát triển lớn mạnh của đất nước lâu dài của hiện tại và tương lai.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×