Tải bản đầy đủ

Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo PTNT huyện lộc bình

1

Lời cam đoan

Tôi xin cam đoan chuyên đề “Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
cho vay hộ sản xuất tại chi nhánh NHNo & PTNT Huyện Lộc Bình" là công
trình nghiên cứu riêng của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong chuyên đề là
trung thực xuất phát từ tình hình thực tế của đơn vị thực tập, Nếu có dấu hiệu
sai lệch tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm.
Hà Nội, ngày ..........
Người trình bày.

Nguyễn Trung Kiên.

LỜI NÓI ĐẦU


2

1.Tính cấp thiết của đề tài
Từ khi thành lập đến nay, ở mọi giai đoạn cách mạng , Đảng ta luôn

khẳng định vai trò, tầm quan trọng to lớn có ý nghĩa chiến lược của nông
nghiệp-nông thôn. Trong những năm vừa qua, cùng với sự đổi mới chung của
đất nước nông nghiệp-nông thôn nước ta đã đạt được những thành tựu quan
trọng, đời sống của nông dân đã và đang được cải thiện, bộ mặt nông thôn đã
có những biến đổi sâu sắc.
Từ định hướng và chính sách về phát triển kinh tế hộ sản xuất đã giúp cho
toàn hệ thống NHNo&PTNT nói chung và NHNo&PTNT huyện Lộc Bình
nói riêng thí điểm, mở rộng và từng bước hoàn thiện cơ chế cho vay kinh tế
hộ sản xuất. Trong quá trình đầu tư vốn đã khẳng định được hiệu quả của
đồng vốn cho vay và khả năng quản lý, sử dụng vốn của các hộ gia đình cho
sản xuất kinh doanh, mở rộng thêm ngành nghề, tăng sản phẩm cho xã hội,
tăng thu nhập cho gia đình và hoàn trả được vốn cho Nhà nước.
Để thực sự phát triển kinh tế nói chung và phát triển kinh tế hộ nói riêng
phải kể đến vai trò của tín dụng ngân hàng, đặc biệt là vai trò của hệ thống
NHNo&PTNT trong hoạt động tín dụng cho kinh tế nông nghiệp và phát triển
nông thôn hiện nay. Do đó, chất lượng tín dụng hộ sản xuất là vấn đề quan
trọng hàng đầu trong mục tiêu kinh doanh của toàn hệ thống cũng như của
NHNo&PTNT huyện Lộc Bình. Chất lượng tín dụng tốt, không những góp
phần mở rộng quy mô hoạt động của Ngân hàng, nâng cao hiệu quả của đồng
vốn vay và còn góp phần phát triển kinh tế hộ gia đình, nâng cao chất lượng
cuộc sống của người dân, góp phần vào sự nghiệp phát triển chung của đất
nước.
Nhận thức được những vấn đề trên và xuất phát từ thực tiễn hoạt động tín
dụng cho vay vốn đến hộ sản xuất tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình. Em đã
chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất


3

tại ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn huyện Lộc Bình” làm
chuyên đề tốt nghiệp.
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài
Nhu cầu vốn đòi hỏi rất lớn từ nội lực các gia đình từ ngân sách và từ
nguồn vốn tín dụng Ngân hàng. Do đó, phải mở rộng đầu tư vốn cho kinh tế
hộ để tận dụng, khai thác những tiềm năng sẵn có về đất đai, lao động, tài
nguyên làm ra nhiều sản phẩm cho xã hội, cải thiện đời sống nhân dân. Tuy
nhiên trên thực tế việc mở rộng cho vay vốn đối với hộ sản xuất ngày càng
khó khăn do món vay nhỏ, chi phí nghiệp vụ cao hơn nữa đối tượng vay gắn
liền với điều kiện thời tiết, khả năng rủi ro luôn tiềm ẩn trong hoạt động tín
dụng. Bởi vậy mở rộng tín dụng phải đi kèm với việc nâng cao chất lượng,


đảm bảo an toàn trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng. Có như vậy hoạt
động kinh doanh của Ngân hàng mới thực sự trở thành “Đòn bẩy” thúc đẩy
nền kinh tế phát triển. Do đó mục tiêu nghiên cứu của đề tài là:
-Làm rõ những lý luận cơ bản về hộ sản xuất, chất lượng tín dụng hộ sản
xuất của NHTM
-Phân tích thực trạng chất lượng tín dụng hộ sản xuất trong những năm
qua tại NHNo&PTNT huyện Lộc Bình.
-Chỉ ra những kết quả đạt được, những tồn tại cần khắc phục và những
nguyên nhân của tồn tại đó.
-Đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất tại
NHNo&PTNT huyện Lộc Bình.
-Đề xuất kiến nghị nhằm thực hiện giải pháp trên.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Chất lượng tín dụng hộ sản xuất
- Phạm vi nghiên cứu: Tại chi nhánh NHNo&PTNT huyện Lộc Bình với
số liệu nghiên cứu từ năm 2009 – 2011


4

4. Phương pháp nghiên cứu
Xuất phát từ tính cấp thiết, mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
của đề tài. Đề tài được nghiên cứu dựa trên những phương pháp sau: Phương
pháp duy vật biện chứng, phân tích tổng hợp, so sánh đối chiếu, kết hợp lý
thuyết và thực tiễn.
5. Kết cấu chuyên đề
Chương 1: Hộ sản xuất và chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất.
Chương 2: Thực trạng chất lượng tín dụng hộ sản xuất tại Ngân hàng
nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lộc Bình.
Chương 3: Các giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản
xuất tại Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn huyện Lộc Bình.


5

CHƯƠNG I
HỘ SẢN XUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ
SẢN XUẤT
1.1 HỘ SẢN XUẤT VÀ VAI TRÒ CỦA HỘ SẢN XUẤT ĐỐI VỚI PHÁT
TRIỂN KINH TẾ NÔNG NGHIỆP NÔNG THÔN.
1.1.1 Khái niệm, đặc điểm của hộ sản xuất
1.1.1.1 Khái niệm hộ sản xuất
Hộ sản xuất là những hộ gia đình, mà các thành viên có tài sản chung, đồng
sở hữu tài sản, cùng chịu trách nhiệm, tự giác và chủ yếu sử dụng chính sức
lao động của gia đình mình.
1.1.1.2 Đặc điểm hộ sản xuất
Thứ nhất: Trình độ sản xuất còn thấp trên nhiều mặt: Trình độ hiểu biết,
kỹ năng sản xuất, trình độ tổ chức quản lý kinh doanh, hoạch toán…. Việc
phân công lao động dựa trên cơ sở tình cảm, bổn phận, phong tục tập quán địa
phương, dân tộc, dòng họ và thường gắn liền với ngành nghề truyền thống
của quê hương.
Thứ hai: Địa điểm sản xuất - kinh doanh thường phân tán trên địa bàn
rộng, quy mô sản xuất thường nhỏ cho nên không có được sự gắn kết. Đó có
thể là mặt trái của chính sách khoán trong nông nghiệp dẫn đến hiện tượng
ruộng đất bị phân chia xé lẻ, mỗi hộ có vài mảnh ở cách xa nhau. Điều đó rất
khó khăn cho việc hình thành các khu vực chuyên canh sản xuất các nông sản
thực phẩm có tính hàng hoá cao, cũng như nó cản trở việc áp dụng các thành
tựu khoa học kỹ thuật mới….
Thứ ba: Hộ sản xuất Việt Nam hiện nay chủ yếu là hộ thuần nông. Vì
vậy, nó có những mặt khó khăn, hạn chế của kinh tế nông nghiệp: Sản xuất
không ổn định, vốn luân chuyển chậm, khả năng xẩy ra rủi ro cao, hiệu quả
thấp, hoạt động mang nặng tính thời vụ, phụ thuộc vào chu kỳ sinh trưởng của
từng loại cây, con theo từng điều kiện tự nhiên của từng vùng lãnh thổ.


6

Thứ tư: Hoạt động sản xuất - kinh doanh của hộ sản xuất chủ yếu là kinh
doanh đa dạng, vừa trồng trọt, vừa chăn nuôi, chế biến và làm các dịch vụ
khác. Đây vừa là ưu điểm lại vừa là nhược điểm của kinh tế hộ sản xuất.
Nhược điểm là khó khăn trong việc sản xuất chuyên canh, tăng quy mô sản
xuất….Ưu điểm là linh hoạt, dễ thích ứng với yêu cầu của thị trường, khai
thác tiềm năng tài nguyên, sức lao động ở nông thôn , đa dạng hoá các nguồn
trả nợ, phân tán bớt rủi ro, giảm bớt tính thời vụ của các khoản vay.
Thứ năm: Hộ sản xuất thường nghèo, khả năng tài chính yếu, tài sản thế
chấp không có giá trị hoặc thiếu giấy tờ pháp lý, tính thanh khoản lại không
cao, tài sản thường không làm giấy tờ sở hữu mà chuyển dịch theo phong tục,
tập quán tại địa phương, có rất ít ngành nghề có đăng ký kinh doanh….Việc
đáp ứng các điều kiện vay vốn như thông lệ trong tín dụng hộ sản xuất là rất
khó.
Thứ sáu: Hộ sản xuất thường là một hộ gia đình - một thành viên của xã
hội, chỗ ở thường ít thay đổi, vì vậy hộ sản xuất mang trên mình nhiều chức
năng, vai trò mà các thành phần khác không có.
1.1.2 Vai trò hộ sản xuất trong nền kinh tế thị trường
- Hộ sản xuất là cầu nối trung gian để chuyển nền kinh tế tự nhiên sang
kinh tế hàng hóa.
Lịch sử phát triển sản xuất hàng hóa đó trải qua giai đoạn đầu tiên là kinh
tế tự nhiên sang kinh tế hàng hóa nhỏ trên quy mô hộ gia đình. Tiếp theo là
giai đoạn chuyển biến từ kinh tế hàng hóa nhỏ lên kinh tế hàng hóa quy mô
lớn- đó là nền kinh tế hoạt động mua bán trao đổi bằng trung gian tiền tệ.
- Hộ sản xuất góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lao động, giải
quyết việc làm ở nông thôn.
Việc làm là một trong những vấn đề cấp bách đối với toàn xã hội nói
chung và đặc biệt là nông thôn hiện nay. Với một đội ngũ lao động dồi dào,
kinh tế quốc doanh đã được nhà nước trú trọng mở rộng song mới chỉ giải
quyết được việc làm cho một số lượng lao động nhỏ. Lao động thủ công và


7

lao động nông nhàn còn nhiều. Việc sử dụng khai thác số lao động này là vấn
đề cốt lõi cần được quan tâm giải quyết.
- Hộ sản xuất có khả năng thích ứng với cơ chế thị trường có sự tự do cạnh
tranh trong sản xuất hàng hóa, là đơn vị kinh tế độc lập, tự chủ, các hộ sản
xuất phải quyết định mục tiêu sản xuất kinh doanh của mình là sản xuất cái
gì?, sản xuất như thế nào?, để trực tiếp quan hệ với thị trường. Để đạt được
điều này các hộ sản xuất đều phải không ngừng nâng cao chất lượng, mẫu
mã sản phẩm cho phù hợp với nhu cầu và một số biện pháp khác để kích
thích cầu, từ đó mở rộng sản xuất đồng thời đạt được hiệu quả kinh tế cao.
1.2 TÍN DỤNG VÀ VAI TRÒ TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT.
1.2.1Tín dụng đối với hộ sản xuất
1.2.1.1 Khái niệm tín dụng Ngân hàng
Tín dụng là một phạm trù của kinh tế hàng hóa. Bản chất của tín dụng
hàng hóa là vay mượn có hoàn trả cả vốn và lãi sau một thời gian nhất định, là
quan hệ chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng vốn, là quan hệ bình đẳng và
hai bên cùng có lợi. Tín dụng Ngân hàng cũng mang bản chất của quan hệ tín
dụng nói chung. Đó là quan hệ tin cậy lẫn nhau trong vay và cho vay giữa các
Ngân hàng, tổ chức tín dụng với các doanh nghiệp và các cá nhân khác, được
thực hiện dưới hình thức tiền tệ theo nguyên tắc hoàn trả và có lãi.
Do đặc điểm riêng của mình là tín dụng Ngân hàng đạt được ưu thế hơn
các hình thức tín dụng khác về khối lượng, thời gian và phạm vi đầu tư. Với
đặc điểm tín dụng bằng tiền, vốn tín dụng Ngân hàng có khả năng đầu tư
chuyển đổi vào bất cứ lĩnh vực nào của sản xuất và lưu thông hàng hóa. Vì
vậy mà tín dụng Ngân hàng ngày càng trở thành hình thức tín dụng quan
trọng trong các hình thức tín dụng hiện có.
Trong hoạt động tín dụng của Ngân hàng còn sử dụng thuật ngữ “Tín
dụng hộ sản xuất”. Tín dụng hộ sản xuất là quan hệ tín dụng Ngân hàng giữa
một bên là Ngân hàng với một bên là hộ sản xuất hàng hóa. Trong tín dụng
Ngân hàng đối với hộ sản xuất thì Ngân hàng là người chuyển nhượng tạm


8

thời một lượng giá trị (người cung ứng vốn – người đi vay). Sau một thời gian
nhất định hộ sản xuất trả lại số vốn đó nhận từ Ngân hàng, số vốn hoàn trả lại
lớn hơn số vốn ban đầu(phần lớn hơn gọi là lãi). Từ khi được thừa nhận là chủ
thể trong quan hệ xã hội, có thừa kế, có quyền sở hữu tài sản, có phương án
kinh doanh hiệu quả, có tài sản thế chấp thì hộ sản xuất mới có khả năng và
có đủ tư cách để tham gia quan hệ tín dụng với Ngân hàng đây cũng chính là
điều kiện để hộ sản xuất đáp ứng được điều kiện vay vốn của Ngân hàng.
1.2.1.2 Đặc điểm tín dụng hộ sản xuất
Tính thời vụ gắn với chu kỳ sinh trưởng của động-thực vật
Tính chất thời vụ trong cho vay nông nghiệp có liên quan đến chu kỳ sinh
trưởng của động, thực vật trong ngành nông nghiệp nói chung và các nghành
nghề cụ thể mà Ngân hàng tham gia cho vay. Thường thì thời vụ được biểu
hiện ở những mặt sau:
Tính mùa, vụ trong sản xuất nông nghiệp quyết định thời điểm cho vay và
thu nợ của Ngân hàng. Nếu ngân hàng tập trung cho vay vào các chuyên
nghành hẹp như cho vay một số cây, con nhất định thì phải tổ chức cho vay
tập trung vào một thời gian nhất định của năm, đầu vụ tiến hành cho vay, đến
kỳ thu hoạch, tiêu thụ tiến hành thu nợ.
Chu kỳ sống tự nhiên của cây, con là yếu tố quyết định để Ngân hàng tính
toán thời hạn cho vay.
-Môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến thu nhập và khả năng trả nợ của
khách
hàng.
Nguồn trả nợ Ngân hàng chủ yếu là tiền thu từ bán nông sản và các sản
phẩm chế biến có liên quan đến nông sản. Như vậy sản lượng nông sản thu
được là yếu tố quyết định khả năng trả nợ của khách hàng. Mà sản lượng
nông sản chịu ảnh hưởng của thiên nhiên rất lớn.
- Chi phí tổ chức cho vay cao:


9

Cho vay hộ sản xuất đặc biệt là cho vay hộ nông dân thường chi phí
nghiệp vụ cho một đồng vốn vay thường cao do qui mô từng món vay nhỏ.
Số lượng khách hàng đông, phân bố ở khắp mọi nơi nên mở rộng cho vay
thường liên quan tới việc mở rộng mạng lưới cho vay và thu nợ. Mở chi
nhánh, bàn giao dịch, tổ lưu động cho vay tại xã. Hiện nay mạng lưới của
NHNo&PTNT Việt Nam cũng mới chỉ đáp ứng một phần nhu cầu vay của
nông nghiệp.
Do đặc thù kinh doanh của hộ sản xuất đặc biệt là hộ nông dân có độ rủi
ro cao nên chi phí cho dự phòng rủi ro là tương đối lớn so với các ngành
khác.
1.2.2 Vai trò của tín dụng Ngân hàng đối với kinh tế hộ sản xuất
Để tiến hành sản xuất kinh doanh thì các hộ cần phải có đủ vốn cần thiết.
Từ nền kinh tế nông nghiệp tự cấp, tự túc đi lên, phần đông các hộ sản xuất
đều thiếu vốn để phát triển sản xuất hàng hóa. Vì vậy, nếu Nhà nước không
có sự giúp đỡ về vốn đến từng hộ sản xuất thì họ không có đủ điều kiện đầu
tư phát triển sản xuất hàng hóa và tình trạng phân hóa giàu nghèo cùng với
tình trạng cho vay nặng lãi sẽ tăng lên ở nông thôn.
Để tạo vốn cho hộ sản xuất, có thể kết hợp nhiều biện pháp khác nhau,
trong đó biện pháp cơ bản là Ngân hàng phải cho vay trực tiếp đến từng hộ
gia đình. Đó chính là chính sách lớn của Nhà nước hiện nay. Qua quá trình
hoạt động thực tế của mình, hệ thống các Ngân hàng thương mại Việt Nam
đã thể hiện vai trò to lớn của tín dụng Ngân hàng đối với sự phát triển kinh tế
hộ sản xuất:
-Tín dụng Ngân hàng cung cấp vốn cho từng hộ sản xuất.
Trên cơ sở nhu cầu vay vốn giúp Ngân hàng cung cấp vốn cho từng hộ
sản xuất giúp họ tận dụng khai thác mọi tiềm năng đất đai, lao động và tài
nguyên thiên nhiên từ đó đóng góp ngày càng nhiều hơn, phong phú thêm
hàng hóa để cung cấp cho sản xuất công nghiệp, xuất khẩu và đáp ứng nhu
cầu lương thực thực phẩm cho toàn xã hội.


10

-Tín dụng Ngân hàng tạo điều kiện duy trì các ngành nghề truyền thống,
phát triển các nghề mới nhằm giải quyết công ăn việc làm cho từng hộ, giúp
họ tăng thu nhập, cải thiện đời sống.
Dựa vào lợi thế so sánh giữa các vùng, các địa phương khi có vốn đầu tư
người dân đã khôi phục, duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống,
ngành nghề mới, thu hút nhiều lao động, tạo công ăn việc làm, góp phần xây
dựng noogn thôn giàu có, văn minh. Việt Nam là một nước có nhiều làng
nghề truyền thống, nhưng chưa được quan tâm và đầu tư đúng mức. Trong
điều kiện hiện nay, bên cạnh việc thúc đẩy sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH chúng ta cũng phải quan tâm đến nghành nghề truyền thống có
khả năng đạt hiệu quả kinh tế, đặc biệt trong quá trình thực hiện CNH-HĐH
nông nghiệp, nông thôn. Phát huy được làng nghề truyền thống cũng chính là
phát huy được nội lực của kinh tế hộ và tín dụng Ngân hàng sẽ là công cụ tài
trợ cho các nghành nghề mới thu hút, giải quyết việc làm cho người lao
động. Từ đó góp phần làm phát triển toàn diện nông, lâm, ngư nghiệp gắn
với công nghiệp chế biến nông – lâm – thủy sản, công nghiệp sản xuất hàng
tiêu dùng và hàng xuất khẩu, mở rộng thương nghiệp, du lịch, dịch vụ ở cả
thành thị và nông thôn, đẩy mạnh các hoạt động kinh tế đối ngoại.
-Tín dụng Ngân hàng là công cụ phát triển cơ sở hạ tầng ở nông thôn, tạo
điều kiện cho từng hộ sản xuất tiếp thu công nghệ mới vào sản xuất kinh
doanh.
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm” việc xây dựng kết
cấu hạ tầng cho nông thôn đã và đang được thực hiện. Tín dụng ngân hàng
không những tham gia vào quá trình sản xuất bằng hình thức cho vay vốn lưu
động mà còn đầu tư trung và dài hạn nhằm xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật
tiên tiến phục vụ cho sản xuất và đời sống của người dân nông thôn như: Xây
dựng mạng lưới điện, máy bơm, hệ thống thủy lợi, đường xá, hệ thống nước
sạch, cải tiến công cụ lao động, đầu tư cho dịch vụ sản xuất và sinh hoạt…
-Tín dụng Ngân hàng hạn chế cho vay nặng lãi trong nông thôn


11

Tình trạng cho vay nặng lãi ở nông thôn đã tồn tại từ lâu và có tác động
rất lớn đến sản xuất và đời sống. Với mức lãi xuất quá cao nó là nguyên nhân
gây ra những tiêu cực ở nông thôn. Bởi vậy, tín dụng Ngân hàng đã hạn chế
được đáng kể nạn cho vay nặng lãi, tạo điều kiện cho kinh tế hộ sản xuất
vươn lên và thực tế các Ngân hàng thương mại Việt Nam đã và đang trở
thành người bạn đồng hành trên con đường đi lên của các hộ nông dân.
Tín dụng Ngân hàng giúp hộ sản xuất làm quen và từng bước thực hiện
chế độ hạch toán kinh tế, sử dụng vốn vay có hiệu quả.
Trong sản xuất hàng hóa để đảm bảo cho sự tồn tại của mình thì bất cứ
một đơn vị sản xuất kinh doanh nào cũng phải tiến hành hạch toán kinh tế để
sản phẩm của mình được thị trường chấp nhận và kinh doanh có lãi. Các hộ
sản xuất nước ta chủ yếu là hộ nông dân phần lớn còn quen với suy nghĩ “lấy
công làm lãi”. Thường tiến hành sản xuất trong khi hiệu quả sản xuất kinh
doanh chưa được coi trọng đúng mức. Những năm gần đây Ngân hàng đã có
sự quan tâm hơn tới các hộ sản xuất, các hộ được vay vốn Ngân hàng song
phải thực hiện nguyên tắc hoàn trả cho Ngân hàng đầy đủ, đúng hạn cả gốc
và lãi. Do đó đòi hỏi các hộ phải tính toán hiệu quả, sử dụng vốn vay có mục
đích để sau khi trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng các hộ vẫn có phần thu nhập
của mình.
-Tín dụng Ngân hàng giúp hộ sản xuất tiếp cận và mở rộng sản xuất hàng
hóa.
Khi không có tín dụng Ngân hàng, sản xuất của hộ gia đình chủ yếu mang
tính tự cung tự cấp. Tín dụng Ngân hàng cung cấp vốn cho hộ sản xuất, một
phần sản phẩm của hộ sẽ trở thành hàng hóa, đồng thời thông qua thị trường
họ có thể định hướng cho sản xuất của mình sao cho sản phẩm sản xuất ra
đáp ứng được nhu cầu đa dạng của người mua. Để đáp ứng ngày càng tốt
những nhu cầu đa dạng đó bắt buộc họ phải mở rộng quy mô sản xuất, tìm
mọi biện pháp nâng cao chất lượng sản phẩm để tiêu thụ nhanh với lợi nhuận


12

cao. Như vậy nhờ có tín dụng Ngân hàng mà tính chất sản xuất hàng hóa
ngày càng tăng lên trong cách làm, cách nghĩ của người nông dân.
-Vai trò của tín dụng Ngân hàng về mặt chính trị - xã hội.
Tín dụng Ngân hàng không những có vai trò trong việc thúc đẩy phát
triển kinh tế mà còn có vai trò to lớn về mặt xã hội. Thông qua việc cho vay
mở rộng sản xuất đối với các hộ sản xuất đã góp phần giải quyết công ăn
việc làm cho người lao động. Đó là một trong những vấn đề cấp bách hiện
nay ở nước ta. Có việc làm, người lao động có thu nhập sẽ hạn chế được
những tiêu cực xã hội. Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các ngành nghề phát
triển, giải quyết việc làm cho lao động thừa ở nông thôn. Thực hiện được vấn
đề này là do các ngành nghề phát triển sẽ làm tăng thu nhập cho nông dân,
đời sống văn hóa, kinh tế, xã hội tăng lên, khoảng cách giữa nông thôn và
thành thị càng xích lại gần nhau hơn, hạn chế bớt sự phân hóa bất hợp lý
trong xã hội, giữ vững an ninh chính trị xã hội.
Tín dụng Ngân hàng thúc đẩy các hộ sản xuất phát triển nhanh làm thay
đổi bộ mặt nông thôn, các hộ nghèo trở lên khá hơn, hộ khá trở lên giàu hơn.
Chính vì lẽ đó các tệ nạn xã hội dần dần được xó bỏ như: Rượu chè, cờ bạc,
mê tín dị đoan… nâng cao trình độ dân trí, trình độ chuyên môn của lực
lượng lao động.
Ngân hàng thực hiện mở rộng đầu tư kinh tế hộ gia đình, thực hiện mục
tiêu của Đảng và nhà nước về phát triển nền kinh tế nhiều thành phần vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước. Tuy nhiên, trong
hoạt động thực tiễn cho vay cho thấy cơ chế hiện nay vẫn còn nhiều bất cập
như quy định về thế chấp, cầm cố, bảo lãnh vay vốn, cách xử lý tài sản thế
chấp giải quyết như thế nào?, đầu mối với các ngành ra sao?, sự không đồng
bộ ở các văn bản dưới luật đã làm cho hoạt động của ngân hàng gặp nhiều
khó khăn, việc cho vay tín chấp người vay không trả được thì các tổ chức
đoàn thể chịu đến đâu?. Thực tế họ chỉ chịu trách nhiệm còn rủi ro, tổn thất
vẫn là Ngân hàng phải chịu. Nếu không có những giải pháp để tháo gỡ thì


13

Ngân hàng không thể mở rộng đầu tư vốn và nâng cao hiệu quả việc cho vay
phát triển kinh tế hộ.
1.3 Các cơ chế chính sách tín dụng đối với phát triển kinh tế hộ sản xuất.
Xác định vai trò đặc biệt quan trọng của nông ngiệp nông thôn trong nền
kinh tế đất nước, chính phủ, các ngành, các cấp, và Ngân hàng có nhiều chủ
trương, chính sách, cơ chế chỉ đạo đầu tư cho ngành nông nghiệp và nông
thôn nói chung, cũng như đầu tư cho hộ sán xuất nói riêng. Sau hơn 20 năm
đổi mới, Đảng và nhà nước đã ban hành hàng loạt chủ trương, chính sách, cơ
chế quản lý, đưa nền kinh tế nước ta thu được những thành tựu lớn trên nhiều
mặt, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, tạo tiền đề đẩy nhanh sự
nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Ngày 28 – 6 – 1991, chủ tịch hội đồng bộ trưởng ( Nay là chính phủ) ban
hành chỉ thị số 202/CT về cho vay hộ suất, tạo điều kiện cho các hộ sản xuất
ở nông thôn thôn thực sự trở thành đơn vị kinh tế tự chủ. Từ đây
NHNo&PTNT Việt nam đã có văn bản quy định rõ về cho vay hộ sản xuất
kinh doanh nông nghiệp, diêm nghiệp, lâm nghiệp,ngư nghiệp, diêm nghiệp
áp dụng kinh doanh trong cả nước.
Ngày 30/ 03/1999 Thủ tướng chính phủ có quyết định số 67/1999/QĐTTg về một số chính sách tín dụng ngân hàng phục vụ phát triển nông nghiệp
và nông thôn, ngày 16/04/199 Thống đốc Ngân hàng nhà nước có văn bản số
320/CV-NHNN hướng dẫn thực hiện một số nội dung trong quyết định 67
của Thủ tướng chính phủ và giao cho NHNo&PTNT Việt Nam chịu trách
nhiệm chủ yếu tổ chức thực hiện. Hiện nay, Thủ tướng Chính phủ vừa ban
hành Nghị định 41/2011/NĐ-CP về tín dụng phục vụ sản xuất nông nghiệp,
nông thôn nhằm thay thế cho Quyết định 67. Cụ thể từ ngày 1/06/2011, cá
nhân, hộ sản xuất, lâm, ngư diêm nghiệp có thể được xem xét cho vay tối đa
đến 50 trđ; các hộ kinh doanh, sản xuất làm dịch vụ phục vụ nông nghiệp,
nông thôn được xem xét cho vay tối đa tới 200trđ; hợp tác xã, chủ trang trại
được xem xét cho vay tối đa đến 500trđ.


14

Từ những chủ trương chính sách của Chính phủ đòi hỏi NHNo&PTNT
Việt Nam phải có sự phối hợp chặt chẽ với NHNN trong việc ban hành các
văn bản hướng dẫn thực hiện nhằm đáp ứng những đòi hỏi bức xúc của nền
kinh tế, góp phần thúc đẩy phát triển CNH-HĐH nông nghiệp, nông thôn.Cụ
thể như sau:
Thực hiện Quyết định số 67/1999/QĐ-TTG ngày 30/03/1999 của Chính
phủ ngành Ngân hàng đã cụ thể hóa tại công văn hướng dẫn số 320CV –
NHNN

ngày

16/4/1999

của

NHNN

Việt

Nam.

Công

văn

số

791/NHNo&PTNT ngày 26/04/1999 của NHNo&PTNT Việt Nam về thực
hiện một số chính sách tín dụng Ngân hàng phục vụ phát triển Nông nghiệp,
nông thôn Việt Nam.
Ngày 31/03/2009 Chủ tịch Hội đồng quản trị NHNo&PPTNT Việt Nam
ban hành Quyết định số 72/QĐ – HĐQT – TD về “Quy định cho vay đối với
khách hàng trong hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam”. Quyết định số
1300/QĐ – HĐQT – TDHo ngày 03/12/2007 của Hội đồng quản trị
NHNo&PTNT Việt Nam về “Quy định các biện pháp bảo đảm tiền vay trong
hệ thống NHNo&PTNT Việt Nam”…
Những cơ chế chính sách trên đã mở ra một thị trường mới trong hoạt
động tín dụng. Trong khi đó hộ sản xuất đã cho thấy sản xuất có hiệu quả,
nhưng còn thiếu vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh. Đứng trước tình trạng
đó, việc tồn tại một hình thức tín dụng Ngân hàng đối với hộ sản xuất là một
tất yếu phù hợp với cung cầu trên thị trường được môi trường xã hội, pháp
luật cho phép.
Những nội dung chủ yếu của các văn bản nói trên được thể hiện như sau:
1.3.1 Về nguồn vốn cho vay
Nguồn vốn cho vay phát triển nông nghiệp nông thôn bao gồm:
+ Vốn Ngân hàng huy động.
+ Vốn ngân sách Nhà nước.
+ Vốn vay các tổ chức Tài chính Quốc tế và nước ngoài.
1.3.2 Đối tượng cho vay


15

NHNo&PTNT Việt Nam và các tổ chức tín dụng khác huy động và cân
đối đủ nguồn vốn, đáp ứng yêu cầu tăng khối lượng tín dụng cho nhu cầu phát
triển nông nghiệp và nông thôn bao gồm:
+ Chi phí sản xuất cho trồng trọt, chăn nuôi như: Vật tư, phân bón, cây
giống, con giống, thuốc trừ sâu, trừ cỏ, thuốc phòng, chữa bệnh, thức ăn chăn
nuôi…; Chi phí nuôi trồng thủy sản ( nước ngọt, nước lợ) như: cải tạo ruộng
nuôi, lồng nuôi, con giống, thức ăn, thuốc phòng chữa bệnh… Đánh bắt hải
sản như: Đầu tư đóng mới, chi phí bơm tưới, tiêu nước làm thủy lợi nội đồng.
+ Tiêu thụ, chế biến và xuất khẩu nông, lâm, thủy, hải sản và muối
+ Phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, ngành nghề và dịch vụ ở
nông thôn.
+Mua sắm công cụ máy móc thiết bị phục vụ cho phát triển nông nghiệp
và nông thôn như: Máy cày, máy bừa, máy bơm, máy giặt, máy tuốt lúa, máy
say sát, máy xấy, thiết bị chế biến, bình bơm thuốc trừ sâu…; Mua sắm
phương tiện vận chuyển hàng hóa trong nông nghiệp; xây dựng chuồng trại,
nhà kho, sân phơi, các phương tiện bảo quản sau thu hoạch.
+ Cho vay sinh hoạt như xây, sửa nhà ở, mua sắm đồ dùng phương tiện đi
lại…
+ Phát triển cơ sở hạ tầng như: Điện, đường giao thông nông thôn, cung
cấp nước sạch, vệ sinh môi trường.
1.3.3 Lãi suất cho vay
Mức lãi suất cho vay do NHNo&PTNT nơi cho vay thỏa thuận phù hợp
với quy định của NHNN và NHNo&PTNT Việt Nam.
Cho vay ưu đãi lãi suất, thực hiện theo quyết định của Thủ tướng Chính
phủ và hướng dẫn của NHNN.
1.3.4. Thời hạn cho vay
Ngân hàng cho vay theo chu kỳ sinh trưởng của cây trồng, vật nuôi, thời
gian luân chuyển vật tư hàng hóa và khấu hao tài sản, máy móc thiết bị.
Thời gian cho vay ngắn hạn, tối đa 12 tháng. Thời gian cho vay trung hạn,
từ trên 12 tháng đến 5 năm. Thời gian cho vay dài hạn trên 5 năm.
1.3.5. Bộ hồ sơ cho vay


16

Chính phủ Ngân hàng Nhà nước đã nêu rõ: Các tổ chức tín dụng cần phải
cải tiến quy trình cho vay đối với từng đối tượng khách hàng là: Hộ gia đình,
các hợp tác xã, các doanh nghiệp đảm bảo thủ tục đơn giản, thuận tiện và đảm
bảo an toàn cho Ngân hàng.
1.3.5.1 Hồ sơ pháp lý
Muốn được vay vốn, khi có nhu cầu vay hộ sản xuất phải gửi cho Ngân
hàng các tài liệu sau đây:
Các tài liệu chứng minh năng lực pháp luật dân sự hành vi dân sự: Xác
nhận hộ khẩu đối với hộ gia đình, cá nhân ở nông thôn, sổ hộ khẩu đối với hộ
gia đình, cá nhân ở đô thị.
Giấy phép kinh doanh được cấp có thẩm quyền cấp (đối với hộ kinh
doanh).
Giấy tờ hợp pháp, hợp lệ được giao, cho thuê, chuyển quyền sử dụng đất
mặt nước (đối với hộ nông, lâm, ngư, diêm nghiệp).
Giấy phép đánh bắt thủy, hải sản, đăng kiểm tàu thuyền (đối với hộ đánh
bắt thủy, hải sản).
Hợp đồng hợp tác, chứng thực của Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn
cho phép hoạt động (đối với tổ hợp tác).
Các giấy tờ khác cần thiết theo quy định của pháp luật.
1.3.5.2 Hồ sơ thực hiện vay vốn
Đối với hộ cho vay không phải thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh: Giấy
đề nghị vay vốn kiêm phương án sản xuất kinh doanh.
Đối với hộ phải thực hiện thế chấp, cầm cố, bảo lãnh: Giấy đề nghị vay
vốn, dự án hoặc phương án sản xuất kinh doanh, hồ sơ đảm bảo tiền vay.
Đối với cho vay hộ gia đình, cá nhân qua tổ vay vốn. Ngoài những hồ sơ
đã quy định như trên đối với từng hộ gia đình, cá nhân, phải có thêm:
+ Biên bản thành lập tổ vay vốn
+ Doanh sách thành viên có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã, phường.
+ Hợp đồng dịch vụ vay vốn.
Đối với cho vay hộ gia đình, cá nhân thông qua doanh nghiệp. Ngoài
những hồ sơ đã quy định như trên đối với hộ gia đình, cá nhân, tổ hợp tác
phải có thêm:
+ Danh sách hộ gia đình, cá nhân đề nghị Ngân hàng cho vay
+ Hợp đồng cung ứng vật tư, tiền vốn cho hộ gia đình nhận khoán


17

1.3.6. Bảo đảm tiền vay
Đối với hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp mức vay đến 10 triệu
đồng. Những hộ làm kinh tế trang trại, hộ sản xuất hàng hóa mức cho vay có
thể tới 20 triệu đồng và hộ sản xuất giống thủy sản vay vốn đến 50 triệu đồng
không phải thế chấp tài sản.
Những hộ vay vượt mức quy định trên, thì phải thế chấp tài sản theo quy
định của nàh nước.
1.3.7. Xử lý rủi ro
Các tổ chức tín dụng tham gia cho vay vốn phát triển nông nghiệp và
nông thôn, trong các trường hợp rủi ro thông thường thì xử lý theo quy chế
chung quy định. Trong trường hợp do nguyên nhân khách quan, bất khả
kháng như: Bão, lụt, hạn hán, dịch bệnh thì Nhà nước có chính sách xử lý cho
người vay và Ngân hàng vay như: Xóa, miễn, khoanh, dãn nợ tùy theo mức
độ thiệt hại.
1.4 CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI HỘ SẢN XUẤT TẠI NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI
1.4.1 Quan niệm về chất lượng tín dụng
Danh từ “Tín Dụng” xuất phát từ gốc la tinh “Credium” có nghĩa là sự tin
tưởng tín nhiệm. Tín dụng là phạm trù kinh tế mang tính lịch sử, ra đời và tồn
tại trong nền kinh tế sản xuất và trao đổi hàng hóa. Nó là một trong những sản
phẩm chính của Ngân hàng. Đây là hình thức sản phẩm mang hình thái phi
vật chất là dịch vụ đặc biệt. Sản phẩm này chỉ có khả năng đánh giá được sau
khi khách hàng đó sử dụng. Do vậy có thể quan niệm chất lượng tín dụng
Ngân hàng là việc đáp ứng yêu cầu của khách hàng, phù hợp với sự phát triển
kinh tế xã hội và đảm bảo sự tồn tại, phát triển của ngân hàng.
Chất lượng tín dụng Ngân hàng được thể hiện qua các quan điểm sau:
+ Đối với khách hàng: Tín dụng Ngân hàng đưa ra phải phù hợp với yêu
cầu của khách hàng về lãi suất, kỳ hạn, phương thức thanh toán, hình thức
thanh toán, thủ tục đơn giản thuận tiện tuy nhiên vẫn đảm bảo nguyên tắc tín


18

dụng Ngân hàng. Đáp ứng nhu cầu vốn của khách hàng, tạo điều kiện cho các
doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh có hiệu quả.
+ Đối với sự phát triển kinh tế xã hội: Tín dụng phục vụ sản xuất và lưu
thoogn hàng hóa, góp phần giải quyết việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng
trong nền kinh tế, thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, giải quyết
tốt các quan hệ giữa tăng trưởng tín dụng và tăng trưởng kinh tế.
Như vậy, chất lượng tín dụng vừa là một khái niệm vừa là cụ thể, vừa là
trừu tượng và là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì
hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập
trên cơ sở tin cậy và uy tín của ngân hàng trong hoạt động, hay nói cách khác,
chất lượng tín dụng tỷ lệ thuận với hiệu quả và độ tin cậy trong hoạt động tín
dụng.
Hiểu đúng bản chất và phân tích đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng
như xác định chính xác những nguyên nhân, những tồn tại của tín dụng sẽ
giúp Ngân hàng tìm được biện pháp thích hợp để có thể đứng vững trong nền
kinh tế thị trường với sự cạnh tranh gay gắt.
1.4.2 Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng
1.4.2.1 Chỉ tiêu định tính
a. Đảm bảo nguyên tắc cho vay
Mọi tổ chức kinh tế hoạt động đều dựa trên các nguyên tắc nhất định. Do
đặc thù của Ngân hàng là một tổ chức kinh tế đặc biệt, hoạt động của nó ảnh
hưởng sâu sắc đến tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của đất nước, do vậy có
các nguyên tắc kahcs nhau. Trong đó nguyên tắc cho vay là một nguyên tắc
quan trọng đối với Ngân hàng.
b. Cho vay đảm bảo có điều kiện
Đây là chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng đó là cho vay có
đảm bảo đúng điều kiện hay không.
c. Quá trình thẩm định
Thẩm định cho vay là công việc hết sức quan trọng, là tiền đề quyết định
việc cho vay và hiệu hiệu quả vốn đầu tư. Thẩm định là quá trình phân tích
đánh giá dự án trên cơ sở những chuẩn mực, nhằm rút ra những kết luận làm


19

căn cứ cho đưa ra các quyết định cho vay… Một khoản vay có chất lượng là
khoản vay đó được thẩm định và phải đảm bảo các bước của quá trình thẩm
định.
Quá trình thẩm định một khoản vay cho hộ sản xuất rất phức tạp do đặc
điểm sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất là kinh doanh tổng hợp. Vì vậy đòi
hỏi cán bộ thẩm định, tái thẩm định phải tinh thông nghiệp vụ, hiểu biết pháp
luật, nắm bắt kịp thời nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội trong từng thời kỳ,
các thông tin dự báo, thông tin kinh tế kỹ thuật, thị trường và khả năng phân
tích tài chính có như vậy mới có thể giúp lãnh đạo quyết định cho vay một
cách có hiệu quả và đảm bảo chất lượng một khoản vay.
1.4.2.2 Chỉ tiêu định lượng
Chỉ tiêu định lượng giúp Ngân hàng có cách đánh giá cụ thể hơn về mặt
chất lượng tín dụng, giúp các Ngân hàng có biện pháp xử lý kịp thời những
khoản vay kém chất lượng.
Các chỉ tiêu cụ thể mà các Ngân hàng thường dùng là:
a. Doanh số cho vay hộ sản xuất
Doanh số cho vay hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số
tiền Ngân hàng cho hộ sản xuất vay trong thời kỳ nhất định thường là một
năm.
Ngoài ra Ngân hàng còn dùng chỉ tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng cho
vay hộ sản xuất trong tổng doanh số cho vay của Ngân hàng trong một năm.
Doanh số cho vay HSX
Tỷ trọng cho vay hộ sản xuất =

x 100%
Tổng doanh số cho vay

b. Doanh số thu nợ hộ sản xuất
Doanh số thu nợ hộ sản xuất chỉ là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng số
tiền Ngân hàng đã thu hồi được sau khi đã giải ngân cho hộ sản xuất trong
một thời kỳ.


20

Doanh số thu nợ HSX
Tỷ lệ thu nợ hộ sản xuất =

x 100%
Tổng dư nợ của HSX

Để phản ánh tình hình thu nợ hộ sản xuất, Ngân hàng còn sử dụng chỉ
tiêu tương đối phản ánh tỷ trọng thu hồi được nợ trong tổng doanh số cho
vay hộ sản xuất của Ngân hàng trong thời kỳ.

Chỉ tiêu này được tính bằng công thức:
Doanh số thu nợ HSX
x 100%
Doanh số cho vay HSX
c. Dư nợ quá hạn hộ sản xuất
Dư nợ quá hạn hộ sản xuất là chỉ tiêu tuyệt đối phản ánh tổng thể số tiền
Ngân hàng chưa thu hồi được sau một thời gian nhất định kể từ ngày khoản
vay được cho vay đến hạn thanh toán thời điểm đang xem xét.
Bên cạnh chỉ tiêu tuyệt đối Ngân hàng cũng thường xuyên sử dụng các
chỉ tiêu như:
Dư nợ quá hạn HSX
Tỷ lệ quá hạn hộ sản xuất =

x 100%
Tổng dư nợ của HSX

Đây là chỉ tiêu quan trong để đánh giá hiệu quả tín dụng hộ sản xuất và
chất lượng tín dụng đầu tư cho vay đối với hộ sản xuất. Dư nợ quá hạn càng
nhỏ, tỷ lệ nợ quá hạn thấp thì chất lượng tín dụng càng cao.
Hoạt động Ngân hàng nói chung và tín dụng Ngân hàng nói riêng đều
chứa đựng nhiều rủi ro tác động đến lợi nhuận và sự an toàn trong kinh
doanh của Ngân hàng. Do đó việc đảm bảo thu hồi đủ vốn cho vay đúng hạn,


21

thể hiện qua tỷ lệ nợ quá hạn thấp là vấn đề quan trọng trong quản lý Ngân
hàng tác động trực tiếp đến sự tồn tại của các Ngân hàng.
Để đánh giá khả năng không thu hồi được nợ người ta sử dụng chỉ tiêu
“Tỷ lệ nợ khó đòi”
Tổng nợ khó đòi
Tỷ lệ nợ khó đòi =

x 100%
Tổng nợ quá hạn

Đây là chỉ tiêu tương đối, tỷ lệ này ở mức cao là dấu hiệu của khoản vay
có vấn đề và nguy cơ mất vốn là rất cao.
d. Vòng quay vốn tín dụng hộ sản xuất
Doanh số thu nợ HSX
Vòng quay vốn tín dụng HSX =
Dư nợ bình quân HSX
Trong đó:
Dư nợ đầu năm + Dư nợ cuối năm
Dư nợ bình quân HSX

=
2

Vòng quay càng lớn với số dư nợ luôn tăng, chứng tỏ đồng vốn của ngân
hàng bỏ ra đã được sử dụng một các có hiệu quả, tiết kiệm chi phí, tạo ra lợi
nhuận lớn cho Ngân hàng.
 Lợi Nhuận của Ngân hàng
Là một chỉ tiêu quan trọng để xem xét chất lượng tín dụng hộ sản xuất.
Chi tiêu này phản ánh tần xuất sử dụng vốn được xác định bằng công thức:
Lợi nhuận = Tổng thu – Tổng chi – Thuế
Thông qua chỉ tiêu lợi nhuận ta có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng
vốn của Ngân hàng cũng như hiệu quả của đồng vốn đó mang lại.
1.4.2.3 Một số chỉ tiêu khác.


22

a.Chỉ tiêu 1
Doanh số cho vay HSX
Doanh số cho vay bình quân HSX =
Tổng số HSX vay vốn
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền vay mỗi lượt của hộ sản xuất. Số tiền vay
càng cao chứng tỏ hiệu quả cũng như chất lượng cho vay càng tăng lên. Điều
đó thể hiện sức sản xuất cũng như quy mô hoạt động sản xuất kinh doanh của
hộ sản xuất tăng lên cao. Đồng thời thể hiện chất lượng cho vay có xu hướng
tăng, bởi thế Ngân hàng cho một lượt hộ sản xuất vay nhiều hơn mà vẫn đảm
bảo khả năng thu hồi và có lãi.
b.Chỉ tiêu 2.
Dư nợ cho vay trung và dài hạn HSX
Tỷ

lệ

cho

vay

trung



=

x100%
dài hạn HSX

Tổng nợ dư nợ hộ sản xuất

Đây là chỉ tiêu tương đối phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu vốn trung, dài
hạn hộ sản xuất để mở rộng sản xuất kinh doanh. Cho vay trung – dài hạn hộ
sản xuất phải đạt cao hơn cho vay ngắn hạn thì hộ mới đủ vốn để cải tạo, xây
dựng cơ sở vật chất cho sản xuất, từ đó tạo cơ sở để nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn ngắn hạn. Theo đánh giá thì tỷ lệ này cần phải đạt tối thiểu 40%
tổng dư nợ (mục tiêu của NHNo&PTNT Việt Nam). Tuy vậy, tỷ lệ này có thể
cao, thấp tùy thuộc vào nhu cầu vốn trung, dài hạn tại địa phương cũng như
chính sách tín dụng của từng NHTM.
Hai chỉ tiêu trên phản ánh hiệu quả tín dụng Ngân hàng đối với việc phát
triển kinh tế hộ sản xuất qua đó đánh giá được chất lượng tín dụng của Ngân
hàng.


23

c.Chỉ tiêu 3:
Tổng số hộ vay vốn
Số cán bộ tín dụng quản lý =
Tổng số cán bộ tín dụng
Do năng lực của mỗi con người có hạn, địa bàn noogn thôn rộng lớn và
tính phức tạp trong cho vay nông nghiệp, nông thôn. Nếu cán bộ tín dụng
quản lý quá nhiều hộ vay vốn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng.
1.4.3.Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng Ngân hàng đối với
hộ sản xuất
Việc nâng cao chất lượng tín dụng đối với hộ sản xuất có ý nghĩa rất lớn
đối với Ngân hàng vì nó quyết định đến sự thành bại của Ngân hàng. Do vậy,
phải nâng cao chất lượng tín dụng hộ sản xuất là một yêu cầu thường xuyên
đối với Ngân hàng. Để làm tốt điều đó cần phải xem xét các yếu tố ảnh hưởng
đến chất lượng tín dụng hộ sản xuất.
1.4.3.1 Yếu tố môi trường
Môi trường là yếu tố có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến chất lượng
tín dụng hộ sản xuất. Đặc biệt ở nước ta hoạt động nông nghiệp còn mang
tính thời vụ phụ thuộc rất nhiều vào thiên nhiên thì điều kiện tự nhiên có ảnh
hưởng rất lớn.
 Môi trường tự nhiên.
Môi trường tự nhiên tác động trực tiếp đến quá trình sản xuất kinh doanh
của hộ sản xuất nhất là những hộ sản xuất nông nghiệp phụ thược chủ yếu vào
điều kiện tự nhiên. Nếu mưa thuận gió hòa thì sản xuất nông nghiệp gặp nhiều
thuận lợi, người dân được mùa sản xuất kinh doanh gặp nhiều thuận lợi…Hộ
sản xuất có khả năng tài chính ổn định từ đó khoản tín dụng được bảo đảm.
Ngược lại nếu thiên tai bất ngờ xẩy ra thì sản xuất gặp nhiều khó khăn gây ra


24

thiệt hại lớn về kinh tế cho hộ sản xuất… Dẫn đến khoản tín dụng là có vấn
đề.
 Môi trường kinh tế xã hội.
Môi trường kinh tế xã hội có ảnh hưởng gián tiếp đến chất lượng tín dụng
hộ sản xuất. Môi trường kinh tế ổn định và phát triển sẽ tạo điều kiện cho hộ
sản xuất làm ăn có hiệu quả, do vậy hộ sản xuất sẽ vay nhiều hơn, các khoản
vay đều được hộ sản xuất sử dụng đúng mục đích mang lại hiệ quả kinh tế.
Từ đó, các khoản vay được hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi làm cho chất
lượng tín dụng hộ sản xuất được nâng lên.
 Môi trường chính trị - pháp lý.
Ngân hàng là một trong những ngành phải chịu sự giám sát chặt chẽ của
cơ quan pháp luật và cơ quan chức năng. Do vậy việc tạo ra môi trường pháp
lý hoàn thiện sẽ góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng tín dụng.
Môi trường pháp lý ổn định, tạo điều kiện cho hoạt động tín dụng Ngân hàng
cũng như hoạt động sản xuất kinh doanh của hộ sản xuất được tiến hành một
cách thuận lợi. Những quy định cụ thể của pháp luật về tín dụng và các lĩnh
vực khác có liên quan đến hoạt động tín dụng là cơ sở để xử lý, giải quyết
khi xẩy ra các tranh chấp tín dụng một cách hữu hiệu nhất. Vì vậy môi
trường chính trị - pháp lý có ảnh hưởng lớn đến hoạt động tín dụng hộ sản
xuất.
1.4.3.2 Yếu tố thuộc về khách hàng
Trình độ của khách hàng bao gồm cả trình độ sản xuất và trình độ quản lý
của khách hàng. Với một trình độ sản xuất phù hợp và trình độ quản lý khoa
học, khách hàng có thể đạt được kết quả sản xuất kinh doanh tốt, sẽ có khả
năng tài chính để trả nợ Ngân hàng. Ngược lại thì khả năng trả nợ Ngân hàng
là khó khăn.


25

Khách hàng sử dụng vốn sai mục đích: Đây là yếu tố thuộc về chủ quan
của khách hàng. Rất khó để cho Ngân hàng kiểm soát từ đầu vì đây là ý định
của khách hàng.
1.4.3.3 Các yếu tố thuộc về Ngân hàng
Quan hệ tín dụng giữa Ngân hàng và khách hàng một mặt cũng giống như
các quan hệ tín dụng khác trong cơ chế thị trường, nhưng mặt khác đó còn là
các chính sách, quy định … của Ngân hàng.
-Chính sách tín dụng Ngân hàng: Chính sách tín dụng Ngân hàng có ảnh
hưởng trực tiếp đến chất lượng tín dụng. Có chính sách tín dụng đúng đắn sẽ
đưa ra được hình thức cho vay phù hợp với nhu cầu, thu hút được khách
hàng, đồng thời cũng khuyến khích khách hàng trả nợ đúng hạn.
-Chấp hành quy chế tín dụng: Việc chấp hành các quy chế tín dụng của
cán bộ làm công tác Ngân hàng nói chung và tín dụng nói riêng là nguyên
nhân để các chỉ tiêu định tính đánh giá chất lượng tín dụng Ngân hàng cố
thực hiện được hay không. Việc chấp hành các quy định, các văn bản của
Luật các tổ chức tín dụng các quy định của bản thân mỗi Ngân hàng của khi
cho vay của mỗi cán bộ tín dụng cần phải được tuân thủ.
-Trình độ cán bộ tín dụng ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng khoản vay.
Chất lượng một khoản vay được xác định ngay từ khi khoản vay được quyết
định.
-Kiểm tra, kiểm soát của Ngân hàng nếu việc làm này được tiến hành một
cách kịp thời đồng bộ sẽ nắm bắt và xử lý được những khoản vay có vấn đề.
-Hệ thống thông tin Ngân hàng sẽ tạo điều kiện để Ngân hàng nắm bắt
được thông tin của khách hàng trước khi quyết định một khoản cho vay. Yếu
tố này rất quan trọng bởi vì nó góp phần ngăn chặn những khoản vay có chất
lượng không tốt ngay từ khi chưa xảy ra.
Như vậy, có thể khẳng định tín dụng Ngân hàng có vai trò hết sức quan
trọng đối với hộ sản xuất. Nó được coi là công cụ đắc lực của nàh nước, là


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×