Tải bản đầy đủ

Giải pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại NHNo PTNT huyện xuân trường

LỜI MỞ ĐẦU
Hệ thống ngân hàng Việt Nam cần có những bước đổi mới mạnh mẽ
trên tất cả các mặt, trong đó nhiệm vụ hàng đầu là phải tập trung vào vấn đề
phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng, vì hoạt động tín dụng là một trong
những hoạt động cơ bản và đặc thù trong hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng thương mại.
Ngân hàng No&PTNT Huyện Xuân Trường là một Chi Nhánh của
ngân hàng No&PTNT tỉnh Nam Định, là mét trong những chi nhánh quan
trọng trong hệ thống ngân hàng nông nghiệp, vấn đề tăng trưởng bền vững đã
và đang được đặt ra hàng đầu trong công cuộc đổi mới và hội nhập, đặc biệt là
trong việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro tín dụng. Với tỉ lệ chiếm 80-85% trên
tổng thu nhập cho thấy các sản phẩm tín dụng có vị trí quan trọng trong hoạt
động kinh doanh, có ảnh hưởng lớn đến các lĩnh vực kinh doanh khác của
NHNo&PTNT Huyện Xuân Trường.
Với tầm quan trọng của hoạt động tín dụng và mối tương quan của hoạt
động này với các hoạt động kinh doanh khác tại NHNo&PTNT huyện Xuân
Trường, việc nghiên cứu đo lường và đưa ra các giải pháp phòng ngừa và hạn
chế rủi ro tín dụng là việc hết sức cần thiết và có ý nghĩa thiết thực cho công
cuộc xây dựng phát triÓn bền vững của NHNo&PTNT huyện Xuân Trường.
Nhận thức được tầm quan trọng trên của vấn đề trên, em đã chọn đề tài “Giải
pháp phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động tín dụng tại

NHNo&PTNT huyện Xuân Trường” làm đề tài cho luận văn tốt nghiệp.
CHƯƠNG 1 :NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TRONG
HOẠT ĐỘNG TÍN DÔNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
CHƯƠNG 2:THỰC TRẠNG RỦI RO TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT
HUYỆN XUÂN TRƯỜNG.
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÒNG NGỪA, HẠN CHẾ RỦI RO
TRONG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG TẠI NHNo&PTNT HUYỆN XUÂN
TRƯỜNG.

1


CHƯƠNG 1
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VÀ RỦI RO TÍN DỤNG TRONG HOẠT
ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI.
1.1.1.Khái niệm NHTM .
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các
ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế.
Theo luật Mỹ: NHTM là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh
mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch
vụ thanh toán.
Theo luật Các tổ chức tín dụng Việt Nam: Ngân hàng là loại hình tổ
chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động
kinh doanh khác có liên quan như nhận tiền gửi, sử dụng tiền gửi để cung cấp
các dịch vụ thanh toán.
1.1.2. Hoạt động kinh doanh cơ bản của NHTM.
1.1.2.1. Hoạt động huy động vốn.
 Tiền gửi của tổ chức kinh tế
a) Tiền gửi không kỳ hạn: là khoản tiền mà khách hàng gửi vào ngân
hàng nhưng khách hàng có thể rót ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải luôn
đảm bảo yêu cầu này.
Mục đích của khách hàng khi gửi tiền vào ngân hàng là an toàn và
hưởng các dịch vụ ngân hàng, tạo mối quan hệ với ngân hàng. Tỷ trọng tiền
gửi không kỳ hạn của tổ chức kinh tế trong tổng nguồn vốn của ngân hàng
cao và nguồn vốn này có tính ổn định tương đối cao vì bao giờ các tổ chức
kinh tế cũng duy trì Ýt nhất ở một số dư nhất định. Đối với nguồn vốn này
ngân hàng chỉ phải trả lãi thấp nhưng chi phí phi lãi rất cao. Đó là chi phí mua
và vận hành ATM, chi phí phục vụ...


2


b) Tiền gửi có kỳ hạn : là khoản tiền khách hàng gửi vào ngân hàng mà
có sự thoả thuận về thời hạn trong đó khách hàng không được rút trước hạn.
Đây là nguồn vốn mà khách hàng gửi vào ngân hàng với mục đích sinh
lời là chủ yếu và ngân hàng phải trả lãi cao hơn hơn tiền gửi không kỳ hạn.
Đây là nguồn vốn có tính ổn định rất cao nhưng thường có thời hạn ngắn vì
đây là những khoản tiền tạm thời nhàn rỗi trong quá trình sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp và nguồn vốn này chiếm tỷ trọng rất nhỏ trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng.
 Tiền gửi của cá nhân và hộ gia đình
a) Tiền gửi không kỳ hạn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích an toàn là chủ yếu và
hưởng các dịch vụ của ngân hàng. Đối với nguồn vốn này chi phí trả lãi ngân
hàng bỏ ra không đáng kể nhưng chi phí trả lãi rất cao. Ở các nước phát triển
thì tỷ trọng nguồn vốn này rất cao nhưng các nước đang phát triển thì tỷ trọng
này lại rất thấp do người dân chưa có thói quen sử dụng các dịch vụ của ngân
hàng. Nguồn vốn từ tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân, hộ gia đình có tính ổn
thấp do nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình không ổn định, khi cần
khách hàng có thể rút tiền ra bất cứ lúc nào do đó ngân hàng phải chuẩn bị sẵn
một khoản tiền để đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
b) Tiền gửi có kỳ hạn
Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng với mục đích sinh lời là chủ yếu.
Tiền gửi có kỳ hạn của cá nhân và hộ gia đình chiếm tỷ trọng lớn nhất trong
tổng vốn huy động và là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng cho vay. Nguồn
vốn này có tính ổn định cao nhất và ngân hàng phải trả lãi rất cao cho nguồn
vốn này.
 Huy động vốn thông qua phát hành giấy tờ có giá

3


Ngày nay trong hoạt động kinh doanh của các NHTM cạnh tranh là yếu
tố không thể thiếu được. Các NHTM cạnh tranh nhau về lãi suất huy động
đến lãi suất cho vay. Trong lĩnh vực huy động vốn các NHTM phải luôn
luôn tìm các biện pháp để có thể huy động được đủ nguồn vốn phục vụ
cho nhu cầu sử dụng vốn của mình. Các NHTM không chỉ sử dụng các
công cụ truyền thống để huy động vốn mà còn đưa ra các các công cụ mới
có hiệu quả hơn để huy động vốn một cách dễ dàng đáp ứng nhu cầu vốn
của mình và kỳ phiếu, trái phiếu ngân hàng đã ra đời. Kỳ phiếu và trái
phiếu là giấy tờ có giá xác nhận khoản nợ của ngân hàng với người nắm
giữ. Kỳ phiếu được phát hành thường xuyên và có kỳ hạn ngắn: 3, 6 ...12
tháng. Trái phiếu thường có kỳ hạn lớn hơn 1 năm.
Việc phát hành kỳ phiếu , trái phiếu có ưu thế: giúp ngân hàng huy động
được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng
vốn của ngân hàng. Tuy nhiên chi phí của nguồn vốn này tương đối cao do
ngân hàng phải trả lãi cao hơn các hình thức huy động truyền thống.
 Huy động vốn qua đi vay
a) Vay TCTD khác
Trong quá trình hoạt động ngân hàng có thể vay TCTD khác thông qua
thị trường tiền tệ liên ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này thường cao và
thời gian sử dụng thường ngắn. Các ngân hàng cho nhau vay dưới các hình
thức: vay qua đêm, vay kỳ hạn, hợp đồng gia hạn.
b) Vay NHTƯ
NHTƯ cho NHTM vay dưới hình thức chiết khấu giáy tờ có giá. Mục
đích cho vay của NHTƯ với NHTM là: thực thi chính sách tiền tệ, đảm bảo
an toàn hệ thống ngân hàng. Chi phí của nguồn vốn này cao hay thấp phụ
thuộc vào chính sách tiền tệ của NHTƯ: giả sử khi NHTƯ muốn tăng mức
cung ứng tiền thì NHTƯ sẽ giảm mức lãi suất chiết khấu từ đó sẽ kích thích

4


các NHTM vay NHTƯ nhiều hơn do đó tăng khả năng cấp tín dụng cho nền
kinh tế thúc đẩy kinh tế phát triển và ngược lại.
1.1.2.2. Hoạt động sử dụng vốn.
a/ Hoạt động cho vay : Hướng cơ bản trong sử dụng và khai thác các
nguồn vốn của Ngân hàng thương mại là cho vay. Hoạt động cho vay có thể
được phân loại bằng nhiều cách như : Mục đích, thời hạn, hình thức đảm bảo,
phương pháp hoàn trả và nguồn gốc khách hàng ....
* Căn cứ theo hình thức bảo đảm thì khoản mục tín dụng được chia
thành :
+ Cho vay có bảo đảm : là hoạt động quan trọng của ngân hàng. Cho
vay có bảo đảm biểu hiện việc cho vay có cầm giữ các vật thế chấp cụ thể nào
đó. Vật thế chấp có thể bao gồm nhiều loại khác nhau như : Bất động sản,
biên nhận ký gửi hàng hoá, máy móc thiết bị, cổ phiếu ... Yêu cầu cơ bản của
những vật thế chấp là có thể bán được. Lý do thực tế đòi hỏi một khoản cho
vay phải được đảm bảo là nhằm tạo điều kiện để ngân hàng giảm bớt rủi ro,
mất mát trong trường hợp người vay không muốn hoặc không thể trả nợ khi
đến hẹn.
Sự bảo đảm là yêu cầu phải có đối với các khoản vay vì một trong những
lý do chính là sự yếu kém về mặt tài chính của người vay. sự yếu kém này có
thể được biểu hiện thông qua một vài yếu tố bao gồm nợ nần chồng chất,
quản lý yếu kém và lợi nhuận thấp. Người vay trong điều kiện tài chính như
vậy có thể tạo uy tín bằng việc thế chấp các tài sản. Cho vay có bảo đảm cũng
tạo tâm lý yên tâm cho ngân hàng. Khi người vay đem cầm cố các tài sản
mang quyền sở hữu của mình thì người vay sẽ có ý thức hoàn trả nợ. Kỳ hạn
của mỗi khoản vay cũng ảnh hưởng đến việc khoản vay đó có cần được bảo
đảm hay không. Khi kỳ hạn cho vay dài, rủi ro trong việc không hoàn trả tăng
lên thì các khoản cho vay càng cần có sự bảo đảm.
Khách hàng không có khả năng trả nợ hoặc không có người bảo đảm trả
thay thì khi đến hạn tài sản cầm cố, thế chấp có thể là động sản và cũng có thể
là bất động sản.
+ Cho vay không bảo đảm : Khác với cho vay bảo đảm, cho vay không
bảo đảm được dựa trên tính liêm khiết và tình hình tài chính của người vay lợi
tức có thể được trong tương lai và tình hình trả nợ trước đây. Trong hoạt động
5


ngân hàng một số khoản vay lớn nhất được thực hiện dựa trên một cơ sở
không bảo đảm. Một số công ty được các ngân hàng xem là người vay chủ
yếu, trong nhiều trường hợp họ được hưởng lãi suất ưu đãi và không cần bảo
đảm. Những công ty Êy có danh tiếng trên thị trường, có cách quản lý hiệu
quả, có các sản phẩm và các dịch vụ được thị trường chấp nhận, có lợi nhuận
ổn định và với một tình hình tài chính vững mạnh. Họ sẵn sàng cung cấp cho
ngân hàng các báo cáo tài chính của mình để ngân hàng nắm rõ tình hình tài
chính và sự tiến bộ của họ để ngân hàng cung cấp các khoản cho vay không
đảm bảo.
Các doanh nghiệp không phải là những đơn vị duy nhất được vay không
cần bảo đảm, nhiều tác nhân cũng được hưởng đặc quyền Êy. Những người có
nhà riêng, có công ăn việc làm ổn định, hoạt động trong các công sở ...
* Căn cứ theo các phương pháp hoàn trả thì khoản mục tín dụng được
phân chia thành :
+ Các khoản cho vay hoàn trả một lần :
Những khoản cho vay hoàn trả một lần thường là những khoản cho vay
thẳng, nghĩa là hợp đồng yêu cầu trả vốn một lần vào thời gian đáo hạn cuối
cùng. Những khoản lãi có thể được trả vào những thời điểm khác nhau hoặc
trả khi đáo hạn. Đối với khoản cho vay hoàn trả một lần, việc hoàn trả khi đáo
hạn trở thành một gánh nặng đối với khách hàng. Những khoản cho vay hoàn
trả một lần thường là những khoản cho vay ngắn hạn.
+Các khoản cho vay hoàn trả nhiều lần:
Cho vay hoàn trả nhiều lần đòi hỏi việc hoàn trả theo những thời điểm
nhất định .
Cho vay hoàn trả nhiều lần thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt
kỳ hạn thực hiện hợp đồng . Nhờ vậy việc hoàn trả không trở thành một gánh
nặng lớn đối với người vay như trong trường hợp toàn bộ khoản vay được trả
một lần. Đối với nhiều người có khoản cho vay hoàn trả nhiều lần ví dụ như
các khoản trả góp đóng một vai trò như một phương tiện tích luỹ . Nó làm
tăng hiệu quả sử dụng vốn.
* Căn cứ theo kỳ hạn thì khoản mục tín dụng được phân chia thành :
+ Cho vay ngắn hạn :

6


Các khoản cho vay ngắn hạn có kỳ hạn 1 năm hoặc Ýt hơn , cho vay
ngắn hạn được thực hiện trong một thời gian nhất định dưới 1 năm hoặc trên
cơ sở theo yêu cầu. Cho vay theo yêu cầu là khoản vay không có kỳ hạn nhất
định và phải được trả khi khách hàng có yêu cầu vào bất cứ lúc nào. Cho vay
theo yêu cầu của người vay ở vào một vị thế rất linh hoạt và có thể trả nợ
trong một thời gian rất ngắn.
Những khoản cho vay ngắn hạn thường được sử dụng rộng rãi trong việc
tài trợ mang tính thời vụ về vốn luôn chuyển và tài trợ tạm thời cho các hoạt
động sản xuất kinh doanh.
+Cho vay trung và dài hạn :
Việc quy định về thời gian cho các khoản vay trung và dài hạn theo
những quy định riêng của từng quốc gia . Theo quy định của nước ta , những
khoản vốn cho vay từ 1 năm đến 5 năm được coi là trung hạn, những khoản
vốn cho vay từ 5 năm trở lên được coi là dài hạn . Những khoản cho vay này
thường có giá trị lớn và người vay thưòng dùng để đầu tư, mở rộng sản
xuất,nâng cấp tài sản cố định .
Vốn trung hạn và dài hạn là một nhu cầu cấp thiết đối với việc đẩy mạnh
sự tăng trưởng của nền kinh tế tại những quốc gia đang phát triển.
b/ Hoạt động đầu tư :
Hoạt động đầu tư hay còn gọi là hoạt động chứng khoán giúp Ngân hàng
Thương mại sử dụng và khai thác tối đa các nguồn vốn đã huy động. Đồng
thời, nó cũng mang lại nguồn thu nhập quan trọng cho Ngân hàng Thương
mại . Ngân hàng Thương mại có thể đầu tư vốn mua chứng khoán ngắn hạn
của chính phủ. Những chứng khoán này vừa mang lại thu nhập cho Ngân
hàng Thương mại , vừa góp phần vào việc cân bẳng thu chi ngân sách thường
xuyên ; đồng thời góp phần điều hoà lưu thông tiền tệ trong nền kinh tế quốc
dân.
Ngân hàng Thương mại còn được phép đầu tư vốn để mua cổ phiếu và
trái phiếu của các doanh nghiệp , qua đây những Ngân hàng thương mại lớn
tham gia vào việc thành lập quản lý các doanh nghiệp . Tuy nhiên, Ngân hàng
Thương mại chỉ được đầu tư chứng khoán ở một giới hạn nhất định , không
được để hoạt động này lấn át hoạt động cho vay.
1.1.2.3. Hoạt động trung gian.
7


NHTM là một tổ chức trung gian tài chính với hoạt động chủ yếu là
chuyển tiết kiệm thành đầu tư,tức chuyển vốn từ nơi thừa sang nơi có nhu cầu
sử dụng.Với chức năng này NHTM làm cầu nối giữa cá nhân và tổ chức có
thu nhập lớn hơn chi dùng với những cá nhân và tổ chức tạm thời thâm hụt
trong chi tiêu, hay thu nhập không bù đắp nổi nhu cầu chi tiêu nên họ cần bổ
xung vốn.
Ngoài trung gian tài chính,NHTM còn là trung gian thanh toán.Ngân
hàng thay mặt khách hàng chi trả giá trị hàng hoá và dịch vụ trong và ngoài
nước.Để thanh toán được nhanh chóng, thuận tiện, an toàn và tiết kiệm, ngân
hàng dùng nhiều hình thức thanh toán không dùng tiền mặt như:séc chuyển
tiền, uỷ nhiệm chi, bù trừ qua NHNN hoặc qua trung tâm thanh toán, nhờ thu
v..v... bằng các biện pháp kỹ thuật như:thư, điện tín, hệ thống máy tính điện tử
v..v...
1.1.3. Vai trò của NHTM trong nền kinh tế.
Vai trò của Ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế ngày càng quan
trọng nó được thể hiện qua các vai trò sau :
Thứ nhất : Ngân hàng thương mại là nơi tập trung vốn tạm thời nhận
rồi trong xã hội để cung cấp cho các nhu cầu của nền kinh tế, qua đó chuyển
tiền thành tư bản để đầu tư phát triển sản xuất và tăng cường hiệu quả hoạt
động của tiền vốn. Trong xã hội luôn luôn tồn tại tình trạng thừa và thiếu vốn
một cách tạm thời. Những cá nhân, tổ chức có tiền nhàn rỗi tạm thời thì muốn
bảo quản số tiền một cách an toàn nhất và có hiệu quả nhất. Trong khi đó
những cá nhân, tổ chức có nhu cầu về vốn thì muốn vay được những khoản
vốn nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của mình. Chính vì vậy Ngân
hàng thương mại là một trung gian tài chính tốt nhất để thực hiện chức năng
là cầu nối giữa cung và cầu về vốn. Ngân hàng là một điạ chỉ tốt nhất mà
những người dư thừa về vốn có thể gửi tiền một cách an toàn và hiệu quả nhất
và ngược lại cũng là một nơi sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về vốn của các
cá nhân và doanh nghiệp.
Thứ hai : Hoạt động của các Ngân hàng thương mại góp phần tăng
cường hiệu quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp qua đó góp phần
8


thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng thương mại với địa vị là
một trung gian tài chính thực hiện chức năng là chiếc cầu nối giữa cung và
cầu về vốn trên thị trường tiền tệ đã góp phần đẩy nhanh hoạt động của nền
kinh tế, đem lại thuận lợi cho hoạt động của các cá nhân và tổ chức. Những cá
nhân và tổ chức đã giảm được các khoản chi phí trong việc tìm kiếm các
nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh, và ngoài ra có thể vân dụng các
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng để đẩy nhanh hoạt động của
mình. Việc vay vốn từ ngân hàng của các doanh nghiệp đã thúc đẩy các doanh
nghiệp phải có phương án sản xuất tối ưu và có hiệu quả kinh tế thì mới có
thể trả lãi và trả vốn cho ngân hàng. Việc lập phương án sản xuất tối ưu do
doanh nghiệp lập ra phải qua sự kiểm tra, thẩm định kỹ lưỡng của ngân hàng
nhằm hạn chế tới mức thấp nhất những rủi ro có thể sảy ra.
Ngược lại những cá nhân và tổ chức dư thừa về vốn có thể yên tâm đem
gửi tiền của mình vào ngân hàng vì ngân hàng là một địa chỉ có thể bảo quản
tiền vốn một cách an toàn và hiệu quả tốt nhất. Khách hàng có thể yên tâm về
sự an toàn và khả năng sinh lời của đồng vốn và cũng có thể rút tiền của mình
bất cức lúc nào muốn. Có thể lãi suất mà ngân hàng trả cho khách thấp hơn so
với việc đầu tư tiền vốn vào những lĩnh vực như : mua cổ phiếu, đầu tư vào
kinh doanh .... nhưng việc gửi tiền vào ngân hàng là có hệ số an toàn cao nhất.
Thêm vào đó những dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng như :
chuyển tiền, thanh toán hộ, các dịch vụ tư vấn ... sẽ tạo thêm thuận tiện cho
khách hàng trong hoạt động kinh doanh của mình.
Tất cả những hoạt động của ngân hàng là cơ sở giúp cho việc tăng cường
hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp nói riêng và của nền kinh tế nói chung.
Thứ ba : Ngân hàng thương mại thông qua những hoạt động của mình
góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia
như : ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm cao, ổn định lãi
xuất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối, ổn định và tăng trưởng
kinh tế. Với các công cụ mà Ngân hàng trung ương dùng để thực thi chính
sách tiền tệ như : Chính sách chiết khấu; tỷ lệ dự trù bắt buộc của Ngân hàng
trung ương đối với Ngân hàng thương mại: lãi suất tín dụng hoặc bằng các
nghiệp vụ thị trường tự do. Thì các ngân hàng đóng một vai trò quan trọng
trong việc thi hành chính sách tiền tệ quốc gia. Các Ngân hàng thương mại có
thể thay đổi lượng tiền trong lưu thông bằng việc thay đổi lãi suất tín dụng
9


hoặc bằng các nghiệp vụ trên thị trường mở qua đó góp phần chống lạm phát
và ổn định sức mua của đồng nội tệ.
Thứ tư : Ngân hàng thương mại bằng hoạt động của mình đã thức hiện
việc phân bổ vốn giữa các vùng qua đó tạo điều kiện cho việc phát triển kinh
tế đồng đều giữa các vùng khác nhau trong một quốc gia. Các vùng kinh tế
khác nhau thì có sự phát triển khác nhau. Hiện tượng thừa vốn hoặc thiếu vốn
một cách tạm thời giữa các vùng diễn ra thường xuyên . Do đó vấn đề đặt ra
là làm sao thực hiện tốt nhất hiệu quả huy động của vốn và chính hoạt động
điều chuyển vốn trong nội bộ ngân hàng đã thực hiện tốt vấn đề này.
Thứ năm : Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa nền kinh tế các nước
và thế giới, tạo điều kiện cho việc hoà nhập của nền kinh tế trong nước với
nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới. Với xu hướng toàn cầu hóa
nền kinh tế trong khu vực và nền kinh tế thế giới cùng với chính sách mở rộng
quan hệ hợp tác quốc tế về kinh tế xã hội của các quốc gia trên thế giới thì
hoạt động của các Ngân hàng thương mại được mở rộng và thúc đẩy cho việc
mở rộng hoạt động kinh tế của các doanh nghiệp trong nước. Với hoạt động
rộng khắp của mình, các ngân hàng có khả năng được nguồn vốn từ các cá
nhân và các tổ chức nước ngoài góp phần bảo đảm được nguồn vốn cho nền
kinh tế trong nước, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước có thể mở
rộng hoạt động của họ ra nước ngoài một cách rễ dàng hơn, hiệu quả hơn nhờ
hoạt động thanh toán quốc tế, bảo lãnh.
Chính từ sự mở rộng các quan hệ quốc tế mà nền kinh tế trong nước có
sự thâm nhập vào thị trường quốc tế và tăng cường khả năng cạnh tranh với
các nước khác trên thế giới.
1.2.TÍN DỤNG VÀ BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG.
1.2.1 TÍN DÔNG
1.2.1.1. Khái niệm.
Tín dụng là giao dịch về tài sản (tiền hoặc hàng hoá) giữa bên cho vay
là ngân hàng và các dịnh chế tài chính khác với bên đi vay là cá nhân,
doanh nghiệp…Trong đó quyền cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi
vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thoả thuận, bên đi vay có

10


trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện cả vốn gốc lẫn lãi cho bên cho vay khi
đến hạn thanh toán.
Bên cạnh đó quan hệ tín dụng cũng cần được hiểu là quan hệ hai chiều, và
ngân hàng vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
Nghiệp vô kinh doanh tín dụng là nghiệp vụ kinh doanh chủ chốt của
NHTM để tạo ra lợi nhuận nhằm bù đắp những chi phí phát sinh trong
hoạt động kinh doanh, trong đó có chi phí bù đăp rủi ro tín dụng, và các
chi phí khác.
1.2.1.2. Phân loại tín dụng.
Phân loại theo thời gian (thời hạn cho vay)
- Tín dụng ngắn hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn dưới một năm và
thường được sử dụng để cho vay bổ sung vốn lưu động của các doanh nghiệp
và cho vay phục vụ nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn từ một đến năm năm
và thường được sử dụng cho vay để mua sắm tài sản cố định, cải tiếnvaf đổi
mới kỹ thuật, mở rộng và xây dựng các công trình có thời gian thu hồi vốn
nhanh.
- Tín dụng dài hạn: Là hình thức cho vay có thời hạn trên năm năm và thường
được sử dụng để cấp vốn cho doanh nghiệp phục vụ cho hoạt động xây dựng
cơ bản, đầu tư xây dựng mới, cải tiến và mở rộng quy mô sản xuất.
Phân loại theo mục đích sử dụng vốn.
- Cho vay kinh doanh: Là hình thức cấp tín dụng cho các doanh nghiệp và các
chủ thể kinh doanh để tiến hành sản xuất và lưu thông hàng hóa.
- Cho vay tiêu dùng: Là hình thức cấp tín dụng cho các cá nhân, hộ gia đình
nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng (mua sắm nhà cửa, xe cộ, vật dụng…) phục
vụ cho nhu cầu sinh hoạt.
Phân loại căn cứ vào tài sản đảm bảo.

11


- Tín dụng không có đảm bảo: Là hình thức cho vay không cần có tài sản đảm
bảo, hoạt động cấp tín dụng chỉ dựa trên uy tín của khách hàng.
- Tớn dụng có đảm bảo: Là hình thức cho vay mà khách hàng muốn nhận
được khoản tín dụng của ngân hàng cần phải có tỡa sản đảm bảo hoặc cần có
sự bảo lãnh của bên thứ 3.
Phân loại theo hình thức.
- Cho vay: Là việc ngân hàng cấp cho khách hàng một khoản tín dụng, đồng
thời kèm theo một bản cam kết khách hàng phải trả cả gốc và lãi trong một
thời gian nhất định.
- Chiết khấu giấy tờ cú giỏ(cho vay thế vốn): Là việc ngân hàng ứng trước
tiền cho khách hàng tương ứng với giá trị của giấy tờ có gia trừ đi phần thu
nhập mà ngân hàng được hưởng.
- Cho thuê tài chinch: Là một hình thức tài trợ vốn trung và dài hạn thông qua
việc ngân hàng bỏ tiền ra mua tài sản và cho khách hàng thuê lại theo những
thừa thuận nhất định, sau đó khách hàng hoàn trả cả gốc và lãi cho khách
hàng.
- Bảo lãnh: Là việc ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho
khách hàng không có khả năng thực hiện nghĩa vụ đó.
1.2.1.3. Vai trò của tín dụng.
- Điều hoà vốn, thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hoá, đẩy nhanh
quá trình tái sản xuất mở rộng trong nền kinh tế. Ngân hàng là chiếc cầu nối
giữa những người có vốn tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế với những người
cần vốn để mở rộng kinh doanh, tiờu dựng… Trờn cơ sở huy động nguồn vốn
trong dân cư hay đi vay các tổ chức kinh tế khác ngân hàng tiến hành cho vay
với các cá nhân, tổ chức kinh tế đang cần vốn để phục vụ sản xuất kinh
doanh.
- Tớn dụng ngõn hàng giúp chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Tín dụng ngân
hàng là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện chuyển dịch cơ cấu
12


kinh tế. Nếu muốn khuyến khích ngành nghề hay thành phần kinh tế nào phát
triển, ngân hàng sẽ thực hiện ưu đãi tín dụng với ngành nghề hay khu vực đó.
Từ đó ngân hàng sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp đó dễ dàng tiếp cận
được vốn vay ngân hàng, trở thành đòn bẩy để giúp ngành nghề đó phát triển.
- Kích thích tính năng động linh hoạt cuả các doanh nghiệp. Trong thời
đại ngày nay, khi thông tin và công nghệ thông tin thay đổi liên tục và phát
triển một cách rất nhanh chúng, cỏc doanh nghiệp luôn luôn đứng trước yêu
cầu cần phải thay đổi cho phù hợp nhu cầu của thời đại. Để thực hiện được
điều này đòi hỏi các doanh nghiệp phải thường xuyên thay đổi máy móc, kỹ
thuật thay nâng cấp nhà xưởng, đổi mới sản phẩm…và ngân hàng chính là nơi
cung cấp vốn trung và dài hạn tốt nhất cho các doanh nghiệp.
- Tớn dụng ngõn hàng giúp tăng nhanh vòng quay của vốn, giảm lượng
tiền mặt trong lưu thông. Qua đó tín dụng ngân hàng giúp Nhà nước tăng
cường quản lý vĩ mô nền kinh tế
- Tín dụng ngân hàng là đòn bẩy kinh tế quan trọng thúc đẩy quá trình
mở rộng quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế. Trong xu thế hội nhập quốc tế, mối
quan hệ giữa các nước trên thế giới và trong khu vực được mở rộng và phát
triển đa dạng cả về chiều rộng và chiều sâu. Đây là một trong những nhân tố
quan trọng tạo điều kiện đặc biệt cho các nước đang phát triển trên thế giới
trong đó có nước ta.
1.2.2 RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.2.1 KHÁI NIỆM RỦI RO TÍN DỤNG
Nước ta, trong công cuộc phát triển kinh tế, vấn đề về vốn trở thành một
vấn đề hết sức nóng bỏng và cấp bách. Thị trường ngân hàng kinh doanh là
thị trường có nhiều rủi ro nhất. Rủi ro có thể xảy ra trong bất kỳ một nghiệp
vụ nào với những mức độ khác nhau. Tuy nhiên, việc tìm ra một phương pháp
thực hiện các nghiệp vụ có thể hoàn toàn loại trừ được rủi ro và có thể đảm

13


bảo được một kết quả tài chính nhất định là một việc không thể thực hiện
được. Chúng ta chỉ có thể lường trước và hạ thấp rủi ro đến mức thấp nhất.
Trong hoạt động ngân hàng thì hoạt động tín dụng dễ xảy ra rủi ro nhất
vì hoạt động tín dụng là hoạt động thường xuyên và chủ yếu nhất của ngân
hàng.
Sau khi nghiên cứu hoạt động của NHTM và khái niệm về tín dụng
ngân hàng trong nền kinh tế thị trường, chúng ta có thể đi đến một khái niệm
về rủi ro tín dụng ngân hàng như sau:
"Rủi ro tín dụng là sự xuất hiện các biến cố không bình thường trong
quan hệ tín dụng, gây hậu quả xấu đến hoạt động như mất mát, thiệt hại về tài
sản, thu nhập của ngân hàng".
Những biến cố trong rủi ro tín dụng bao gồm: Cho vay không thu hồi
được nợ, thiếu vốn để chi trả cho khách hàng gửi tiền. (Mọi hoạt động tín
dụng đều chứa đựng những rủi ro không loại trừ bất kỳ một loại hình tín dụng
nào đồng thời nó có ý nghĩa quan trọng và sâu sắc đặc biệt trong tín dụng
thương mại. Hoạt động tín dụng cũng là một loại hình kinh doanh, lúc nào
cũng tiềm Èn những rủi ro). Tuy nhiên, rủi ro tín dụng ngân hàng có những
nét riêng biệt với những rủi ro tín dụng thương mại. Rủi ro tín dụng thương
mại được giới hạn trong phạm vi hàng hoá còn tín dụng ngân hàng là tín dụng
bằng tiền.
1.2.2.2 Dấu hiệu nhận biết rủi ro tín dụng.
1.2.2.2.1. Nhóm dấu hiệu phát sinh rủi ro từ phía khách hàng
- Nhúm các dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với ngân hàng.
+ Trì hoãn hoặc gây khó khăn, trở ngại đối với Ngân hàng trong quá
trình kiểm tra theo định kỳ hoặc đột xuất tình hình sử dụng vốn vay, tình hình
tài chính, hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng mà không có sự giải
thích minh bạch, thuyết phục.

14


+ Có dấu hiệu không thực hiện đầy đủ các quy định, vi phạm pháp luật
trong quá trình quan hệ tín dụng.
+ Chậm gửi hoặc trì hoãn gửi các báo cáo tài chính theo yêu cầu mà
không có sự giải thích rõ ràng. Không có các báo cáo hay dự đoán về lưu
chuyển tiền tệ. Đề nghị gia hạn, điều chỉnh kỳ hạn nợ nhiều lần không rõ lý
do hoặc thiếu các căn cứ thuyết phục mang tính khách quan về gia hạn hay
điều chỉnh kỳ hạn.
+ Sự sụt giảm bất thường số dư tài khoản tiền gửi mở tại Ngân hàng,
xuất hiện những thay đổi bất thường ngoài dự kiến và không giải thích được
trong tốc độ và tổng mức lưu chuyển tiền gửi thanh toán của khách hàng.
Chậm thanh toán các khoản lãi đến hạn, thanh toán các khoản nợ gốc không
đầy đủ, đúng hạn.
+ Xuất hiện nợ quá hạn do khách hàng không có khả năng hoàn trả
hoặc khách hàng không muốn trả nợ hoặc do việc tiêu thụ hàng, thu hồi công
nợ chậm hơn dự kiến. Mức độ vay thường xuyên gia tăng, yêu cầu các khoản
vay vượt quá dự kiến. Tài sản đảm bảo không đủ tiêu chuẩn, giá trị tài sản bị
giảm sút so với định giá khi cho vay. Có dấu hiệu tài sản đã cho người khác
thuờ, bỏn hay trao đổi hoặc đã biến mất, không còn tồn tại.
+ Có dấu hiệu cho thấy khách hàng trông chờ các nguồn thu nhập bất
thường khác không phải từ hoạt động sản xuất, kinh doanh chính hoặc từ hoạt
động được đề xuất trong phương án vay vốn để đáp ứng các nghĩa vụ thanh
toán. Có dấu hiệu tìm kiếm sự tài trợ nguồn vốn lưu động từ nhiều nguồn
khác, đặc biệt từ đối thủ cạnh tranh của ngân hàng. Có dấu hiệu sử dụng nhiều
khoản tài trợ ngắn hạn cho các hoạt động đầu tư dài hạn. Chấp nhận sử dụng
các nguồn vốn vay với giá cao, với mọi điều kiện.
- Nhúm các dấu hiệu liên quan đến tình hình hoạt động của khách hàng.
+ Cũng như nhúm cỏc dấu hiệu liên quan đến mối quan hệ với khách
hàng, nhúm cỏc dấu hiệu này có tác động trực tiếp tới chất lượng khoản tín
dụng nhưng với tốc độ chậm hơn. Các dấu hiệu này xuất phát từ chính hoạt
15


động sản xuất kinh doanh của khách hàng và không dễ nhận diện nếu thiếu sự
quản lý chặt chẽ, sâu sắc của cán bộ tín dụng. Nó cũng đòi hỏi các giải pháp
và chiến lược xử lý có tính dài hạn hơn. Biểu hiện cụ thể như sau:
 Có chênh lệch lớn giữa doanh thu hay dòng tiền thực tế so với mức
dự kiến khi khách hàng đề nghị cấp tín dụng.
 Những thay đổi bất lợi trong cơ cấu vốn, tỷ lệ thanh khoản hay mức
độ hoạt động của khách hàng. Xuất hiện ngày càng nhiều các khoản chi phí
bất hợp lý như sự gia tăng đột biến trong chi phí quảng cáo, tiếp khách, tập
trung quá mức chi phí để gây ấn tượng như thiết bị văn phòng rất hiện đại..
Thay đổi thường xuyên tổ chức của Ban điều hành. Xuất hiện bất đồng và
mâu thuẫn trong quản trị, điều hành, tranh chấp trong quá trình quản lý.
 Xuất hiện dấu hiệu hội chứng hợp đồng lớn: sẵn sàng từ bỏ các hợp
đồng có giá trị vừa và nhỏ nhưng có khả năng thu được tỷ suất lợi nhuận cao
dể tìm kiếm các hợp đồng có giá trị lớn với các bạn hàng có tên tuổi dù lợi
nhuận thu về có khả năng thấp hơn, sẵn sàng cắt bỏ lợi nhuận để đạt được các
hợp đồng lớn, theo đuổi chiến lược mượn thương hiệu.
 Xuất hiện dấu hiệu hội chứng sản phẩm đẹp: mải mê theo đuổi một
sản phẩm không thích hợp về mặt thời gian và năng lực hiện tại mà không chú
ý đến các yếu tố khác.
 Có dấu hiệu phát hiện ra quá trình khảo sát, thẩm định dự án sai dẫn
đến việc đầu tư dự án không có hiệu quả. Do áp lực nội bộ dẫn tới tung ra thị
trường các sản phẩm dịch vụ quá sớm khi chưa hội đủ các điều kiện chín
muồi..
 Những thay đổi từ chính sách của Nhà Nước, đặc biệt là tác động
của các chính sách thuế, xuất nhập khẩu, thay đổi các biến số kinh tế vĩ mô
như tỷ giá, lãi suất, thay đổi công nghệ kỹ thuật sản xuất, thị hiếu tiêu dùng.
1.2.2.2.2. Nhóm dấu hiệu xuất phát từ chính sách tín dụng của Ngân hàng

16


- Sự đánh giá và phân loại không chính xác về mức độ rủi ro của khách
hàng, ví dụ : đánh giá quá cao năng lực tài chính của khách hàng so với thực
tế, đánh giá khách hàng chỉ thông qua thông tin tĩnh do khách hàng cung cấp
mà thiếu đi các thông tin động và các thông tin nhạy cảm từ cỏc kờnh thông
tin khác, bỏ qua các nghi ngờ được phản ánh qua cấu trúc và cơ cấu của số
liệu khi phân tích các dữ liệu tài chính, có dấu hiệu che dấu việc đảo nợ của
khách hàng thông qua việc cấp đều đặn, thường xuyên và liên tục các khoản
vay mới hay che dấu nợ quá hạn thông qua việc điều chỉnh kỳ hạn và gia hạn
nợ tràn lan, vô lối, thiếu căn cứ xác thực…
- Cấp tín dụng dựa trên cam kết không chắc chắn và thiếu tính đảm bảo
của khách hàng về việc duy trì một khoản tiền gửi lớn hay các lợi ích do
khách hàng đem lại từ khoản tín dụng được cấp. Tốc độ tăng trưởng tín dụng
quá nhanh vượt quá khả năng và năng lực kiểm soát cũng như nguồn vốn của
ngân hàng. Cho vay dựa trên các sự kiện bất thường có thể xảy ra, chẳng hạn
như sát nhập, thay đổi địa vị pháp lý từ Chi nhánh lên công ty con hạch toán
độc lập. Soạn thảo các điều kiện ràng buộc trong hợp đồng tín dụng mập mờ,
không rõ ràng, không xác định rõ lịch trả đối với từng khoản vay, cố ý thoả
hiệp các nguyên tắc tín dụng với khách hàng mặc dù biết có tiềm ẩn rủi
ro.Chớnh sỏch tín dụng quá cứng nhắc hoặc lỏng lẻo để kẽ hở cho khách hàng
lợi dụng. Cung cấp tín dụng với khối lượng lớn cho các khách hàng không
thuộc phân đoạn thị trường tối ưu của Ngân hàng. Có khuynh
hướng cạnh tranh thái quá: giảm lãi suất cho vay, phí dịch vụ hay thực hiện
chiến lược giữ chân khách hàng bằng các khoản tín dụng mới để họ không
quan hệ với các TCTD khác mặc dù biết rõ các khoản tín dụng sẽ cấp tiềm ẩn
nguy cơ rủi ro cao.
1.2.2.3 NGUYÊN NHÂN GÂY RA RỦI RO TÍN DỤNG.
1.2.2.3.1. Nguyên nhân khách quan
a, Môi trường pháp lí
17


- Sự kém hiệu quả trong quản lý của cơ quan pháp luật các cấp: Trong
những năm gần đây, các cơ quan chức năng đã ban hành nhiều luật, văn bản
dưới luật hướng dẫn thi hành các quy định liên quan đến hoạt động tín dụng
ngân hàng. Tuy nhiên, luật và các văn bản đã có song việc triển khai vào hoạt
động ngân hàng thì lại hết sức chậm trễ và còn gặp phải nhiều vướng mắc bất
cập như thiếu đồng bộ, còn nhiều sơ hở dẫn tới không kiểm soát được các
hiện tượng lừa đảo trong việc sử dụng vốn của khách hàng.
- Sự thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa hiệu quả của NHNN: Bên cạnh
những cố gắng và kết quả đạt được, hoạt động thanh tra ngân hàng và đảm
bảo an toàn hệ thống chưa có sự cải thiện về chất lượng. Năng lực cán bộ
thanh tra, giám sát chưa đáp ứng được yêu cầu, thậm chí một số nghiệp vụ
kinh doanh và công nghệ mới thanh tra ngân hàng còn chưa theo kịp với đà
phát triển của xã hội. Nội dung và phương pháp thanh tra, giám sát lạc hậu,
chậm được đổi mới. Vai trò kiểm toán chưa được phát huy và hệ thống thông
tin chưa được tổ chức một cách hữu hiệu. Thanh tra tại chỗ vẫn là phương
pháp chủ yếu, khả năng kiểm soát toàn bộ thị trường tiền tệ và giám sát rủi ro
còn yếu. Thanh tra ngân hàng còn hoạt động một cách thụ động theo kiểu xử
lý vụ việc đã phát sinh, ít có khả năng ngăn trặn và phòng ngừa rủi ro vi
phạm. Mô hình tổ chức của thanh tra ngân hàng còn nhiều bất cập. Do vậy mà
có những sai phạm của các NHTM không được thanh tra NHNN cảnh cáo, có
biện pháp ngăn trặn từ đầu, để đến khi hậu quả nặng nề sảy ra rồi mới can
thiệp.
Hiện nay ở VN chưa có một cơ chế công bố thông tin đầy đủ về doanh
nghiệp và ngân hàng. Trung tâm thông tin tín dụng ngân hàng (CIC) của
NHNN đã hoạt động đó quỏ một thập niên và đã đạt được những kết quả
bước đầu rất đáng khích lệ trong việc cung cấp thông tin kịp thời về tình hình
hoạt động tín dụng nhưng chưa phải là cơ quan định mức tín nhiệm doanh
nghiệp một cách độc lập và hiệu quả, thông tin cung cấp còn đơn điệu, thiếu
cập nhật và ngoài ra việc kết nối thông tin với trang Web – CIC qua đường
18


X25 của Chi cục tin học ngân hàng còn nhiều trục trặc, chưa đáp ứng được
đầy đủ yêu cầu tra cứu thông tin tại TP.HCM. Đó cũng là thách thức cho hệ
thống ngân hàng trong việc mở rộng và kiểm soát tín dụng cho nền kinh tế
trong điều kiện thiếu một hệ thống thông tin tương xứng. Nếu các ngân hàng
cố gắng chạy theo thành tích, mở rộng tín dụng trong điều kiện môi trường
thông tin không cân xứng thì sẽ gia tăng nguy cơ nợ xấu cho hệ thống ngân
hàng.
b. Các yếu tố thị trường
- Là do sự biến động quá nhanh và không dự đoán được của thị trường thế
giới (tỷ giá, giá cả, lãi suất..). Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn lệ thuộc quá
nhiều vào sản xuất nông nghiệp và công nghiệp phục vụ nông nghiệp ( nuôi
trồng, chế biến thực phẩm và nguyên liệu), dầu thô, may gia cụng,...vốn nhất
nhậy cảm với rủi ro thời tiết và giá cả thế giới, nên dễ bị tổn thương khi thị
trường thế giới biến động xấu. Ngoài ra, các nghành xuất khẩu cũng gặp
không ít khó khăn bởi bị khống chế về hạn nghạch và các doanh nghiệp trong
nước còn gặp phải nhiều khó khăn bởi bị khốn chế hạn ngạch và các doanh
nghiệp trong nước còn bị kiện bán phá giá (nghành thủy sản). không chr xuất
khẩu, các doanh nghiệp trong nước cũng gặp không ít khó khăn khi mà chúng
ta gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO bởi sự cạnh tranh găy gắt và
quy luật đào thải của thị trường.
- Rủi ro tất yếu của quá trình tự do hóa tài chính, hội nhập quốc tế. Qỳa
trình tự do hóa tài chính và hội nhập quốc tế có thể làm cho nợ xấu gia tăng
khi tạo ra một môi trường cạnh tranh gay gắt, khiến hầu hết các doanh nghiệp
những khách hàng thường xuyên của ngân hàng phải đối mặt với nguy cơ
thua lỗ và quy luật chọn lọc khắc nhiệt của thị trường. Bên cạch đó, bản thân
sự cạnh tranh của các ngân hàng thương mại trong nước và quốc tế trong môi
trường hội nhập kinh tế cũng khiến cho các ngân hàng trong nước với hệ

19


thống quản lý yếu kém gặp phải nguy cơ rủi ro nợ xấu tăng lên bởi hầu hết
các khách hàng có tiềm lực tài chính lớn sẽ bị các ngân hàng nước ngoài thu
hút.
- Thiếu sự quy hoạch, phân bổ đầu tư một cách hợp lý đã dẫn đến
khủng hoảng thừa về đầu tư trong một số ngành. Nền kinh tế thị trường tất
yếu sẽ dẫn đến cạnh tranh, các nhà kinh doanh sẽ tìm kiếm cơ hội đầu tư vào
các ngành có khả năng thu được lợi nhuận cao với mức độ rủi ro có thể chấp
nhận được và sẽ rời bỏ những ngành không đem lại lợi nhuận cho họ và do đó
dẫn tới sự chuyển dịch vốn từ ngành này qua ngành khác và đây cũng là một
hiện tượng khách quan. Tuy nhiên ở nước ta thời gian qua, sự cạnh tranh đã
phát triển một cách tự phát, hoàn toàn không đi kèm với sự quy hoạch hợp lý,
hợp tác, phân công lao động, chuyên môn hóa lao động, sự bất lực trong vai
trò của các hiệp hội nghề nghiệp và sự điều tiết vĩ mô nhà nước. Điều này dẫn
đến sự gia tăng quá đáng vốn đầu tư vào một số ngành, dẫn đến khủng hoảng
thừa, lãng phí tài nguyên quốc gia trong khi một số ngành khác lại có điều
kiện để phát triển.
1.2.2.3.2. Nguyên nhân chủ quan
a. Từ phía khách hàng
Rủi ro tín dụng thường xuyên và chủ yếu nhất là do từ phia khách hàng. Việc
khách hàng không trả được nợ vay có thể là do nhiều nguyên nhân như cố
tình không trả, hoặc bất lực không trả được, gặp khó khăn trong kinh doanh…
- Đối với khách hàng là những cá nhân thường không trả được nợ vay do có
thu nhập không ổn định, không có việc làm thường xuyên, hoả hoạn, cố tình
sử dụng vốn sai mục đích…khi gặp phải những trường hợp này ngân hàng rất
khó đòi nợ và phức tạp.
- Đối với khách hàng là doanh nghiệp, các tr choc kinh tế thì nguyên nhân
chủ yếu dẫn tới rủi ro tín dụng thường là do lãnh đạo doanh nghiệp, rủi ro đạo
đức, sử dụng vốn sai mục đích, quản lí vốn không hợp lí…
20


+ Trình độ của người lãnh đạo, điều hành kém hiệu quả, không uy tín trong
giới kinh doanh, thiếu sáng suốt và chủ động trong qua trình ra quyết định
trong sản xuất kinh doanh, khi gặp tình huống khó khăn không xoay sở được
dẫn đến doanh nghiệp bị thua lỗ phá sản.
+ Quản lí vốn không hợp lí dẫn đến khả năng thanh toán của những thời kì
thấp gây nên không trả được do vốn của doanh nghiệp bị chiếm dụng lớn do
đó đến hạn không trả nợ đúng hạn cho ngân hàng.
+ Gặp khó khăn trên thị trường cung cấp nguyên vật liệu hoặc thị trường
tiêu thụ sản phẩm sẽ làm giá thành tăng cao không thu được lợi nhuận dự kiến
hay bị kéo dài thời gian do đó khách hàng không trả được nợ cho ngân hàng
đủ và đúng hạn.
+ Do tình trạng tham nhòng, gian lận diễn ra trong nội bộ doanh nghiệp chủ
yếu là doanh nghiệp quốc doanh làm thiệt hại lớn đến chất lượng hoạt động
doanh nghiệp.
+ Rủi ro đạo đức, khách hàng cố tình lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân
hàng qua nhiều hình thức, thực hiện công ty ma, hoá đơn khống …
Tóm lại nguyên nhân rủi ro tín dụng chính từ phía khách hàng là việc làm ăn,
kinh danh kém hiệu quả, muốn duy trì hoạt lại tiếp tục vay vốn của ngân
hàng, chủ yếu trông chờ vào nguồn vốn của ngân hàng do vốn tự có của
doanh nghiệp là rất nhỏ.
b. Từ phía ngân hàng.
Nguyên nhân rủi ro tín dụng từ phía ngân hàng là rất đáng kể và quan trọng.
Chất lượng cán bộ kém, không đủ trình độ đánh giá khách hàng hoặc đánh giá
không tốt,cố tình làm sai…mặt khác nhân viên ngân hàng phải tiếp cận với
nhiều nghành nghề, nhiều vùng thậm chí với nhiều quốc gia do đó để cho vay
tốt họ phải am hiểu khách hàng, lĩnh vực mà khách hàng kinh doanh, môi
trường mà khách sống, phải có khả năng dự báo các vấn đề liên quan đến
người vay… hơn nữa họ tiếp xúc với tiền bạc thương xuyên và khối lượng lớn
dễ bị đồng tiền cám dỗ. Như vậy để hạn chế được rủi ro tín dụng ở mức tối đa
21


cầm phải đào tạo và tự đào tạo cán bộ nhân viên tín dụng một cách liên tục và
toàn diện cả về học vấn và đạo đức.
Ngoài ra chính sách cho vay của ngân hàng thiếu rõ dàng và không phù hợp
của bộ máy quản lí như chế độ tín dụng, các quy định về thế chÊp…Trong
qua trình cho vay thiếu sự giám sát hoạt động kinh doanh, quá tin tưởng vào
những khách hàng quen..rất dễ tạo nên rủi ro tín dụng.
Có thể thấy nguyên nhân rủi ro tín dụng xuất phát từ ngân hàng là nguyên
nhân xuất phát đầu tiên dẫn đến một số nguyên nhân khác của rủi ro tín dụng,
do đó cần phải chú trọng ngay từ khâu xét duyệt cho vay.
1.2.2.4 Hậu quả của rủi ro tín dụng.
Cũng như mọi doanh nghiệp khác, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro và có thể
bị mất vốn. Nhưng do kinh doanh trong lĩnh vực đặc biệt, nên rủi ro trong
kinh doanh ngân hàng không chỉ ảnh hưởng đến bản thân NHTM mà cũn gõy
tác động xấu đến nền kinh tế - xã hội. Cụ thể:
- Rủi ro xảy ra tạo cho ngân hàng những tổn thất về mặt tài chính.
Bất kỳ một rủi ro nào xảy ra cũng gây ra những tổn thất về tài chính
cho ngân hàng, hoặc làm giảm thu nhập của ngân hàng. Nếu thu không đủ chi
ngân hàng sẽ bị thua lỗ, nghiêm trọng hơn ngân hàng có thể bị phá sản.
Rủi ro và tổn thất tài chính là điều khó tránh khỏi trong việc tìm kiếm
lợi nhuận, hoạt động nào có khả năng mang lại lợi nhuận cao thì có thể xảy ra
rủi ro lớn. Điều đó đặt ra cho các ngân hàng là phải cân nhắc lựa chọn phương
án kinh doanh nhằm đạt được cân bằng hợp lý giữa lợi nhuận với rủi ro và tổn
thất.
- Rủi ro xảy ra làm giảm uy tín của ngân hàng.
Những thiệt hại về uy tín của ngân hàng, làm mất lòng tin của công
chúng là những tổn thất còn lớn hơn rất nhiều so với những tổn thất về mặt tài
chính. Các thua lỗ trong hoạt động của ngân hàng luôn có ảnh hưởng bất lợi
đến niềm tin của công chúng. Khi dân chúng thiếu tin tưởng vào khả năng
kinh doanh của ngân hàng, hoặc nghi ngờ ngân hàng mất khả năng thanh
22


toán, họ sẽ đồng loại rút tiền gửi ra khỏi ngân hàng, dẫn đến việc đổ bể tài
chính hoặc phá sản của ngân hàng.
- Rủi ro trong kinh doanh ngân hàng cũn gõy tác động xấu đến nền kinh
tế - xã hội.
Các thua lỗ của ngân hàng nếu nghiêm trọng có thể làm cổ đông mất
vốn đầu tư, những người gửi tiền mất đi nhữn khoản tiết kiệm mà suất đời
mới có được. Tình trạng tài chính xấu của một ngõ hàng còn tạo ra sự nghi
ngờ của những người gửi tiền về sự ổn định và khả năng thanh toán của toàn
hệ thống ngân hàng, gây tác động xấu đến tình hình tài chính của các ngân
hàng khác, kéo theo phản ứng dây truyền và phá vỡ tính ổn định của thị
trường tài chính.
1.2.2.5. CÁC CHỈ TIÊU ĐO LƯỜNG RỦI RO TÍN DỤNG.
- Chỉ tiêu: Tỷ lệ nợ quá hạn trên tổng dư nợ
Nợ quá hạn
Tổng dư nợ
Đây là chỉ tiêu cơ bản để đánh giá chất lượng tín dụng. Chỉ tiêu này
càng thấp càng tốt, nhưng ngược lại không thể đánh giá rằng khi chỉ số này
vượt quá tiêu chuẩn chung của ngành thì là xấu. Để có thể đánh giá được một
cách chính xác hơn về tình hình nợ quá hạn của ngân hàng ta cần phải đánh
giá kèm theo chỉ tiêu vòng quay của các khoản nợ quá hạn này, khả năng giải
quyết các khoản nợ quá hạn. Bởi vì, tỷ lệ nợ quá hạn cao mà khả năng giải
quyết nợ quá hạn hay vòng quay của các khoản nợ quá hạn cao thì khả năng
ngân hàng gặp rủi ro tín dụng sẽ sất thấp. Và ngược lại, ngân hàng sẽ gặp rủi
ro tín dụng.
- Chỉ tiêu: Nợ khó đòi trên tổng nợ quá hạn
Nợ quá hạn khó đòi
Tổng nợ qua hạn

23


Tỷ lệ này đánh giá các khoản nợ quá hạn trên 360 ngày, được xác định
là không có khả năng thu hồi. Tỷ lệ này cao chứng tỏ khả năng thu hồi vốn
thấp, nguy cơ mất vồn cao, chất lượng tín dụng của ngân hàng thấp.
- Tỷ lệ nợ quá hạn ròng.
Nợ quá hạn –
Tỷ lệ nợ quá hạn ròng (%) =

x

DPRRTD
Tổng dư nợ - DPRRTD

100

Tỷ lệ nợ này đánh giá chất lượng tín dụng sau khi đã sử dụng quỹ dự
phòng rủi ro tín dụng để bù đắp cho nợ quá hạn của ngân hàng. Tỷ lệ này
càng thấp thì khả năng tổn thất càng cao, do đó tỷ lệ này ở mức nhỏ càng tốt.
- Tỷ lệ nợ xấu ròng.
Tỷ lệ nợ xấu ròng (%)

=

Nợ xấu - DPRRTD
Tổng dư nợ - DPRRTD

X

100

Tỷ lệ này đánh giá chất lượng tín dụng sau khi đã sử dụng quỹ dự
phòng rủi ro tín dụng để bù đắp cho các khoản nợ xấu của ngân hàng.
- Khả năng bui đắp rủi ro.
Khả năng bù đắp rủi ro (%)

=

Dự phòng rủi ro
Nợ xấu

x

100

Dự phòng rủi ro là số tiền ngân hàng đó trớch lập dựa trên kết quả phân
loại nợ. Mục đích là để hạn chế tổn thất cho ngân hàng khi có rủi ro xảy ra.
Chỉ tiêu này cho thấy khả năng bù đắp tổn thất của ngân hàng nếu khách hàng
không trả được nợ, tỷ lệ này càng cao thì khả năng bù đắp rủi ro của ngân
hàng càng tốt. Tỷ lệ này tốt nhất với ngân hàng là lớn hơn hoặc bằng 1.
1.2.3 CÁC BIỆN PHÁP QUẢN TRỊ RỦI RO TÍN DỤNG
1.2.3.1. Xây dựng chiến lược quản trị rủi ro
Đây là điều kiện tiên quyết trong hoạt động quản trị rủi ro tín dụng.
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường bién động phức tạp, đòi hỏi mỗi ngân
24


hàng cần phải có chiến lược rõ ràng trong việc quản trị rủi ro tín dụng, bời vì
đó là “kim chỉ nang” cho hoạt động tín dụng. Một chiến lược rõ ràng, chính
xác trong dự báo đảm bảo cho bản thân các ngân hàng có thể linh hoạt trong
phòng ngừa và xử lý những rủi ro tín dụng có thể xảy ra. Nó góp phần định
hướng cho các hoạt động tín dụng trong tương lai nhằm đảm bảo mục tiêu an
toàn và lợi nhuận cao. Nhất là trong điệu kiện hội nhập của nền kinh tế với
khu vực và thế giới. Chiến lược này có thời hạn trong thời gian dài, nó quyết
định đến sự tồn tại của cả ngân hàng, bởi vì hoạt động tín dụng chiếm tỷ lệ
lớn trong hoạt động ngân hàng.
1.2.3.2. Xây dựng chính sách tín dụng
Chính sách tín dụng của ngân hàng phải thực hiện ba mục tiêu cơ bản:
Lợi nhuận, an toàn và lành mạnh. Một chính sách tín dụng hợp lý phải được
xây dựng dưa trên những căn cứ sau:
- Nguồn vón của ngân hàng, bao gồm cả vốn huy động, và vốn chủ sở
hữu. Dựa vào quy mô nguồn vốn, ngân hàng có thể lựa chọn kỳ hạn đầu tư ,
loại hình cho vay phù hợp
- Các chính sách kinh tế vĩ mô của Nhà nước, điều này ảnh hưởng đến
nhu cầu tín dụng của thị trường. Do đó ngân hàng cần phải có sự phù hợp
thống nhẩt đối với các điểu chỉnh vĩ mô của Chính phủ.
- Thị trường mục tiêu của ngân hàng, nguồn lực vật chất và trình độ của
đội ngũ cán bộ công nhân viên là nhân tố tác động đến khả năng hoạt động
của ngân hàng trên những khu vực thị trường nhất định. Chính những nhân tố
này sẽ phát huy lợi thế cạnh tranh của ngân hàng trên thị trường
- Căn cứ vào những phân tích, dự báo rủi ro trong hoạt động kinh
doanh nói chung và hoạt động tín dụng nói riêng. Đây là những phân tích
mang tính chất kỹ thuật, kinh tế, chính trị, xã hội trong nước và ngoài nước,
điển hình lã những phân tích dự báo về tình hình tài chính tiền tề như lãi suất,
lạm phát, ngoại tệ…

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×