Tải bản đầy đủ

Phân tích hoạt động cho vay các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại ngân hàng thương mại cổ phần VPBank chi nhánh đà nẵng qua hai năm 2006 2007

Khóa luận tốt nghiệp
Chương 1:

LÝ LUẬN CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG
VÀ HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA NGÂN HÀNG
ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA
1.1. Tín dụng ngân hàng
1.1.1. Khái niệm về tín dụng ngân hàng
- Tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời quyền sử dụng một lượng giá trị có
thể biểu hiện dưới hình thức tiền tệ hoặc hiện vật từ người sở hữu sang người sử
dụng với điều kiện phải hoàn trả theo sự thoả thuận giữa hai bên về thời hạn phải
trả, số tiền lãi cũng như cách thức trả.
- Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng dưới hình thức giá trị giữa một bên
là ngân hàng và bên kia là các tác nhân (doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội...)
trong nền kinh tế quốc dân. Trong hình thức này, ngân hàng xuất hiện với vai trò
vừa là người đi vay, vừa là người cho vay.
+ Đối tượng của tín dụng ngân hàng là vốn tiền tệ, nghĩa là ngân hàng
huy động vốn và cho vay dưới hình thức tiền tệ. Tất cả những nguồn vốn tiền tệ
nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội được ngân hàng huy động để hình thành nguồn
vốn cho vay. Trên cơ sở nguồn vốn đã có, ngân hàng cho vay đối với các tác nhân
cần vốn cho sản xuất kinh doanh hay tiêu dùng.

+ Trong tín dụng ngân hàng, các ngân hàng đóng vai trò là tổ chức trung
gian tín dụng. Khi huy động vốn trong nền kinh tế, ngân hàng sử dụng nhiều hình
thức thu hút tiền gửi khác nhau từ các tổ chức kinh tế và cá nhân. Khi cho vay, ngân
hàng chủ yếu sử dụng hình thức cấp tín dụng cho tài khoản, gửi vốn, đầu tư,.. để
đáp ứng nhu cầu vay vốn của khách hàng.
1.1.2. Các nguyên tắc tín dụng ngân hàng
a.Vay vốn vay phải có mục đích và sử dụng đúng mục đích đã thỏa thuận
Theo nguyên tắc này, tiền vay phát ra phải được sử dụng đúng cho các yêu
cầu đã được bên vay thuyết trình với ngân hàng và được ngân hàng cho vay chấp
nhận. Ngân hàng có quyền từ chối và huỷ bỏ mọi yêu cầu vay vốn không sử dụng
đúng mục đích đã định. Quán triệt nguyên tắc này, khi cho vay ngân hàng có quyền
4


Khóa luận tốt nghiệp
yêu cầu buộc bên vay phải sử dụng tiền vay đúng mục đích đã cam kết và thường
xuyên giám sát hành động của bên vay về phương diện này.
Tính mục đích của tiền vay gắn liền với hiệu quả kinh tế của khoản vay. Hiệu
quả hoạt động sản xuất kinh doanh của bên vay gắn liền với hiệu quả cho vay của
ngân hàng. Thiếu yêu cầu này không thể nói đến sự tồn tại và phát triển của các
quan hệ vay vốn.
b.Vốn vay phải được hoàn trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn
Nguyên tắc này bắt nguồn từ bản chất của tín dụng là giao dịch cung cầu về
vốn, tín dụng chỉ là giao dịch quyền sử dụng vốn trong thời gian nhất định. Trong
khoản thời gian cam kết giao dịch, ngân hàng và bên vay thoả thuận (trong hợp
đồng tín dụng) rằng ngân hàng sẽ cam kết giao quyền sử dụng một lượng giá trị
nhất định cho bên vay. Khi kết thúc kỳ hạn vay, bên vay phải hoàn trả quyền này
cho ngân hàng (trả nợ gốc) với một khoản chi phí (lợi tức và phí) nhất định cho việc
sử dụng vốn vay.
Những sai lệch so với dự kiến của việc hoàn trả nợ vay về mức độ trả nợ, thời
hạn trả nợ đều phản ánh sự không bình thường trong hoạt động của bên vay ở các
mức độ khác nhau. Điều này có liên quan đến uy tín và sự tồn tại của ngân hàng.
c.Vốn vay phải có đảm bảo
Nền kinh tế thị trường như hiện nay là một nền kinh tế năng động khó có thể
xác định cũng như dự báo các sự kiện xảy ra trong tương lai, nên việc xác định một
cách tương đối chính xác khách hàng sử dụng vốn vay có khả năng trả nợ hay
không là điều rất khó, tức là mức độ rủi ro rất lớn. Chính vì vậy, để đảm bảo nguyên
tắc hoàn trả thì khoản tín dụng đó phải được đảm bảo. Nhờ đó, Ngân hàng có thể
yên tâm về khoản tín dụng của mình, đảm bảo được vòng quay vốn tín dụng. Có các
hình thức đảm bảo như sau:


- Đảm bảo bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của bên thứ
ba, tài sản hình thành từ vốn vay.
- Đảm bảo không bằng tài sản dưới hình thức tín chấp hoặc theo chỉ thị, nghị
định của Chính phủ...

5


Khóa luận tốt nghiệp
Tùy thuộc vào đối tượng vay vốn có quan hệ như thế nào với ngân hàng mà
ngân hàng cho vay có bảo đảm bằng tài sản hoặc không có bảo đảm bằng tài sản.
1.1.3. Đặc điểm và vai trò của tín dụng ngân hàng
Được xem là hình thức tín dụng cơ bản và quan trọng nhất, tín dụng ngân
hàng có những đặc điểm nổi bật như sau:
 Khối lượng tín dụng lớn: Cả hai mặt huy động vốn và cho vay đều có thể
đạt được với một khối lượng vốn lớn. Do đó tín dụng ngân hàng có thể thỏa mãn
một cách tối đa nhu cầu vốn của các tác nhân trong nền kinh tế.
 Thời hạn của tín dụng ngân hàng là đa dạng: tín dụng ngân hàng huy
động các nguồn vốn và thực hiện các khoản cho vay có thời hạn phong phú, đa
dạng. Có thể là huy động các nguồn vốn và cho vay ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
tùy thuộc vào thời hạn nhàn rỗi của các nguồn vốn và nhu cầu xin vay của khách
hàng.
 Phạm vi hoạt động rộng: Tín dụng ngân hàng có thể huy động vốn và
cho vay đối với mọi tác nhân và cá thể, không chỉ là các doanh nghiệp mà còn là
các tác nhân khác thuộc mọi thành phần kinh tế, mọi lĩnh vực trong nên kinh tế
quốc dân.
Như vậy, nhờ đặc tính huy động vốn và cho vay dưới nhiều hình thức khác
nhau và đối với các đối tượng khác nhau, tín dụng ngân hàng đảm bảo được tính
linh hoạt trong nền kinh tế thị trường.
Với những ưu điểm như trên, tín dụng ngân hàng đóng một vai trò khá quan
trọng trong nền kinh tế thị trường:
 Góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển: Nhờ
nguồn vốn tín dụng ngân hàng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh
không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh được bình thường mà còn mở
rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ,... thúc đẩy phát triển sản xuất và
lưu thông hàng hóa.
Tín dụng ngân hàng còn góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn
trong từng chủ thể sản xuất kinh doanh, trong từng ngành, từ đó tạo ra những doanh
nghiệp, tập đoàn lớn làm nòng cốt cho sự phát triển kinh tế của đất nước.
6


Khóa luận tốt nghiệp
 Là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô, chính sách kinh tế xã hội
của Nhà nước
1.1.4. Phân loại tín dụng ngân hàng
a. Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn
- Tín dụng sản xuất và lưu thông hàng hóa: là hình thức cấp tín dụng cho các
doanh nghiệp tiến hành các dự án hay quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh hàng
hoá, dịch vụ.
- Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cấp cho cá nhân để trang trải cho các chi
phí thông thường, đáp ứng nhu cầu về đời sống sinh hoạt, tiêu dùng như mua sắm
xe máy, các đồ dùng trong gia đình, xây dựng nhà cửa.
b. Căn cứ theo thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn dưới 12 tháng, mục
đích là để bổ sung nhu cầu vốn lưu động phát sinh trong quá trình sản xuất kinh
doanh của các tổ chức kinh tế và nhu cầu tiêu dùng của cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là loại tín dụng có thời hạn từ 12 tháng đến dưới 60
tháng. Loại hình tín dụng này chủ yếu để đáp ứng nhu cầu mua sắm tài sản cố định,
cải tiến hoặc đổi mới thiết bị công nghệ, mở rộng sản xuất kinh doanh, xây dựng
các dự án mới có quy mô nhỏ và thu hồi vốn nhanh.
- Tín dụng dài hạn: là loại hình tín dụng có thời hạn trên 60 tháng và được sử
dụng để đáp ứng các nhu cầu dài hạn như nhà ở, mua sắm các thiết bị, phương tiện
vận tải có quy mô lớn, xây dựng các xí nghiệp mới.
c. Căn cứ xuất xứ tín dụng
- Cho vay trực tiếp là loại tín dụng mà ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người
vay, đồng thời người vay cũng là người trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng.
Cấp vốn
Ngân hàng

Khách hàng
Thanh toán
nợ

7


Khóa luận tốt nghiệp
- Cho vay gián tiếp: là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại
các loại giấy tờ có giá như khế ước hoặc chứng từ nợ, ngân hàng tái cấp tín dụng
cho người phát hành bằng cách mua lại các giấy tờ này từ người sở hữu chúng.

Cấp
tín dụng

Khách hàng
nhận vốn
vay

Ngân hàng

Thanh toán
nợ

Khách hàng
hoàn trả vốn
vay

d. Căn cứ theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Cho vay đảm bảo không bằng tài sản là loại cho vay không có tài sản thế
chấp, cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba, mà việc cho vay chỉ dựa vào uy tín
của bản thân khách hàng. Đối với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh
doanh, có khả năng tài chính mạnh, kinh doanh có hiệu quả thì ngân hàng có thể
cấp tín dụng dựa vào uy tín của bản thân khách hàng mà không cần một nguồn thu
nợ thứ hai bổ sung.
- Cho vay có bảo đảm là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế
chấp hoặc cầm cố, hoặc phải có sự bảo lãnh của bên thứ ba. Đối với các khách hàng
không có uy tín cao đối với ngân hàng, khi vay vốn đòi hỏi phải có đảm bảo. Sự
đảm bảo này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm nguồn thu nợ thứ hai, bổ sung
cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn
e. Căn cứ vào hình thái giá trị của cho vay
- Cho vay bằng tiền là hình thức cho vay phổ biến, vốn tín dụng được cấp
dưới hình thái giá trị tiền tệ.
- Cho vay bằng tài sản: Vốn cho vay được cấp bằng tài sản dưới hình thái tài
trợ thuê mua của ngân hàng hoặc các công ty thuê mua.
f. Căn cứ theo phạm vi
- Cho vay trong nước là quan hệ cho vay diễn ra trong phạm vi một quốc gia.

8


Khóa luận tốt nghiệp
- Cho vay quốc tế là quan hệ vay diễn ra trên phạm vi quốc tế như nước này
cho nước kia vay, hay một nước vay nợ từ các tổ chức kinh tế, tài chính phi chính
phủ hay tổ chức, cá nhân của một nước đi vay vốn trên thị trường quốc tế.
1.2. Hoạt động cho vay của ngân hàng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa
1.2.1. Khái niệm về doanh nghiệp, doanh nghiệp nhỏ và vừa
Theo Luật doanh nghiệp năm 2006 thì “Doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có
tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy
định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”.
Kinh doanh là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Doanh nghiệp nhỏ và vừa là những doanh nghiệp có quy mô nhỏ bé về mặt
vốn, lao động hay doanh thu. Doanh nghiệp nhỏ và vừa có thể chia thành ba loại
cũng căn cứ vào quy mô đó là doanh nghiệp siêu nhỏ (micro), doanh nghiệp nhỏ và
doanh nghiệp vừa.
Theo tiêu chí của Nhóm Ngân hàng Thế giới, doanh nghiệp siêu nhỏ là
doanh nghiệp có số lượng lao động dưới 10 người, doanh nghiệp nhỏ có số lượng
lao động từ 10 đến dưới 50 người, còn doanh nghiệp vừa có từ 50 đến 300 lao động.
Ở mỗi nước, người ta có tiêu chí riêng để xác định doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước
mình.
Ở nước ta, không phân biệt lĩnh vực kinh doanh, các doanh nghiệp có số vốn
đăng ký dưới 10 tỷ đồng hoặc số lượng lao động trung bình hàng năm dưới 300
người được coi là doanh nghiệp nhỏ và vừa (không có tiêu chí xác định cụ thể đâu
là doanh nghiệp siêu nhỏ, đâu là nhỏ, và đâu là vừa). Doanh nghiệp nhỏ và vừa ở
Việt Nam bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, các công ty cổ phần, các công ty
TNHH, các doanh nghiệp tư nhân và các công ty liên doanh với nước ngoài.
1.2.2. Đặc điểm của doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) tại Việt Nam
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta có chung một số đặc điểm
như sau:

9


Khóa luận tốt nghiệp
 Nguồn tài chính hạn hẹp và thiết bị công nghệ còn lạc hậu. Chính vì
nguồn tài chính hạn hẹp mà các DNNVV ít có khả năng đầu tư đổi mới thiết bị,
thay thế công nghệ phù hợp để nâng cao hiệu quả thực tế. Thiết bị công nghệ lạc
hậu làm tăng chi phí tiêu hao, tăng chi phí đầu vào, đồng thời dẫn đến chất lượng
sản phẩm giảm, năng suất giảm, giá thành cao. Do vậy, các DNNVV muốn phát
triển, điều đầu tiên cần làm là phải cải thiện tình hình tài chính, thay đổi trang thiết
bị công nghệ để có đủ khả năng cạnh tranh với các nước khu vực và trên thế giới.
 Trình độ quản lý còn yếu kém, tay nghề của người lao động chưa cao.
Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập theo mô hình nhóm, gia đình,
khả năng điều hành quản lý còn hạn chế về chuyên môn. Người lao động trong
doanh nghiệp thường có tay nghề thấp, ít qua trường lớp đào tạo cơ bản; tỉ lệ lao
động trình độ tay nghề đơn giản, chưa được đào tạo chiếm khoảng 60-70% lực
lượng lao động trong các DNNVV.
Muốn khắc phục được hạn chế này, bản thân doanh nghiệp cần biết tự thân
vận động kết hợp với sự hỗ trợ của Nhà nước trong việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ
công nhân, thợ lành nghề có kỹ thuật cao, đội ngũ cán bộ quản lý giỏi để từng bước
vươn lên, đáp ứng yêu cầu cạnh tranh, hội nhập trong thời kì mới.
 DNNVV có mô hình tổ chức sản xuất kinh doanh gọn nhẹ, quản lý đơn
giản. Mô hình tổ chức trong các DNNVV thường đơn giản, mối quan hệ chủ - thợ
trực tiếp. Một số doanh nghiệp không phân chia phòng ban, bộ phận rõ ràng, cụ thể.
Điều kiện sản xuất kinh doanh của các DNNVV thường chật hẹp, một số doanh
nghiệp còn dùng nhà ở để làm nơi sản xuất kinh doanh, giao dịch, giới thiệu sản
phẩm, bán hàng.
 Dễ khởi nghiệp, phát triển rộng khắp ở cả thành thị và nông thôn, thông
thường để thành lập một doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ cần vốn đầu tư ban đầu
không lớn, mặt bằng sản xuất nhỏ hẹp, quy mô nhà xưởng vừa phải. Đặc điểm này
làm cho doanh nghiệp nhỏ và vừa năng động, phát triển ở khắp mọi nơi, mọi ngành
nghề; nó lấp vào khoảng trống, thiếu vắng của các doanh nghiệp lớn, tạo điều kiện
cho nền kinh tế quốc dân khai thác mọi tiềm năng, tạo ra một thị trường cạnh tranh
lành mạnh hơn.
 Là trụ cột của kinh tế địa phương, nếu như các doanh nghiệp lớn thường
đặt cơ sở ở những trung tâm kinh tế của đất nước, thì doanh nghiệp nhỏ và vừa lại
10


Khóa luận tốt nghiệp
có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng góp quan trọng vào thu ngân sách,
vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương.
Khai thác và huy động các nguồn lực và tiềm năng tại chỗ của các địa
phương và các nguồn tài chính của dân cư trong vùng. Việc thành lập các doanh
nghiệp nhỏ và vừa không đòi hỏi quá nhiều vốn, nhất là với doanh nghiệp quy mô
nhỏ. Điều đó sẽ tạo cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư, việc đẩy
mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp nhỏ và vừa được coi là phương tiện có
hiệu quả trong việc huy động vốn sử dụng các khoản tiền đang phân tán, nằm im
trong dân cư thành các khoản vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh.
 DNNVV có mô hình tổ chức sản xuất, quản lý đơn giản nên thường rất
năng động, linh hoạt, dễ chuyển đổi hướng sản xuất kinh doanh trong nhiều lĩnh
vực khác nhau nhằm tạo hiệu quả kinh doanh cao nhất. Sở dĩ như vậy là nhờ
DNNVV có cơ chế quản lý gọn nhẹ, các quyết định có thể được thông qua nhanh
chóng . Đây chính là điểm mạnh, lợi thế lớn của các DNNVV trong nền kinh tế thị
trường như hiện nay. Trong bối cảnh mới, khi đã là thành viên của WTO, Việt Nam
được hưởng nhiều quy chế ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi cho các DNNVV phát huy
điểm mạnh là linh hoạt, năng động, ngày càng đa dạng hóa sản phẩm, thị trường.
 Khả năng tiếp cận thị trường kém, đặc biệt đối với thị trường nước ngoài.
Nguyên nhân chủ yếu là do các DNNVV thường là những doanh nghiệp mới hình
thành, khả năng tài chính cho các hoạt động marketing không có và họ cũng chưa
có nhiều khách hàng truyền thống. Thêm vào đó, quy mô thị trường của các doanh
nghiệp này thường bó hẹp trong phạm vi địa phương, việc mở rộng ra các thị trường
mới là rất khó khăn.
1.2.3. Vai trò của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nền kinh tế
Cũng như bất cứ một thành phần kinh tế nào, loại hình doanh nghiệp nào
cũng có một vai trò nhất định trong nền kinh tế. Ở nước ta, doanh nghiệp nhỏ và
vừa đóng góp vai trò rất lớn trong sự phát triển kinh tế của đất nước.
 Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế, đóng góp quan trọng vào tăng
traỏang kinh tế: Hiện nay, theo thống kê của Phòng Công nghiệp và thương mại
Việt Nam, nước ta có khoảng 300.000 doanh nghiệp, trong đó khoảng 95% là doanh
nghiệp nhỏ và vừa, phần lớn là các doanh nghiệp dân doanh. Đóng góp của các
11


Khóa luận tốt nghiệp
doanh nghiệp này vào tổng sản lượng là rất đáng kể, cụ thể: doanh nghiệp nhỏ và
vừa đóng góp khoảng gần 30% GDP mỗi năm, trên 30% tổng sản lượng công
nghiệp, khoảng 64% tổng lượng vận chuyển hàng hóa…
 Góp phần làm chuyển dịch cơ cấu kinh tế: Việc nhiều doanh nghiệp, chủ
yếu là các doanh nghiệp nhỏ và vừa được thành lập tại các vùng nông thôn, vùng
miền núi, vùng sâu, vùng xa sẽ làm giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp và tăng tỷ
trọng ngành công nghiệp và dịch vụ. Điều này sẽ giúp cho việc chuyển dịch cơ cấu
của toàn bộ nền kinh tế theo hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp và dịch vụ.
 Các doanh nghiệp nhỏ và vừa tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần xoá
đói giảm nghèo: Vai trò của các DNNVV không chỉ thể hiện ở giá trị kinh tế mà nó
tạo ra, quan trọng hơn và có ý nghĩa then chốt là việc tạo công ăn việc làm. Theo
thống kê, có tới trên 60% việc làm mới được tạo ra từ khu vực này, góp phần xóa
đói giảm nghèo, phát triển đồng đều giữa các vùng, khu vực trong cả nước.
 Làm tăng hiệu quả và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế: Sự ra đời của
các DNNVV đã làm tăng tính cạnh tranh của nền kinh tế. Với sự tồn tại của nhiều
doanh nghiệp hoạt động trong cùng một ngành, lĩnh vực sẽ làm giảm tính độc quyền
và buộc các doanh nghiệp phải chấp nhận cạnh tranh, phải liên tục đổi mới để có
thể tồn tại và phát triển. Với tính linh hoạt của mình, các doanh nghiệp nhỏ và vừa
cũng sẽ tạo sức ép cạnh tranh thậm chí với các công ty lớn, các tập đoàn xuyên
quốc gia. Đồng thời nhiều DNNVV còn đóng vai trò là vệ tinh cho các doanh
nghiệp lớn, thúc đẩy quá trình chuyên môn hoá và phân công lao động trong sản
xuất, làm tăng hiệu quả của chính các DNNVV cũng như của doanh nghiệp hợp tác.
 Đóng góp vào quá trình tăng tốc độ áp dụng công nghệ mới: Với sự linh
hoạt của mình, các DNNVV là người đi tiên phong trong việc áp dụng các phát
minh mới về công nghệ mới cũng như sáng kiến về kỹ thuật. Do áp lực cạnh tranh
nên các doanh nghiệp nhỏ và vừa thường xuyên phải cải tiến công nghệ, tạo sự khác
biệt để có thể cạnh tranh thành công.
 Ngoài ra DNNVV còn là tiền đề để tạo ra một môi trường văn hoá kinh
doanh mang tính kinh tế thị trường, tạo ra những nhà kinh doanh giỏi: Đây là điều
rất cần thiết đối với nước ta hiện nay. Trải qua một giai đoạn khá dài, môi trường
văn hoá kinh doanh mang tính thị trường gần như không tồn tại, hoặc không có cơ
12


Khóa luận tốt nghiệp
hội phát triển, đội ngũ doanh nhân giỏi, có khả năng điều hành các doanh nghiệp
trong điều kiện quốc tế hoá và hội nhập kinh tế quốc tế rất hạn chế. Vì vậy, việc tạo
ra một môi trường kinh doanh năng động, cạnh tranh, xem cạnh tranh là điều kiện
cơ bản để tồn tại và phát triển; đồng thời góp phần tạo ra một đội ngũ các nhà kinh
doanh giỏi là điều kiện cực kỳ quan trọng để Việt Nam có thể hội nhập thành công.
1.2.4. Vai trò của hoạt động cho vay đối với DNNVV
Hoạt động cho vay có vai trò đặc biệt quan trọng đối với quá trình hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó góp phần giải quyết một vấn đề khá bức
xúc của DNNVV là nhu cầu vốn. Tại một thời điểm bất kì, trong doanh nghiệp luôn
xuất hiện hai loại nhu cầu cần tài trợ, đó là nhu cầu có tính tạm thời để tài trợ cho
tài sản lưu động phát sinh thời vụ, và nhu cầu có tính thường xuyên để tài trợ cho
tài sản cố định và một phần tài sản lưu động tồn tại liên tục trong nhiều năm. Những
loại nhu cầu này biểu hiện cụ thể như sau:
- Nhu cầu có tính tạm thời:
 Bổ sung vốn lưu động thiếu hụt thời vụ
 Trang trải hàng tồn kho (vật tư, nhiên liệu, sản phẩm dở dang, thành
phẩm, hàng hóa,..)
 Tài trợ cho các khoản phải thu
 Trả nợ các khoản phi thương mại
- Nhu cầu có tính thường xuyên:
 Mua sắm tài sản cố định
 Tài trợ cho tài sản lưu động thường xuyên
 Trả các khoản nợ
 Mua lại doanh nghiệp khác
1.2.5. Đặc điểm hoạt động cho vay đối với DNNVV
Một trong những khó khăn lớn nhất hiện nay của các doanh nghiệp nhỏ và
vừa là thiếu vốn. Để giải quyết khó khăn về vốn, các DNNVV phải tìm đến nguồn
vốn tín dụng của ngân hàng. Ước tính 80% lượng vốn cung ứng cho các DNNVV là
từ kênh ngân hàng, số vốn mà các ngân hàng thương mại cho các doanh nghiệp này
13


Khóa luận tốt nghiệp
chiếm khoảng 40% tổng dư nợ. Tuy nhiên, việc vay vốn từ các ngân hàng của
DNNVV có một số đặc điểm sau:
- Các ngân hàng thường cho các DNNVV này vay với quy mô vốn cho vay
nhỏ, trong khi đó để tồn tại và có chỗ đứng trên thi trường hiện nay đòi hỏi các
doanh nghiệp phải mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ thì cần phải có lượng vốn
lớn. Theo ý kiến chung, không phải ngân hàng muốn làm khó doanh nghiệp và nếu
không vay vốn thì ngân hàng cũng gặp khó khăn, nhưng khi thực hiện việc cho vay,
ngân hàng cũng bị ràng buộc bởi nhiều quy định của pháp luật như Bộ luật dân sự,
Luật đất đai…
- Một đặc điểm của DNNVV là hoạt động trên nhiều lĩnh vực, ngành nghề đa
dạng, nên ngân hàng cũng đã chia nhỏ nguồn vốn, chốt hạn mức tín dụng ở một
ngưỡng nhất định đối với một khoản vay để đáp ứng được nhiều nhu cầu nhỏ hơn,
một số ngân hàng chuyển từ bán buôn chuyển dần sang mô hình bán lẻ. Khi đó, các
DNNVV vừa có vốn để duy trì hoạt động, còn các ngân hàng thì có được nhiều lợi
nhuận hơn, rủi ro sẽ được phân tán.
- Xuất phát từ nguyên tắc cho vay, vay vốn phải có tài sản đảm bảo nên khi
các DNNVV tới ngân hàng xin được vay vốn thì ngân hàng yêu cầu cần phải có tài
sản đảm bảo. Nhưng hiện nay khi các doanh nghiệp đến vay vốn thì xảy ra tình
trạng là không có tài sản đảm bảo, hoặc thiếu tài sản đảm bảo, hoặc giá trị của tài
sản nhỏ, và đa phần các tài sản đảm bảo tại ngân hàng của các doanh nghiệp là bất
động sản. Điều này cũng gây khó khăn cho ngân hàng bởi bất động sản mà họ thế
chấp tại ngân hàng thường không đủ hồ sơ pháp lý về quyền sử dụng, quyền sở hữu,
thiếu những giấy tờ cần thiết có liên quan để ngân hàng có thể xem xét. Còn những
trường hợp tài sản đảm bảo bằng tài sản cố định là các máy móc trang thiết bị, nhà
xưởng thì lại rất khó thanh lý và bán đi trong trường hợp doanh nghiệp không trả
được nợ do các máy móc này rất khó định giá ở sự hao mòn vô hình. Nên điều này
cũng dễ hiểu nếu một khi ngân hàng cho vay khoản vốn lớn mà DNNVV làm ăn
thua lỗ thì ngân hàng gặp rủi ro, vì vậy các khoản vốn mà ngân hàng cho các doanh
nghiệp này vay thường là nhỏ.
- Một thực tế cho thấy, khâu quản trị về tài chính, sổ sách kế toán của các
doanh nghiệp, nhất là những DNNVV chưa được minh bạch, rõ ràng. Thậm chí, có
doanh nghiệp còn sử dụng hai hệ thống kế toán để đối phó với cơ quan thuế. Đây
14


Khóa luận tốt nghiệp
chính là một trong những vấn đề mà ngân hàng e ngại nhất. Vì thế quy trình cho vay
rất chặt chẽ, dẫn đến chi phí vay vốn cao.
- Một đặc điểm khác nữa là, khi các DNNVV được ngân hàng xem xét cho
vay thì thường là lãi suất cao, và thời gian cho vay là ngắn hạn. Điều này cũng dễ
nhận thấy, vốn chủ sở hữu của các DNNVV thường chiếm tỷ lệ thấp, vốn chủ sở
hữu của doanh nghiệp tham gia vào các dự án lớn thường rất thấp, đặc biệt là các dự
án cải tiến, đầu tư chiều sâu các trang máy móc thiết bị, dây chuyền sản xuất hiện
đại. Nên việc đầu tư của ngân hàng trong các dự án này thường tiềm ẩn rủi ro cao.
Đây cũng là một trong những nguyên nhân ảnh hưởng đến tỷ lệ nợ xấu trung dài
hạn đối với các bất cứ một ngân hàng nào cũng muốn mình làm ăn có lãi mà
DNNVV hiện nay làm kém hiệu quả, kèm theo tình trạng lạm phát cao, nếu mà cho
vay dài hạn thì rủi ro rất lớn. Các khoản vay này thường giúp các doanh nghiệp rất
lớn về việc bổ sung vốn lưu động, còn xây dựng cơ sở vật chất thì rất ít.
Tóm lại, để tạo điều kiện cho cả hai cùng phát triển thì bản thân ngân hàng
phải tìm hiểu rõ nhu cầu của các DNNVV, còn các doanh nghiệp này thì cần phải có
kế hoạch cụ thể, chẳng hạn mục đích kinh doanh và sử dụng vốn rõ ràng, khả thi để
tạo uy tín với ngân hàng, khi đó cả hai sẽ tìm được tiếng nói chung.
1.2.6. Các hình thức cho vay đối với DNNVV
 Cho vay theo hạn mức tín dụng: đây là hình thức cho vay áp dụng cho
các DN có nhu cầu vay vốn phát sinh thường xuyên, liên tục. Các doanh nghiệp này
thường phải là các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi ổn định,
vững chắc và có uy tín trong giao dịch thanh toán.
 Cho vay từng lần (cho vay theo món): áp dụng cho các doanh nghiệp có
nhu cầu vay vốn không thường xuyên, có tính đột xuất. Đối với hình thức cho vay
này, vốn tín dụng chỉ tham gia vào một giai đoạn hay một quy trình nhất định trong
chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
 Cho vay trả góp: là hình thức cho vay áp dụng đối với các doanh nghiệp
kinh doanh nhỏ, thiếu vốn. Theo hình thức này, ngân hàng cho vay và doanh nghiệp
vay vốnthỏa thuận mức cho vay, thời hạn vay vốn, lãi suất cho vay và số kỳ hạn trả
góp để xác định một mức trả góp trong suốt thời hạn vay.

15


Khóa luận tốt nghiệp
 Cho vay theo hạn mức thấu chi: là hình thức cho vay áp dụng đối với
những doanh nghiệp là khách hàng quen biết, thường xuyên giao dịch qua ngân
hàng, tình hình tài chính tương đối ổn định. Ngân hàng và khách hàng cần xác định
và thỏa thuận bằng văn bản về hạn mức thấu chi và thời hạn của hạn mức đó để áp
dụng.
 Cho vay thông qua nghiệp vụ phát hành và sử dụng thẻ tín dụng: là hình
thức mà ngân hàng sẽ cấp cho khách hàng một thẻ tín dụng với một số tiền được cài
sẵn trong bộ nhớ theo hạn mức tín dụng đã được hai bên thỏa thuận mà khách hàng
không nhất thiết phải duy trì số dư trên tài khoản tiền gửi của mình. Để thúc đấy
việc sử dụng thẻ rộng rãi, phù hợp với nhu cầu chi tiêu và thu nhập của khách hàng,
ngân hàng phát hành thẻ sẽ quy định mức trả nợ tối thiểu tính trên dư nợ tín dụng
thẻ, tỷ lệ này thường khoảng 20% - 50% dư nợ tín dụng thẻ.
1.2.7. Một số chỉ tiêu đánh giá hoạt động cho vay đối với DNNVV
Tỷ lệ thu nợ (%):
Tỷ lệ thu nợ = (Doanh số thu nợ / Doanh số cho vay) x 100
Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả tín dụng trong việc thu nợ của quỹ tín dụng. Nó
phản ánh trong một thời kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì quỹ tín dụng
sẽ thu về được bao nhiêu vốn.
Vòng quay vốn tín dụng (vòng):
Vòng quay vốn tín dụng = (Doanh số thu nợ / Dư nợ bình quân)
Dư nợ bình quân trong kỳ = (Dư nợ đầu kì + Dư nợ cuối kì) / 2
Chỉ tiêu này đo lường tốc độ luân chuyển vốn tín dụng của quỹ tín dụng, thời
gian thu hồi nợ của quỹ tín dụng là nhanh hay chậm. Vòng quay vốn càng nhanh thì
được coi là tốt và việc đầu tư càng được an toàn.
Tỷ lệ rủi ro tín dụng:
Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng hay tổ chức tín dụng gọi tắt là rủi
ro là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động tín dụng do khách hàng không thực
hiện hay không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Tỷ lệ rủi ro tín dụng = (Tổng dư nợ / Tổng tài sản hiện có) x 100%

16


Khóa luận tốt nghiệp
Tỷ số này cho biết quỹ tín dụng có đang đầu tư nhiều vào cho vay hay
không, tỷ số này càng cao cho thấy quỹ tín dụng đang đầu tư một khoản lớn vào cho
vay, lợi nhuận của quỹ tín dụng càng cao và rủi ro cũng tăng theo.
Nợ xấu và tỷ lệ nợ xấu(%):
Nợ xấu là các khoản nợ được xếp vào các nhóm sau đây: nợ dưới tiêu chuẩn,
nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn.
Tỷ lệ nợ xấu = (Nợ xấu bình quân / Tổng dư nợ bình quân) x 100%
Đây là chỉ tiêu được dùng để đánh giá chất lượng tín dụng cũng như rủi ro
tín dụng tại quỹ tín dụng. Tỷ lệ nợ xấu càng cao thể hiện chất lượng quỹ tín dụng
càng kém và ngược lại.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×