Tải bản đầy đủ

Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại

Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại

Lời mở đầu
Nền kinh tế thị trường, nơi diễn ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các chủ thể
kinh tế. Để đạt được mục đích phi lợi nhuận của mình không ít các chủ thể kinh
tế đã sử dụng những hình thức cạnh tranh không lành mạnh. Trong hoạt động sản
xuất kinh doanh của mình các chủ thể này đưa ra các thông tin kinh tế tài chính
sai lệch gây thiệt hại kinh tế đối với chủ thể kinh tế khác.
Vì vậy Kiểm toán với chức năng xác định tính hợp pháp hợp lý và hợp lệ
tong các hoạt động kinh tế tài chính. Từ đó làm lành mạnh hoá các hoạt động
kinh tế tài chính trong các tổ chức tài chính doanh nghiệp góp phần vào sự phát
triển ổn định của nền kinh tế đã trở thành nhu cầu không thể thiếu đôí với nền
kinh tế.
Căn cứ vào các qui định trong các văn bản qui phạm pháp luật, các chuẩn
mực Kiểm toán.Kiểm toán viên sẽ tiến hành xác định tính đúng đắn, hợp lý,hợp
pháp của các tài liệu số liệu kế toán, báo cáo tài chính hàng năm. Mọi sai phạm
bất hợp lý, không đúng với qui định của pháp luật và các chuẩn mực sẽ được
phát hiện.


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại

Chương I
Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán
nội bộ ngân hàng thương mại
I. tổng quan về kiểm toán.
1. khái niệm và bản chất của kiểm toán.

Rất có cơ sở để phỏng đoán rằng sự mong muốn có các báo cáo tài chính
trung thực đã tồn tại ngay từ khi các cá nhân, có quan hệ hợp đồng với người
khác. Nguyên bản”Auditing” gắn liền với nền văn minh Ai Cập và La Mã cổ đại.
Từ Auditing có nguồn gốc từ động từ la tinh “ audire” nghĩa là “nghe”. Hình ảnh
của kiểm toán cổ điển là các tài khoản về tài sản phần lớn được kiểm tra bằng
cách ngươì ghi chép đọc to lên cho một bên độc lập. Ngày nay có rất nhiều khái
niệm khác nhau về kiểm toán.
Theo định nghĩa của liên đoàn kế toán quốc tế ( international Federation
accoutan- IFAC) thì “ kiểm toán là việc các kiểm toán viên độc lập kiểm tra, và
trình bày ý kiến của mình về các bản báo cáo tài chính” tiến sĩ Robert N. Arthor
giáo sư trường đại học Harward cho rằng “ kiểm toán là việc xem xét, kiểm tra
các việc ghi chép kế toán bởi các Kiểm toán viên công cộng, được thừa nhận,
độc lập và ở bên ngoài tổ chức được kiểm tra. điều này cũng phù hợp với định
nghĩa được ghi trong lời mở đầu giải thích về chuẩn mực kiểm toán của Vương
Quốc Anh", kiểm toán là sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản
khai tài chính của một đơn vị do Kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện các
công việc đó theo đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”.
ở nước ta, quy chế kiểm toán độc lập trong nền kinh tế quốc dân( ban hành
theo Nghị định số 07/CP ngày 29/01/94 của Chính phủ) đã ghi rõ “ kiểm toán

http://tailieuhay.com

2


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
độc lập là việc kiểm tra và xác nhận của Kiểm toán viên chuyên nghiệp thuộc
các tổ chức kiểm toán độc lập, về tính đúng đắn hợp lý của các tài liệu, số liệu kế
toán và báo cáo quyết toán của các doanh nghiệp, các cơ quan, tổ chức đoàn thể,
tổ chức xã hội khi có yêu cầu của đơn vị này”.
Bản chất của kiểm toán nếu xét ở góc độ chung nhất chính là sự kiểm tra
độc lập từ bên ngoài, được thực hiện với một số lực lượng có một trình độ
chuyên môn cao. Chịu trách nhiệm hoàn toàn về mặt pháp lý và kinh tế đối với
các nhận xét của mình về độ tin cậy.


2.sự cần thiết và vai trò của kiểm toán

Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động kiểm toán đặc biệt là kiểm toán độc
lập đã trở thành nhu cầu tất yếu đối với hoạt động kinh doanh,nhằn nâng cao chất
lượng quản lý của các doanh nghiệp. Hoạch toán kế toán là bộ phận cấu thành
quan trọng của hệ thống công cụ quản lý kinh tế, ngày càng trở nên quan trọng
và cần thiết cho các quyết định kinh tế. Kiểm toán luôn đi liền và là sự tiếp nối
của hoạt động kế toán. Nếu kế toán làm nhiệm vụ tổ chức thu thập, xử lý và cung
cấp thông tin thì kiểm toán là sự xác nhận khách quan, tính chuẩn xác của thông
tin, và cái quan trọng hơn là qua đó hoàn thiện quy trình quản lý. Mặt khác
chúng ta biết rằng các báo cáo tài chính hàng năm do các doanh nghiệp lập ra là
đối tượng quan tâm chủ yếu của rất nhiều người như : chủ doanh nghiệp các cổ
đông, thành viên Hội đồng quản trị, ngân hàng, bạn hàng của doanh nghiệp...
Tuy mỗi đối tượng quan tâm đến báo cáo tài chính của các doanh nghiệp ở các
giác độ khác nhau, nhưng đều có mong muốn, nguyện vọng chung là được sử
dụng các thông tin tài chính một cách chính xác, trung thực và đầy đủ( có độ tin
cậy cao) . Do vậy cần có một bên thứ ba, độc lập khách quan, có kỹ năng nghề
nghiệp, có địa vị pháp lý, trách nhiệm kiểm tra và đưa ra kết luận là các báo cáo
tài chính của doanh nghiệp lập có trung thực không, có phản ánh đúng đắn và
http://tailieuhay.com

3


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
trung thực tình hình tài chính của doanh nghiệp không... Đó chính là công việc
của kiểm toán độc lập.
ở Việt Nam hoạt động kiểm toán mới ra đời nhưng đã có được địa vị pháp
lý vững chắc, được pháp luật công nhận và bảo hộ.
3. các loại kiểm toán.

Hiện nay có rất nhiều cách phân loại kiểm toán khác nhau.
3.1. phân loại theo chủ thể kiểm toán.
3.1.1. Kiểm toán nội bộ.

Là kiểm toán do Kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành, phạm vi của
kiểm toán nội bộ xoay quanh việc “ kiểm tra và đánh giá tính hiệu lực và hiệu
quả của hệ thống kế toán và hệ thống kiểm soát nội bộ cũng như chất lượng thực
thi trong nhiêm vụ được giao. Thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong
một vài lĩnh vực sau:
- Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan,
giám sát sự hoạt động của các hệ thống này và tham gia hoàn thiện chúng.
- Kiểm tra các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính.
- Kiểm tra sự tiết kiệm, tính hiệu quả và hiệu xuất của các hoạt động kể cả
các quy định không có tính chất tài chính của doanh nghiệp.
3.1.2. Kiểm toán nhà nước.

Là hoạt động kiểm toán do các Kiểm toán viên của nhà nước tiến hành và
chủ yếu là kiểm toán tuân thủ.
3.1.3. Kiểm toán độc lập.

Là loại kiểm toán được tiến hành bởi các Kiểm toán viên độc lập thuộc các
tổ chức kiểm toán độc lập. Họ thực hiện các cuộc kiểm toán theo đơn đặt hàng
( yêu cầu của khách hàng).
http://tailieuhay.com

4


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
3.2. phân loại theo mục đích và chức năng.
3.2.1. kiểm toán hoạt động: ( operational audit)

Là kiểm toán đánh giá tính hiệu quả, tác dụng của một phương án sản xuất
kinh doanh, một quy trình công nghệ hoặc một công trình XDCB hoàn thành đưa
vào sử dụng. Vì vậy kiểm toán quá trình hoạt động còn gọi là “ kiểm toán hiệu
quả” kiểm toán loại này phải sử dụng nhiều kỹ năng khác nhau: kế toán tài
chính, kinh tế, kỹ thuật... Thông thường kết thúc kiểm toán là một báo cáo giải
trình có nhận xét, phân tích, đánh giá gửi cho các cơ quan đơn vị có liên quan.
3.2.2. Kiểm toán tuân thủ.

Là sự kiểm tra của đơn vị cấp trên đối với đơn vị cấp dưới về sự chấp hành
quy chế, chính sách chế độ... kiểm toán sự tuân thủ, vì vậy còn gọi là kiểm toán
quy tắc.
3.2.3. Kiểm toán báo cáo tài chính.

Là sự kiểm tra, xác nhận xem xét các báo cáo tài chính do các đơn vị kế
toán lập ra có đúng đắn trung thực hợp lý hay không, có hợp thức và tuân thủ
theo các đòi hỏi pháp định liên quan hay không.
3.3. Phân loại theo kế hoạch kiểm toán.
3.3.1. kiểm toán định kỳ.

Là kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm do chủ doanh nghiệp mời các tổ
chức kiểm toán chuyên nghệp, hoặc do cơ quan quản lý nhà nước tiến hành hay
yêu cầu của các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp kiểm tra.

http://tailieuhay.com

5


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
3.3.2. Kiểm toán bất thường.

Là việc kiểm toán không thường xuyên nhằm phục vụ cho từng mục đích
riêng biệt nào đó. Ví dụ : kiểm toán khi doanh nghiệp chuẩn bị tuyên bố phá sản,
chấm dứt hoạt động, kiểm toán tài sản khi liên doanh chia tách,sáp nhập...
4/ Chức năng kiểm toán.

Kiểm tra xác nhận: với chức năng kiểm tra Kiểm toán viên thực hiện kiểm
tra xác nhận:
+ Tính trung thực, độ tin cậy của các thông tin.
+ Kiểm tra việc tuân thủ các chính sách, quy định.
Sau khi kiểm tra và xác nhận Kiểm toán viên còn tiến hành đánh giá và đề
xuất đối với các thông tin được kiểm toán.
5. Kiểm toán viên.
5.1. Tiêu chuẩn kiểm toán viên.

Theo liên đoàn kiểm toán quốc tế thì yêu cầu đối với một kiểm toán viên
bao gồm:
5.1.1. kỹ năng và khả năng của kiểm toán viên.

Việc thực hiện kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán phải được tiến hành một
cách thân trọng theo yêu cầu nghề nghiệp. Vì vậy Kiểm toán viên phải được đào
tạo và trải qua kinh nghiệm về những kỹ năng cơ bản về nghề kế toán, một số kỹ
năng của luật sư và nhà nghiên cứu khoa học. Một Kiểm toán viên trước hết phải
là chuyên gia lành nghề, đồng thời một Kiểm toán viên được đào tạo không vô tổ
chức trở thành một Kiểm toán viên có hiệu quả. Kiểm toán viên phải thường
xuyên nhận thức được sự phát triển về kế toán kiểm toán.
Kiểm toán viên có nghĩa vụ duy trì kỹ năng và trình độ nghiệp vụ của mình
trong suốt quá trình hành nghề. Yêu cầu về kỹ năng và khả năng nghề nghiệp
http://tailieuhay.com

6


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
còn lưu ý các Kiểm toán viên chỉ nhận làm những phần việc mà bản thân hoặc
hãng của mình có đủ trình độ và khả năng hoàn thành công việc đó.
5.1.2.Đạo đức của kiểm toán viên.

Kiểm toán viên phải là người trung thực thẳng thắn, có lương tâm nghề
nghiệp, phải công minh chính trực và không được phép để cho sự định kiến thiên
lệch, làm lấn át tính khách quan, chính trực. Kiểm toán viên phải điều chỉnh
mình cho phù hợp với uy tín của ngành nghề, uy tín của bản thân và của hãng,
phải tự kiềm chế những tính có thể phá vỡ uy tín nghề nghiệp.
Kiểm toán viên phải thường xuyên rèn luyện tính cẩn thận một cách thoả
đáng tất cả các kỹ năng và sự siêng năng cần thiết khi thực thi nhiệm vụ của
mình.
5.1.3. Tính độc lập của kiểm toán viên.

Khi tiến hành kiểm toán, Kiểm toán viên phải thể hiện tính độc lập của
mình, không được để cho các ảnh hưởng chủ quan, khách quan, hoặc sự chi phối
của vật chất làm mất đi tính độc lập.
Kiểm toán viên không được có quan hệ và có quyền lợi về mặt kinh tế ở
đơn vị mà Kiểm toán viên đang nhận làm kiểm toán.
Những quan hệ huyết thống cũng ảnh hưởng đến tính độc lập của Kiểm
toán viên.
5.1.4. tôn trọng bí mật.

Kiểm toán viên phải tôn trọng bí mật của những thông tin đã thu thập được
trong quá trình kiểm toán, không được tiết lộ bất kỳ một thông tin kiểm toán nào
cho người thứ ba khi chưa được phép.
5.1.5. Tôn trọng pháp luật.

http://tailieuhay.com

7


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Trong hoạt động nghề nghiệp, kiểm toán viên phải tôn trọng và chấp hành
đúng các chế độ, thể lệ, nguyên tắc, và luật pháp của Nhà nước. Kiểm toán viên
phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về hoạt động nghề nghiệp của mình trong
báo cáo kiểm toán.
5.1.6. Các chuẩn mực nghiệp vụ.

Kiểm toán viên phải tiến hành công việc nghiệp vụ của mình theo những
chuẩn mực nghiệp vụ chuyên ngành phù hợp với công việc đó.
Theo chế độ kiểm toán hiện hành của Viêt Nam, Kiểm toán viên phải có đủ
các tiêu chuẩn sau:
+Lý lịch rõ ràng, có phẩm chất trung thực, liêm khiết, nắm vững các chế
độ chính sách kinh tế, tài chính kế toán hiện hành, không có tiền án tiền sự.
+ Có bằng tốt nghiệp đại học hoặc trung học chuyên ngành tài chính kế
toán, đã công tác kế toán tốt từ 5 năm trở lên( đối với tốt nghiệp đại học) và 10
năm đối với tốt nghiệp trung học.
+ Đã qua kỳ thi tuyển Kiểm toán viên do Hội đồng thi cấp Nhà nước tổ
chức và được Bộ trưởng Bộ tài chính cấp chứng chỉ.
+ Được nhận vào làm việc tại một tổ chức kiểm toán độc lập hoạt động
hợp pháp tại Việt Nam và đã được đăng ký danh sách Kiểm toán viên ở Bộ tài
chính.
5.2. Trách nhiệm, quyền hạn của kiểm toán viên.
5.2.1.Trách nhiệm của kiểm toán viên.

Chấp hành nghiêm chỉnh các nguyên tắc kiểm toán quy định, thực hiện
đúng hợp đồng kiểm toán, lập báo cáo kiểm toán và chịu trách nhiệm về tính
trung thực khách quan của kết quả kiểm toán và ý kiến nhận xét trong báo cáo
kiểm toán.

http://tailieuhay.com

8


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Không được gây trở ngại cho đối tượng kiểm toán khi tiến hành kiểm toán.
Tuân thủ pháp luật của Nhà nước Việt Nam.
Bảo đảm trung thực, độc lâp, khách quan,công bằng và bí mật số liệu.
Tuân thủ các chuẩn mực kế toán và kiểm toán hiện hành của Việt Nam và
các chuẩn mực kiểm toán quốc tế.
5.2.2. Quyền của kiểm toán viên.

Độc lập về chuyên môn nghiệp vụ theo khuôn khổ của pháp luật.
Yêu cầu khách hàng cung cấp đầy đủ kịp thời các tài liệu liên quan đến nội
dung kiểm toán.
Đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên quan tới đơn vị được kiểm
toán ở trong và ngoài đơn vị.
Có quyền khước từ làm kiểm toán viên cho khách hàng nếu xét thấy không
đủ khả năng và điều kiện kiểm toán.
Phát hiện đơn vị được kiểm toán có hiện tượng vi phạm pháp luật có quyền
thông báo và kiến nghị với đơn vị và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo cáo
kiểm toán.
6. Các khái niệm sử dụng trong kiểm toán.
6.1. Gian lận và sai sót.
6.1.1. Gian lận:

Là những hành vi có chủ ý lừa dối liên quan đến việc tham ô, biển thủ tài
sản hoặc là xuyên tạc các thông tin tài chính hoặc giấu giếm tài sản. Gian lận có
thể biểu hiện dưới các dạng sau:
+ Xử lý chứng từ theo ý muốn chủ quan như sửa đổi, làm giả chứng từ....
+ Giấu giếm thông tin tài liệu hoặc nghiệp vụ .
+ Ghi chép các nghiệp vụ không đúng sự thật.
+áp dụng sai các nguyên tắc kế toán một cách cố ý.
http://tailieuhay.com

9


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
6.1.2. Sai sót:

Là những nhầm lẫn ảnh hưởng đến báo cáo tài chính như:
+ Lỗi về tính toán số học hay ghi chép sai.
+ áp dụng sai các nguyên tắc kế toán.
+ bỏ sót hoặc hiểu sai khoản mục.
6.2. Trọng yếu và rủi ro.
6.2.1. Trọng yếu:

Trọng yếu là khái niệm về tầm cỡ( độ lớn) bản chất của sai phạm ( kể cả sai
sót), thông tin tài chính hoặc là đơn lẻ, hoặc là từng nhóm, mà trong bối cảnh cụ
thể nếu dựa vào các thông tin này để xét đoán thì sẽ là không chính xác hoặc là
sẽ rút ra những kết luận sai lầm.
6.2.2. Rủi ro trong lĩnh vực kiểm toán bao gồm:

a. Rủi ro tiềm tàng:
Tồn tại ngay trong bản thân nghiệp vụ, môi trường kinh doanh. Rủi ro tiềm
tàng là khả năng tiềm ẩn những sai sót trọng yếu trong đối tượng kiểm toán. loại
rủi ro này nằm trong hoạt động kinh doanh, trong môi trường và trong bản chất
nghiệp vụ trước khi chúng ta xem xét tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội
bộ.
b) Rủi ro kiểm soát.
Là khả năng mà hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị không phát hiện ra và
ngăn chặn được những sai sót trọng yếu.
c) Rủi ro phát hiện.
Là rủi ro mà Kiểm toán viên không phát hiện ra các sai sót trọng yếu trong
đối tượng kiểm toán, khi tiến hành kiểm toán.
http://tailieuhay.com

10


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
d) Rủi ro kiểm toán.
Là những rủi ro mà Kiểm toán viên có thể mắc phải khi đưa ra những nhận
xét không xác đáng về đối tượng kiểm toán và đó chính là những sai sót nghiêm
trọng.
6.3. Bằng chứng kiểm toán.

Là tập hợp tất cả các thông tin tài liệu mà Kiểm toán viên thu thập được để
làm căn cứ đưa ra những nhận xét, kết luận trên báo cáo kiểm toán.
Yêu cầu của bằng chứng kiểm toán:
+ tính đầy đủ: nói về số lượng bằng chứng, số lượng bằng chứng nhiều hay
ít phụ thuộc vào mục tiêu, đối tượng kiểm toán.
+ Tính thích hợp : nói về chất lượng và độ tin cậy của bằng chứng, phụ
thuộc vào kinh nghiệm, trình độ của Kiểm toán viên.
Kỹ thuật thu thập bằng chứng:
+ Yêu cầu đơn vị được kiểm toán cung cấp.
+điều tra phỏng vấn, xây dựng danh mục câu hỏi.
+ Quan sát.
+Phân tích tính toán.
6.4. Doanh nghiệp hoạt động liên tục.

Thông thường một doanh nghiệp được coi là hoạt động liên tục khi nó tiếp
tục hoạt động trong tương lai định trước, người ta quan niệm rằng doanh nghiệp
không có ý định và cũng không cần phải giải thể hoặc thu hẹp quy mô hoạt động
của mình.
Một số biểu hiện của hoạt độngliên tục:
- Biểu hiện về tài chính:
+Tổng số nợ phải trả trên tổng số nợ ngắn hạn phải trả.

http://tailieuhay.com

11


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
+ Các khoản vay mượn đến hạn không đủ khả năng thanh toán, không đủ
độ tin cậy để vay ngắn hạn tài trợ cho tài sản dài hạn.
+ Các tỷ lệ tài chính.
+ lỗ trong kinh doanh.
Biểu hiện hoạt động:
+ thiếu cán bộ chủ chốt mà không được bổ sung.
+ thiếu nguồn cung cấp thông tin chuẩn mực.
- Các biểu hiện khác như không đủ vốn pháp định doanh nghiệp đang bị
kiện, có sự thay đổi về chính sách kinh tế của chính phủ.
6.5. Hồ sơ kiểm toán.

Hồ sơ kiểm toán chính là các dẫn chứng bằng tài liệu về quá trình làm việc
của Kiểm toán viên, về các bằng chứng thu thập được để hỗ trợ cho quá trình
kiểm toán và làm cơ sở cho ý kiến của Kiểm toán viên trên báo cáo kiểm toán.
Hồ sơ kiểm toán bao gồm các tài liệu kế toán, các bảng xác nhận và giải
trình, các tài liệu khảo sát về kiểm soát nội bộ, kế hoạch kiểm toán, chương trình
kiểm toán, các bảng cân đối liệt kê phân tích...
Yêu cầu của hồ sơ kiểm toán:
+ Hồ sơ kiểm toán phải có đề mục rõ ràng.
+ Hồ sơ kiểm toán phải có chữ kí của Kiểm toán viên.
+ Hồ sơ kiểm toán phải đươc chú thích đầy đủ về nguồn gốc dữ liệu, kí hiệu
sử dụng...
+ Hồ sơ kiểm toán phải đầy đủ.
+ Hồ sơ kiểm toán cần trình bày dễ hiểu và rõ ràng.
+ Hồ sơ kiểm toán cần được xắp xếp khoa học.
7. Phương pháp kiểm toán.
7.1. Phương pháp kiểm toán cơ bản .

http://tailieuhay.com

12


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Các phương pháp kiểm toán cơ bản là các phương pháp được thiết kế sử
dụng nhằm mục đích thu thập các bằng chứng về sự hoàn chỉnh chinh xác và
hiệu lực của các dữ liệu do hệ thống kế toán xử lý.
7.1.1. Phương pháp phân tích, đánh giá tổng quát.

Phương pháp này chủ yếu dùng để phân tích, đánh giá các thông tin tài
chính của doanh nghiệp.
a. phân tích so sánh về lượng trên cùng một chỉ tiêu ( phân tích ngay) như
so sánh số liệu kỳ này với kỳ trước, số liệu thực tế với giấy phép đầu tư...
b. Phân tích tỷ suất( phân tích dọc) bằng cách so sánh, xác định tỷ lệ tương
quan giữa các chỉ tiêu, khoản mục...
7.1.2. Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư.

Phương pháp kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ và các số dư chỉ thích hợp với
các doanh nghiệp có quy mô nhỏ, các loại nghiệp vụ có tính chất không phức tạp
hoặc những bộ phận, những khoản mục dễ “ cảm xúc” trong kinh doanh. Tuy
nhiên phương pháp này tỏ ra không thực tế khi quy mô và khối lượng giao dịch
ngày càng tăng. Bởi vậy kiểm toán hiện đại không kiểm tra chi tiết, toàn bộ các
nghiệp vụ và số dư tài khoản mà việc kiểm tra chi tiết được dựa trên cơ sở lấy
mẫu một số nghiệp vụ cùng loại.
7.2. Phương pháp tuân thủ.

Phương pháp tuân thủ là những nghiệp vụ kiểm tra được thiết lập để thu
thập bằng chứng đảm bảo hợp lý rằng hệ thống kiểm soát nội bộ có hiệu lực.
Đặc trưng của phương pháp tuân thủ là dựa vào hệ thống kiểm soát nội bộ
của doanh nghiệp. Nếu hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp được đánh
giá là mạnh, là hiệu quả và kiểm toán viên có thể tin tưởng vào thi các công việc
kiểm toán có thể và cần phải dựa vào hệ thống kiểm soát.

http://tailieuhay.com

13


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Tuỳ thuộc vào mức thoả đáng về kiểm soát, kiểm toán viên có thể áp dụng
các phương pháp cụ thể sau:
7.2.1. Phương pháp cập nhật cho hệ thống.

Còn gọi là kỹ thuật kiểm tra hệ thống. Kỹ thuật này đòi hỏi việc kiểm tra
chi tiết một loạt các nghiệp vụ cùng một loại ghi chép từ đầu đến cuối để xem
xét đánh giá các bước kiểm soát áp dụng trong hệ thống kiểm soát nội bộ.
Nếu việc kiểm tra hệ thống cho thấy các bước kiểm soát là yếu thì cần tiến
hành thử nghiệm các chi tiết.
7.2.2. Thử nghiệm các chi tiết đối với kiểm soát.

Các thử nghiệm chi tiết đối với các kiểm soát chủ yếu cũng được dựa trên
cơ sở kiểm tra mẫu các chứng từ.
8. Kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán.

Lấy mẫu kiểm toán là việc kiểm tra một phần dữ liệu( mẫu) để rút ra kết
luận hợp lý cho toàn bộ dữ liệu( tổng thể). Kiểm toán viên chấp nhận những điều
không chắc chắn nào đó trong kết quả của phép thử kiểm toán vì những lý do:
-Kiểm toán viên không tìm kiếm một sự chắc chắn, chính xác tuyệt đối của
toán học.
- Bằng chứng thu thập từ một nguồn được xác minh bởi các bằng chứng thu
thập được từ các nguồn khác sẽ tăng thêm độ tin cậy của Kiểm toán viên.
- Việc kiểm tra toàn bộ số liệu có thể vẫn chưa cung cấp được sự chắc chắn
tuyệt đối vì có thể có những nghiệp vụ không được ghi chép.
- Chi phí cho việc kiểm tra toàn bộ các bút toán trong ghi chép kế toán để
chứng minh cho mọi bằng chứng kiểm toán là không kinh tế.

http://tailieuhay.com

14


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Vì những lý do trên, mẫu kiểm toán được sử dụng một cách thông dụng và
phổ biến, kỹ thuật lấy mẫu kiểm toán có vị trí đặc biệt quan trọng trong kiểm
toán hiện đại. Các phương pháp chọn mẫu.
- Phương pháp chọ mẫu ngẫu nhiên, là chọn bất kỳ phần tử nào trong tổng
thể. Hay mọi phần tử trong tổng thể đều có khả năng được lựa chọn.
- Phương pháp chọn mẫu có hệ thống, là phương pháp chọn máy móc theo
khoảng cách xác định trên cơ sở kích cỡ của tổng thể và số lượng phần tử của
mẫu cần chọn.
- Chọn mẫu phi xác suất: là phương pháp chọn mẫu mà Kiểm toán viên sẽ
quyết định phần tử nào được lựa chọn vào mẫu.
9/ Quy trình kiểm toán.

Quy trình của một cuộc kiểm toán gồm 3 bước:
+ B1 : lập kế hoạch kiểm toán.
+ B2 : thực hiện kiểm toán.
+ B3 : lập báo cáo kiểm toán.
9.1. Lập kế hoạch kiểm toán.

Kiểm toán viên phải lập kế hoạch kiểm toán khi bắt đầu tiến hành cuộc
kiểm toán, nó giúp cho việc kiểm toán được tiến hành khoa học và có hiệu quả
cao, đúng thời gian.
Để lập kế hoạch kiểm toán thì Kiểm toán viên cần tìm hiểu về đối tượng
được kiểm tóan để xác định những đặc trưng cơ bản có liên quan đến đối tượng
được kiểm toán như môi trường hoạt động, môi trường pháp lý, môi trường kinh
tế xã hội, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh. đặc biệt kiểm toán viên phải hiểu biết
được về những văn bản có liên quan đến ngành nghề và chỉ ra được những lĩnh
vực có rủi ro, những lĩnh vực trọng yếu trong hoạt động của đơn vị, tình hình rủi

http://tailieuhay.com

15


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
ro kiểm soát của doanh nghiệp, trên cơ sở đó Kiểm toán viên xác định được
trọng tâm kiểm toán đồng thời nhằm hạn chế rủi ro.
Cụ thể Kiểm toán viên cần thu thập những thông tin cần thiết về đối tượng
được kiểm toán:
- Phạm vi và quy mô hoạt động kinh doanh.
- Quá trình thành lập, điều kiện, khả năng hiện tại và tương lai của doanh
nghiệp.
- Tổ chức sản xuất và những quy trình công nghệ sản xuất kinh doanh chủ
yếu, các rủi ro tiềm tàng.
- Tình trạng tài chính và các mối quan hệ kinh tế chủ yếu của khách hàng.
- Tổ chức quản lý kinh doanh, trình độ, năng lực của những người điều
hành chính của doanh nghiệp.
- Tổ chức bộ máy và công việc kế toán, tài chính thống kê.
- Tổ chức kiểm soát nội bộ.
- Đánh giá thuận lợi và khó khăn của doanh nghiệp trong công tác kế toán,
quản lý hay hoạt động sản xuất kinh doanh.
Khi có được các thông tin trên kiểm toán viên phải đưa ra kết luận:
+ Tình hình kinh doanh và rủi ro.
+ Môi trường hệ thống thông tin.
+ Môi trường kiểm soát.
+ Các chế độ kế toán.
Các bộ phận cấu thành kế hoạch kiểm toán.
- Kế hoạch về nội dung kiểm toán: bao gồm các thông tin, các nghiệp vụ
được kiểm toán, để lập được kế hoạch về nội dung kiểm toán kiểm toán viên cần
phân tích được đối tượng kiểm toán, xác định được mục tiêu tổng thể và mục
tiêu chi tiết của cuộc kiểm toán, qua đó xác định phạm vi, quy mô, xác định lĩnh
vực trọng yếu cần kiểm toán. trong kế hoạch về nội dung kiểm toán viên cũng
http://tailieuhay.com

16


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
cần xác định được các phương pháp cũng như các phương tiện hỗ trợ và sự phối
hợp giữa các bước, các nhóm kiểm toán
- Kế hoạch về thời gian:
+ Thời gian tổng thể của cuộc kiểm toán.
+ Thời gian chi tiết để kiểm toán từng khâu, từng nghiệp vụ.
- Kế hoạch về nhân sự: liên quan đến việc lựa chọn số lượng Kiểm toán
viên cũng như các yêu cầu nghề nghiệp đối với các Kiểm toán viên.
9.2. Thực hiện kiểm toán.

Thực hiện kiểm toán là giai đoạn Kiểm toán viên triển khai thực hiện các
nội dung đã ghi trong kế hoạch kiểm toán.
Thực hiện kiểm toán gồm các bước sau:
+ Nghiên cứu đánh giá hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ.
+ Thu thập bằng chứng kiểm toán bằng việc áp dụng các kỹ thuật.
+ Tiến hành phân tích, đánh giá các thông tin đã thu thập được để đưa ra ý
kiến nhận xét của mình về đối tượng kiểm toán.
9.3. Kết thúc kiểm toán.

Trong bước này kiểm toán viên phải làm những công việc cuối cùng để
hoàn tất kiểm toán, các bước phải làm là:
+ Chuẩn bị hoàn thành kiểm toán.
+ Lập báo cáo kiểm toán.
+ Hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán.
+ Giải quyết các sự việc phát sinh sau khi lập báo cáo kiểm toán nếu có.
a) Chuẩn bị kiểm toán:
Sau khi hoàn thành công việc kiểm toán tại các bộ phận riêng lẻ, Kiểm toán
viên chuẩn bị lập báo cáo kiểm toán. trước khi lập báo cáo kiểm toán, Kiểm toán
http://tailieuhay.com

17


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
viên cần tổng hợp các kết quả thu thập được. Đây chính là công việc chuẩn bị
hoàn thành kiểm toán, bao gồm việc xem xét các khoản công nợ ngoài dự kiến,
xem xét các sự kiện sảy ra sau ngày kết thúc niên độ, xem xét về giả thuyết
doanh nghiệp hoạt động liên tục, và đánh giá tổng quát về kết quả thu thập được.
Công việc này nhằm soát xét lại toàn bộ quá trình kiểm toán, kết quả thu thập
được và cân nhắc các cơ sở để đưa ra ý kiến về báo cáo tài chính.
b) Báo cáo kiểm toán:
Báo cáo kiểm toán là văn bản được Kiểm toán viên phát hành để trình bày ý
kiến của mình về thông tin tài chính được kiểm toán. Kiểm toán viên phải rà soát
xét lại và đánh giá các kết luận rút ra từ các bằng chứng kiểm toán đã thu thập
được làm căn cứ cho việc diễn đạt những nhận xét của mình về các thông tin tài
chính.
+ Đối tượng kiểm toán, thông tin tài chính được kiểm toán
+ Chuẩn mực kế toán và các nguyên tắc được dùng làm chuẩn mực đánh
giá trong cuộc kiểm toán.
+ Công việc Kiểm toán viên đã làm.
+ Chuẩn mực kiểm toán được áp dụng.
+ Các giới hạn về phạm vi( nếu có).
+ ý kiến của Kiểm toán viên về thông tin tài chính.
+ Nhận xét và biện pháp cải tiến đối với kiểm toán nội bộ( nếu cần thiết).
Báo cáo kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính có bốn dạng chính:
- Báo cáo chấp nhận toàn bộ: Kiểm toán viên đưa ra báo cáo chấp nhận toàn
bộ khi Kiểm toán viên không có sự loại trừ trọng yêú nào về việc áp dụng hợp lý
các nguyên tắc kế toán, và không có sự giới hạn nào về phạm vi kiểm toán.
-Báo cáo chấp nhận từng phần: Báo cáo mà Kiểm toán viên chấp nhận từng
phần được phát hành khi Kiểm toán viên cho rằng ngoại trừ một số thiếu sót
http://tailieuhay.com

18


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
trong báo cáo tài chính, hoặc một số giới hạn về phạm vi kiểm toán, thì báo cáo
tài chính đã trình bày một cách trung thực và hợp lý.
- Báo cáo không chấp nhận ( loại ý kiến trái ngược): báo cáo kiểm toán
không chấp nhận đưa ra nhận xét rằng báo cáo tài chính của đơn vị không trình
bày một cách hợp lý về tình hình tài chính và kết quả hoạt động theo các chuẩn
mực kế toán hiện hành.
- Báo cáo từ chối nhận xét ( ý kiến từ bỏ): Kiểm toán viên đưa ra báo cáo từ
nhận xét khi có những giới hạn nghiêm trọng về phạm vi kiểm toán, hoặc tồn tại
những tình huống chưa rõ ràng có ảnh hưởng nghiêm trọng đến báo cáo tài
chính.
c) Hoàn chỉnh hồ sơ kiểm toán:
Sau khi lập và ký báo cáo kiểm toán, Kiểm toán viên phải hoàn chỉnh hồ sơ
kiểm toán, hồ sơ kiểm toán được lập thành 2 bộ: một hồ sơ gửi cho đơn vị được
kiểm toán, một hồ sơ giữ lại phòng kiểm toán.
d) Giải quyết các công việc sau khi ký báo cáo kiểm toán:
Sau khi gửi báo cáo kiểm toán có thể phát sinh các sự việc cần được Kiểm
toán viên tiếp tục giải quyết như:
- Có sai sót nhỏ trong báo cáo tài chính do sơ xuất trong tính toán ghi chép
cần sửa lại.
- Phát hiện ra sai sót đáng kể do đơn vị cung cấp không đủ, không chính xác
hồ sơ tài liệu liên quan hoặc do hạn chế của Kiểm toán viên không phát hiện
được trong quá trình kiểm toán.
- Đơn vị chấp nhận sửa đổi lại các điểm sai sót, theo yêu cầu và hướng dẫn
của Kiểm toán viên.
- Đơn vị yêu cầu kiểm toán lại do trước đó đã từ chối.

http://tailieuhay.com

19


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Nếu các sai sót nhỏ trong báo cáo tài chính không làm ảnh hưởng đến ý
kiến nhận xét trong báo cáo kiểm toán thì không phải lập lại báo cáo kiểm toán.
nếu có ảnh hưởng đến tính hợp lý trong nhận xét của báo cáo kiểm toán, thì
Kiểm toán viên phải trực tiếp kiểm tra, hướng dẫn việc sửa chữa và lập lại báo
cáo kiểm toán với nhận xét phù hợp.
II. Những vấn đề cơ bản về hệ thống kiểm soát nội bộ.
1. Hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.1. Khái niệm.

Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ các quy định tổ chức quản lý chức
năng, nhiệm vụ và phương pháp công tác mà một đơn vị phải tuân theo.
Hay: Hệ thống kiểm soát nội bộ là toàn bộ những chính sách, những thủ tục
kiểm soát do ban giám đốc của đơn vị thiết lập, nhằm đảm bảo việc quản lý chặt
chẽ và tính hiệu quả của các hoạt động trong khả năng có thể.
Hệ thống kiểm soát nội bộ được biểu diễn bằng sơ đồ sau.

Hệ thống cơ chế
kiểm tra giám sát
mội bộ

Hệ thống
kiểm soát
nội bộ

Kiểm toán nội bộ

1.2. Các bộ phận của hệ thống kiểm soát nội bộ.
1.2.1. Môi trường kiểm soát:

http://tailieuhay.com

20


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Bao gồm tất cả các nhân tố ảnh hưởng đến quy trình thiết lập sự vận hành
và tính hiệu quả của kiểm soát nội bộ, trong đó chủ yếu là sự nhận thức và hành
động của các nhà quản lý. Các nhân tố đó bao gồm:
- Quan điểm, triết lý và phong cách điều hành của nhà quản lý.
- Cơ cấu tổ chức của đơn vị.
- Chính sách về nhân sự.
- Các kế hoạch và dự toán.
- Các yếu tố bên ngoài: như môi trường pháp lý, đối thủ cạnh tranh, tình
hình kinh tế xã hội...
1.2.2.Hệ thống kế toán.

Qua việc ghi nhận, tính toán, phân loại các nghiệp vụ kinh tế phát sinh,
không những hệ thống kế toán cung cấp những thông tin cho quá trình, quản lý
mà nó còn giúp cho việc kiểm soát các mặt hoạt động của đơn vị. Một hệ thống
kế toán hữu hiệu phải đảm bảo các yêu cầu sau.
- Tính có thực: chỉ ghi chép những nghiệp vụ kinh tế có thực.
- Sự phê chuẩn: phải đảm bảo sự phê chuẩn trước khi thực hiện mọi hoạt
động nghiệp vụ.
- Tính đầy đủ: phải phản ánh đầy đủ, không bỏ sót, giấu giếm mọi nghiệp
vụ phát sinh.
- Sự đánh giá: không để xảy ra những sai phạm trong tính toán, trong việc
áp dụngchính sách kế toán.
- Sự phân loại: đảm bảo các nghiệp vụ được phân loại theo đúng quy định.
1.2.3. Các thể thức kiểm soát.

Là toàn bộ những chính sách, thủ tục giúp cho việc thực hiện các chỉ đạo
của nhà quản lý, nó đảm bảo các hoạt động cần thiết để quản lý các rủi ro có thể
xảy ra trong quá trình thực hiện mục tiêu của doanh nghiệp.
http://tailieuhay.com

21


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
Có rất nhiều thủ tục kiểm soát khác nhau, tuy nhiên chúng đều thuộc 6
nhóm:
- Phân chia trách nhiệm thích hợp hay nguyên tắc bất kiêm nhiệm.
- Các thủ tục phê chuẩn.
+ Phê chuẩn chung: là những chính sách hướng dẫn do ban giám đốc đưa
ra để cho cấp dưới thực hiện.
+ Phê chuẩn cụ thể : phê chuẩn đối với từng nghiệp vụ cụ thể thông qua
dấu, chữ ký.
- Chứng từ và sổ sách phải đầy đủ để ghi chép nghiệp vụ, lập, luân chuyển ,
lưu trữ chứng từ phải đúng nguyên tắc kế toán.
- Bảo vệ an toàn tài sản vật chất.
- Kiểm tra độc lập.
- Phân tích rà soát.
2/ Kiểm toán nội bộ.
2.1. Khái niệm.

Kiểm toán nội bộ là một chức năng đánh giá độc lập được thiết lập trong tổ
chức, để kiểm tra và đánh giá hoạt động của tổ chức đó, với mục đích giúp cho
các thành viên hoàn thành hữu hiệu thách nhiệm của mình.
2.2. Các nguyên tắc cơ bản của kiểm toán nội bộ.
2.2.1. Nhiệm vụ của kiểm toán nội bộ.

- Kiểm toán nội bộ phải thực hiện kiểm toán đối với tất cả các quá trình
hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp tuỳ thuộc theo quy mô và mức độ rủi
ro .
- Kiểm toán nội bộ phải kiểm tra đánh giá về:

http://tailieuhay.com

22


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
+ Khả năng hoạt động, tính hiệu quả và sự thoả đáng của các cơ chế quản
lý, điều hành rủi ro.
+ khả năng hoạt độn, tính hiệu quả và sự thoả đáng của cơ chế quản lý,
điều hành rủi ro.
+ Đánh giá việc tuân thủ các quy định của pháp luật và các quy định nội
bộ.
+ Xác định mức độ phù hợp với luật và quy chế quản lý cả trong việc ban
hành chính sách và thủ tục nội bộ.
+ Xác định chất lượng thực hiện của cả ban quản lý và cán bộ trong việc
thực hiện các trách nhiệm được giao.
+ kiến nghị các phương án phòng ngừa rủi ro và cải thiện hoạt động.
- Thực hiện các cuộc kiểm toán đặc biệt.
- Tư vấn cho các bộ phận chức năng chuyên môn khi triển khai thực hiện
các đề án và giúp đỡ họ giaỉ quyết khó khăn vướng mắc.
* Quy chế kiểm toán nội bộ Việt Nam quy định nhiệm vụ của kiểm toán nội
bộ.
+ Kiểm tra tính phù hợp, hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội
bộ.
+ Kiểm tra, xác nhận chất lượng, độ tin cậy của thông tin kinh tế, tài chính
của báo cáo tài chính trước khi trình duyệt.
+ Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lý kinh doanh đặc
biệt sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán, quyết định của
Hội đồng quản trị, Ban giám đốc.
+ Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lý, trong bảo vệ tài
sản của doanh nghiệp, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống
quản lý, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp.

http://tailieuhay.com

23


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
2.2.2. Chức năng của kiểm toán nội bộ.

Kiểm toán nội bộ có nhiệm vụ bảo vệ doanh nghiệp trước những rủi ro,
nguy cơ thất thoát tài sản. Để làm được như vậy kiểm toán nội bộ phải thực
hiện :
- Kiểm toán hoạt động.
- Kiểm toán tài chính.
- Kiểm toán điều hành.
Kiểm toán nội bộ cũng có chức năng tư vấn, đưa ra kiến nghị nhằm hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả của cơ cấu tổ chức cũng như quy trình vận hành của
doanh nghiệp.
Giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp thông qua việc kiểm toán toàn diện
trên tất cả các lĩnh vực và đưa ra các ý kiến tư vấn. Góp phần hoàn thành mục
tiêu của doanh nghiệp.
2.2.3. Vị thế của kiểm toán.

Với chức năng và nhiệm vụ như trên bộ phận kiểm toán phải có được vị thế
vững chắc trong doanh nghiệp, điều này đòi hỏi các nhà quản lý doanh nghiệp
phải quan tâm đúng mức tới bộ phận kiểm toán nội bộ.
2.2.4. Tổ chức bộ phận kiểm toán nội bộ.

Bộ phận kiểm toán nội bộ cần được xây dựng sao cho phù hợp với quy mô
của doanh nghiệp và đảm bảo thoả đáng công tác kiểm toán trong khuôn khổ
mục tiêu kinh doanh và môi trường kinh doanh của doanh nghiệp.
2.2.5.Những yêu cầu chuyên môn và phẩm chất cá nhân đối với kiểm toán viên nội bộ.

- Tính độc lập của Kiểm toán viên nội bộ phải độc lập với các hoạt động mà
họ tiến hành kiểm toán. Các Kiểm toán viên nội bộ phải tiến hành các cuộc kiểm
toán của mình một cách khách quan.

http://tailieuhay.com

24


Tổng quan về kiểm toán và kiểm toán nội bộ ngân hàng thương mại
- Kiểm toán viên nội bộ phải chấp hành các chuẩn mực về thái độ.
- Có kiến thức, khả năng định hướng chuyên môn cần thiết để thực hiện
nhiệm vụ của mình.
- Kiểm toán viên nội bộ phải biết ứng xử và có khả năng giao tiếp.
- Kiểm toán viên nội bộ phải quan tâm tới quyền hạn chuyên môn của mình
thông qua hoạt động đào tạo nâng cao kiến thức.
- Khi tiến hành kiểm toán, kiểm toán viên nội bộ phải đảm bảo sự thận
trọng cần thiết.
Theo quyết định 832 /QD/CĐKT ngày 28/20/97 của Bộ tài chính về việc
ban hành quy chế kiểm toán nội bộ thì người được bổ nhiệm hoặc được giao
nhiệm vụ làm kiểm toán nội bộ phải có đủ các tiêu chuẩn sau:
+ Có phẩm chất trung thực, khách quan, chưa có tiền án tiền sự và chưa bị
kỷ luật cảnh cáo trở lên do sai phạm trong quản lý kinh tế, tài chính, kế toán.
+ Đã tốt nghiệp đại học chuyên nghành kinh tế, tài chính kế toán 5 năm trở
lên trong đó ít nhất 3 năm làm việc tại doanh nghiệp nơi được giao nhiệm vụ làm
kiểm toán viên nội bộ.
+ Đã qua huấn luyện về nghiệp vụ kiểm toán, kiểm toán nội bộ theo nội
dung chương trình thống nhất của bộ tài chính và được cấp chứng chỉ.
2.2.6. Phạm vi công việc.

Đánh giá tính thích hợp và tính hiệu quả của cơ chế kiểm tra nội bộ cũng
như chất lượng của việc thực hiện nhiệm vụ trong nội bộ doanh nghiệp. Cụ thể
kiểm toán viên phải xem xét về :
- Tính xác thực và đầy đủ của thông tin.
- Việc chấp hành các chiến lược, kế hoạch, quy trình, luật định, nghị định và
hợp đồng.
- Bảo vệ tài sản của doanh nghiệp.

http://tailieuhay.com

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×