Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong kiểm toán báo cáo tài chính do công ty kiểm toán việt nam thực hiện

LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán là lĩnh vực đang dần được khẳng định và chiếm vị trí quan trọng
trong nền kinh tế Việt Nam. Mặc dù mới ra đời và phát triển trong hơn 15 năm
nhưng số lượng các công ty kiểm toán đã ngày càng gia tăng, chứng tỏ nhu cầu đối
với lĩnh vực này ngày càng cao. Trong đó, sự ra đời của Công ty Kiểm toán Việt
Nam (VACO) (tiền thân của Deloitte Việt Nam) được đánh dấu là một mốc lịch sử
cho ngành kiểm toán tại Việt Nam.
Kiểm toán Báo cáo tài chính luôn là dịch vụ truyền thống và chiếm tỷ trọng
lớn trong doanh thu của các công ty kiểm toán hiện nay. Trước xu thế hội nhập như
ngày nay các công ty kiểm toán độc lập ở Việt Nam luôn phải đặt ra yêu cầu không
ngừng nâng cao chất lượng dịch vụ của mình để có thể đáp ứng được nhu cầu của
khách hàng và cạnh tranh với các công ty kiểm toán nước ngoài.
Trong đó đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán là một bước vô cùng quan
trọng để giúp cho các công ty kiểm toán xây dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý
góp phần nâng cao chất lượng cũng như hiệu quả của cuộc kiểm toán. Tuy nhiên,
thực tế hiện nay việc đánh giá trọng yếu ở các công ty vẫn còn nhiều điểm chưa
hoàn thiện do đây là một công việc khó và đòi hỏi trình độ phán xét của kiểm toán
viên. Được đánh giá là một trong những công ty có quy trình đánh giá trọng yếu và
rủi ro kiểm toán khá hoàn chỉnh và tiêu chuẩn, trong thời gian thực tập tại Công ty
TNHH Deloitte Việt Nam em đã có cơ hội tiếp xúc và so sánh giữa lý thuyết và
thực tế và nhận ra được rất nhiều kiến thức cũng như kinh nghiệm quý báu. Chính

vì vậy, em đã chọn đề tài: “Quy trình đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán
trong kiểm toán Báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam” để
nghiên cứu, phát triển cho Báo cáo thực tập của mình.
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, Báo cáo gồm ba chương sau:


Chương 1: Cơ sở lý luận về trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong

kiểm toán báo cáo tài chính
1




Chương 2: Thực tiễn đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán trong

kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty Kểm toán Việt Nam


Chương 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện quy trình đánh giá trọng

yếu và rủi ro kiểm toán tại Công ty TNHH Deloitte Việt Nam.
Em xin chân thành cảm ơn cô giáo Lê Thị Thu cùng các anh chị tại Công ty
TNHH Deloitte Việt Nam đã có những hướng dẫn chỉ bảo tận tình cho em để em có
thể hoàn thành tốt Báo cáo này.

2


CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN
TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
.I

KHÁI NIỆM TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN

I.1.

Trọng yếu

Theo từ điển Tiếng Việt, “Trọng yếu là một tính từ để chỉ sự quan trọng thiết


yếu. Một sự vật hay một địa danh đi kèm với trọng yếu đều mang ý nghĩa quan
trọng”.
Trọng yếu là một thuật ngữ quan trọng trong kế toán, kiểm toán. Nguyên tắc
trọng yếu cần chú trọng đến những vấn đề mang tính cốt yếu, quyết định bản chất
và nội dung của sự vật, sự kiện kinh tế phát sinh. Chính vì vậy khái niệm trọng yếu
được đề cập ở rất nhiều tài liệu trong nước cũng như quốc tế. Có thể trích dẫn một
số tài liệu sau:
Theo Bản công bố về chuẩn mực kiểm toán số 47 (SAS 47): “kiểm toán viên
nên xem xét rủi ro kiểm toán và vấn đề trọng yếu trong khi lập kế hoạch kiểm toán
và thiết kế các thủ tục kiểm toán cũng như khi đưa ra kết luận kiểm toán” (Lý
thuyết kiểm toán -NXB Tài chính 2005).
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 200 (VSA 200) - Mục tiêu và
nguyên tắc cơ bản chi phối kiểm toán báo cáo tài chính: “Trọng yếu: là thuật ngữ
dùng để thể hiện tầm quan trọng của một thông tin (một số liệu kế toán) trong Báo
cáo tài chính.
Thông tin được coi là trọng yếu có nghĩa là nếu thiếu thông tin đó hay thiếu
chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng tới các quyết định của người sử dụng Báo
cáo tài chính. Mức độ trọng yếu tuỳ thuộc vào tầm quan trọng của thông tin hay của
sai sót được đánh giá trong hoàn cảnh cụ thể. Tính trọng yếu của thông tin phải
được xem xét trên cả tiêu chuẩn định lượng và định tính.”
Theo Chuẩn mực kiểm toán quốc tế (ISA 320) - Tính trọng yếu trong kiểm
toán: “Thông tin là trọng yếu nếu việc bỏ sót hoặc sai sót của thông tin đó có thể
3


ảnh hưởng đến quyết định kinh tế của người sử dụng Báo cáo tài chính. Tính trọng
yếu phụ thuộc vào mức độ quan trọng của các khoản mục hay sai sót được đánh giá
theo bối cảnh cụ thể tạo ra việc bỏ sót hoặc sai sót đó. Vì thế, tính trọng yếu là một
ngưỡng hoặc một điểm định tính cơ bản mà một thông tin hữu ích cần phải có”.
Từ các định nghĩa ở trên ta thấy rằng dù ở trên thế giới hay Việt Nam “trọng
yếu” đều được quan niệm như một thuật ngữ dùng để thể hiện tầm quan trọng của
một thông tin hay một số liệu kế toán trong Báo cáo tài chính mà nếu thiếu nó hoặc
thiếu chính xác của thông tin đó sẽ ảnh hưởng đến nhận thức của người sử dụng
Báo cáo tài chính, từ đó dẫn đến sai lầm trong việc đánh giá thông tin và ra các
quyết định quản lý. Sự tương đồng giữa kiểm toán và quản lý này đã dẫn đến tính
tất yếu phải lựa chọn nội dung kiểm toán tối ưu, vừa đánh giá đúng bản chất của
đối tượng kiểm toán, vừa đáp ứng kịp thời nhu cầu của người quan tâm với giá phí
kiểm toán thấp trên cơ sở thực hiện tốt chức năng kiểm toán.
Bởi vậy, để giải quyết yêu cầu trên trong khái niệm “trọng yếu” đã bao hàm
hai mặt liên quan tới nhận thức đối tượng: Quy mô hay tầm cỡ (mặt lượng) và vị trí
hay tính hệ trọng (mặt chất) của phần nội dung cơ bản.
I.2.

Rủi ro kiểm toán

.2.1

Khái niệm

Rủi ro kiểm toán là gì? Theo Từ điển Tiếng Việt: “rủi ro là tính từ dùng để
chỉ việc không may xảy ra” hoặc “rủi ro là điều không lành, không tốt bất ngờ xảy
đến”. Nói chung rủi ro là những điều không mong muốn tuy nhiên trong các lĩnh
vực khác nhau thì đặc trưng của rủi ro lại khác nhau. Sau đây là những khái niệm
khác nhau về rủi ro trong kiểm toán mà đã được đề cập ở rất nhiều tài liệu.
Rủi ro kiểm toán: “là khả năng mà kiểm toán viên và công ty kiểm toán đưa
ra ý kiến nhận xét không thích hợp khi Báo cáo tài chính đã được kiểm toán vẫn
còn có những sai sót trọng yếu”. (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 - Đánh
giá rủi ro và kiểm soát nội bộ). Do đối tượng kiểm toán là những thông tin được
4


kiểm toán qua nhiều giai đoạn bằng những bộ máy quản lý và các phương thức, thủ
tục kiểm soát khác nhau nên rủi ro kiểm toán cũng được xác định tương ứng đối
với từng loại đối tượng kiểm toán. Rủi ro bao gồm ba bộ phận: Rủi ro tiềm tàng, rủi
ro kiểm soát và rủi ro phát hiện.
Theo Các văn bản chỉ đạo kiểm toán quốc tế số 25 (IAG 25) - Trọng yếu và
rủi ro trong kiểm toán: “Rủi ro kiểm toán là những rủi ro mà kiểm toán viên có thể
mắc phải khi đưa ra những nhận xét không xác đáng về các thông tin tài chính và
đó là các sai sót nghiêm trọng. Ví dụ, kiểm toán viên có thể đưa ra ý kiến chấp
nhận toàn bộ về một Báo cáo tài chính mà không biết rằng báo cáo này có những
sai sót nghiêm trọng”.
.2.2

Các loại rủi ro kiểm toán

Rủi ro tiềm tàng: “là rủi ro tiềm ẩn, vốn có do khả năng từng nghiệp vụ,
từng khoản mục trong Báo cáo tài chính chứa đựng sai sót trọng yếu khi tính riêng
rẽ hoặc tính gộp, mặc dù có hay không hệ thống kiểm soát nội bộ”. (Chuẩn mực
kiểm toán Việt Nam số 400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ). Chẳng hạn như
doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực có sự thay đổi nhanh về kỹ thuật rất có thể
dẫn đến khả năng có sai sót cao ở khoản mục hàng tồn kho trên Báo cáo tài chính
do không lập dự phòng giảm giá đầy đủ đối với những hàng hóa bị lỗi thời; hay
khoản mục tiền trên Báo cáo tài chính thường có khả năng sai sót cao do tiền là loại
tài sản nhạy cảm với gian lận.
Đánh giá rủi ro tiềm tàng có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì trên cơ sở đó
kiểm toán viên dự kiến những công việc, thủ tục kiểm toán sẽ được thực hiện đối
với các khoản mục, nghiệp vụ trọng yếu trên Báo cáo tài chính.
Rủi ro kiểm soát: “là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng khoản mục,
nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà hệ thống kế
toán và hệ thống kiểm soát nội bộ không ngăn ngừa hết hoặc không phát hiện và
sửa chữa kịp thời”. (Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400: Đánh giá rủi ro và
5


kiểm soát nội bộ). Ví dụ như: một hệ thống kiểm soát nội bộ tốt vẫn có thể gặp sai
sót khi hệ thống xây dựng quá phức tạp, luân chuyển nhân sự nhiều hoặc thiếu đào
tạo nhân viên… Môi trường kiểm soát thường thể hiện ý chí, quan điểm, nhận thức,
hành động của nhà quản lý đơn vị vì vậy cần được xem xét kỹ lưỡng. Đối với các
doanh nghiệp xử lý số liệu bằng phương pháp điện tử, rủi ro kiểm toán là cao nếu
doanh nghiệp không kiểm soat tốt được quy trình xử lý số liệu từ khâu nhập số liệu,
thiết kế chương trình phần mềm, bảo mật thông tin…
Rủi ro phát hiện: “là rủi ro xảy ra sai sót trọng yếu trong từng khoản mục,
nghiệp vụ trong Báo cáo tài chính khi tính riêng rẽ hoặc tính gộp mà trong quá trình
kiểm toán, kiểm toán viên và công ty kiểm toán không phát hiện ra được”.(Chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam số 400: Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ). Rủi ro phát
hiện có nguyên nhân bắt nguồn trực tiếp từ nội dung, thời gian và phạm vi của các
thử nghiệm cơ bản do kiểm toán viên thực hiện. Ví dụ như: rủi ro phát hiện sẽ giảm
xuống nếu kiểm toán viên mở rộng phạm vi kiểm tra, tăng cường kích cỡ của các
thử nghiệm hay tăng các thủ tục kiểm tra chi tiết với các số dư hoặc nghiệp vụ.
I.3.

Mối quan hệ giữa trọng yếu và rủi ro kiểm toán

Trọng yếu và rủi ro kiểm toán có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau. Đó là
mối quan hệ tỷ lệ nghịch. Mức trọng yếu càng cao thì rủi ro kiểm toán càng thấp và
ngược lại nếu mức trọng yếu có thể chấp nhận được giảm xuống thì rủi ro kiểm
toán sẽ tăng lên vì khi đó giá trị sai sót có thể bỏ qua giảm xuống. Mối quan hệ này
có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xác định nội dung, lịch trình và phạm vi của
các thủ tục kiểm toán sẽ áp dụng.
Không những thế cả trọng yếu và rủi ro kiểm toán đều ảnh hưởng đến tính
đầy đủ của bằng chứng kiểm toán cần thu thập. Đó là mối quan hệ tỷ lệ thuận: nếu
mức độ trọng yếu và mức độ rủi ro kiểm toán càng cao thì số lượng bằng chứng
kiểm toán cần thu thập càng nhiều.

6


Số lượng bằng chứng kiểm toán sẽ phải nhiều lên khi kiểm toán các khoản
mục có tính trọng yếu cao. Chẳng hạn, khi kiểm toán một đơn vị sản xuất thì số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập để đạt được mục tiêu kiểm toán đối với
hàng tồn kho bao giờ cũng phải lớn hơn so với số lượng bằng chứng cần thu thập
cho khoản trả trước. Và cũng tương tự như với tính trọng yếu, thông thường số
lượng bằng chứng kiểm toán cần thu thập sẽ tăng lên trong những trường hợp có
nhiều khả năng sai phạm.
Bảng các mối quan hệ giữa của rủi ro kiểm toán với bằng chứng phải thu thập
Trường
hợp
1
2
3
4
5

.II

Rủi ro

Rủi ro

Rủi ro

Rủi ro phát

Số lượng bằng

kiểm toán tiềm tàng
kiểm soát
hiện
chứng cần thu thập
Cao
Thấp
Thấp
Cao
Thấp
Thấp
Thấp
Thấp
Trung bình
Trung bình
Thấp
Cao
Cao
Thấp
Cao
Trung bình Trung bình Trung bình Trung bình
Trung bình
Cao
Thấp
Trung bình Trung bình
Trung bình
Nguồn: “Kiểm toán” - Alvin Arren, sách dịch, tr194.

ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN TRONG

KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
II.1. Cơ sở đánh giá
.1.1

Đối với tính trọng yếu

Khi đánh giá tính trọng yếu ngoài việc phải xem xét quy mô tuyệt đối của sai
phạm mà còn phải chú ý đến quy mô tương đối của nó, tức là mối quan hệ của nó
với các đối tượng khác. Trong toàn bộ đối tượng kiểm toán bao giờ cũng có những
nội dung, nghiệp vụ, khoản mục quan trọng hơn, đòi hỏi tập trung nhiều hơn. Đây
chính là mặt bản chất của vấn đề cần xem xét.
Ngoài ra, khi đánh giá tính trọng yếu ta cũng cần chú ý đến những tiêu chí
khác nữa như mục tiêu kiểm toán cụ thể, tính không chắc chắn của vấn đề xem xét,
tính chất thường xuyên hay không thường xuyên của nghiệp vụ,…

7


.1.2

Đối với rủi ro kiểm toán

Đối với rủi ro kiểm toán: cơ sở để đánh giá rủi ro chính là các yếu tố bao
hàm trong mỗi loại rủi ro.
Rủi ro tiềm tàng là rủi ro tồn tại sai sót trọng yếu không kể đến hoạt động
kiểm soát nội bộ và kiểm toán, vì vậy, cơ sở đánh giá là những tồn tại tiềm tàng
thuộc về bản chất của đối tượng như: đặc điểm kinh doanh của khách hàng, công
việc ngành nghề kinh doanh, bản chất hệ thống kế toán…
Rủi ro kiểm soát là khả năng tồn tại sai sót trọng yếu khi đã kể đến hiệu lực
của hệ thống kiểm soát nội bộ, vì vậy, cơ sở để tiến hành đánh giá chính là bộ máy
kế toán, hệ thống Kiểm soát nội bộ. Đánh giá rủi ro kiểm soát chính là quá trình
đánh giá cách thiết kế, tính liên tục và hiệu quả hoạt động của hệ thống Kiểm soát
nội bộ trong việc ngăn ngừa và phát hiện các sai sót nghiêm trọng.
Rủi ro phát hiện là rủi ro mà các kiểm toán viên không phát hiện ra các sai
sót nghiêm trọng trong quá trình kiểm toán, vì vậy, cơ sở đánh giá nó chính là việc
thực hiện các bước kiểm toán, phạm vi tiến hành kiểm toán và sự tuân thủ các
Chuẩn mực kiểm toán của kiểm toán viên.
Đối với rủi ro tài khoản: để lựa chọn cơ sở cho việc đánh giá rủi ro tài khoản,
cần quan tâm đến mối quan hệ chặt chẽ giữa trọng yếu và rủi ro. Mối quan hệ đó
thể hiện ngay trong khái niệm rủi ro kiểm toán: “rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm
toán viên mắc phải khi đưa ra ý kiến chấp nhận không thích hợp về Báo cáo tài
chính khi vẫn tồn tại những sai sót trọng yếu”. Trong mọi cuộc kiểm toán thì trọng
yếu và rủi ro có quan hệ tỷ lệ nghịch với nhau. Khi kiểm toán viên đánh giá là có
nhiều khoản mục trọng yếu trên Báo cáo tài chính và cần tiến hành kiểm tra, xem
xét nhiều khoản mục, nghiệp vụ để rủi ro kiểm toán thấp, nghĩa là khả năng còn tồn
tại những sai sót trọng yếu là thấp. Ngược lại, khi kiểm toán viên đánh giá là có ít
hơn các khoản mục trọng yếu thì sẽ có ít hơn các khoản mục, nghiệp vụ phải kiểm
tra, xem xét thì rủi ro còn tồn tại những sai sót trọng yếu là lớn hơn.
8


II.2. Đánh giá trọng yếu trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Việc đánh giá thế nào là trọng yếu là một công việc mang tính xét đoán nghề
nghiệp của kiểm toán viên, được tiến hành trong suốt cuộc kiểm toán, từ khâu lập
kế hoạch cho đến khâu kết thúc. Nói chung, quy mô sai sót là một nhân tố quan
trọng để kiểm toán viên xem xét các sai sót có trọng yếu hay không. Tuy nhiên,
khái niệm trọng yếu bao gồm hai yếu tố của sai phạm về quy mô và bản chất nên
mặc dù thông thường, kiểm toán viên lập kế hoạch kiểm toán để tìm ra các sai sót
nghiêm trọng về mặt định lượng, nhưng trên thực tế, kiểm toán viên phải đánh giá,
xét đoán cả về định lượng và định tính của bất cứ sai phạm nào phát hiện ra. Trong
khi đề cập đến những sai sót có thể có, kiểm toán viên cần xét vấn đề trọng yếu ở
mức độ tổng thể cũng như trong mối quan hệ với các số dư tài khoản cá biệt khác
và sự thể hiện trên Báo cáo tài chính. Tính trọng yếu cần phải được đặc biệt xem
xét ở hai giai đoạn trong cuộc kiểm toán: lập kế hoạch kiểm toán khi kiểm toán
viên quyết định cần tiến hành những thủ tục kiểm toán nào, xác định thời gian và
phạm vi của thủ tục kiểm toán đó, sau đó là khâu rà soát lại, khi kiểm toán viên
đánh giá ảnh hưởng của tất cả các sai sót.
Lập kế hoạch kiểm toán bao gồm việc xác định mục tiêu, phạm vi, thời hạn
và tính chất của các thủ tục kiểm toán,…, trong đó có việc thiết lập một mức trọng
yếu có thể chấp nhận được, cho phép kiểm toán viên phát hiện ra các sai sót trọng
yếu. ở giai đoạn thực hiện kiểm toán, việc đánh giá trọng yếu có thể khác so với
giai đoạn chuẩn bị, có thể do sự thay đổi hoàn cảnh và cũng có thể do kiểm toán
viên thu thập thêm những hiểu biết về khách hàng của mình. Cụ thể, sau khi thiết
lập được mức trọng yếu có thể chấp nhận được, kiểm toán viên tiến hành các thủ
tục kiểm toán theo kế hoạch để phát hiện các sai phạm, sau đó áp dụng mức trọng
yếu đã xây dựng để đánh giá ảnh hưởng của các sai phạm đó, từ đó đề xuất các
biện pháp xử lý. Để đánh giá mức độ trọng yếu, quy mô của các khoản mục, nghiệp
vụ không chỉ xét về con số tuyệt đối mà phải xét trong tương quan với toàn bộ đối
9


tượng kiểm toán. Về định lượng, đó là những tỷ lệ của các khoản mục, nghiệp vụ
so với một cơ sở để tính toán như: tổng tài sản, lợi nhuận trước thuế,…Tuỳ quan hệ
cụ thể với đối tượng cụ thể của kiểm toán, có thể tính riêng biệt hay cộng dồn các
khoản mục, nghiệp vụ cụ thể hay các sai sót có liên quan.
II.3. Đánh giá rủi ro kiểm toán trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Cũng như đánh giá trọng yếu, đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch là
một bước công việc hết sức quan trọng. Một trong những cách thường được sử
dụng để đánh giá rủi ro trong giai đoạn lập kế hoạch là dùng mô hình rủi ro kiểm
toán.
Như đã trình bày ở phần trên, rủi ro kiểm toán là rủi ro mà kiểm toán viên
kết luận Báo cáo tài chính được trình bày trung thực và hợp lý và do đó công bố
một ý kiến chấp nhận toàn phần, trong khi, thực tế thì chúng vẫn còn chứa sai sót
trọng yếu. Rủi ro kiểm toán bao gồm ba loại rủi ro: rủi ro tiềm tàng, rủi ro kiểm
soát và rủi ro phát hiện. Mối quan hệ giữa ba loại rủi ro trên được thể hiện qua mô
hình rủi ro kiểm toán sau:
AR = IR x CR x DR

DR =
Trong đó:

(1)

AR
(2)
IR × CR

AR (Audit Risk):

Rủi ro kiểm toán

IR (Inherent Risk):

Rủi ro tiềm tàng

CR (Control Risk):

Rủi ro kiểm soát

DR (Detected Risk): Rủi ro phát hiện
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam số 400 (VSA 400): mối quan hệ giữa
các loại rủi ro được khái quát theo mô hình ma trận sau:
Bảng đánh giá rủi ro phát hiện
Đánh giá của kiểm toán viên về rủi ro
kiểm soát
10


Đánh giá của
kiểm toán viên

Cao

Cao
Tối thiểu

Trung bình
Thấp

Thấp
Trung bình

Trung bình

Thấp

Trung bình

Cao

về rủi ro tiềm

Thấp
Trung bình
Cao
Tối đa
tàng
Nguồn: Kiểm toán, ĐH Kinh tế TP Hồ Chí Minh, tr138.
Mô hình rủi ro kiểm toán được dùng khi lập kế hoạch kiểm toán theo một
trong hai cách sau hoặc cả hai cách.
Cách thứ nhất (1): Mô hình rủi ro kiểm toán được dùng để đánh giá sự hợp lý
của kế hoạch kiểm toán.
Cách thứ hai (2): Mô hình này được dùng để xác định rủi ro phát hiện và số
lượng bằng chứng cần thu thập.
Cách thứ ba (3): Một số kiểm toán viên sử dụng mô hình rủi ro kiểm toán là
chỉ để tự nhắc nhở mối quan hệ giữa các loại rủi ro với nhau và mối quan hệ của
chúng tới bằng chứng kiểm toán.
 Mức độ rủi ro kiểm toán mong muốn (AR) là rủi ro được xác định theo
chủ quan của kiểm toán viên khi kiểm toán viên cho rằng Báo cáo tài chính không
được trình bày trung thực sau khi cuộc kiểm toán đã kết thúc và đi đến một nhận
xét chấp nhận hoàn toàn. Khi kiểm toán viên chấp nhận một tỷ lệ rủi ro kiểm toán
mong muốn thấp hơn tức là kiểm toán viên mong muốn được chắc chắn hơn rằng
Báo cáo tài chính không có chứa các sai phạm trọng yếu Rủi ro kiểm soát: là loại
rủi ro liên quan đến sự yếu kém của hệ thống kiểm soát nội bộ. Rủi ro kiểm soát là
khả năng xảy ra các sai phạm trọng yếu do hệ thống kiểm soát nội bộ của đơn vị
khách hàng không hoạt động hoặc hoạt động không có hiệu quả do đó đã không
phát hiện ra và ngăn chặn các sai phạm này.
Rủi ro kiểm soát được kiểm toán viên đánh giá đối với từng khoản mục trên
Báo cáo tài chính thông qua việc tìm hiểu hệ thống kiểm soát nội bộ của khách
hàng. Muốn đánh giá được rủi ro kiểm soát, kiểm toán viên cần có một sự hiểu biết
11


nhất định về hệ thống kiểm soát nội bộ của công ty khách hàng, rồi sau đó mới đi
vào xem xét việc nó hoạt động như thế nào.
 Rủi ro phát hiện: là khả năng xảy ra các sai sót hay gian lận trên Báo cáo
tài chính mà không được ngăn chặn hay phát hiện bởi hệ thống kiểm soát nội bộ và
cũng không được kiểm toán viên phát hiện trong suốt quá trình kiểm toán.
Rủi ro phát hiện thường được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán, rủi
ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát căn cứ vào mô hình rủi ro kiểm toán. Do ba loại rủi
ro này thay đổi đối với từng khoản mục trên Báo cáo tài chính nên rủi ro phát hiện
và số lượng bằng chứng cần thu thập cũng thay đổi theo đối với từng khoản mục.
Trong quá trình kiểm toán rủi ro phát hiện phát sinh do ảnh hưởng của các
nhân tố sau:
-

Các bước kiểm toán không thích hợp, điều này thường xảy ra đối với

những kiểm toán viên mới, thực hiện không hợp lý quy trình kiểm toán cho mỗi
phần hành.
-

Phát hiện ra bằng chứng nhưng không nhận thức được sai sót nên

thường đưa ra kết luận sai về phần hành đó cũng như về Báo cáo tài chính.
-

Kiểm toán viên hoàn toàn không phát hiện ra sai sót do có sự thông

đồng, nhất trí bên trong doanh nghiệp làm sai các chính sách và chế độ do Ban
giám đốc đề ra.

12


CHƯƠNG 2. THỰC TIỄN ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM
TOÁN TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI CÔNG TY KIỂM
TOÁN VIỆT NAM
.I

TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY KIỂM TOÁN VIỆT NAM

I.1.

Quá trình hình thành và phát triển của Công ty Kiểm toán Việt

Nam
Công ty kiểm toán Việt Nam (Deloitte) được thành lập năm 1991 theo Quyết
định số 165TC/QĐ/TCCB ngày 13 tháng 5 năm 1991 của Bộ trưởng Bộ Tài chính
và chuyển sang công ty TNHH một thành viên theo Quyết định số 1927/QĐ-BTC
ngày 30/06/2003 của Bộ trưởng Bộ Tài chính. Giấy chứng nhận đăng ký kinh
doanh Công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên số 0104000112 ngày 19 tháng
01 năm 2004 do Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Hà Nội cấp.
Tên gọi đầy đủ
Tên tiếng Anh
Tên viết tắt
Biểu tượng công ty

: Công ty Kiểm toán Việt Nam TNHH
: Vietnam Auditing Company Ltd.,
:VACO

:
Trụ sở chính
: số 8 Phạm Ngọc Thạch – Đống Đa - Hà Nội
Điện thoại
: (04) 8524 123
Fax
: (04) 8524 119
Email
: Deloitte-hn@Deloittedtt.com
Website
: www.Deloittedtt.com
VACO là công ty kiểm toán đầu tiên và lớn nhất ở Việt Nam cung cấp dịch
vụ chuyên ngành cho nhiều khách hàng lớn thuộc mọi thành phần kinh tế như
doanh nghiệp liên doanh, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp
thuộc sở hữu nhà nước và các dự án quốc tế.
VACO bắt đầu hợp tác với hãng Deloitte Touche Tohmatsu từ năm 1992 và
tháng 4 năm 1994 liên doanh VACO-DTT chính thức được thành lập. Sự kiện đánh
dấu sự phát triển vượt bậc của ngành kiểm toán độc lập ở Việt Nam đó là: từ ngày
01 tháng 10 năm 1997, VACO, với sự đại diện của phòng dịch vụ quốc tế (ISD), đã
13


chính thức được công nhận là thành viên của hãng kiểm toán quốc tế Deloitte
Touche Tohmatsu. Ngày 7/5/2007, Công ty Kiểm toán Việt Nam (VACO) đã
chính thức công bố hoàn thành việc chuyển đổi sở hữu và trở thành thành viên
đầy đủ của Deloitte Touche Tohmatsu - một trong bốn hãng kiểm toán lớn
nhất thế giới.
I.2.

Đặc điểm kinh doanh của Công ty

Hiện tại, các loại ngành nghề kinh doanh của Công ty gồm:


Các loại dịch vụ kiểm toán: kiểm toán Báo cáo tài chính, kiểm toán

cho mục đích thuế, kiểm toán hoạt động, kiểm toán tuân thủ, kiểm toán báo cáo
quyết toán vốn đầu tư, kiểm toán báo cáo quyết toán dự án, kiểm toán các thông tin
tài chính;


Dịch vụ soát xét Báo cáo tài chính;



Dịch vụ kiểm tra các thông tin trên cơ sở thoả thuận trước;



Tư vấn tài chính;



Dịch vụ và tư vấn kế toán;



Dịch vụ tư vấn thuế;



Tư vấn đầu tư;



Tư vấn quản lý, hệ thống kiểm soát;



Tư vấn công nghệ thông tin và cung cấp dịch vụ phần mềm tin học;



Tư vấn cổ phần hoá;



Tư vấn sáp nhập, giải thể;



Xác định giá trị doanh nghiệp;



Dịch vụ tập huấn, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức;



Dịch vụ hỗ trợ tuyển dụng;



Các dịch vụ khác về tài chính, kế toán, thuế.
14


Sơ đồ: Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý của DELOITTE
Chủ tịch công ty

Đội ngũ Chuyên gia

Các phòng nghiệp vụ

Ban Giám Đốc

Các phòng tư

Khối hành chính

Các chi
nhánh:

vấn

Tp Hồ Chí
Minh, Đà
Nẵng, Hải
Phòng
Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

Phòng

kiểm

kiểm

IT và

tư vấn

tư vấn

kế toán

hành

quản trị

tài

thuế

chính

nhân

toán I

toán II dịch vụ
quản lý

chính

rủi ro

và giải

sự

pháp

Nguồn: Bản cáo bạch công ty TNHH Deloitte Việt Nam

I.3.

Tổ chức bộ máy quản lý

Công ty Kiểm toán Việt Nam (Deloitte) có bộ máy tổ chức quản lý như sau:
Chức năng nhiệm vụ của các bộ phận trong Công ty:

15


• Chủ tịch công ty: là người đứng đầu công ty, có toàn quyền quyết định các
chiến lược hoạt động của công ty, chịu trách nhiệm về tất cả các vấn đề liên quan
đến công ty.
• Đội ngũ chuyên gia nước ngoài: thực hiện sự hỗ trợ về mặt nghiệp vụ đối
với các phòng ban và các hợp đồng kiểm toán của công ty.
• Ban giám đốc: có trách nhiệm lập các định hướng chung như chiến lược
kinh doanh, chính sách tuyển dụng và đào tạo….Giám đốc là đại diện toàn quyền
của công ty, chịu trách nhiệm trước Bộ Tài chính và công ty Deloitte Touche
Tohmatsu về mọi hoạt động của công ty, có quyền điều hành, quyết định mọi hoạt
động của công ty và các văn phòng đại diện. Phó giám đốc là người phụ trách soát
xét kỹ thuật kiểm toán và nghiên cứu khoa học tại các bộ phận mình phụ trách, giúp
Giám đốc điều hành một số lĩnh vực, chịu trách nhiệm trước Giám đốc về nhiệm vụ
được Giám đốc uỷ quyền và phân công thực hiện.
• Các phòng nghiệp vụ:
-

Phòng nghiệp: thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính của

các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, các
doanh nghiệp tư nhân và các dụ án quốc tế.
-

Phòng IT và dịch vụ quản lý rủi ro: thực hiện hỗ trợ khách

hàng các phần mềm, đánh giá, quản lý rủi ro, tăng cường độ tin cậy của hệ thống
cũng như chu trình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp.
• Các phòng tư vấn
-

Phòng tư vấn tài chính và giải pháp: thực hiện tư vấn tài

chính, giải pháp quản lý, tư vấn kế toán và các dịch vụ hỗ trợ dự án.
-

Phòng tư vấn thuế: hoạt động trên các lĩnh vực: hoạch định

chiến lược thuế, cơ cấu kinh doanh có hiệu quả cho mục đích thuế, soát xét tính
tuân thủ luật thuế của doanh nghiệp, lập kế hoạch, tính toán và kê khai thuế thu
16


nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân cho người nước ngoài làm việc tại
Việt Nam, thuế nhà thầu nước ngoài, tư vấn và trợ giúp doanh nghiệp khi gặp
vướng mắc trong quá trình quyết toán với cơ quan thuế, tổ chức hội thảo và đào tạo
kiến thức về thuế.
• Khối hành chính
-

Phòng kế toán: thực hiện thu thập, xử lý và cung cấp thông

tin về tài sản và các hoạt động kinh tế, tài chính phát sinh trong quá trình hoạt động
kinh doanh của công ty nhằm phục vụ công tác quản lý, công tác tín dụng.
-

Phòng hành chính: thực hiện quản lý hồ sơ nhân sự, lưu trữ

văn thư, giải quyết các thủ tục liên lạc, giao dịch hành chính, update thông tin, văn
bản mới….
-

Phòng quản trị nhân sự: theo dõi, phân công lao động, bố trí

điều kiện cho nhân viên đi công tác…
• Các chi nhánh: đại diện cho công ty hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực
kiểm toán, tư vấn và thuế.
.II

QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ TRỌNG YẾU VÀ RỦI RO KIỂM TOÁN

TRONG KIỂM TOÁN BÁO CÁO TÀI CHÍNH TẠI DELOITTE.
Hiện nay, Deloitte Việt Nam đang áp dụng Hệ thống kiểm toán AS/2 của
hãng Deloitte Touche Tohmatsu đã được sửa đổi, bổ sung phù hợp với thực tế của
Việt Nam. Hệ thống theo tiêu chuẩn của AS/2 bao gồm: Quy trình kiểm toán AS/2,
Hồ sơ kiểm toán AS/2 và Phầm mềm kiểm toán ứng dụng AS/2.
Quy trình kiểm toán AS/2 được thực hiện theo sáu bước công việc chính sau:
- Bước 1: Những công việc trước khi thực hiện hợp đồng kiểm toán
- Bước 2: Lập kế hoạch kiểm toán tổng quát
- Bước 3: Lập kế hoạch kiểm toán cụ thể
- Bước 4: Thực hiện kế hoạch kiểm toán
- Bước 5: Kết thúc công việc kiểm toán và lập báo cáo kiểm toán
17


- Bước 6: Những công việc thực hiện sau kiểm toán
Sáu bước công việc trên được được chi tiết thành những công việc cụ thể từ
khi chấp nhận hợp đồng kiểm toán đến khi kết thúc kiểm toán và được thể hiện trên
sơ đồ ở trang sau.
Hồ sơ kiểm toán theo hệ thống của AS/2 được chia làm hai mẫu: mẫu VACO
(cũ) áp dụng cho các khách hàng trong nước và mẫu Deloitte áp dụng cho các
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Với mỗi một mẫu hồ sơ lại được phân loại
ra làm: Hồ sơ kiểm toán thông minh và Hồ sơ kiểm toán thông thường. Trong đó,
Hồ sơ kiểm toán thông minh là loại hồ sơ được thực hiện dưới sự trợ giúp của phần
mềm kiểm toán AS/2 làm cho công việc kiểm toán được rút ngắn và giảm thiểu rủi
ro; Hồ sơ kiểm toán thông thường là loại hồ sơ dùng để lưu trữ các thông tin về
khách hàng nhằm mục đích so sánh giữa các năm kiểm toán hoặc nhằm phục vụ
cho các năm kiểm toán tiếp theo.
Phầm mềm kiểm toán AS/2 là một công cụ hết sức hiệu quả giúp cho cuộc
kiểm toán luôn đạt hiệu quả cao nhất. Trong phần mềm là những hướng dẫn kiểm
toán cụ thể cho các quy trình kiểm toán được Deloitte xây dựng theo tiêu chuẩn
toàn cầu. Nhờ áp dụng phần mềm kiểm toán thông minh này mà công việc kiểm
toán ngày càng được nâng cao chất lượng.
Việc đánh giá trọng yếu và rủi ro kiểm toán tại Deloitte cũng được thực hiện
bới phần mềm kiểm toán AS/2 kết hợp với sự đánh giá của các kiểm toán viên giàu
kinh nghiệm.
II.1. Khái quát về khách hàng kiểm toán
Giả sử có hai khách hàng là công ty A và công ty B, kiểm toán viên sẽ khái
quát thông tin như sau:
Công ty A là công ty liên doanh giữa Việt Nam và Đài Loan được thành lập
tại Việt Nam với thời gian hoạt động 36 năm theo Giấy phép Đầu tư số 1086/GP
ngày 17 tháng 12 năm 1994 và các Giấy phép Đầu tư điều chỉnh do Bộ Kế hoạch
18


và Đầu tư cấp.

Hoạt động chính của Công ty là tồn trữ và phân phối khí hoá

lỏng (LPG), nhựa đường và các sản phẩm liên quan, sử dụng và kinh doanh cầu
cảng của Công ty.
Công ty B là công ty liên doanh giữa Việt Nam và Singapore được thành lập
tại Việt Nam với thời gian hoạt động là 50 năm theo Giấy phép Đầu tư số 721/GP
ngày 12 tháng 11 năm 1993 do Uỷ ban Nhà nước về Hợp tác và Đầu tư (nay là Bộ
Kế hoạch và Đầu tư) cấp và các giấy phép điều chỉnh. Hoạt động chính của Công
ty là xây dựng, quản lý và điều hành một Câu lạc bộ, làm một câu lạc bộ thể thao,
căn hộ cho thuê, cung cấp các dịch vụ thể thao, đồ ăn uống, dịch vụ trò chơi điện tử
có thưởng cho người nước ngoài và các dịch vụ khác.
II.2. Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán
Đánh giá rủi ro chấp nhận hợp đồng kiểm toán là việc đánh giá rủi ro kinh
doanh mà công ty kiểm toán sẽ gặp phải nếu chấp nhận hợp đồng kiểm toán đó.
Công việc này được thực hiện trong giai đoạn tiền kiểm toán, trước khi ký kết hợp
đồng kiểm toán với khách hàng. Chính vì vậy, công việc đầu tiên mà Deloitte làm
trước khi chấp nhận kiểm toán đối với một khách hàng bao giờ cũng là đánh giá rủi
ro của hợp đồng này để xem liệu có thể tiếp tục hoặc bắt đầu tiến hành kiểm toán
cho khách hàng đó không và để có thể xây dựng một kế hoạch kiểm toán hợp lý khi
chấp nhận hợp đồng đó. Các tài liệu và thông tin thu thập được trong giai đoạn này
được tập hợp trên các chỉ mục:


Chỉ mục 1100 “Kế hoạch giao dịch và phục vụ khách hàng” .



Chỉ mục 1200 “Đánh giá rủi ro kiểm toán và môi trường kiểm toán”

Hàng năm, Deloitte gửi thư chào hàng tới các khách hàng kể cả khách hàng
truyền thống lẫn khách hàng mới để giới thiệu các dịch vụ mà Công ty cung cấp.
Thư chào hàng cũng là cơ sở để thiết lập các điều khoản trong hợp đồng. Trước khi
hợp đồng kiểm toán, kiểm toán viên phải thu thập những thông tin chung nhất về
khách hàng kiểm toán để có thể đưa ra những nhận định ban đầu về rủi ro của hợp
19


đồng và đưa đến kết luận có thực hiện kiểm toán cho khách hàng đó hay không.
Những thông tin này thường tập trung vào: đặc điểm, ngành nghề, lĩnh vực hoạt
động kinh doanh của khách hàng; hình thức sở hữu; quy mô của khách hàng; các
đối thủ cạnh tranh; tổ chức bộ máy quản lý.... và thường được lưu trong Hồ sơ kiểm
toán chung (Permanent File).
Bất kỳ một cuộc kiểm toán nào cũng có thể xảy ra rủi ro. Chính sách của
Deloitte quy định: tuỳ thuộc vào thực tế và khả năng suy đoán dựa trên sự đánh giá
tổng thể và kinh nghiệm có thể đánh giá rủi ro của cuộc kiểm toán ở một trong các
mức sau:


Bình thường (Normal)



Cao hơn bình thường (Greater than normal)



Rất cao (Much greater than normal)

Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là bình thường thì cuộc kiểm toán được
chấp nhận mà không cần xem xét gì thêm.
Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là cao hơn bình thường thì Phó Giám
đốc phụ trách hợp đồng phải thu thập thêm sự đồng ý của các Phó Giám đốc khác
phù hợp với chính sách và thủ tục trong công ty.
Nếu rủi ro kiểm toán được đánh giá là rất cao thì Giám đốc phải xem xét để
đưa ra kết luận cuối cùng. Nếu có nghi ngờ về khả năng chấp nhận hay tiếp tục với
khách hàng thì công ty cần thu thập ý kiến của các chuyên gia tư vấn.
II.3.

Đánh giá rủi ro kiểm toán trên Báo cáo tài chính

Việc đánh giá rủi ro kiểm toán bao giờ cũng bắt đầu bằng việc đánh giá rủi ro
kiểm toán mong muốn. Nó được xác định ngay trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm
toán.

20


.3.1

Đánh giá rủi ro tiềm tàng

Đánh giá rủi ro tiềm tàng là một bước công việc quan trọng và là cơ sở cho
kiểm toán viên trong việc lựa chọn phương pháp kiểm toán, xác định nhân sự, khối
lượng công việc, thời gian và cho phí cần thiết cho một cuộc kiểm toán. Theo
hướng dẫn của Deloitte, khi đánh giá rủi ro tiềm tàng thường dựa vào một số yếu tố
ảnh hưởng sau:


Đặc điểm của Ban giám đốc



Trình độ và kinh nghiệm chuyên môn của kế toán trưởng, của các

nhân viên kế toán chủ yếu, của kiểm toán viên nội bộ và sự thay đổi (nếu có) của
họ


Những áp lực bất thường đối với Ban giám đốc, kế toán trưởng



Đặc điểm hoạt động kinh doanh của đơn vị



Các nhân tố ảnh hưởng đến lĩnh vực hoạt động của đơn vị



Ý kiến của kiểm toán viên tiền nhiệm

Tất cả các thông tin trên được kiểm toán viên thu thập và lưu trong Chỉ mục
1410 “Tìm hiểu khách hàng và môi trường kiểm soát”.
.3.2

Đánh giá rủi ro kiểm soát

Theo hướng dẫn của Deloitte khi đánh giá rủi ro kiểm soát kiểm toán viên
thực hiện các bước công việc sau:


Thu thập hiểu biết về hệ thống kiểm soát nội bộ



Đánh giá ban đầu về rủi ro kiểm soát



Thực hiện các thử nghiệm kiểm soát

Trong giai đoạn này, kiểm toán viên của Deloitte tìm hiểu những yếu tố cấu
thành hệ thống kiểm soát nội bộ như môi trường kiểm soát, hệ thống kế toán, các
thủ tục kiểm soát và kiểm toán nội bộ. Tất cả các vấn đề trên được tập hợp trên một
bảng câu hỏi gồm 20 câu mà Deloitte đã thiết kế.
21


Môi trường kiểm soát: bao gồm toàn bộ những yếu tố ảnh hưởng đến quá
trình kiểm soát của doanh nghiệp như: đặc thù quản lý, cơ cấu tổ chức, ủy ban kiểm
soát…
Tìm hiểu hệ thống kế toán: Thu thập sự hiểu biết về hệ thống kế toán của
khách hàng cũng là một nhân tố quan trọng để kiểm toán viên xác định rủi ro và
xây dựng kế hoạch kiểm toán phù hợp. Thông qua việc thảo luận với Ban quản lý,
kiểm toán viên phải xác định các chính sách kế toán quan trọng được áp dụng và
xem các bằng chứng thích hợp có sẵn có hay không.
Tìm hiểu việc thực hiện các thủ tục kiểm soát: Các thủ tục kiểm soát được
Ban giám đốc công ty khách hàng sử dụng nhằm duy trì các hoạt động trong đơn vị
một cách tối ưu. Các thủ tục kiểm soát này được thiết lập dựa trên ba nguyên tắc cơ
bản: nguyên tắc phân công, phân nhiệm rõ ràng; nguyên tắc bất kiêm nhiệm; và
nguyên tắc ủy quyền và phê chuẩn. Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, các thủ tục
kiểm soát còn bao gồm: việc quy định chứng từ sổ sách phải đầy đủ, quá trình kiểm
soát vật chất đối với tài sản và sổ sách và kiểm toán độc lập các hoạt động của đơn
vị. Việc tìm hiểu các thủ tục kiểm soát sẽ giúp cho kiểm toán viên trong việc đánh
giá hệ thống kiểm soát nội bộ về mặt thiết kế và vận hành làm cơ sở cho đánh giá
rủi ro kiểm soát trên Báo cáo tài chính. Deloitte đưa ra một Bảng câu hỏi về các thủ
tục kiểm soát đối với từng khách hàng tập trung vào việc đảm bảo ba nguyên tắc
trên.
Tìm hiểu hệ thống kiểm toán nội bộ: Quá trình đánh giá bộ phận kiểm toán
nội bộ sẽ trợ giúp đắc lực cho kiểm toán viên Deloitte thực hiện đánh giá tính hữu
hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ, từ đó đánh giá xác đáng rủi ro kiểm soát
.3.3

Đánh giá rủi ro phát hiện

Rủi ro phát hiện được xác định từ ba loại rủi ro: rủi ro kiểm toán mong
muốn, rủi ro tiềm tàng và rủi ro kiểm soát.

22


Ví dụ, trong năm 2006, kiểm toán viên đã dự kiến rủi ro kiểm toán mong
muốn đối với Công ty A ở mức trung bình. Kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi
ro kiểm soát đối với Công ty A được đánh giá ở mức trung bình vì vậy rủi ro phát
hiện đối với Công ty A được đánh giá ở mức thấp hơn trung bình. Do vậy, trong
năm kiểm toán 2006 kiểm toán viên phải lập kế hoạch thực hiện khối lượng công
việc kiểm toán nhiều hơn hai năm trước đây.
Công ty B là khách hàng được kiểm toán viên dự kiến rủi ro kiểm toán mong
muốn ở mức cao hơn trung bình. Với kết quả đánh giá rủi ro tiềm tàng và rủi ro
kiểm soát cao hơn mức trung bình nên rủi ro phát hiện đánh giá trên báo cáo tài
chính của Công ty B ở mức thấp, do đó kế hoạch kiểm toán Công ty B đòi hỏi kiểm
toán viên phải thực hiện khối lượng lớn các thử nghiệm cơ bản.
II.4. Đánh giá trọng yếu
Theo hướng dẫn chuẩn của Deloitte Touche Tohmatsu, quy trình đánh giá
trọng yếu bao gồm hai bước sau:
.4.1

Xác định mức độ trọng yếu (PM_Planning Materiality)

Đánh giá trọng yếu là một bước công việc quan trọng và là một trong những
quyết định quan trọng nhất kiểm toán viên phải làm. Việc xác lập mức trọng yếu
nhằm mục đích:


Ước lượng mức độ sai phạm có thể chấp nhận được cho mục đích báo



Xác định phạm vi kiểm toán;



Xác định bản chất, thời gian, quy mô của các quy trình kiểm toán áp



Đánh giá tác động của những sai sót có thể phát hiện được hoặc không

cáo;

dụng;
phát hiện được trên Báo cáo tài chính.

23


Việc đánh giá trọng yếu phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm, trình độ
chuyên môn và óc xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên, do vậy tại Deloitte
công việc này thường do chủ nhiệm kiểm toán thực hiện. Công việc đánh giá trọng
yếu chỉ được thực hiện sau khi đã có sự đánh giá rủi ro kiểm toán trên Báo cáo tài
chính vì như vậy cơ sở để xác định trọng yếu sẽ chắc chắn hơn. Ngoài ra, việc đánh
giá trọng yếu sau khi đã đánh giá rủi ro trên Báo cáo tài chính sẽ được trực tiếp sử
dụng để đánh giá rủi ro kiểm toán trên phương diện số dư tài khoản và loại nghiệp
vụ và điều này sẽ tạo thuận lợi cho kiểm toán viên trong quá trình kiểm toán.
Deloitte đã xây dựng những hướng dẫn cụ thể cho việc đánh giá trọng yếu
trên Báo cáo tài chính, thể hiện ở bảng sau:
Hướng dẫn ước lượng về tính trọng yếu của Deloitte Touche
Tohmatsu
Loại hình khách hàng
Công ty đăng ký trên thị
trường chứng khoán
Công ty không đăng ký

Cơ sở ước lượng

Tỷ lệ ước lượng

Thu nhập sau thuế

5% - 10%

Tổng tài sản lưu động
2%
Vốn chủ sở hữu
2%
trên thị trường chứng
Lợi nhuận sau thuế
10%
khoán
Tổng doanh thu
0.5% - 3%
Chi nhánh của công ty Mức trọng yếu được xây dựng trên cơ sở doanh
xuyên quốc gia

thu và ở mức độ cao hơn 2% với công ty không
đăng ký trên thị trường chứng khoán ngang
bậc. Mức độ trọng yếu ở chi nhánh phải thấp

hơn ở công ty mẹ.
Nguồn: Tài liệu DELOITTE - AS/2.
Tuy nhiên các cơ sở được nêu ra ở trên không phải là bất biến, tùy thuộc vào
sự xét đoán nghề nghiệp của kiểm toán viên mà nó có thể thay đổi. Theo Bảng
hướng dẫn trên thì cũng có một số trường hợp đặc biệt kiểm toán viên cần chú ý
trong quá trình đánh giá tính trọng yếu trên Báo cáo tài chính:
24


Thứ nhất, đối với công ty đăng ký trên thị trường chứng khoán. Trong
trường hợp thuế thu nhập giảm xuống mức danh nghĩa hoặc lỗ thì kiểm toán viên
có thể sử dụng chỉ tiêu thay thế như vốn góp cổ phần, công nợ phải trả để tính toán
mức trọng yếu.
Thứ hai, đối với công ty không đăng ký trên thị trường chứng khoán:


Chỉ tiêu tổng tài sản hoặc vốn chủ sở hữu chỉ áp dụng làm cơ sở đánh

giá trọng yếu trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động chưa ổn định.


Chỉ tiêu lợi nhuận sau thuế chỉ sử dụng làm cơ sở đánh giá trọng yếu

trong trường hợp doanh nghiệp hoạt động liên tục.


Chỉ tiêu doanh thu thường xuyên sử dụng làm cơ sở đánh giá trọng

yếu vì chỉ tiêu này phản ánh quy mô hoạt động của doanh nghiệp.


Dưới đây là hướng dẫn chi tiết đánh giá trọng yếu theo chỉ tiêu doanh

thu:

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×