Tải bản đầy đủ

Tình huống tranh chấp trong lĩnh vực đất đai xảy ra trong nội bộ gia đình.

MỞ ĐẦU
Đất nước ta đang trên đà phát triển. Toàn Đảng, toàn quân, toàn dân đang
ra sức phấn đấu xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
tiếp cận nền kinh tế tri thức và chủ động hội nhập quốc tế, mục tiêu đến năm
2020 cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Để hoàn thành
mục tiêu đề ra đòi hỏi chúng ta phải vượt qua nhiều khó khăn và thách thức.
Trong đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật là vô cùng quan trọng. Để
pháp luật thực sự trở thành một công cụ đặc biệt giúp quản lý xã hội một cách
hiệu quả nhất. Bên cạnh đó, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật góp phần tạo nên
một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, bảo đảm quản lý thống nhất, thông
suốt, hiệu lực và hiệu quả.
Pháp luật Đất đai luôn là một vấn đề được toàn xã hội quan tâm, có tác
động lớn đến đời sống kinh tế - xã hội của đất nước và của người dân. Cùng với
sự phát triển của đất nước, tốc độ đô thị hóa thì đất đai ngày càng trở nên quan
trọng thể hiện vị trí không thể thay thế được. Kiện toàn hệ thống pháp luật về đất
đai đã và đang được Đảng và Nhà nước ta quan tâm thực hiện.
Kể từ khi Luật Đất đai năm 2003 được ban hành thì cũng có nhiều Nghị
định, thông tư hướng dẫn được ban hành như: Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày
29/10/2004,

Nghị


định

84/2007/NĐ-CP

ngày

25/5/2007,

Nghị

định

88/2009/NĐ-CP ngày 19/10/2009,…thông tư 06/2007/TT-BTNMT ngày
15/6/2007, thông tư

17/2009/TT-BTNMT ngày 21/10/2009, thông tư

20/2010/TT-BTNMT ngày 22/10/2010…Bên cạnh đó, tùy theo tình hình của
từng địa phương mà có những quy định cụ thể.
Đối với tỉnh Hậu Giang ban hành các văn bản: Quyết định số
17/2010/QĐ-UBND ngày 29/6/2010, Quyết định 18/2010/QĐ-UBND ngày
7/7/2010, Quyết định số 28/2011/QĐ-UBND ngày 16/8/2011…

1


Việc tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai hiện nay là một yêu
cầu cấp bách. Đặc biệt trong công tác giải quyết tranh chấp liên quan đến lĩnh
vực đất đai cần được tăng cường hơn nữa khi tranh chấp về đất đai ngày càng
gia tăng, có chiều hướng phức tạp. Tỷ lệ tranh chấp trong họ hàng, thân tộc ngày
càng nhiều.
Đối với địa bàn huyện Vị Thủy, số lượng hồ sơ khiếu nại liên quan đến
đất đai từ năm 2014 đến 7 tháng đầu năm 2018 có chiều hướng gia tăng như sau:
STT

Năm

1


2014

2

2015

3

2016

4

2017

5

6 tháng đầu năm 2018

Tổng số hồ sơ thụ lý

Những con số trên chỉ là những vụ việc do địa phương hòa giải không
thành chuyển lên thuộc trách nhiệm tham mưu giải quyết của phòng Tài nguyên
và Môi trường. Số lượng hồ sơ khiếu nại này sẽ cao hơn, còn có hồ sơ khiếu nại
được hòa giải thành, hồ sơ khiếu nại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
nhân dân.
Việc giải quyết khiếu nại trong lĩnh vực đất đai rất nhạy cảm, xem xét ở
nhiều khía cạnh, góc độ: xem xét về nguồn gốc, thời điểm sử dụng, về mối quan
hệ giữa những người có liên quan…
Qua thời gian học tập lớp “Bồi dưỡng kiến thức quản lý nhà nước chương
trình chuyên viên chính” bản thân tôi đã biết thêm nhiều kiến thức mới, giúp ích
cho bản thân trong quá trình quản lý và công tác.

2


Bản thân tôi hiện đang công tác tại Văn phòng ĐKQSDĐ huyện Vị Thủy,
phụ trách theo dõi lĩnh vực theo Quy chế được phân công. Tôi chọn nội dung có
liên quan đến nội dung có liên quan đến mảng phụ trách.
Tình huống tranh chấp trong lĩnh vực đất đai xảy ra trong nội bộ gia đình
tại ấp 4, xã Vị Bình, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang. Vụ việc tranh chấp giữa
những người có mối quan hệ gần gũi là giữa cha mẹ chồng và con dâu.
Với tình huống này, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu, phân tích để đưa ra
phương án giải quyết cho từng trường hợp.
Rất mong nhận được sự đóng góp của quý thầy cô và các bạn.

3


NỘI DUNG
1. Mô tả tình huống:
Tình huống tranh chấp xảy ra trong nội bộ gia đình, giữa cha mẹ chồng và
nàng dâu. Tại ấp 4, xã Vị Bình, huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
Diễn biến sự việc như sau:
Ông Nguyễn Văn Lượm và bà Hồng Nguyệt Thu có con trai là Nguyễn
Văn Kiệt và con dâu là Nguyễn Thị Bé Sáu.
Năm 1991 ông Nguyễn Văn Kiệt và bà Nguyễn Thị Bé Sáu được cha mẹ
cho ra ở riêng. Ông Lượm và bà Thu có cho vợ chồng bà Sáu một phần đất có
diện tích là 166m2 gồm có đất ở và đất trồng cây lâu năm như sau:
- Thửa đất: 1157, diện tích 118m2, mục đích sử dụng: đất ở nông thôn.
- Thửa đất: 1159, diện tích 48m2, mục đích sử dụng: đất trồng cây lâu
năm.
Thuộc tờ bản đồ số 13, tọa lạc tại ấp 4, xã Vị Bình, huyện Vị Thủy, tỉnh
Hậu Giang.
Từ khi ở riêng với cha mẹ, vợ chồng bà Sáu đã cải tạo phần đất trên, cất
một ngôi nhà sinh sống ổn định và có được hai đứa con chung. Đến năm 2003,
ông Kiệt chồng bà Sáu qua đời. Bà Sáu phải tảo tần làm thuê nuôi hai con nhỏ.
Năm 2008, do hoàn cảnh khó khăn, bà Sáu phải cho người khác thuê căn nhà
của mình để đi làm thuê xa. Bà Hồng Nguyệt Thu không đồng ý việc cho thuê
này vì cho rằng phần đất này bà cho vợ chồng bà Sáu ở tạm. Từ đó hai bên phát
sinh tranh chấp.
Quá trình giải quyết các cấp:
- Ngày 24/01/2014: Hòa giải tại địa phương ấp 4, xã Vị Bình nhưng
không thành.

4


- Ngày 25/6/2015: UBND xã Vị Bình hòa giải lần 2 nhưng không đi đến
thống nhất và chuyển hồ sơ đến Tòa án nhân dân huyện thụ lý giải quyết.
- Ngày 28/9/2016: Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy có quyết định đình chỉ
giải quyết vụ án do không thuộc thẩm quyền.
- Ngày 01/4/2017: VP. UBND huyện chuyển hồ sơ giao phòng Tài nguyên
và Môi trường giải quyết.
* Phòng Tài nguyên và Môi trường thụ lý hồ sơ, nghiên cứu quá trình
giải quyết ở cơ sở, tiến hành thực hiện giải quyết vụ việc như sau:
- Mời các đương sự trình bày ý kiến:
+ Ý kiến Trình bày của bà Hồng Nguyệt Thu: Phần đất tranh chấp có
nguồn gốc là do vợ chồng bà mua của ông Hồ Văn Ba (vợ là Thái Thị Phước)
năm 1963 và sử dụng ổn định. Vợ chồng bà cho con trai là nguyễn Văn Kiệt và
con dâu ra riêng để ở tạm, khi nào không ở nữa thì trả đất lại cho bà. Từ khi vợ
chồng Bé Sáu ra riêng đã sử dụng ổn định, không tranh chấp gì. Đến năm 2003,
con trai ông bà chết, Nguyễn Thị bé Sáu dọn về nhà mẹ ruột ở, sau đó đi Hà Nội
làm. Khoảng 6 năm sau thì Bé Sáu về cho người khác thuê phần đất trên nên bà
không đồng ý.
Yều cầu giải quyết: trả lại phần đất trên cho bà, đến khi con của bé Sáu là
Nguyễn Văn Hiếu lớn lên bà sẽ cho lại cháu Hiếu sử dụng.
+ Ý kiến trình bày của bà Nguyễn Thị Bé Sáu: Năm 1989 bà lấy chồng là
Nguyễn Văn Kiệt. Năm 1991, cha mẹ chồng là ông Nguyễn Văn Lượm và bà
Hồng Nguyệt Thu có cho vợ chồng bà một phần đất để cất nhà. Lúc cha mẹ cho
phần đất này là cái mương, vợ chồng bà phải chở đất từ ngoài ruộng vào lấp đến
năm 1992 mới cất được cái chòi nhỏ, đến mùa nước ngập phải xin đất gò ngoài
ruộng về lấp, làm trong nhiều năm như thế. Năm 1998, vợ chồng bà sửa lại căn
nhà, đẩy đất sáng cạp vào lấp nền nhà mới được cao như hôm nay. Đến năm
2003, thì chồng bà là Nguyễn Văn Kiệt chết, chỉ còn mình bà phải tảo tần nuôi

5


hai con nhỏ. Đến tháng 01 năm 2008 thì cha mẹ chồng buộc bà phải dở nhà trả
lại phần đất trên.
Yêu cầu giải quyết: không đồng ý trả lại phần đất trên. Hàng xóm đều biết
việc cha mẹ chồng cho đất có thể làm chứng cho bà.
- Ngày 30/11/2017: Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành đo đạc
hiện trạng phần đất tranh chấp.
- Ngày 04/01/2018: Phòng Tài nguyên và Môi trường tiến hành họp dân
xác định nguồn gốc đất tranh chấp giữa bà Nguyễn Thị Bé Sáu và bà Hồng
Nguyệt Thu (chồng là Nguyễn Văn Lượm).
Theo ý kiến của người dân biết về việc cho đất giữa bà Hồng Nguyệt Thu
và bà Nguyễn Thị Bé Sáu đều thống thất ổn định phần đất cho bà Nguyễn Thị
Bé Sáu.
- Ngày 22/3/2018: Phòng Tài nguyên và Môi trường xác minh, trao đổi về
nguồn gốc đất tranh chấp và quan điểm của UBND xã Vị Bình.
Về nguồn gốc đất như hai đương sự đã trình bày. Quan điểm giải quyết
của UBND xã thống nhất với ý kiến họp dân ngày 22/3/2018 là ổn định phần đất
tranh chấp cho bà Nguyễn Thị Bé Sáu.
Từ trình bày của các đượng sự, ý kiến của người biết hiểu biết vụ việc,
quan điểm giải quyết của chính quyền địa phương, tác giả xin phân tích nguyên
nhân và hậu quả của vụ việc như sau:
2. Phân tích nguyên nhân và hậu quả:
2.1 Nguyên nhân:
* Nguyên nhân khách quan:
- Sự kém hiểu biết pháp luật của nhân dân:
+ Luật đất đai năm 2003 ra đời, khuyến khích người dân đăng ký để
được cấp giấy chứng nhận nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người
6


dân. Khi bà Sáu được cha mẹ cho đất nên thực hiện việc đăng ký cấp giấy chứng
nhận để đảm bảo quyền lợi.
+ Do đất đai là một loại tài sản đặc biệt, ngày càng có giá trị do đó
việc tranh chấp để giành quyền lợi ngày càng tăng và diễn biến ngày càng phức
tạp.
+ Việc bà Sáu sử dụng đất ổn định từ năm 1993 do cha mẹ chồng
cho là sự thật, đuợc nhiều người dân sinh sống lâu năm tại địa phương biết đến.
Do đó, việc bà Thu cho rằng đất là cho vợ chồng bà Sáu ở tạm là không phù
hợp.
- Sự thiếu sót trong tổ chức và hoạt động quản lý nhà nước ở địa
phương và ngành tài nguyên môi trường:
+ Thiếu sự kiểm tra, đôn đốc, vận động người dân thực hiện đăng
ký quyền sử dụng đất.
+ Không kiên quyết trong xử lý vi phạm pháp luật về đất đai theo
quy định tại Điều 15 Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11 năm 2009
của chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
Xin đề cập đến một nguyên nhân không phải là nguyên nhân dẫn đến vụ
việc tranh chấp xảy ra nhưng là nguyên nhân làm cho việc giải quyết khiếu nại
của người dân bị kéo dài thời gian. Đó là việc chính quyền địa phương xác định
sai thẩm quyền giải quyết vụ việc dẫn đến việc chuyển hồ sơ sang cơ quan Tòa
án nhân dân thụ lý. Sau khi kiểm tra, nghiên cứu hồ sơ thì Tòa án Nhân dân trả
lời đến đương sự là không thuộc thẩm quyền giải quyết. Điều này làm kéo dài
thời gian giải quyết gây mất lòng tin ở nhân dân. Bên cạnh đó, việc giải quyết
tranh chấp bị kéo dài làm cho mâu thuẫn giữa các bên ngày càng lớn.
* Nguyên nhân chủ quan:
- Sự mất đoàn kết, cảm thông cho nhau trong nội bộ gia đình:

7


Việc bà Sáu cho người khác thuê nhà nhưng không thông báo cho cha mẹ
chồng là ông Lượm và bà Thu nên ông bà cảm thấy con dâu không coi trọng ông
bà.
Việc ông Kiệt chồng bà Sáu chết cũng là một phần nguyên nhân làm cho
bà Sáu và gia đình chồng có khoảng cách.
Bà Thu đã không cảm thông cho hoàn cảnh của bà Sáu phải đi làm thuê
xa kiếm tiền nuôi hai con nhỏ.
2.2 Hậu quả:
- Tranh chấp làm mất tình cảm gia đình.
- Khiếu kiện kéo dài gây mất ổn định tại địa phương.
- Tốn kém thời gian, tiền của, công sức của người dân và của nhà nước.
- Giảm lòng tin của cấp trên đối với cấp dưới, của người dân đối với chính
quyền trong việc vận dụng các quy định pháp luật, các kỹ năng hòa giải ở cơ sở.
3. Xác định mục tiêu xử lý tình huống:
- Giải quyết đúng quy định của pháp luật, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa.
- Nắm rỏ vấn đề, đảm bảo giải quyết dứt điểm khiếu nại, đảm bảo quyền
và lợi ích chính đáng của công dân. Tránh dẫn đến tình trạng khiếu nại kéo dài.
- Cố gắng thúc đẩy xây dựng lại mối quan hệ hòa hợp giữa mẹ chồng và
nàng dâu là bà Thu và bà Sáu.
- Giải quyết hợp tình hợp lý, hợp lòng dân.
4. Xây dựng các phương án xử lý tình huống và lựa chọn phương án
tối ưu:
4.1 Xây dựng phương án xử lý tình huống:

8


- Phương án 1: Ổn định phần đất tranh chấp cho bà Hồng Nguyệt
Thu. Bà Thu trả một phần tiền huê lợi cho bà Nguyễn Thị Bé Sáu.
Phần đất tranh chấp là đất gốc của bà Thu và ông Lượm sử dụng từ năm
1963. Ông bà cho con trai và con dâu ra riêng để có nơi ở. Khi con trai ông bà
chết, con dâu là bà Sáu dẫn hai cháu về ở bên ngoại thì phần đất này không sử
dụng. Do đó, buộc bà Sáu trả lại phần đất này cho bà Thu, ổn định phần đất
tranh chấp cho bà Thu, bà Thu trả một phần tiền huê lợi cho bà Sáu do bà Sáu có
công cải tạo phần đất này.
Phân tích ưu, khuyết điểm của phương án
Ưu điểm

Khuyết điểm

- Giải quyết được yêu cầu lợi ích của - Quyền lợi của bà Sáu bị thiệt thòi.
bà Hồng Nguyệt Thu Thu và ông - Giải quyết bằng tiền làm cho mâu
Nguyễn Văn Lượm về việc lấy lại phần thuẫn giữa hai bên càng tăng.
đất.

- Không hợp tình, hợp lý.

- Phương án 2: Ổn định phần đất tranh chấp cho bà Nguyễn Thị Bé
Sáu.
Bà Nguyễn Thị Bé Sáu được cha mẹ chồng cho đất và đã sử dụng ổn định
từ năm 1993. Phần đất này đã được vợ chồng bà Sáu cải tạo trong nhiều năm.
Việc bà Thu cho đất để vợ chồng bà Sáu ở riêng tuy không có giấy tờ chứng
minh nhưng được nhiều người tại địa phương biết. Do đó, quyền được sử dụng
đất của bà Sáu là có sở cơ sở. Do đó, ổn định phần đất tranh chấp cho bà
Nguyễn Thị Bé Sáu. Không chấp nhận yêu cầu đòi lại đất của bà Thu và ông
Lượm.
Phân tích ưu, khuyết điểm của phương án
Ưu điểm

Khuyết điểm

- Thực hiện đúng Luật Đất đai, luật - Không giải quyết được yêu cầu của
9


khiếu nại, tố cáo.

bà Hồng Nguyệt Thu và ông Nguyễn

- Giải quyết được yêu cầu lợi ích của Văn Lượm.
bà Nguyễn Thị Bé Sáu.
- Hợp tình, hợp lý.
- Được sự đồng tình ủng hộ của nhân
dân.
- Phương án 3: Chia đôi phần đất tranh chấp cho bà Hồng Nguyệt
Thu và bà Nguyễn Thị Bé Sáu.
Do nguồn gốc đất là của bà Thu và ông Lượm nhưng thời gian sử dụng
của bà Sáu cũng tương đối dài và có công cải tạo đất nên chia đôi phần đất tranh
chấp cho cả hai bên, bà Thu trả một phần tiền đầu tư vào đất cho bà Sáu.
Phân tích ưu, khuyết điểm của phương án
Ưu điểm

Khuyết điểm

- Giải quyết được một phần lợi ích của - Diện tích đất tranh chấp tương đối
bà Nguyễn Thị Bé Sáu.

nhỏ, việc chia đôi không đảm bảo cho

- Giải quyết được một phần lợi ích của việc khai thác và sử dụng đất một cách
hiệu quả.
bà Hồng Nguyệt Thu.
- Không hợp tình, hợp lý.
- Giải quyết bằng tiền làm cho mâu
thuẫn giữa hai bên càng tăng.

4.2 Lựa chọn phương án tối ưu:
Dựa trên kết quả phân tích nguyên nhân, hậu quả, mục tiêu xử lý tình
huống, ưu điểm, khuyết điểm của từng phương án. Ta thấy rằng phương án tối
ưu nhất là phương án 2. Lý do như sau:

10


- Phù hợp với quy định của Luật Đất đai năm 2003: Việc bà Thu cho đất
để vợ chồng bà Sáu ra riêng tuy không có giấy tờ chứng minh nhưng được nhiều
người dân và chính quyền địa phương biết đến. Do đó, thời gian sử dụng đất của
bà Sáu là ổn định, phù hợp với quy định tại Khoản 4, điều 3, Nghị định
84/2007/NĐ-CP của Chính phủ và khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003.
Khoản 4, Điều 3 Nghị định 84/2007/NĐ-CP: “Trường hợp không có một
trong các loại giấy tờ quy định tại khoản 2 Điều này hoặc trên giấy tờ đó không
ghi rõ thời điểm xác lập giấy tờ và mục đích sử dụng đất thì phải có xác nhận
của Ủy ban nhân dân cấp xã về thời điểm bắt đầu sử dụng đất và mục đích sử
dụng đất trên cơ sở thu thập ý kiến của những người đã từng cư trú cùng thời
điểm bắt đầu sử dụng đất của người có yêu cầu xác nhận trong khu dân cư
(thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tổ dân phố) nơi có đất.”
Khoản 4 Điều 5 Luật Đất đai năm 2003: “Nhà nước trao quyền sử dụng
đất cho người sử dụng đất thông qua hình thức giao đất, cho thuê đất, công
nhận quyền sử dụng đất đối với người đang sử dụng đất ổn định; quy định
quyền và nghĩa vụ của người sử dụng đất”.
- Hợp tình: Việc bà Sáu sử dụng đất ổn định gần 20 năm, bỏ biết bao công
sức bồi đắp cải tạo, gắn bó thì việc đòi lại đất của bà Thu vì cho rằng cho bà Sáu
ở tạm là không chấp nhận được; hợp tình ở đây còn thể hiện ở việc bà Sáu cho
thuê đất lấy tiền nhằm mục đích nuôi hai con nhỏ.
- Được sự đồng tình ủng hộ của nhân dân.
Với Phương án 1:
Cách giải quyết theo phương án này có ưu điểm tuy nhiên:
- Chưa phù hợp với các quy định hiện hành của pháp luật đất đai vì bà
Thu đã không sử dụng phần đất này từ năm 1993.
- Việc bồi thường tiền huê lợi cho bà Sáu do công sức bỏ ra cải tạo đất
càng làm cho tình cảm mẹ chồng và nàng dâu ngày càng có khoảng cách.
11


Với phương án 3:
Cách giải quyết theo phương án này có ưu điểm tuy nhiên:
- Diện tích đất tương đối nhỏ (đất ở 118m 2, đất vườn 48m2) khi chia đôi
thì việc sử dụng đất không hiệu quả.
- Giải quyết bằng tiền càng làm tăng khoản cách giữa 2 bên.
5. Lập kế hoạch tổ chức thực hiện phương án tối ưu đã lựa chọn:
- Trình phương án tối ưu đã lựa chọn để Đoàn liên ngành bàn bạc thống
nhất quyết định.
- Sau khi thống nhất phương án, phòng Tài nguyên và Môi trường tham
mưu UBND huyện Vị Thủy ban hành quyết định giải quyết.
- Sau khi quyết định được ban hành, phòng Tài nguyên và Môi trường
phối hợp cùng chính quyền địa phương tiến hành tống đạt quyết định đến bà Thu
và bà Sáu.
- Trong quá trình triển khai quyết định tiếp tục vận động để hai bên có thể
hàn gắn lại tình cảm gia đình.
- Hướng dẫn bà Nguyễn Thị Bé Sáu đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất theo quy định.
- Trường hợp bà Hồng Nguyệt Thu có khiếu nại về kết quả giải quyết thì
hướng dẫn bà Thu thực hiện khiếu nại đến UBND tỉnh Hậu Giang trong thời hạn
Luật định.
6. Các kiến nghị:
Tình huống xảy ra trong nội bộ gia đình, giữa những người thân thiết với
nhau. Trên cơ sở các nguyên nhân của tình huống, tác giả có một số kiến nghị
như sau:
- Đối với chính quyền địa phương:

12


+ Cần rút kinh nghiệm để xử lý đối với những vụ việc tương tự.
Vận động người dân thực hiện đúng quy định của pháp luật khi thực hiện các
quyền tặng cho, mua bán…để hạn chế việc khiếu nại về sau.
+ Tạo điều kiện cho cán bộ hòa giải cấp cơ sở được học tập, trau
dồi kiến thức, kinh nghiệm.
- Đối với phòng Tài nguyên và Môi trường:
+ Việc tuyên truyền văn bản luật trong lĩnh vực tài nguyên và môi
trường không nên chỉ dừng lại ở việc tuyên truyền các văn bản pháp quy mà nên
kết hợp cùng các ban ngành, đoàn thể tổ chức tuyên truyền dưới hình thức tiểu
phẩm, nêu lên tình huống để người dân dễ hiểu, dễ nhớ.
+ Tăng cường tuyên truyền, vận động người dân thực hiện đăng ký
để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
+ Đẩy nhanh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu
cho các hộ dân.
+ Kiên quyết xử lý những trường hợp vi phạm liên quan đến lĩnh
vực đất đai theo quy định tại Nghị định số 105/2009/NĐ-CP ngày 11 tháng 11
năm 2009 của chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đất đai.
- Đối với phòng Tư pháp:
+ Tổ chức nhiều hội thi tuyên truyền hòa giải viên giỏi, tổ chức các
chuyến giao lưu, học tập kinh nghiệm hòa giải cho các cán bộ hòa giải cấp cơ
sở.
+ Tăng cường công tác phối hợp với phòng Tài nguyên và Môi
trường trong việc thực hiện các loại hồ sơ có liên quan đến lĩnh vực đất đai như:
tặng cho, thừa kế…
+ Tổ chức nhiều lớp tập huấn về công tác hòa giải cho cán bộ cấp cơ
sở.

13


- Đối với Phòng Nội vụ:
+ Tăng cường chỉ đạo trong công tác thực hiện cải cách thủ tục
hành chính.
+ Nghiên cứu, đề xuất về chế độ đối với cán bộ hòa giải cấp cơ sở
để cán bộ hòa giải có điều kiện thuận lợi hơn trong việc thực hiện nhiệm vụ.

14


KẾT LUẬN
Đất đai là một loại tài sản đặc biệt, tỷ lệ tranh chấp đất đai luôn ở mức cao
so với các loại tranh chấp khác. Nghị quyết số 563/NQ-UBTVQH13 ngày 21
tháng 01 năm 2013 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về việc tổ chức lấy ý kiến
nhân dân đối với dự thảo Luật Đất đai sửa đổi, cho thấy việc hoàn thiện hệ thống
pháp luật về đất đai là vấn đề quan trọng và cấp bách.
Qua tình huống trên ta thấy rằng việc gần dân, nắm bắt tâm tư, tình cảm
của người dân là rất quan trọng, việc phát huy các truyền thống tốt đẹp của dân
tộc ta như: kính trên nhường dưới, tương thân tương ái… sẽ góp phần hạn chế
việc xảy ra khiếu kiện.
Nếu trong tình huống này, việc bà Sáu và bà Thu có mối quan hệ tốt, gần
gũi nhau, bà Thu cũng giúp đỡ bà Sáu trong việc nuôi dưỡng hai cháu thì bà Sáu
sẽ không vì khó khăn kinh tế mà đi xa làm thuê và sẽ không có việc tranh chấp
xảy ra.
Bên cạnh đó, việc đưa pháp luật vào đời sống người dân sẽ giúp cho việc
giải quyết các vấn đề mâu thuẫn dễ dàng hơn. Nếu bà Thu đăng ký để được cấp
giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, khi bà Thu tặng cho quyền sử dụng đất cho
con cũng được thực hiện theo quy định thì bà Sáu cũng được cấp giấy chứng
nhận quyền sử dụng đất và nếu tranh chấp có xảy ra thì việc giải quyết vấn đề
cũng đơn giản, nhanh chóng và không phải nhập nhằng.
Ta có thể đặt vấn đề: tại sao bà Hồng Nguyệt Thu sử dụng đất nhưng
không đăng ký để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; tại sao khi bà
Thu cho tặng đất cho con trai là ông Kiệt và con dâu là bà Sáu lại không làm
giấy tờ cho tặng? phải chăng thủ tục quá rườm rà, phức tạp, người dân rất ngại
phải thực hiện các thủ tục hành chính?
Nhìn lại thực trạng thủ tục hành chính hiện nay, không chỉ riêng lĩnh vực
đất đai mà các lĩnh vực khác cũng cần phải đơn giản, tinh gọn lại. Đơn giản và

15


tinh gọn ở đây không chỉ riêng thủ tục hành chính tại đơn vị mình thực hiện mà
cần phải đơn giản và tinh gọn cả trong công tác phối hợp.
Tôi xin nêu ra một ví dụ cụ thể trong công tác phối hợp giữa lĩnh vực đất
đai và lĩnh vực Thuế mà các loại thủ tục chưa được tinh gọn như sau:
Ví dụ: Loại hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất:
* Thành phần hồ sơ thuộc lĩnh vực đất đai:
1. Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất.
2. Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
* Thành phần hồ sơ liên quan đến lĩnh vực thuế:
1. Giấy tờ chứng minh mối quan hệ giữa bên tặng cho và bên nhận tặng
cho.
2. Tờ khai đăng ký mã số thuế (Mẫu 01/ĐK-TNCN).
3. Tờ khai thuế thu nhập cá nhân (Mẫu 11/KK-TNCN).
4. Tờ khai lệ phí trước bạ (Mẫu 01/LPTB).
5. Tờ cam kết nhận tài sản lần đầu (Mẫu 01/CKTS).
6. Tờ cam kết về diện tích đất ở (Mẫu 01/CKĐT)
Qua đó, khi thực hiện hồ sơ tặng cho quyền sử dụng đất thì người dân
phải nộp 02 loại giấy tờ liên quan đến lĩnh vực đất đai nhưng lại nộp đến 06 loại
giấy tờ liên quan đến lĩnh vực thuế để thực hiện nghĩa vụ tài chính khi chuyển
quyền sử dụng đất.
Các loại tờ khai nêu trên thì có nhiều thông tin trùng nhau như: Thông tin
về người cho tài sản, người nhận tài sản, thông tin về thửa đất, thông tin về giá
trị tài sản…Do đó, việc tinh gọn thủ tục trong công tác phối hợp là rất cần thiết,
tiết kiệm được thời gian và chi chí cho cả người dân và nhà nước.

16


Cải cách thủ tục hành chính hiện nay được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt
quan tâm, chú trọng. Nghị quyết 30c/NĐ-CP ngày 08 tháng 11 năm 2011 của
Chính phủ ban hành chương trình tổng thể cải cách thủ tục hành chính nhà nước
giai đoạn 2011-2020 cho thấy quyết tâm của Đảng và Nhà nước ta trong việc
xây dựng một nền hành chính nhà nước từ trung ương tới cơ sở thông suốt, trong
sạch, vững mạnh, hiện đại, hiệu lực và hiệu quả./.

17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×