Tải bản đầy đủ

Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng Giao thông vận tải ở Việt Nam

Tên đề tài: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong phát triển cơ
sở hạ tầng Giao thông vận tải ở Việt Nam”
HỌC VIÊN THỰC HIỆN

Nguyễn Hải Anh 

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong giai đoạn hiện nay, Việt Nam đang bước vào thời kỳ phát triển và tăng trưởng
kinh tế với tốc độ cao. Điều kiện không thể thiếu để phục vụ cho phát triển kinh tế là nhu
cầu về vốn nhưng nguồn vốn trong nước lại không đủ đáp ứng được nhu cầu trong giai
đoạn này. Do đó một nhiệm vụ quan trọng được đặt ra là phải thu hút được một cách hiệu
quả các nguồn vốn từ bên ngoài. Vốn đầu tư nước ngoài trong đó nguồn hỗ trợ phát triển
chính thức ODA đã đóng góp vai trò quan trọng trong tiến trình tăng trưởng và hội nhập
kinh tế của Việt Nam. Phát triển cơ sở hạ tầng Giao thông vận tải, một trong những lĩnh
vực được ưu tiên hàng đầu được đầu tư bằng nguồn ODA đã có những bước phát triển
vượt bậc, góp phần đáng kể vào sự phát triển nền kinh tế quốc dân. Trước tình hình đó

khoá luận đề cập đến thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển cơ sở
hạ tầng Giao thông vận tải ở Việt Nam trong những năm gần đây, từ đó đưa ra các giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ODA trong lĩnh vực này.
2. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khoá luận là toàn bộ hệ thống cơ sở hạ tầng GTVT tại
toàn bộ các tỉnh thành phố trên toàn đất nước Việt Nam được đầu tư từ nguồn vốn ODA
trong những năm gần đây.
3. Mục đích nghiên cứu

Với tính chất quan trọng đó, khoá luận sẽ là những nghiên cứu tổng hợp về vốn
ODA nhằm các mục đích sau:
- Về mặt lý luận, cho biết vị trí và vai trò của ODA trong nền kinh tế Việt Nam nói
chung và trong việc phát triển cơ sở hạ tầng GTVT nói riêng
- Về mặt thực tiễn, trình bày thực trạng việc thu hút và sử dụng vốn ODA vào phát
triển cơ sở hạ tầng GTVT trong những năm gần đây.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


- Đánh giá những thành tựu và tồn tại trong quá trình sử dụng ODA vào những mục
đích trên.
- Đề ra một số kiến nghị và giải pháp nhằm thúc đẩy việc thu hút và sử dụng vốn
ODA một cách hiệu quả nhất.
4. Cơ sở lí luận
Khoá luận sử dụng phương pháp nghiên cứu tài liệu, so sánh, tổng hợp và phân tích,
kết hợp với những kết quả thống kê thu được từ thực tiễn, vận dụng lý luận để làm sáng
tỏ vấn đề cần nghiên cứu.
4. Bố cục luận văn

Như vậy, bố cục khoá luận gồm 3 chương:
Chương 1 : Tổng quan về nguồn vốn ODA và các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sử
dụng vốn ODA
Chương 2 : Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ
tầng GTVT ở Việt Nam những năm gần đây
Chương 3 : Giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ
tầng GTVT ở Việt Nam



Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA
1.1 Lý luận chung về ODA
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ODA
1.1.2 Vai trò của ODA
1.1.3 Phân loại ODA
1.2 Thu hút,sử dụng ODA
1.2.1 Quy trình thu hút,quản lý, sử dụng vốn ODA
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
1.2.3 Sự cần thiết của vốn ODA trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng Giao thông
vận tải ở Việt Nam

CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA
TRONG LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GTVT
Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1 Khái quát tình hình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam
2.2 Thực trạng cơ sở hạ tầng giao thông Việt Nam
2.3 Thực trạng thu hút và sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng GTVT trong những
năm gần đây
2.3.1 Tình hình thu hút ODA
2.3.2 Các nguồn vốn ODA
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


2.3.3 Tình hình sử dụng ODA
2.4. Đánh giá hiệu quả sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng GTVT những năm
gần đây.
2.4.1 Những kết quả đạt được
2.4.2 Những hạn chế và nguyên nhân
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ DỤNG ODA
TRONG PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GIAO THÔNG VẬN TẢI
TẠI VIỆT NAM
3.1. Định hướng của nhà nước về phát triển cơ sở hạ tầng GTVT thông qua các dự án
ODA
3.1.1 Nhu cầu phát triển cơ sở hạ tầng GTVT
3.1.2 Định hướng phát triển cơ sở hạ tầng GTVT
3.1.3 Quan điểm và định hướng thu hút, sử dụng vốn ODA trong ngành Giao thông
vận tải
3.2 Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng ODA trong phát triển cơ sở hạ tầng
GTVT
3.2.1 Tạo môi trường thu hút và nâng cao năng lực tiếp nhận ODA cho phát triển
CSHT GTVT
3.2.2 Phân bổ vốn ODA theo từng lĩnh vực CSHT GTVT
3.2.3 Tiếp tục đẩy nhanh quá trình giải ngân.
3.2.4 Đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


3.2.5 Chuẩn bị đủ vốn đối ứng.
3.2.6 Phát triển nguồn nhân lực.
3.2.7 Tăng cường công tác theo dõi và đánh giá dự án.
KẾT LUẬN
Ý kiến của Cán bộ hướng hẫn khoa học
(Ký, ghi rõ họ tên)

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1

Học viên
(Ký, ghi rõ họ tên)


CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NGUỒN VỐN ODA
VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN ODA
1.1 Lý luận chung về ODA
1.1.1 Khái niệm và đặc điểm của ODA
Khái niệm ODA
ODA là tên viết tắt của Official Development Assitance -Hỗ trợ phát triển chính
thức hay Viện trợ phát triển chính thức.
(Hỗ trợ phát triển chính thức là một hình thức đầu tư nước ngoài. Gọi là Hỗ trợ bởi
vì các khoản đầu tư này thường là các khoản cho vay không lãi suất hoặc lãi suất thấp với
thời gian vay dài. Đôi khi còn gọi là viện trợ. Gọi là Phát triển vì mục tiêu danh nghĩa của
các khoản đầu tư này là phát triển kinh tế và nâng cao phúc lợi ở nước được đầu tư. Gọi
là Chính thức, vì nó thường là cho Nhà nước vay.)
Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa hoàn chỉnh về ODA, dưới đây là một số
định nghĩa mà chúng ta có thể tham khảo:
1)

Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là các khoản viện trợ không hoàn lại hoặc

vay với điều kiện ưu đãi về lãi suất, thời gian ân hạn và trả nợ của các cơ quan chính thức
thuộc các nước và các tổ chức quốc tế, các tổ chức phi Chính phủ.
2)

Viện trợ phát triển chính thức là hình thức chuyển giao vốn (tiền tệ, vật

chất, công nghệ,...) từ các tổ chức tài chính quốc tế, từ các nước công nghiệp phát triển
cho các nước đang phát triển và chậm phát triển.
3)

Hỗ trợ phát triển chính thức là tất cả các khoản viện trợ không hoàn lại và

các khoản tài trợ có hoàn lại (cho vay dài hạn với một số thời gian ân hạn và lãi suất thấp)
của chính phủ, các hệ thống của tổ chức Liên hợp quốc, các tổ chức phi chính phủ, các tổ

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


chức tài chính quốc tế (như Ngân hàng thế giới - WB, Ngân hàng phát triển Châu Á ADB, Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF...) dành cho chính phủ và nhân dân nước nhận viện trợ.¬
Đặc điểm của ODA
Thứ nhất ODA mang tính ưu đãi
ODA thường có thời gian cho vay (hoàn trả vốn) dài, có thời gian ân hạn dài. Chẳng
hạn, vốn ODA của WB, ADB có thời gian hoàn trả là 40 năm và thời gian ân hạn là 10
năm.
Thông thường trong ODA có thành tố hỗ trợ (cho không), đây cũng chính là điểm
phân biệt giữa hỗ trợ và cho vay thương mại. Thành tố cho không được xác định dựa vào
thời gian cho vay, thời gian ân hạn và so sánh lãi suất hỗ trợ với mức lãi suất tín dụng
thương mại. Sự ưu đãi ở đây là so sánh với tập quán thương mại quốc tế, sự ưu đãi còn
thể hiện ở chỗ vốn ODA chỉ dành riêng cho các nước đang và chậm phát triển vì mục tiêu
phát triển.
Thứ hai: ODA mang tính ràng buộc
ODA có thể ràng buộc (hoặc ràng buộc một phần hoặc không ràng buộc) nước nhận
về địa điểm chi tiêu. Ngoài ra mỗi nước cung cấp hỗ trợ cũng đều có những ràng buộc
khác. Thường đi kèm các điều kiện ràng buộc nhất định. Các nước nhận vốn ODA phải
hội đủ một số điều kiện nhất định mới được nhận tài trợ. Ví dụ, Nhật Bản quy định vốn
ODA của Nhật được thực hiện bằng đồng Yên Nhật, trả lại bằng USD, ODA có thể ràng
buộc về kinh tế hoặc chính trị. Các nước hỗ trợ nói chung vừa muốn gây ảnh hưởng
chính trị, vừa muốn thực hiện xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tư vấn vào nước nhận hỗ
trợ. Bởi hỗ trợ luôn chưa đựng hai mục tiêu song song. Mục tiêu thứ nhất là thúc đẩy tăng
trưởng bền vững và giảm nghèo ở nước đang phát triển, giúp các nước phát triển mở
mang thị trường tiêu thụ sản phẩm và thị trường đầu tư. Và mục tiêu thứ hai là xác định
vị thế ảnh hưởng tại các nước và khu vực tiếp nhận ODA của các nhà tài trợ.
Thứ ba: ODA là nguồn vốn có khả năng gây nợ.
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Khi tiếp nhận và sử dụng nguồn vốn ODA do tính chất ưu đãi nên gánh nặng nợ
thường chưa xuất hiện. Tuy vậy, nếu quản lí, sử dụng vốn ODA không hiệu quả vẫn có
nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần trong tương lai.
1.1.2 Vai trò của ODA
1.1.2.1. Vai trò của ODA đối với các nước tiếp nhận
Những tác động tích cực
Các nước đang phát triển nói chung và đối với Việt Nam nói riêng muốn đẩy mạnh
nền kinh tế thì phải có một lượng vốn lớn để tập trung đầu tư cho một số lĩnh vực đặc biệt
là cơ sở hạ tầng còn ở mức rất thấp. Do đó không thể chỉ dựa vào nguồn lực trong nước
mà còn phải biết tận dụng nguồn vốn từ bên ngoài.
Đáp ứng yêu cầu trên, nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức có đặc thù là lãi suất
vay thấp, thời hạn dài (thường từ 15 - 40 năm lại thêm thời gian ân hạn từ 10 đến 20
năm),vốn đầu tư tập trung lớn, có thể lên tới hàng trăm triệu USD cho một dự án. Bên
cạnh đó nguồn vốn này nhằm hỗ trợ các nước nghèo giải quyết các vấn đề trên, điều mà
nguồn vốn tư bản (đầu tư trực tiếp) không bao giờ làm được.
ODA giúp tăng thu nhập bình quân đầu người dẫn đến tăng phúc lợi và mức sống
cho người dân từ đó thúc đẩy phát triển. ODA còn giúp đầu tư vào con người mà vấn đề
quan trọng nhất là các dự án liên quan đến phổ cập giáo dục và chăm sóc sức khoẻ cộng
đồng.
ODA cũng có vai trò đối với công cuộc cải tổ kinh tế của chính phủ các nước đang
phát triển qua các dự án, chương trình hỗ trợ năng lực, cải tổ cơ cấu các tổ chức, các cơ
quan chức năng của chính phủ.
Hơn nữa việc sử dụng ODA còn mang lại nhiều thuận lợi khác cho các quốc gia
đang phát triển trong công cuộc cải cách kinh tế nhờ những ưu điểm sau:

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


- Vốn ODA sẽ giúp nước nhận tài trợ có cơ hội ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ
thuật và công nghệ trên thế giới thông qua quá trình chuyển giao khoa học kỹ thuật từ dự
án nhận viện trợ. Trong quá trình thực hiện, nước viện trợ thường cử chuyên gia sang
hướng dẫn thực hiện dự án do đó cán bộ của nước nhận viện trợ có thể học hỏi được rất
nhiều kinh nghiệm đáng quý.
- Vốn ODA cũng giúp nước nhận viện trợ có cơ hội đào tạo nguồn nhân lực cho đất
nước mình. Khi thực hiện các dự án có vốn nước ngoài, các cán bộ quản lý, cán bộ kỹ
thuật cũng như công nhân sẽ có cơ hội tiếp thu công nghệ mới, làm quen với các quy
trình làm việc khoa học và hiện đại, đồng thời rèn luyện được tác phong làm việc công
nghiệp.
Tóm lại, ODA đóng một vai trò hết sức qua trọng đối với việc phát triển kinh tế của
các nước đang phát triển đặc biệt là trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội
do tính chất ưu đãi đặc thù của nguồn vốn này. Tuy vậy, việc sử dụng nguồn vốn này
không phải là không có hạn chế.
ODA và nguy cơ phụ thuộc của các nước tiếp nhận
Tuy nhiên, đối với nước tiếp nhận, nguồn hỗ trợ song phương tạo điều kiện giúp
tăng trưởng và phát triển kinh tế đồng thời họ cũng phải chấp nhận những điều kiện ràng
buộc rất chặt chẽ từ phía các nước tài trợ. Những ràng buộc này có thể xuất phát từ lý do
kinh tế cũng có thể là ràng buộc về chính trị. Ví dụ năm 2003 Mỹ sẵn sàng viện trợ và
cho Thổ Nhĩ Kỳ vay một khoản tiền lớn để đổi lấy việc Thổ Nhĩ Kỳ cho phép Mỹ đóng
quân trong cuộc chiến tranh tấn công I-rắc.
Kinh nghiệm phát triển 50 năm qua của thế giới cho thấy. Những nước tiến hành
phát triển dựa trên việc tăng cường và sử dụng nguồn vốn trong nước tiết kiệm được
đồng thời hạn chế tối thiểu vay nợ nước ngoài là những nước đã đạt được kết quả phát
triển tốt và bền vững. Trái lại, một số nước đang phát triển trông cậy quá nhiều vào viện

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


trợ tài chính của nước ngoài, đặc biệt là các khoản vay nợ, hiện vẫn đang nằm trong danh
sách những nước mất cân đối và lệ thuộc vào nước ngoài.
Trong xu hướng phát triển hiện nay, toàn cầu hoá là một xu hướng không thể tránh
khỏi, các nước phát triển hay các nước đang phát triển cũng đều muốn thúc đẩy quá trình
này vì về bản chất nó đem lại lợi ích cho tất cả các quốc gia. Nếu xem xét một cách cụ
thể, các nước đang phát triển đều phải trả giá cho tiến trình hội nhập vì đều phải chấp
nhận các điều kiện để được nhận viện trợ. Các điều kiện này đôi khi không thể thực hiện
được hoặc nếu thực hiện được thì hậu quả về mặt xã hội mà nó gây ra còn to lớn hơn lợi
ích mà nó mang lại. Có các yêu sách để viện trợ đi ngược lại với lợi ích quốc gia hoặc
không phù hợp với đường lối phát triển kinh tế của quốc gia đó. Chính điều này đã khiến
chính phủ nhiều nước từ chối các khoản viện trợ do sức ép từ bên trong.
Với các lý do nêu trên, các nước đang phát triển luôn phải cân nhắc để vừa có thể
tận dụng tối đa các nguồn viện trợ lại không bị rơi vào nguy cơ lệ thuộc. Các nước đang
phát triển phải luôn có chính sách mềm dẻo và linh hoạt để tranh thủ tối đa các nguồn
viện trợ không hoàn lại đồng thời sử dụng có hiệu quả nhất các khoản vay.
Các nước đang phát triển cần chọn lọc đúng các dự án có hiệu quả kinh tế, đảm bảo
hoàn vốn để có thể xây dựng lộ trình trả nợ hợp lý. Đồng thời đẩy mạnh các hình thức
đầu tư khác nhằm phát triển các ngành công nghiệp xuất khẩu thu ngoại tệ để trả nợ vì
đôi khi lãi suất vay thấp không đủ để bù lại những thiệt hại do sự thay đổi tỷ giá.
1.1.2.2. Vai trò của ODA đối với việc mở rộng thị trường của các nước cung cấp
Xu thế đầu tư quốc tế trong những năm gần đây cho thấy các khu vực thu hút đầu tư
mạnh mẽ không còn là các nước tư bản phát triển, thay vào đó là các nước đang phát
triển, đặc biệt là khu vực Đông Nam Á. Chính vì vậy việc cải tạo, đổi mới cơ sở hạ tầng
cũng như kiến trúc thượng tầng lên một trình độ phát triển cao hơn, tạo điều kiện cho đầu
tư có hiệu quả không còn là nhu cầu của riêng các nước đang phát triển mà nó đã trở
thành mong muốn của cả các nước phát triển, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá.
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Nhu cầu mở rộng thị trường của các nước phát triển đang thúc đẩy các nước này
đầu tư mạnh mẽ vào các nước đang phát triển hơn bao giờ hết. Khi các nước đang phát
triển có một cơ sở hạ tầng phát triển ở một mức độ nhất định, một kiến trúc thượng tầng
hoạt động có hiệu quả thì các nhà đầu tư mới có thể yên tâm với các quyết định đầu tư
trong tương lai của mình. Để thúc đẩy đầu tư trực tiếp, các nước đang phát triển cần phải
phát triển cơ sở hạ tầng và hoàn thiện kiến trúc thượng tầng nhưng việc này lại rất khó
thực hiện với nguồn vốn hạn hẹp của các nước đang phát triển, đặc biệt là đầu tư cho cơ
sở hạ tầng.
Ngoài ra, nguồn hỗ trợ ODA song phương tạo điều kiện thuận lợi cho nước viện trợ
trong việc củng cố vị thế chính trị cũng như kinh tế. ODA giúp các nước phát triển dễ
dàng tìm hiểu thị trường của các nước đang phát triển, vươn ra để chiếm lĩnh và mở rộng
thị trường, khai thác tài nguyên phong phú và nhân lực dồi dào từ nước nhận viện trợ,
tiêu thụ được hàng hoá thông qua các điều kiện ràng buộc như buộc các nước nhận viện
trợ phải mua hàng, thiết bị, công nghệ... có khi với giá cao hơn so với giá trên thị trường
thế giới, ràng buộc về tỷ lệ tham gia trong tổng trị giá dự án...
1.1.3 Phân loại ODA
1.1.3.1. Phân loại ODA theo nguồn cung cấp và nơi tiếp nhận
Phân loại theo nguồn cung cấp
Nếu phân loại theo nguồn cung cấp, ODA có thể chia làm 2 loại:
+ ODA song phương: là viện trợ phát triển chính thức của chính phủ nước này dành
cho chính phủ nước kia. Hiện nay, trong số các nước cung cấp ODA song phương, Nhật
Bản và Mỹ là những nước dẫn đầu thế giới.
+ ODA đa phương: là viện trợ phát triển chính thức của một tổ chức quốc tế (như
Ngân hàng phát triển Châu Á, Liên minh Châu Âu,...) hoặc của chính phủ một nước dành
cho chính phủ một nước khác nhưng được thực hiện thông qua các tổ chức phương như
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) hay Quỹ nhi đồng Liên hiệp quốc
(UNICEF),...
Phân loại theo nước tiếp nhận
Nếu phân loại theo nước tiếp nhận ODA, có thể chia ODA làm hai loại:
+ ODA thông thường: là hỗ trợ cho nước có thu nhập bình quân đầu người thấp.
+ ODA đặc biệt: là hỗ trợ cho các nước đang phát triển với thời hạn cho vay ngắn,
lãi suất cao hơn so với ODA thông thường.
1.1.3.2. Phân loại ODA theo tính chất
Thông thường ODA gồm hai phần: phần không hoàn lại và phần hoàn lại với điều
kiện ưu đãi (lãi suất thấp, thời gian ân hạn dài,...) Phần không hoàn lại lớn hay nhỏ tuỳ
thuộc vào khả năng tài chính và hảo tâm của chủ tài trợ, thông thường chiếm khoảng 15%
tổng số ODA. Phần hoàn lại với điều kiện ưu đãi chiếm phần lớn ODA. Như vậy, nếu
phân loại theo tính chất, ODA có thể chia thành hai loại chính: Viện trợ không hoàn lại và
viện trợ có hoàn lại. Ngoài ra, còn có một phần nhỏ ODA được thực hiện dưới dạng viện
trợ hỗn hợp, nghĩa là ODA một phần cấp không, phần còn lại thực hiện theo hình thức
vay tín dụng, có thể ưu đãi hoặc bình thường.
Viện trợ không hoàn lại
Viện trợ không hoàn lại là viện trợ cấp không, không phải trả lại và thường được
thực hiện dưới hai dạng sau đây:
+ Hỗ trợ kỹ thuật (Technical Assistance - TA): là việc chuyển giao công nghệ hoặc
truyền đạt những kinh nghiệm xử lý, bí quyết kỹ thuật cho nước nhận ODA nhờ sự trợ
giúp của các chuyên gia quốc tế. Tuy nhiên, trong hình thức viện trợ này thì lương của
các chuyên gia quốc tế lại chiếm phần đáng kể trong tổng giá trị viện trợ.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


+ Viện trợ nhân đạo bằng hiện vật: Các nước tiếp nhận ODA dưới hình thức hiện vật
như lương thực thực phẩm, thuốc men, vải vóc... Tuy nhiên, đơn giá tính cho những hàng
hoá này thường tương đối cao. Chính vì thế, rất khó huy động những hàng hoá này vào
mục đích đầu tư phát triển. Hơn nữa cũng cần nhận thấy rằng các khoản viện trợ không
hoàn lại thường kèm theo một số điều kiện về tiếp nhận, về đơn giá mà nếu nước chủ nhà
có tiền chủ động thực hiện thì chưa chắc đã cần đến những hàng hoá hay kỹ thuật đó, hay
ít nhất cũng áp dụng một đơn giá thấp hơn nhiều lần. Đây chính là lý do tại sao tỉ trọng
viện trợ không hoàn lại trong tổng số hỗ trợ phát triển chính thức có xu hướng ngày càng
giảm.
Viện trợ có hoàn lại
Viện trợ có hoàn lại thực chất là vay tín dụng với điều kiện ưu đãi. Tính chất ưu đãi
của các khoản viện trợ được thể hiện ở những mặt sau:
- Lãi suất thấp: lãi suất áp dụng cho các khoản vay tín dụng ưu đãi của WB là
0,75%/năm, của ADB là 1%/năm, của Nhật Bản dao động trong khoảng 0,752,3%/năm,...
- Thời hạn vay dài hạn: Nhật cho Việt Nam vay trong 30 năm, Ngân hàng thế giới
cho Việt Nam vay trong 40 năm,...
- Thời gian ân hạn (thời gian từ khi vay đến khi trả vốn gốc đầu tiên) dài: ADB,
Nhật Bản cho Việt Nam thời gian ân hạn 10 năm,...
Chính vì những tính chất ưu đãi này nên ở các nước, ODA dưới dạng các khoản vay
ưu đãi thường được sử dụng để đầu tư vào các dự án phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế xã
hội, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất và đời sống.
1.1.3.3. Phân loại ODA theo điều kiện
ODA có hai loại: không điều kiện và có điều kiện. Trên thực tế, chỉ có Thuỵ Điển là
nước duy nhất cấp ODA không điều kiện. Còn lại các nước viện trợ khi cấp ODA thường
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


gắn với những điều kiện cụ thể về kinh tế, chính trị,… Ngoài ra, còn có loại ODA ràng
buộc một phần, tức là một phần ở cấp viện trợ, phần còn lại có thể chi tiêu ở các cấp khác
tuỳ theo nước nhận tài trợ.
ODA không ràng buộc
ODA không ràng buộc nghĩa là việc sử dụng nguồn tài trợ không bị ràng buộc bởi
nguồn sử dụng hay mục đích sử dụng mà có thể chi tiêu ở bất kỳ lĩnh vực nào hay khu
vực nào.
ODA có ràng buộc
ODA có ràng buộc nghĩa là bắt buộc phải chi tiêu ở cấp, ở lĩnh vực viện trợ. Nước
nhận ODA có thể bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng hoặc mục đích sử dụng.
ODA bị ràng buộc bởi nguồn sử dụng: nghĩa là việc mua sắm hàng hoá hay trang
thiết bị hay dịch vụ bằng ODA đó chỉ giới hạn cho một số công ty do nước tài trợ sở hữu
hoặc kiểm soát (đối với tài trợ song phương), hoặc công ty của nước thành viên (đối với
viện trợ đa phương).
ODA bị ràng buộc bởi mục đích sử dụng: nghĩa là nguồn ODA cung cấp chỉ được
sử dụng cho một số lĩnh vực nhất định hoặc một số dự án cụ thể.
1.1.3.4. Phân loại ODA theo hình thức
Hỗ trợ cán cân thanh toán
Hỗ trợ cán cân thanh toán thường là hỗ trợ tài chính trực tiếp nhưng đôi khi cũng có
thể là hiện vật thông qua hỗ trợ hàng hoá hoặc hỗ trợ nhập khẩu. Ngoại tệ hoặc hàng hoá
chuyển vào trong nước qua hình thức hỗ trợ cán cân thanh toán có thể được chuyển hoá
thành hỗ trợ ngân sách. Điều này xảy ra khi hàng hoá nhập vào nhờ hình thức này được
bán trên thị trường trong nước, và số thu nhập bằng bản tệ được đưa vào ngân sách của
Chính phủ.
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Tín dụng thương mại
ODA có thể thực hiện dưới dạng tín dụng thương mại với các điều khoản "mềm"
như lãi suất thấp, hạn trả dài,...
Viện trợ chương trình
Viện trợ chương trình (còn gọi là hỗ trợ phi dự án) là viện trợ khi đạt được một hiệp
định với đối tác viện trợ nhằm cung cấp một khối lượng ODA cho một mục đích tổng
quát trong một thời hạn nhất định, mà không phải xác định một cách chính xác nó sẽ
được sử dụng như thế nào.
Hỗ trợ dự án
Hỗ trợ dự án là hình thức chủ yếu của hỗ trợ phát triển chính thức, có thể liên quan
đến hỗ trợ cơ bản hoặc hỗ trợ kỹ thuật, và thông thường các dự án phải được chuẩn bị rất
kỹ lưỡng trước khi thực hiện.
Hỗ trợ cơ bản: chủ yếu là các dự án về xây dựng (đường xá, cầu cống, đê đập, điện
năng, viễn thông, trường học, bệnh viện,...). Thông thường các dự án này có kèm theo
một bộ phận của viện trợ kỹ thuật dưới dạng thuê chuyên gia nước ngoài để kiểm tra
những hoạt động nhất định nào đó của dự án hoặc để soạn thảo xác nhận các báo cáo cho
đối tác viện trợ.
Hỗ trợ kỹ thuật: chủ yếu là các dự án tập trung vào chuyển giao tri thức hoặc tăng
cường cơ sở lập kế hoạch, cố vấn, nghiên cứu tình hình cơ bản trước khi đầu tư.
1.2 Thu hút, sử dụng ODA
1.2.1 Quy trình thu hút, quản lý, sử dụng vốn ODA
ODA và vốn vay ưu đãi là nguồn vốn thuộc ngân sách nhà nước được sử dụng để
thực hiện các mục tiêu ưu tiên phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và được phản ánh
trong ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Cơ chế quản lý và sử dụng vốn ODA ở nước ta hiện nay được thiết lập trên cơ sở
Nghị định số 17/CP ngày 4/5/2001 của Chính phủ. Theo đó nhiệm vụ quản lý Nhà nước
về vốn ODA được giao cho 6 cơ quan gồm: Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH& ĐT), Bộ Tài
chính, Ngân Hàng Nhà nước, Bộ Ngoại giao, Bộ Tư pháp và Văn phòng Chính phủ
Nguyên tắc cơ bản trong quản lý, sử dụng vốn ODA
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về ODA và vốn vay ưu đãi trên cơ sở phân
cấp gắn với trách nhiệm, quyền hạn, năng lực quản lý và tính chủ động của các ngành,
các cấp; bảo đảm sự phối hợp quản lý, kiểm tra và giám sát chặt chẽ của các cơ quan liên
quan.
Việc thu hút, quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi phải được xem
xét, cân đối và lựa chọn trong tổng thể các nguồn vốn đầu tư phát triển, phải bám sát các
mục tiêu của chiến lược nợ công và nợ nước ngoài của quốc gia giai đoạn 2011 - 2020 và
tầm nhìn đến năm 2030, Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, Kế hoạch đầu tư công trung
hạn và Kế hoạch tài chính trung hạn 5 năm 2016 - 2020, đảm bảo các chỉ số nợ công, nợ
chính phủ và mức bội chi ngân sách nhà nước trong giới hạn cho phép.
Bảo đảm tính công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong việc cung cấp
ODA và vốn vay ưu đãi và trong việc sử dụng nguồn vốn này.
Tạo điều kiện thuận lợi để khu vực tư nhân tiếp cận vốn ODA và vốn vay ưu đãi
trên cơ sở chia sẻ lợi ích và rủi ro giữa nhà nước và tư nhân.
Bảo đảm tính thống nhất và đồng bộ giữa các văn bản quy phạm pháp luật của Việt
Nam và hài hòa quy trình, thủ tục với các nhà tài trợ về ODA và vốn vay ưu đãi.
Tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế về
ODA và vốn vay ưu đãi mà Chính phủ hoặc Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam là thành viên. Trong trường hợp có sự khác biệt giữa điều ước quốc tế về ODA và
vốn vay ưu đãi với quy định của pháp luật Việt Nam về cùng một vấn đề thì áp dụng quy
định của điều ước quốc tế.
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Khuyến khích sự phân công lao động và bổ trợ giữa các nhà tài trợ trong việc cung
cấp nguồn vốn ODA và vốn vay ưu đãi trong khuôn khổ các chương trình hợp tác phát
triển chung, đồng tài trợ theo ngành, lĩnh vực và địa bàn lãnh thổ.
Tăng cường kiểm tra, giám sát và đánh giá việc sử dụng vốn ODA và vốn vay ưu
đãi, bảo đảm hiệu quả đầu tư, chất lượng công trình và theo đúng quy định của pháp luật;
chủ động ngăn ngừa và xử lý nghiêm các hành vi tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.
1.2.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng
- Thứ nhất: nhân tố về vài trò và bản chất của viện trợ nước ngoài. Tính chất ưu đãi
của nguồn vốn ODA ( thời gian, lãi suất ) thường làm cho các cơ quan trong nước ( quản
lý tiếp nhận ) có quan niệm hết sức dễ dãi và chủ quan về sự phân phối và sử dụng nguồn
vốn này. Họ không chú ý đến yêu cầu hiệu quả, bỏ qua yếu tố chi phí thời cơ trong thẩm
định, đánh giá dự án, chưa quan tâm đầy đủ đến việc xác định ưu tiên đầu tư, vẫn còn dựa
dẫm chủ yếu vào nguồn vốn nước ngoài và xem nhẹ đối ứng của nguồn vốn trong nước,
triển khai dự án chậm có khi còn lãng phí, sử dụng ODA không hiệu quả.
- Thứ hai: phụ thuộc định hướng ưu tiên sử dụng vốn ODA của nước tiếp nhận, nếu
xu hướng sử dụng dàn trải viện trợ nước ngoài trên một diện tích rộng quát nhiều lĩnh
vực, ngành hay địa phương thì sử dụng vốn kém hiệu quả, nếu trong điều kiện nguồn vốn
hạn chế, để nguồn vốn phát huy hiệu quả nhanh và rộng, nên tập trung đầu tư một số lĩnh
vực, vùng lãnh thổ có lợi thế tương đối và có khả năng gây tác động phát triển lớn.
- Thứ ba: Khả năng sử dụng vốn ODA còn phụ thuộc vào nguồn lực đối ứng trong
nước. Khả năng hấp thụ viện trợ tùy thuộc vào mức độ đáp ứng của nguồn lực trong
nước. Nếu các nguồn lực trong nước quá yếu kém ( được thể hiện qua nguồn vốn trong
nước nhỏ, năng lực cán bộ hạn chế, các yếu tố đầu vào thiếu thốn, hệ thống pháp lý
không rõ ràng, chặt chẽ…) thì sẽ phát sinh hiện tượng viện trợ nước ngoài quá tải và
không sử dụng một cách có hiệu quả. Để hấp thụ hoàn toàn và có hiệu quả nguồn ODA

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


mà cộng đồng quốc tế đã cam kết cần sớm khắc phục và cải thiện những vấn đề còn tồn
đọng trên.
- Thứ tư: Phụ thuộc vào cơ chế quản lý và điều phối viện trợ. Viện trợ nước ngoài
có liên quan đến nhiều cơ quan chức năng ở trong nước từ lúc vận động tài trợ cho đến
lúc hoàn tất cam kết hoàn trả. Cho nên thiết lập một cơ chế nhằm đảm bảo sự phối hợp
nhịp nhàng , thông suốt của cả một hệ thống tổ chức có liên quan đến việc trợ là vấn đề
có ý nghĩa.
- Thứ năm: sử dụng vốn ODA còn phụ thuộc vào tình hình kinh tế chính trị của
nước tiếp nhận, nếu tình hình mất ổn định dễ dẫn tới tình trạng tham nhũng , quan liêu sử
dụng không hiệu quả thất thoát nguồn vốn.
1.2.3 Sự cần thiết của vốn ODA trong lĩnh vực phát triển cơ sở hạ tầng Giao thông
vận tải ở Việt Nam
Giao thông nói chung là sản phẩm của quá trình sản xuất hàng hoá, ngược lại giao
thông lại là điều kiện để sản xuất hàng hoá phát triển.
Kết cấu hạ tầng giao thông vận tải có vai trò nền móng là tiền đề vật chất hết sức
quan trọng cho mọi hoạt động vận chuyển, lưu thông hàng hoá. Nếu không có một hệ
thống đường giao thông đầy đủ, đảm bảo tiêu chuẩn thì các phương tiện vận tải như các
loại xe ô tô, tàu hoả, máy bay... sẽ không thể hoạt động tốt được, không đảm bảo an toàn,
nhanh chóng khi vận chuyển hành khách và hàng hoá. Vì vậy chất lượng của các công
trình hạ tầng giao thông là điều kiện tiên quyết ảnh hưởng đến chất lượng hoạt động vận
tải nói riêng và ảnh hưởng đến sự phát triển của nền sản xuất kinh tế - xã hội nói chung.
Một xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu vận tải ngày càng tăng đòi hỏi cơ sở hạ tầng
giao thông phải được đầu tư thích đáng cả về lượng lẫn về chất.
Hiện nay các công trình thuộc lĩnh vực cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay đã xuống
cấp, cũ kỹ, không thể duy trì phát triển kinh tế lâu dài. Hệ thống giao thông đường bộ

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


chắp vá. Để nâng cấp, cải tạo hệ thống giao thông quốc gia mỗi năm chúng ta cần hàng
chục ngàn tỷ đồng.
Đầu tư vào CSHTGT cần khối lượng vốn lớn, chủ yếu là từ vốn ngân sách nhà nước
( vốn ngân sách thường chiếm từ 60 – 70% tổng vốn đầu tư ). Do các công trình hạ tầng
giao thông vận tải thường đòi hỏi vốn lớn, thời gian xây dựng lâu, hiệu quả kinh tế mang
lại cho chủ đầu tư không cao, khó thu hồi vốn nên không hấp dẫn các nhà đầu tư cá nhân.
Bên cạnh đó các công trình giao thông phục vụ cho nhu cầu đi lại của toàn xã hội, được
mọi thành phần kinh tế tham gia khai thác một cách triệt để, khi hư hỏng lại ít ai quan
tâm đầu tư sửa chữa, bảo dưỡng để duy trì tuổi thọ cho chúng. Vì vậy nhà nước hàng năm
đều trích ngân sách để đầu tư xây dựng mới, sửa chữa khắc phục những công trình hư
hỏng góp phần cải tạo bộ mặt giao thông đất nước.
Trong điều kiện hiện nay, ngân sách nhà nước còn hạn hẹp, việc huy động vốn ODA
là điều hết sức cần thiết bởi:
ODA chính là nguồn bổ sung vốn quan trọng cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng
giao thông vận tải bởi lãi suất ưu đãi, thời gian hoàn trả dài.
ODA giúp cho việc tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ hiện đại và phát
triển nguồn nhân lực. Một trong những yếu tố quan trọng góp phần đẩy nhanh quá trình
CNH, HĐH đất nước đó là yếu tố khoa học công nghệ và khả năng tiếp thu những thành
tựu khoa học tiên tiến của đội ngũ lao động. Thông qua các dự án ODA các nhà tài trợ có
những hoạt động nhằm giúp Việt Nam nâng cao trình độ khoa học công nghệ và phát
triển nguồn nhân lực.
Do vậy việc thu hút ODA là hết sức cần thiết cho sự phát triển kinh tế của Việt Nam
đặc biệt là cần thiết trong việc nâng cấp, xây dựng cơ sở hạ tầng giao thông vận tải.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Hỗ trợ phát triển chính thức ODA là một nguồn tài chính từ bên ngoài được cung
cấp bởi các chính phủ, các tổ chức quốc tế nhằm giúp đỡ phát triển cho các nƣớc đang và
kém phát triển ở chặng đường đầu tiên của quá trình công nghiệp hóa hoặc khi gặp khó
khăn về tài chính.
ODA thường được cung cấp chủ yếu dưới dạng hỗ trợ không hoàn lại hoặc cho vay
ưu đãi với lãi suất thấp và thời gian ân hạn, trả nợ dài (phần này thường ở mức 25%). Bởi
vậy, các nước tiếp nhận ODA thường ưu tiên sử dụng nguồn vốn này cho những dự án
kinh tế - xã hội không sinh lời trực tiếp hoặc khả năng thu hồi vốn chậm, nhưng lại có ý
nghĩa quan trọng đến việc tạo lập một môi trường thuận lợi cho phát triển đất nước nói
chung và tăng phúc lợi xã hội nói riêng như đầu tư cho lĩnh vực giao thông vận tải.
Hiện nay, hầu hết các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam đều trong tình
trạng thiếu vốn trầm trọng, hạn chế và lạc hậu về kết cấu hạ tầng trong đó có giao thông
vận tải. Nhu cầu phát triển giao thông vận tải để tạo nền tảng cho phát triển là vô cùng
quan trọng, do đó để thực hiện được nhu cầu này cần thu hút và sử dụng nguồn vốn
ODA.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG THU HÚT VÀ SỬ DỤNG ODA
TRONG LĨNH VỰC PHÁT TRIỂN CƠ SỞ HẠ TẦNG GTVT
Ở VIỆT NAM TRONG NHỮNG NĂM GẦN ĐÂY
2.1 Khái quát tình hình thu hút và sử dụng ODA của Việt Nam
Cộng đồng tài trợ quốc tế chính thức (ODA) tái thiết lập quan hệ hỗ trợ với Việt
Nam từ năm 1993 với mốc đánh dấu là Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ dành cho
Việt Nam họp tại Paris vào tháng 11 năm 1993. Trước Hội nghị này, viện trợ song
phương cho Việt Nam chủ yếu đến từ một số nước xã hội chủ nghĩa và một số nước thành
viên tổ chức OECD. Sau 4 lần tổ chức tại Paris (từ năm 1993-1996) và 1 lần tổ chức tại
Tokyo (năm 1997), kể từ năm 1998 theo sáng kiến của Chính phủ Việt Nam được sự ủng
hộ của các nhà tài trợ, hội nghị CG đã được tổ chức ở Việt Nam để tạo điều kiện cho sự
tham gia rộng rãi của các bộ, ngành, địa phương, khu vực tư nhân và các tổ chức xã hội
nhân dân và các tổ chức phi chính phủ trong và ngoài nước.
Tuy nhiên, khi bối cảnh kinh tế cả trong nước và quốc tế có nhiều thay đổi, cần phải
có những thay đổi trong phương thức tổ chức, từ năm 2013, Diễn đàn Đối tác Phát triển
(VDPF) lần đầu tiên được diễn ra thay thế cho hội nghị CG, với một nội hàm mới là tập
trung đối thoại chính sách, thay vì nhằm vận động hỗ trợ ODA như hội nghị CG trước
đây. VDPF ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quan hệ hợp tác phát
triển giữa Việt Nam với thế giới, thay vì là nhà tài trợ - nước nhận tài trợ sang thành đối
tác phát triển. Việc thu hút nguồn vốn ODA của nước ta trong thời kỳ đổi mới có thể chia
làm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1993 - 2000, Việt Nam chủ trương đẩy mạnh khai thông, mở
rộng hợp tác quốc tế và thu hút vốn đầu tư mạnh mẽ từ nhiều nước và tổ chức quốc tế.
Nguồn ODA đa phương và song phương tăng dần lên, song giai đoạn này lại chưa có
chiến lược hay đề án cụ thể thu hút nguồn vốn ODA. Giai đoạn 2001 - 2010, thu hút
ODA đã có chọn lọc đi đôi với việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử
dụng và có kế hoạch đảm bảo trả nợ. Giai đoạn từ năm 2011 - 2015, Việt Nam đã đẩy
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


nhanh tiến độ giải ngân vốn các công trình, dự án đã được ký kết; xây dựng Chiến lược
thu hút và sử dụng vốn ODA cho thời kỳ mới, tạo lợi thế so sánh để thu hút có hiệu quả
các nguồn vốn nước ngoài cho đầu tư phát triển
Trong từng giai đoạn, Thủ tướng Chính phủ đã có các quyết định về thu hút và sử
dụng nguồn vốn ODA như:Quyết định số 290/2006/QĐ-TTg ngày 29/12/2006 phê duyệt
Đề án “Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA thời kỳ 2006 - 2010”; Quyết
định số 94/2007/QĐ-TTg ngày 27/6/2007 phê duyệt Kế hoạch hành động thực hiện Đề án
“Định hướng thu hút và sử dụng nguồn vốn ODA thời kỳ 2006 - 2010”; Quyết định số
106/QĐ-TTg ngày 19/1/2012 phê duyệt Đề án “Định hướng thu hút, quản lý và sử dụng
nguồn vốn ODA và khoản vốn vay ưu đãi khác của nhà tài trợ thời kỳ 2011 - 2015”…
Ngoài ra, trên cơ sở các nghị quyết của Trung ương và Quốc hội, Chính phủ đã ban hành
5 nghị định về quản lý và sử dụng nguồn vốn ODA, nghị định sau tiến bộ hơn nghị định
trước theo hướng đồng bộ và nhất quán hơn với hệ thống quản lý nhà nước về đầu tư
công, hài hòa quy trình, thủ tục với các nhà tài trợ, tiệm cận với các chuẩn mực và phù
hợp thông lệ quốc tế. Theo đó, việc thể chế hóa chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà
nước trong huy động và quản lý vốn ODA đã góp phần bổ sung nguồn lực quan trọng cho
công cuộc phát triển kinh tế, có tác động lan tỏa đến các thành phần kinh tế khác của nền
kinh tế, khơi dậy các nguồn lực đầu tư trong nước, tạo sức ép cạnh tranh, thúc đẩy đổi
mới và chuyển giao công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất.
Tình hình sử dụng ODA giai đoạn 1993-2015
Tại Việt Nam, nguồn vốn ODA được thực hiện dưới 3 hình thức. Trong đó, ODA
viện trợ không hoàn lại chiếm khoảng 10- 12%, ODA vay ưu đãi chiếm khoảng 80% và
ODA hỗn hợp chiếm khoảng 8- 10%. Lũy kế từ năm 1993- 2014, tổng giá trị vốn ODA
cam kết cho Việt Nam đã lên đến 89,5 tỷ USD, tổng vốn đã ký kết đạt 73.68 tỷ USD bình
quân 3.5 tỷ USD/ năm, vốn ODA và vốn vay ưu đãi giải ngân đạt 53.89 tỷ USD, chiếm
trên 73.2% tổng vốn ODA đã ký kết.

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Mặc dù ODA chỉ chiếm khoảng 4% GDP song lại chiếm tỷ trọng đáng kể trong tổng
nguồn đầu tư từ NSNN (bình quân chiếm khoảng 15- 17%). Điều này rất có ý nghĩa trong
bối cảnh ngân sách dành cho đầu tư phát triển của nước ta còn hạn hẹp khi nhu cầu phát
triển cơ sở hạ tầng kinh tế- xã hội lại rất lớn. Căn cứ vào nhu cầu vốn đầu tư và định
hướng phát triển theo ngành, lĩnh vực và vùng lãnh thổ đề ra trong các chiến lược, kế
hoạch phát triển kinh tế- xã hội, Chính phủ Việt Nam đã đưa ra định hướng chiến lược,
chính sách ưu tiên sử dụng vốn ODA cho từng giai đoạn. Đánh giá tình hình sử dụng vốn
ODA trong giai đoạn 1993- 2015 được thể hiện ở các khía cạnh sau đây:
a) Theo cơ cấu vốn

Viện trợ không hoàn lại: khoảng 15 - 17% tổng nguồn vốn, giới hạn trong các lĩnh
vực nhân đạo, y tế, văn hóa, giáo dục, cải cách và nâng cao năng lực quản lý nhà nước.
Vốn vay: có quy mô lớn, 83 - 85% tổng nguồn vốn ODA nhưng được vay lãi suất
thấp, thời gian dài.
Dòng vốn ODA vào Việt Nam tiếp tục tăng trong hơn 20 năm qua. Không chỉ giá trị
của hỗ trợ tăng mà sự hiệu quả trong việc thực hiện hỗ trợ cũng được cải thiện đáng kể.
Chi tiết hơn, Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ hàng năm là một diễn đàn quan trọng
để Chính phủ Việt Nam thảo luật với các đối tác phát triển về tiến trình phát triển của đất
nước. Cuộc họp giữa kỳ của hội nghị được tổ chức tại các tỉnh cũng đóng vai trò quan
trọng tạo điều kiện cho các nhà tài trợ hiểu hơn về nhu cầu phát triển ưu tiên của các địa
phương và gặp gỡ các đối tác hưởng lợi.
b) Theo Ngành, lĩnh vực tài trợ

Nguồn vốn ODA đã được tập trung hỗ trợ cho các lĩnh vực phát triển kinh tế xã
hội, ưu tiên của Chính phủ đó là:
Bảng 2-3. Cơ cấu thu hút ODA theo ngành, lĩnh vực trong giai đoạn 1993- 2014

Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Ngành, lĩnh vực
1. Nông nghiệp - Xóa đói giảm nghèo
2. Năng lượng và công nghiệp
3. Giao thộng vận tải
4. Môi trường (cấp, thoát nước, đối phó với biến đổi khí hậu,
…) và phát triển đô thị
5. Y tế- Xã hội
6. Giáo dục và đào tạo
7. Ngành khác (khoa học công nghệ, tăng cường năng lực

Tỷ lệ (%)
13.92
19.18
30.37
13.87
4.64
3.96
14.06

thể chế,…)
Nguồn: Bộ Kế hoạch và Đầu tư
- Trong lĩnh vực nông nghiệp, phát triển nông thôn: Qua hơn 20 năm tiếp nhận
nguồn vốn ODA, trong tổng số vốn ODA dử dụng cho ngành nông nghiệp thì thủy lợi
chiếm tỷ lệ cao nhất với 45%, tiếp theo là nông nghiệp 21%, phát triển nông thôn 15%,
lâm nghiệp 15% và ít nhất là thủy sản chỉ với 4%. Chúng ta đã sử dụng nguồn vốn này để
xây dựng hệ thống thủy lợi, các kênh cấp 1, cấp 2, cải tạo và nâng cấp đê biển, phát triển
cơ sở hạ tầng nông thôn tổng hợp,… Chính phủ đã tập trung hỗ trợ 112,74 triệu USA
nguồn vốn ODA cho phát triển khu vực nông nghiệp nông thôn gồm cả thủy sản, lâm
nghiệp thủy lợ; khoảng 216 triệu USD vốn ODA đã được đầu tư cho phát triển nông
nghiệp nông thôn trong năm 1998. Các dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng nông thôn đã góp
phần cải thiện đời sống người dân các vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số,
nhất là trong việc tiếp cận tới các dịch vụ công trong các lĩnh vực y tế, giáo dục,… góp
phần quan trọng vào công tác xóa đói giảm nghèo tại các vùng nông thôn.
Bên cạnh đó, các chương trình, dự án ODA cũng đã hỗ trợ công tác nghiên cứu
khoa học, công nghệ nông nghiệp giúp nâng cao chất lượng, an toàn sản phẩm nông
nghiệp, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm.
- Trong lĩnh vực năng lượng: Khoảng 24% nguồn vốn ODA đã ký kết được sử dụng
cho ngành điện như nhà máy nhiệt điện Phú Mỹ 1, Phú Mỹ 2, Nhà máy thủy điện Sông
Hinh, nhà máy Hàm Thuận- Đa Mi, Phả Lại 2, các hệ thống đường dây và trạm biến thế,
Học viên: Nguyễn Hải Anh
Mã học viên: CH002K23C1


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×