Tải bản đầy đủ

Tiểu luận điều kiện thực thi tốt pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

BÀI LÀM
Thuế tiêu thụ đặc biệt là một khoản thuế gián thu đánh vào một số loại
hàng hóa , dịch vụ đặc biệt với mức thuế suất rất cao. Mặc dù mới áp dụng loại
thuế này vào thực tiễn và còn gặp nhiều bất cập, hạn chế nhưng loại thuế này
cũng đã và đang từng ngày khẳng định vai trò to lớn của mình đối với vấn đề tài
chính của Nhà nước ta. Thông qua chế độ thu thuế tiêu thụ đặc biệt, Nhà nước
không chỉ động viên một phần thu nhập đáng kể của người tiêu dùng vào ngân
sách nhà nước mà còn là công cụ quan trọng để nhà nước thực hiện chức năng
quản lý, điều tiết tiêu dùng xã hội. Nhà nước đã xây dựng khung pháp lý quy
định khá cụ thể về các vấn đề liên quan đến thuế tiêu thụ đặc biệt. Nhưng việc
thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt trên thực tiễn chưa đạt hiệu quả. Vậy,
những yếu tố nào ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật về thuế tiêu thụ đặc biệt
và các giải pháp nhằm thực thi tốt pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là những nội
dung nghiên cứu trong bài viết này.

I.

CÁC VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THUẾ TIÊU THỤ ĐẶC BIỆT.

1, Khái niệm thuế tiêu thụ đặc biệt.
Trong Luật thuế tiêu thụ đặc biệt 2008(sửa đổi) và các văn bản pháp luật

liên quan không đưa ra khái niệm cụ thể nhưng thông qua các quy định đó có thể
đưa ra khái niệm chung nhất về thuế tiêu thụ đặc biệt như sau: Thuế tiêu thụ đặc
biệt là một loại thuế gián thu, đánh vào một số hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng
chịu thuế theo qui định của luật thuế tiêu thụ đặc biệt. Thuế được cấu thành trong
giá cả hàng hóa, dịch vụ và do người tiêu dùng chịu khi mua hàng hóa, sử dụng
dịch vụ.

1


Việc quy định các hàng hóa, dịch vụ nào thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc
biệt thì phụ thuộc vào chính sách điều tiết của từng nước, xuất phát từ các khía
cạnh kinh tế, xã hội như: Chính sách điều tiết, hướng dẫn sản xuất và tiêu dùng
của Nhà nước, phong tục và tập quán tiêu dùng một số loại hàng hóa, dịch vụ
trong từng giai đoạn phát triển kinh tế- xã hội cụ thể.
Thuế tiêu thụ đặc biệt (TTĐB) là loại thuế tiêu dùng được áp dụng phổ biến ở
các nước trên thế giới với những tên gọi khác nhau: Pháp gọi là thuế tiêu dùng
đặc biệt, Thụy Ðiển gọi là thuế đặc biệt. Đối với Việt Nam, tiền thân của thuế
tiêu thụ đặc biệt hiện hành là thuế hàng hóa được ban hành năm 1974. Luật Thuế
TTĐB ban hành lần đầu tiên vào năm 1990. Kể từ khi ban hành đến nay, Luật
thuế TTĐB đã qua nhiều lần bổ sung sửa đổi cho phù hợp với chính sách kinh tế
- xã hội của Đảng và Nhà nước trong mỗi giai đoạn phát triển.
2, Đặc điểm của thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thuế tiêu thụ đăch biệt có các đặc điểm như sau:
_ Các loại hàng hóa, dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước qui định
hầu như giống nhau gồm : rượu, bia, thuốc lá, xe ô tô, xăng...; kinh doanh cá cược, đua ngựa,
đua xe, sòng bạc...
_ - Mức thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt được pháp luật thuế các nước quy định rất cao vì thuế
đánh vào một số hàng hóa dịch vụ mang tính chất xa xỉ (như karaoke, đua ngựa, casino, ô tô,
máy bay, du thuyền….), chưa thật cần thiết cho nhu cầu thiết yếu hàng ngày của con
người( vàng mã…)và có ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người trong xã hội (thuốc lá, rượu,
bia…)
_Cách thu thuế tiêu thụ đặc biệt ở các nước cũng giống nhau, tức là nhà nước chỉ thu một lần ở
khâu sản xuất, nhập khẩu hàng hóa hay kinh doanh các dịch vụ thuộc diện chịu thuế tiêu thụ
đặc biệt.

3) Khái niệm thực thi pháp luật thuế tiêu thục đặc biệt
Thực thi pháp luật được hiểu chung nhất là hoạt động thực hiện và thi hành
pháp luật. Theo nghĩa hẹp thực thi pháp luật chỉ là hoạt động của riêng cơ quan
quản lý nhà nước trong việc áp dung, thi hành pháp luật. Nhưng cách hiểu đó là


phiến diện và chưa đầy đủ vì pháp luật là những chuẩn mực chung và bất cứ ai

2


trong xã hội phải tuân theo.Vì vậy thực thi pháp luật phải là hoạt động thực hiện
và tuân theo pháp luật của tất cả mọi người.
Đối với pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt nói
riêng việc thực thi pháp luật chia làm 2 nhóm hoạt động thu(quản lý thuế) và
hoạt động đóng thuế tương ứng với 2 nhóm đối tượng đó là cơ quan nhà
nước(chủ thể quyền lực) và chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế( chủ thể mang nghĩa
vụ).
4) Vai trò của hoạt động thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt là một trong những công cụ giúp Nhà
nước thực hiện chính sách quản lý đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh và nhập
khẩu hàng hóa dịch vụ giúp Nhà nước quản lý hoạt động nhập khẩu mặt hàng
này. Vì vậy, khi thuế tiêu thụ đặc biệt không được thực thi trên thực tế thì Nhà
nước không thể xác định số lượng của các mặt hàng bị đánh thuế tiêu thụ đặc biệt
trên thị trường Việt Nam hiện nay, điều này sẽ dẫn tới hậu quả là hành vi trốn
thuế của các chủ thể có nghĩa vụ nộp thuế( nhất là đối với loại thuế có mức thuế
suất cao như thuế tiêu thụ đặc biệt), gây khó khăn cho chủ thể quản lý thuế.
Công bằng trong xã hội là điều mà bất kỳ quốc gia hay dân tộc nào đều
hướng tới. Nhưng với sự phát triển của kinh tế xã hội việc chênh lệch mức sống
giữa các tầng lớp nhân dân ngày càng cao. Những người có mức sống cao thường
muốn sử dùng những mặt hàng xa xỉ hơn so vơi mức sống của người khác như ô
tô, máy bay, du thuyền... Vì vậy thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt còn
nhằm mục đích điều tiết thu nhập của các tầng lớp trong dân cư có thu nhập cao
bằng cách áp dụng mức thuế cao đối với những mặt hàng đó. Mặt khác, những
mặt hàng là đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt còn là những mặt hàng có hàng
tuy không phải xa xỉ nhưng có hại cho sức của người sử dụng và những người
xung quanh nên hạn chế sử dụng như rượu, bia, thuốc lá... Với mức thuế suất
cao, người tiêu dùng đôi khi phải bỏ qua hoặc hạn chế tới mức thấp nhất việc sử
dụng hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt vì không đủ khả năng chi trả hoặc cân

3


nhắc về giá trị mang lại và giá trị bỏ ra. Như vậy, việc thực thi thuế tiêu thụ đặc
biệt còn có vai trò hướng dẫn tiêu dùng hợp lý.
Cũng như các loại thuế khác, thuế tiêu thụ đặc biệt tạo nguồn thu cho ngân
sách Nhà nước. Việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt còn có ý nghĩa trong
việc đem lại nguồn thu ổn định cho Ngân sách nhà nước. Đảm bảo cho việc thực
hiện các chức năng nhiệm vụ của Nhà nước
II)

Các yếu tố ảnh hưởng tới việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc
biệt.

1, Yếu tố khách quan
1.1- Yếu tố kinh tế
Ở nước ta, thuế TTĐB được Quốc hội khoá IX ban hành Luật Thuế TTĐB và
có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990 và đã qua nhiều lần sửa đổi, bổ sung cho
phù hợp với tình hình phát triển kinh tế xã hội của đất nước trong từng thời kỳ.
Trong đó những lần sửa đổi quan trọng vào các năm 1998, 2003 và 2005. Năm
2008, Luật thuế TTĐB (sửa đổi) được trình Quốc hội thông qua vào tháng
11/2008, có hiệu lực thi hành kể từ 01/04/2009. Như vậy, nhìn chung khung pháp
lý cho thuế tiêu thụ đặc biệt xuất hiện muộn hơn so với các nước trong khu vực
và trên thế giới.
Điều này cũng xuất phát từ lý do nền kinh tế Việt Nam phát triển muộn hơn so
với nhiều nước. Trước đây khái niệm hàng hóa đặc biệt còn khá xa lạ. Đối với
thuế hàng hóa( được xem là tiền thân của thuế TTĐB) được quy định tại Quyết
nghị 487- NQ/QHK4 quy định còn mang tính liệt kê, đánh cả vào những mặt
hàng thiết yếu do lúc đó kinh tế Việt Nam còn mang tính bao cấp, những kinh
doanh ngoài Nhà nước đều không được khuyến khích. Sau khi chuyển sang nền
kinh tế thị trường Nhà nước chỉ đánh thuế TTĐB vào những mặt hàng không
khuyến khích tiêu dùng nhằm khuyến kích phát triển kinh tế xã hội, bằng cách
tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế trong xã hội. Cùng với sự phát triển của
kinh tế Việt Nam các mặt hàng bị đánh thuế liên tục được điều chỉnh để phù hợp
với tình hình kinh tế mới.
4


Các yếu tố kinh tế thay đổi làm cho hành vi thực thi pháp luật thuế TTĐB
cũng thay đổi. Khi các yếu tố kinh tế thay đổi sẽ có tác động tới việc thực hiện
thuế TTĐB. Ví dụ: có nhiều loại mặt hàng, dịch vụ tương tự những mặt hàng bị
đánh thuế TTĐB nhưng pháp luật chưa quy định, nên các doanh nghiệp sẽ trốn
thuế bằng cách áp dụng các hàng hóa, dịch vụ mới này.Mặt khác, các mặt hàng
được xem là xa xỉ như ô tô dưới 24 chỗ sẽ không phải là đối tượng của thuế
TTĐB khi kinh tế tăng lên, đời sống cũng như cơ sở hạ tầng ở Việt Nam ngày
càng đươc nâng cao…
1.2- Văn hóa – giáo dục
Bất cứ một quốc gia nào trên thế giới đều có pháp luật để đảm bảo trật tự xã
hội. Nhưng văn hóa để thực thi pháp luật ở mỗi quốc gia thì không như nhau.
Pháp luật nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt nói riêng luôn có một hệ
thống pháp chế để đảm bảo thi hành, nhưng hoạt động của các cơ quan công
quyền nếu không có văn hóa, không tôn trọng pháp luật thì việc thực thi pháp
luật chắc chắn không được đảm bảo thực hiện. Bên cạnh đó, nếu các chủ thể
quyền lực này đã có văn hóa, ý thức thực thi đúng pháp luật nhưng các chủ thể có
nghĩa vụ không có văn hóa và ý thức tôn trọng, ý thức thực thi thuế sẽ dẫn tới
hành vi trốn thuế, để thu được lợi nhuận cao hơn. Hành vi trốn thuế tiêu thụ đặc
biệt đồng nghĩa với không thực thi thuế đối với một số mặt hàng nhất định, cơ
quan có quyền lực đôi khi không thể tìm ra do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Văn hóa bắt nguồn từ việc giáo dục, giáo dục ở đây mang ý nghĩa rộng tức là
giáo dục ý thức của người dân ở gia đình, nhà trường và cả xã hội. Đối với chủ
thể có nghĩa vụ nộp thuế cần giáo dục họ nghĩa vụ tôn trọng pháp luật. Đối với
nhóm chủ thể mang quyền lực cần có các biện pháp giáo dục được vai trò của
thuế tiêu thụ đặc biệt, giáo dục sự tôn trọng một cách thực sự chứ không phải là
nỗi khiếp sợ về các chế tài xử lý
1.3- Hội nhập quốc tế
Trong xu hướng phát triển toàn cầu, Việt Nam đã gia nhập rất nhiều sân chơi
chung của quốc tế. Trong đó, Việt Nam ra nhập WTO( tổ chức thương mại thế
5


giới). Bên cạnh những lợi ích đạt được như bình đẳng với các nước lớn hơn,
được bảo vệ quyền lợi khi bị xâm phạm, việc ra nhập WTO cũng đặt ra đối với
Việt Nam những thách thức và khó khăn mới trong việc thực thi pháp luật đang
tồn tại. Đặc biệt với thuế tiêu thụ đặc biệt, Việt Nam đã có những hoạt động cụ
thể như sau:
Để thực hiện các cam kết hội nhập, việc quy định lộ trình từng bước tăng thuế
đối với một số mặt hàng như ô tô sản xuất lắp ráp trong nước (2004-2005), thuốc
lá, bia hơi (2006-2007) có ý nghĩa quan trọng đối với sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp. Một mặt, bảo đảm thực hiện nguyên tắc không phân biệt đối
xử giữa hàng sản xuất trong nước với hàng nhập khẩu theo đúng các nguyên tắc
của WTO. Mặt khác, đã hạn chế những tác động tiêu cực đến hoạt động sản xuất
kinh doanh mặt hàng thuốc lá, bia hơi khi phải thực hiện các cam kết hội nhập,
giúp các doanh nghiệp có thời gian phục hồi và ổn định sản xuất, kinh doanh
Đối với mặt hàng rượu: Theo cam kết, trong vòng 3 năm kể từ ngày gia nhập
Tổ chức thương mại Thế giới - WTO (tức là từ năm 2010), tại Việt Nam tất cả
các loại rượu được chưng cất có nồng độ từ 20 độ cồn trở lên sẽ áp dụng một
mức thuế tuyệt đối tính theo lít rượu cồn nguyên chất hoặc một mức thuế phần
trăm.
Đối với mặt hàng bia: Tương tự như rượu, theo cam kết, trong vòng 3 năm kể
từ khi gia nhập WTO, Việt Nam sẽ áp dụng một mức thuế suất phần trăm (%)
chung đối với các loại bia, không phân biệt hình thức đóng gói bao bì.
(Theo tổng kết của Tổng cục thuế Việt Nam)
Vì vậy, việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2005 không còn phù
hợp nữa. Và Việt Nam đã có những điều chỉnh cần thiết để việc thực thi luật thuế
tiêu thụ đặc biệt không vấp phải sự phản đối của thế giới bằng cách sửa đổi Luật
thuế tiêu thụ đặc biệt năm 2008 để phù hợp với hoàn cảnh mới, đảm bảo thực thi
diễn ra phù hợp trong sân chơi chung toàn thế giới.

6


2/ Yếu tố từ phía các cơ quan nhà nước
Dưới các tác động của kinh tế xã hội nêu trên, các cơ quan Nhà nước sẽ là
người quyết đinh phương hướng thực thi cơ bản của pháp luật thuế tiêu thụ đặc
biệt.Yếu tố tác động từ các cơ quan Nhà nước có thể được xem kim chỉ nam cho
các hoạt động thự thi thuế tiêu thụ đặc biệt. Nếu có các chủ trương và phương
hướng phù hợp sẽ góp phần tích cực tới việc thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc
biệt trên thực tế. Và ngược lại, cũng có thể làm cho việc thực thi thuế khó được
thực hiện và nếu được thực hiện cũng sẽ gặp phải sự phản đối lớn trong xã hội,
dẫn tới việc không thực thi được hoặc thực thi không đúng, không đủ.
2.1 - Chính sách
2.1.1- Đối tượng chịu thuế:
Danh mục các hàng hóa là đối tượng áp dụng thuế TTĐB 2005 ở Việt Nam
chỉ đánh vào 8 nhóm hàng hóa và 5 nhóm dịch vụ.Con số này ít hơn một số nước
trong khu vực như: Ở Thái Lan, thuế TTĐB đánh vào 15 nhóm hàng, ở Indonesia
áp dụng cho 37 nhóm hàng. Như vậy, nhìn vào phương diện số mặt hàng thì việc
thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt của Việt Nam có vẻ đơn giản hơn. Nhưng trong quá
trình thực thi, tổng kết của chính phủ việc thực hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt
2005 cho thấy đã tồn tại nhiều bất cập dẫn đến việc khó thực thi và bỏ sót nhiều
mặt hàng.
Ví du: Tàu bay, du thuyền vì giá trị của nó lớn hơn ô tô mà lại không bị
đánh thuế gây tâm lý ức chế cho những người mua ô tô. Hay cùng là máy chơi
điện tử jackpot thuộc đối tượng chịu thuế TTĐB. Nhưng trong thực tế, ngoài
chủng loại máy jackpot còn có các loại máy slot machines khác cũng đang được
sử dụng cho các trò chơi điện tử có thưởng. Vì vậy nếu chỉ quy định máy jackpot
thuộc đối tượng chịu thuế thì không bao quát được tất cả các loại trò chơi điện tử
có thưởng khác. Điều này sẽ dẫn tới việc khi thực thi các doanh nghiệp kinh
doanh trò chơi điện tử sẽ sử dụng máy slot nhằm không phải nộp thuế TTĐB...

7


Vì vậy, luật thuế TTĐB 2008 đã quy định thêm một số mặt hàng là đối
tượng áp thuế TTĐB. Bao gồm 10 nhóm hàng hóa và 5 nhóm dịch vụ.Cụ thể như
sau:
Đối với hành hóa:
a) Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít,
nhai, ngửi, ngậm;
b) Rượu;
c) Bia;
d) Xe ô tô dưới 24 chỗ, kể cả xe ô tô vừa chở người, vừa chở hàng loại có
từ hai hàng ghế trở lên, có thiết kế vách ngăn cố định giữa khoang chở người và
khoang chở hàng;
đ) Xe mô tô hai bánh, xe mô tô ba bánh có dung tích xi lanh trên 125cm3;
e) Tàu bay, du thuyền;
g) Xăng các loại, nap-ta (naphtha), chế phẩm tái hợp (reformade
component) và các chế phẩm khác để pha chế xăng;
h) Điều hoà nhiệt độ công suất từ 90.000 BTU trở xuống;
i) Bài lá;
k) Vàng mã, hàng mã.
Đối với dịch vụ:
a) Kinh doanh vũ trường;
b) Kinh doanh mát-xa (massage), ka-ra-ô-kê (karaoke);
c) Kinh doanh ca-si-nô (casino); trò chơi điện tử có thưởng bao gồm trò
chơi bằng máy giắc-pót (jackpot), máy sờ-lot (slot) và các loại máy tương tự;
d) Kinh doanh đặt cược;
đ) Kinh doanh gôn (golf) bao gồm bán thẻ hội viên, vé chơi gôn;
e) Kinh doanh xổ số.
2.1.2 Thuế suất

8


Thuế suất đối với các hàng hóa bị áp dụng thuế tiêu thụ đặc biệt là cao từ
10- 70%. Trong đó mặt hàng bị đánh thuế cao nhất là vàng mã, hàng mã 70%.
Trước đây mức thuế xuất cao nhất 100%năm 1998, 80% năm 2003, 75% năm
2005. Như vậy, mức thuế suất thuế TTĐB đang giảm dần, điều này góp phần
quan trọng trong việc thực thi trong thực tế. Một mặt, nó phù hợp với xu hướng
hợp nhập thế giới của Việt Nam. Mặt khác, nhận được ủng hộ của các doanh
nghiệp trong nước cũng như nước ngoài dẫn đến việc luật được tôn trọng hơn và
ý thức tuân theo pháp luật thuế TTĐB, giúp việc thực thi thuế TTĐB diễn ra
nhanh chóng và hạn chế được hành vi trốn thuế. Nhưng mức thuế suất vẫn phải
đảm bảo được mục đích hướng dẫn tiêu dùng mà Nhà nước đã đề ra. Cân bằng
lợi ích xã hội và lợi ích cá nhân.
2.1.3 Phương pháp tính thuế
Phương pháp tính thuế TTĐB 2008 được quy định tại Điều 6 Luật
thuế TTĐB : “Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi hoặc tiêu dùng nội bộ,
biếu, tặng cho là giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại
hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh các hoạt động này.
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại Điều này
bao gồm cả khoản thu thêm, được thu (nếu có) mà cơ sở kinh doanh được hưởng.
Giá tính thuế được tính bằng Đồng Việt Nam. Trường hợp người nộp thuế có
doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá giao
dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng do Ngân hàng nhà nước Việt
Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu để xác định giá tính thuế.
Chính phủ quy định cụ thể Điều này.”
Nghị định 26/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 3 năm 2009 về quy định chi tiết
thi hành một số điều của Luật thuế TTĐB quy định chi tiết việc tính thuế TTĐB
như sau:
“1.Đối với hàng hoá sản xuất trong nước, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt
được xác định như sau:
9


Giá bán chưa có thuế giá trị gia tăng
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = ──────────────────────
1 + Thuế suất thuế tiêu thụ đặc biệt
Trong đó, giá bán chưa có thuế GTGT được xác định theo quy định của
pháp luật về thuế GTGT…
2. Đối với hàng nhập khẩu, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt được xác định
như sau:
Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt = Giá tính thuế nhập khẩu + Thuế nhập
khẩu….
3. Đối với hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, giá tính thuế không loại
trừ giá trị vỏ bao bì, vỏ chai….
4. Đối với hàng hoá gia công thuộc diện chịu thuế tiêu thụ đặc biệt là giá
bán hàng hoá của cơ sở giao gia công bán ra hoặc giá bán của sản phẩm cùng
loại hoặc tương đương tại thời điểm bán.
5. Đối với hàng hoá sản xuất dưới hình thức hợp tác kinh doanh giữa cơ
sở sản xuất và cơ sở sở hữu thương hiệu (nhãn hiệu) hàng hoá, công nghệ sản
xuất thì giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá bán ra của cơ sở sở hữu thương
hiệu hàng hoá, công nghệ sản xuất.
6. Đối với hàng hóa bán theo phương thức trả góp, trả chậm, giá tính thuế
tiêu thụ đặc biệt là giá bán của hàng hóa bán theo phương thức trả tiền một lần,
không bao gồm khoản lãi trả góp, lãi trả chậm.
7. Đối với dịch vụ, giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá cung ứng dịch vụ
của cơ sở kinh doanh dịch vụ bán ra…
8. Đối với hàng hóa, dịch vụ dùng để trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu,
tặng, cho, khuyến mại giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt là giá tính thuế tiêu thụ đặc
biệt của hàng hóa, dịch vụ cùng loại hoặc tương đương tại thời điểm phát sinh
hoạt động trao đổi, tiêu dùng nội bộ, biếu, tặng, khuyến mại các hàng hoá, dịch
vụ này.

10


9. Giá tính thuế tiêu thụ đặc biệt đối với hàng hóa, dịch vụ quy định tại
Điều này bao gồm cả khoản thu thêm tính ngoài giá bán hàng hóa, giá cung ứng
dịch vụ (nếu có) mà cơ sở sản xuất, kinh doanh được hưởng…”
Có thể xem đây là hành lang pháp lý quan trọng nhất để tiến hành việc
thực thi pháp luật thuế TTĐB. Đây cũng là một điểm rất tiến bộ của luật thuế
TTĐB 2008. Các cơ quan quyền lực sẽ dựa vào các quy định này để thực thi luật
chính xác, tránh việc bỏ sót các trường hợp hoặc việc không tuân thủ của các
doanh nghiệp và người tiêu dùng vì lý do không quy định cụ thể nên có cách áp
dụng khác nhau.
2.1.4 Chế độ hoàn thuế, giảm thuế, khấu trừ thuếTTĐB
Trong luật Thuế TTĐB không còn tồn tại khái niệm miễn thuế và xuất
hiện thêm khái niệm khấu trừ thuế. Miễn thuế TTĐB là điều không nên có bởi vì
người nộp thuế thực sự là người dân, mà khi họ đã chấp nhấn sử dụng các hàng
hóa, dịch vụ thuộc danh mục phải chịu thuế TTĐB( là những hàng hóa Nhà nước
không khuyến khích và không thiết yếu trong cuộc sống) là họ đã chấp nhận và
có khả năng bỏ ra khoản thuế TTĐB vì vậy không cần thiết phải miễn thuế
TTĐB.Có thể áp dụng giảm thuế để góp phần tạo điều kiện giải quyết khó khăn
trước mắt của doanh nghiệp.
Khấu trừ thuế là hoạt động không phải tới bây giờ mới áp dụng vì đây là
nguyên tắc “đánh thuế phải đảm bảo không xảy ra tình trạng một đối tượng tính
thuế phải chịu một loại thuế nhiều lần”. Hoàn thuế cũng để đảm bảo nguyên tắc
này nhưng phần lớn đối với hàng xuất khẩu hoặc khi chia cắt, giải thể, phá sản…
Như vậy chưa là chưa tính tới các doanh nghiệp sản xuất hàng hóa TTĐB trong
nước, cần tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này có thêm vốn để sản xuất, kinh
doanh.
2.1.5 Chế độ hóa đơn chứng từ
Hóa đơn, chứng từ mua bán, nhập khẩu hàng hóa, cung ứng dịch vụ là
những yếu tố quan trọng không chỉ với đối cơ sở kinh doanh hoạt động kế toán,
11


kiểm toán mà còn đối với cả Nhà nước trong việc xác định đúng, đủ nghĩa vụ
thuế của cơ sở kinh doanh đối với Ngân sách nhà nước. Vì vậy, trong việc thực
thi thuế TTĐB không thể không kể tới việc giữ gìn hóa đơn, chứng từ. Đây là cơ
sở để người nộp thuế báo cáo về việc thực thi pháp luật của mình. Đây cũng là cơ
sở để các cơ quan quản lý, quản lý việc tuân theo pháp luật của người có nghĩa
vụ nộp thuế và quản lý số thu cho NSNN, tránh sự tùy tiện.
2.2 Phương pháp quản lý
Luật Quản lý thuế đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực từ ngày
1/7/2007 đã bãi bỏ các quy định về quản lý thuế như: nghĩa vụ, trách nhiệm thực
hiện luật thuế tiêu thụ đặc biệt (Điều 4 Chương 1); đăng ký, kê khai, nộp thuế,
quyết toán thuế (Điều 8, 9, 10, 11, 12, 14 và Điều 15 Chương III); xử lý vi phạm,
khen thưởng (Điều 17, 18, 19, 20 Chương V); khiếu nại, khởi kiện và thời hiệu
(Điều 21, 22 Chương VI); Tổ chức thực hiện (Điều 23, 24, 25 Chương VI).
Như vậy, pháp luật thuế nói chung và pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt nói
riêng đã có 1 cơ chế giải quyết khá hoàn chỉnh, dồng bộ và thống nhất, được
hướng dẫn khá đầy đủ trong luật quản lý thuế 2007 và nghị định 85/2007/NĐ-CP
của chính phủ ngày 25 tháng 5 năm 2007 quy định chi tiết một số điều của luật
quản lý thuế. Điều này đã góp phần tích cực cho việc hướng dẫn thi hành thuế
tiêu thụ đặc biệt
3/ Yếu tố từ tâm lý người dân
Tâm lý của các cơ quan sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối
tượng phải chịu thuế TTĐB: Do loại thuế này có mức thuế suất cao dẫn đến tâm
lý 2 tâm lý: thứ nhất muốn trốn tránh để thu được lợi nhuận cao cho doanh
nghiệp mình; thứ hai: Muốn giảm bớt thuế suất để giảm giá thành tạo sự cạnh
tranh trên thị trường. Từ tâm lý sẽ dẫn tới hành động cụ thể. Nếu hành vi trốn
thuế xảy ra doanh nghiệp đó sẽ bị xử lý bằng các biện pháp hành chính hoặc hình
sự tùy vào mức vi phạm. Nhà nước cũng nhận thấy ngoài những chế tài xử phạt,
muốn pháp thuế TTĐB được thực thi tốt cũng cần có sự tôn trọng thực sự từ phía
các cơ quan này chứ không phải riêng chế tài xử phát. Vì vậy khi ban hành luật
12


thuế TTĐB Nhà mước đã tham khảo ý kiến của một số doanh nghiệp sản xuất
hàng hóa là đối tượng bị áp dụng thuế TTĐB( Ví dụ : các nhà máy sản xuất
bia…)và có những chỉnh sửa phù hợp, điều này chứng tỏ sự tôn trọng nhất định
của Nhà nước đối với đối tượng phải nộp thuế
Tâm lý người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ là đối tượng phải chịu thuế
TTĐB: Thuế tiêu thụ đặc biệt là loại thuế gián thu vì vậy, người phải chịu thuế
thực chất là người tiêu dùng. Vậy hành vi thi hành thuế tiêu thụ đặc biệt được
thực thi cụ thể qua hành vi của mỗi người sử dụng hàng hóa, dịch vụ là đối tượng
bị áp dụng thuế TTĐB. Như đã nói ở trên, Nhà nước muốn điều tiết tiêu dùng vì
vậy khi cân nhắc giữa lợi ích thật và lợi ích mình bỏ ra người tiêu dùng sẽ có
những lựa chọn cụ thể. Và khi chấp nhận sử dụng các loại hàng hóa dịch vụ này
đương nhiên họ phải chuẩn bị tâm lý thực thi pháp luật về thuế TTĐB.
III)

Thực trạng thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt

1) Những thành tựu đạt được trong quá trình thực thi pháp luật thuế
TTĐB
Việc thực thi pháp luật thuế TTĐB trên thực tế đã thu được nhiều thành
tựu như sau:
Nhà nước có những thay đổi phù hợp với các yếu tố khách quan, cân bằng lợi
ích giữa lợi ích của Nhà nước và cá nhân. Tạo khung pháp lý cơ bản để việc thi
hành thuế TTĐB được diễn ra thuận lợi, không gây bất lợi hoặc gây những cách
hiểu khác nhau dẫn tới cách áp dụng khác nhau.
Các doanh nghiệp chấp hành khá nghiêm chỉnh việc thực thi pháp luật thuế
TTĐB theo các quy định về trình tự kê khai, nộp thuế, tính thuế của pháp luật và
việc lưu, giữ các hóa đơn, chứng từ cũng được các doanh nghiệp quan tâm một
cách thích đáng để làm căn cứ nộp thuế TTĐB, khấu trừ thuế TTĐB…
Thuế TTĐB mặc dù có diện đối tượng chịu thuế thu hẹp nhưng lại có thuế
xuất cao hơn các loại thuế gián thu khác vì vậy Thuế TTĐB đem lại được cho
Ngân sách nhà nước nguốn thu không nhỏ.

13


2) Những hạn chế còn tồn tại trong công tác thực thi pháp luật thuế tiêu thục
đặc biệt
_Tồn tại lớn nhất của việc thực thi thuế TTĐB đó là hành vi trốn thuế của các
đơn vị sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ là đối tượng bị áp dụng thuế
TTĐB. Các đơn vị tìm cách trốn thuế…Việc ấn định thuế được quy định tại điều
25 Nghị định 85/2007/NĐ-CP có thể cao hơn hoặc thấp hơn giá trị thuế TTĐB
mà doanh nghiệp, cá nhân phải thực hiện. Điều này dẫn tới hậu quả là nếu tồn tại
sự “hợp tác ngầm” giữa cán bộ thu thuế và người nộp thuế sẽ làm thất thoát số
thuế TTĐB phải nộp mà không bị xử lý.
_Ý thức, văn hóa tôn trọng pháp luật của đội ngũ cán bộ quản lý thuế. Đây là
đội ngũ thay mặt cho Nhà nước thực thi pháp luật thuế TTĐB ở thu, kiểm tra
việc thi hành của người nộp thuế TTĐB. Thực tiễn việc thực thi pháp luạt thuế
tiêu thụ đặc biệt nói riêng, việc thực thi pháp luật thuế nói chung còn có nhiều sự
v phạm. Nguyên nhân cũng xuất phát từ việc một số bộ phận cán bộ quản lý thuế
không có tinh thần trách nhiệm với công việc, thậm chí còn có các hành vi vi
phạm pháp luật về quản lý thuế, thông đồng với người nộp thuế để trục lợi, làm
giấy tờ, hóa đơn thuế, kê khai thuế giả để tư lợi cá nhân, sách nhiễu nhân dân..
Vì vậy, ý thức tôn trọng pháp luật của họ sẽ quyết định phần quan trọng tới việc
thực thi pháp luật. Nếu có đội ngũ cán bộ quản lý thuế có trách nhiệm, ý thức tôn
trọng pháp luật thuế thì việc thực thi pháp luật sẽ được đảm bảo thực hiện. Hành
vi trốn thuế dù tinh vi đến đâu nếu thực hiện kiểm tra một cách triệt để, công
minh thì đều có thể tìm ra.
_Các văn bản pháp luật gần như không có chế tài xử lý thích đáng đối với đội
ngũ cán bộ thuế khi có vi phạm. Đối với những cán bộ đã vi phạm tùy vào mức
độ vi phạm mà có mức xử lý phù hợp. Nếu không có các quy định rõ ràng sẽ dẫn
tới việc tiếp tay cho hoạt động trốn thuế, hoặc chính bản thân cán bộ sẽ gợi ý cho
đối tượng nộp thuế có quen biết cách trốn thuế.
IV)

Một số ý kiến để hoàn thiện thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt

14


Tiếp tục bổ sung hoàn thiện các quy định của pháp luật về thuế tiêu thụ đặc
biệt. Có tạo ra khung pháp lý khoa học, đơn giản, dễ áp dụng thì việc áp dụng
mới đạt được hiệu quả cao. Cho nên, giải pháp đầu tiên phải là đi từ các yếu tố
thuộc về chủ quan của pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thứ hai, nâng cao ý thức pháp luật cho người dân bằng cách tuyên truyền,
giáo dục một cách sâu rộng tới tất cả các tầng lớp. Thuế TTĐB là loại thuế mà
nhiều người đã nộp mà không biết. Không phải riêng các đối tượng có thu nhập
cao mới là người sử dụng các hàng hóa, dịch vụ là đối tượng của thuế TTĐB. Có
những đối tượng là người dân bình thường khi sử dụng hàng mã, vàng mã, thuốc
lá…Họ không biết mình đang phải nộp thuế TTĐB và như vậy việc hướng dẫn
và điều tiết chi tiêu của Nhà nước là cần thiết để nâng cao ý thức của người dân
về nghĩa vụ của mình với Nhà nước.
Thứ ba, nâng cao trình độ, trách nhiệm của đội ngũ quản lý thuế: muốn thực thi
được thuế TTĐB tốt thì trước hết cần có sự gương mẫu của đội ngũ cán bộ. Các
yếu kém của đội ngũ cán bộ có thể do 2 lý do: Thứ nhất là sự yếu kém trong trình
độ, thứ hai là sự yếu kém trong quản lý. Đối với yếu kém trong trình độ thì cần
có chính sách để đào tạo lại những cán bộ đã làm việc lâu năm, tránh việc hiểu
sai, áp dụng sai. Và tạo nguồn cán bộ mới phù hợp với yêu cầu. Đối với yếu kém
trong quản lý thì cần có chế tài xử lý nghiêm khắc để răn đe và cần quy định
thêm hệ thống cán bộ thanh tra các bộ thuế.
Nắm được đặc điểm của các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi
thuế tiêu thụ đặc biệt có vai trò quan trọng trong việc áp dụng pháp luật thuế tiêu
thụ đặc biệt trên thực tiễn. Đồng thời từ việc phân tích những yếu tố ảnh hưởng
đó các nhà quản lý sẽ phát huy các yếu tố tích cực, giảm bớt các hạn chế để có
thể thực thi pháp luật thuế tiêu thụ đặc biệt một cách tốt hơn. Cần thay đổi đẻ phù
hợp với các yếu tố khách quan và tạo ra khuôn khổ pháp lý phù hợp để mội
người thực hiện công tác thực thi thuế tiêu thụ đặc biệt tốt hơn, góp phần đảm
bảo công bằng giữu lợi ích cá nhân với lợi ích Nhà nước.
15


Danh mục tài liệu tham khảo
1)

Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật thuế Việt Nam, NXB Tư Pháp,

Hà nội 2004
2)

Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt 2005

3)

Luật Thuế Tiêu thụ đặc biệt 2008

4) Web:
http://thongtinphapluatdansu.wordpress.com/2010/02/08/4470/

16


17



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×