Tải bản đầy đủ

Phân tích quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin về nội dung, vai trò và biểu hiện hoat động của quy luật giá trị qua các giai đoạn của CNTB. Ý nghĩa của việc nghiên cứu vấn đề này

1
A.

ĐẶT VẤN ĐỀ.
Trong tiến trình phát triển của nền kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam

nói riêng, các quy luật kinh tế luôn là vấn đề được các nhà kinh tế học quan tâm vì
nó chi phối và tác động tới tất cả các hoạt động diễn ra trong kinh tế, giúp các nhà
kinh tế dự báo rủi ro, hoạch định ra những kế hoạch phù hợp để nền kinh tế có thẻ
phát triển ổn định. Bên cạnh đó, đối với các nhà tư bản và các doanh nghiệp, để có
thể tạo ra lợi nhuận một cách hiệu quả, việc tìm hiểu, phân tích và vận dụng các quy
luật kinh tế luôn được một trong những mối quan tâm hàng đầu. Trong các quy luật
kinh tế, vai trò cơ sở cho sự chi phối nền sản xuất hàng hóa thuộc về quy luật giá trị,
các biểu hiện về nội dung và vai trò của quy luật giá trị qua các thời kì của chủ nghĩa
tư bản được thấy rõ. Có những vấn đề nổi trội như khủng hoảng kinh tế theo chu kỳ,
sự phân hóa giàu nghèo, đều có nguyên nhân từ quy luật giá trị. Ví dụ điển hình như
khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 đã réo một hồi chuông cảnh tỉnh các nước
tư bản về cách áp dụng quy luật giá trị vào việc vận hành nền kinh tế tư bản chủ
nghĩa. Vậy quy luật giá trị là gì? Nội dung, biểu hiện và vai trò của quy luật giá trị
qua các giai đoạn của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa? Chúng ta hãy cùng nghiên cứu
vấn đề này.

B.

NỘI DUNG.
Quy luật giá trị.
1. Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và lưư thông hàng hoá.
Yêu cầu chung của quy luật giá trị là sản xuất, trao đổi hàng hoá phải được tiến
I.

hành theo nguyên tắc ngang giá, hay nói cách khác, phải dựa trên cơ sở hao phí lao
động xã hội cần thiết.
Người sản xuất có thể tự quyết định hao phí lao động xã hội cá biêt để sản xuất
ra một loại hàng hóa nào đó. Tuy nhiên, giá trị của hàng hóa không được quyết định
bởi hao phí lao động cả biệt của từng người sản xuất, mà bằng giá trị xã hội tất yếu
để sản xuất ra hàng hóa đó. Hay nói cách khác, trong trao đổi hàng hóa, phải bảo
đảm bù đắp chi phí sản xuất cho người sản xuất dựa trên thời gian lao động cần thiết.


2

Trong nền sản xuất hàng hóa, với người sản xuất, vấn đề quan trọng là họ có bán
được sản phẩm hay không, có thu được vốn và kiếm được lợi nhuận hay không. Để
có thể làm được điều đó, hao phí lao động cá biệt để sản xuất ra loại hàng hóa đó
phải phù hợp với mức phí lao động xã hội có thể chấp nhận được. Ở đây, phù hợp có
nghĩa là hao phí lao động cá biệt phải nhỏ hơn hoặc bằng lao phí lao dộng xã hội.
Mức phí lao động cá biệt càng thấp thì chủ thể kinh doanh càng có khả năng phát
triển, thu được nhiều lợi nhuận, mở rộng sản xuất, ngược lại, mức phí lao động cá
biệt cao sẽ dẫn đến thua lỗ, việc kinh doanh sản xuất ngưng trệ hay phải dừng lại vì
phá sản.
Trong lưu thông và trao đổi hàng hóa cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động
xã hội cần thiết, có nghĩa là phải trao đổi dựa trên nguyên tắc ngang giá. Hai hàng
hóa có giá trị sử dụng khác nhau, nhưng có lượng giá trị bằng nhau thì phải trao đổi
ngang nhau, hay được mua, bán với giá cả bằng giá trị và bằng nhau.
Quy luật giá trị được thể hiện qua sự dao động của giá cả hàng hóa, vì giá cả là
hình thức biểu hiện bằng tiền của hàng hóa. Vậy nên, giá cả phụ thuộc trực tiếp vào
giá trị của hàng hóa đó. Giá cả của hàng hóa cao khi hàng hóa đó có nhiều giá trị và
ngược lại, giá cả hàng hóa thấp khi hàng hóa có giá trị thấp. Xét trên phạm vi toàn
bộ nền kinh tế, tổng giá trị của hàng hóa phải bằng tổng giá cả. Tuy nhiên, xét trên
quy mô nhỏ hơn, dưới sự tác động của các nhân tố khác như cạnh tranh, quan hệ
cung cầu, sức mua của đồng tiền, giá cả hàng hóa trên thị trường thường xuyên tách


rời với giá trị của hàng hóa đó, vận động lên xuống quanh trục giá trị (trục giá trị
thẳng, ổn định). Thông qua sự vận động của giá cả, ta thấy được sự tác động của quy
luật giá trị vào thị trường và vào nền kinh tế.
2. Tác động và vai trò của quy luật giá trị.
Trong sản xuất và trao đổi hàng hóa, quy luật giá trị có tác động to lớn với ý
nghĩa thực tiện và ý nghĩa lý luận, đó là điều tiết lưu thông hàng hóa, chi phối sự lựa
chọn tự nhiên, đào thải nhân tố kém phát triển, kích thích các nhân tố tích cực phát
triển và phân hóa xã hội.


3

Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa:
Thông qua sự biến động của giá cả thị trường, quy luật giá trị điều hóa, phân bổ
-

lại các yếu tố sản xuất giữa các ngành, các lĩnh vực vủa nền kinh tế. Tác động này
được thể hiện thông qua quy luật cung cầu. Cụ thể như khi cung lớn hơn cầu, giá cả
hàng hóa giảm xuống thấp hơn giá trị của hàng hóa khiến người sản xuất lỗ vốn,
buộc phải dừng sản xuất và chuyển sang ngành khác và ngược lại. Bên cạnh đó, sự
biến động của giá cả thị trường cũng góp phần điều tiết lưu thông vì khi đó, hàng
hóa sẽ di chuyển từ nơi co giá cả thấp đến nơi có giá cả cao, giúp hàng hóa được lưu
-

thông xuyên suốt.
Kích thích cải tiến kĩ thuật, hợp lý hóa sản xuất, tăng năng suất lao động, thúc đẩy lực
lượng sản xuất phát triển:
Trong nền sản xuất hàng hóa, người sản xuất tự quyết định việc sản xuất kinh
doanh của bản thân, do đó việc tiết kiệm chi phí lao động cá biệt sẽ được đặt lên
hàng đầu. Người sản xuất nào có chi phí lao động cá biệt càng nhỏ so với chi phí lao
động cần thiết thì sẽ thu được lãi cao, tăng khả năng tích tụ và tích lũy tư bản, tiếp
tục tái sản xuất mở rộng. Ngược lại, người nào có chi phí lao động cá biệt lớn hơn
chi phí lao động xã hội sẽ vỡ nợ, thua lỗ, phá sản. Vậy nên, người sản xuất phải tìm
mọi cách để chi phí lao động cá biệt thấp nhất có thể. Muốn vậy, họ cần cải tiến kĩ
thuật, phát triển khao học công nghệ, nâng cao trình độ quản lý, thực hiện tiết kiệm
và đẩy mạnh năng suất lao động. Kết quả là lực lượng lao động xã hội sẽ được thúc
đẩy để phát triển trình độ.
- Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hóa giàu nghèo người sản xuất
hàng hóa.
Quá trình cạnh tranh sẽ dẫn đến kết quả, những người có điều kiện sản xuất
xuất thuận lợi, có lực lượng sản xuất chất lượng sẽ có hao phí lao động cá biệt thấp, từ
đó trở thành người giàu, tiếp tục đầu tư vào tài liệu sản xuất và tái sản xuất mở rộng.
Bên cạnh đó, những người không có điều kiện thuận lợi, khả năng quản lý và cso
trình độ thấp, lực lượng sản xuất kém phát triển sẽ có mức phí lao động cá biệt cao,


4

dẫn đến thua lỗ, phá sản. Từ đó, phân hóa người sản xuất thành người giàu, người
nghèo.
II.

Nội dung, vai trò và biểu hiện hoạt động của quy luật giá trị qia các giai
đoạn của chủ nghĩa tư bản.
Chủ nghĩa tư bản phát triển qua hai giai đoạn là: Chủ nghĩa tư bản tự do cạnh

1.

tranh và chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Hoạt động và biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do
cạnh tranh.
a) Sự cạnh tranh giữa các ngành và sự hình thành lợi nhuận bình quân.
Cạnh tranh trong kinh tế là sự ganh đua giữa các chủ thể kinh tế (Nhà sản
xuất, nhà phân phối, xí nghiệp, doanh nghiệp, thương nhân,..) nhằm giành lấy những
điều kiện thuận lợi trong sản xuất, tiêu dung hàng hóa để thu được nhiều lợi ích nhất
cho bản thân.
Trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, cạnh tranh có 2 loại là cạnh tranh
trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành với nhau.
Cạnh tranh trong nội bộ ngành là sự cạnh tranh giữa các xí nghiệp trong
cùng một ngành, ganh đua với nhau, theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch bằng cách
tiết kiệm hao phí lao động cá biệt, tăng năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật. Kết quả
của cạnh tranh trong nội bộ ngành là hình thành giá cả thị thường của hàng hóa. Như
trong nội dung của quy luật giá trị đã nêu rõ, mỗi đơn vị sản xuất tự quyết định hao
phí lao động cá biệt của bản thân do có cách tổ chức quản lý, điều kiện sản xuất, trình
độ lực lượng sản xuất và năng suất lao động khác nhau, tuy nhiên, giá cả của hàng hóa
sẽ được quyết định bằng giá thị trường. Qua đó ở trường hợp này, biểu hiện của quy
luật giá trị được thấy rõ.
Cạnh tranh giữa các ngành với nhau là trong điều kiện tự do cạnh tranh,
các tổ chức, cá nhân cạnh tranh với nhau nhằm tìm ra nơi đầu tư có lợi hơn, bằng cách
tự do di chuyển tư bản từ ngành có ít cơ hội kiếm ra lợi nhuận sang ngành có cơ hội
kiếm được lợi nhuận cao hơn (ví dụ như ngưng đầu tư vào các ngành có mức cung lớn
hơn cầu, thay vào đó đầu tư vào các ngành cung nhỏ hơn cầu), từ đó hình thànhh lợi


5

nhuận bình quân. Kết quả là hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân và quá trình
chuyển hóa từ giá trị hàng hóa sang giá trị sản xuất. Khi đó, quy luật giá trị được biểu
hiện thành quy luật giá cả sản xuất.
Trong chương X, phần II, quyển IV bộ Tư bản, Mác viết:
No matter how the prices are regulated, we arrive at the following:
1) The law of value dominates price movements with reductions or increases in required
labour-time making prices of production fall or rise. It is in this sense that Ricardo (who
doubtlessly realised that his prices of production deviated from the value of commodities)
says that "the inquiry to which I wish to draw the reader's attention relates to the effect
of the variations in the relative value of commodities, and not in their absolute value".The
average profit determining the prices of production must always be approximately equal
to that quantity of surplus-value which falls to the share of individual capital in its
capacity of an aliquot part of the total social capital. Suppose that the general rate of
profit, and therefore the average profit, are expressed by money-value greater than the
money-value of the actual average surplus-value. So far as the capitalists are concerned, it
is then immaterial whether they reciprocally charge 10 or 15% profit. Neither of these
percentages covers more actual commodity-value than the other, since the overcharge in
money is mutual. As for the labourer (the assumption being that he receives his normal
wage and the rise in the average profit does not therefore imply an actual deduction from
his wage, i.e., it expresses something entirely different from the normal surplus-value of
the capitalist), the rise in commodity-prices caused by an increase of the average profit
must correspond to the rise of the money-expression of the variable capital.

Tạm dịch: Cho dù giá cả có biến động như thế này, chúng ta vẫn dẫn đến
2 kết luận sau:
1)

Quy luật giá trị quy định sự biến động của giá cả với sự tăng hay giảm
của thời gian lao động cần thiết khiến giá cả sản xuất tăng hay giảm
theo. Điều đó đã được Ricardo (người một mực tin rằng giá cả sản
xuất thay đổi phụ thuộc vào giá cả hàng hóa) nói rằng: “Câu hỏi tôi
muốn những người đọc suy nghĩ đều liên qua tới ảnh hưởng của sự đa
dạng trong sự tương đối của hàng hóa, không phải sự tuyệt đối của
chúng”


6
2)

Lợi nhuận bình quân, thứ mà quyết định giá cả sản xuất, phải luôn
luôn bằng với lượng giá trị thặng dư trong mỗi phần của tư bản cá
nhân trong khả năng là một phần của tư bản toàn xã hội. Giả sử rằng
tỷ suất lợi nhuận, và tỷ suất lợi nhuận trung bình, được thể hiện bởi
giá trị tiền bạc hơn là giá trị tiền bạc của giá trị thặng dư trung bình
thực sự. Như các nhà tư bản nghiên cứu, nó không quan trọng liệu
rằng họ thu 10 hay 15% lợi nhuận. Con số phần trăm nào cũng không
thể hiện được giá trị hàng hóa thực sự, vì lượng lợi nhuận là như
nhau. Đối với người lao động (giả sử rằng anh ta nhận lương bình
thường và sự tăng lên trong lợi nhuận bình quân không đồng nghĩa
với sự giảm xuống tương đối trong lương của anh ta, ví dụng như, nó
thể hiện điều gì đó hoàn toàn khác so với giá trị thặng dư thông
thường của nhà tư bản), sự tăng lên trong giá trị hàng hóa gây ra bởi
sự sự tăng lên của lợi nhuận bình quân phải đáp ứng được sự tăng lên
của giá trị tư bản khả biến biểu hiện ra bằng tiền…
Ta xét một ví dụ để hiểu về sự hình thành tỷ suất lợi nhuận bình quân:

Tư bản
I. 80c + 20v
II. 70c + 30v
III. 60c + 40v
IV. 85c + 15v
V. 95c + 5v

Tỷ suất giá
Giá trrị thặng
trị thặng dư

100%
20
100%
30
100%
40
100%
15
100%
5

Khối lượng
120
130
140
115
105


Tỷ suất lợi
nhuận
20% đây, trong cùng
30% một điều kiện
40%
15% sản xuất và một
5%

lượng



bản

đầutư, ta thấy sự khác nhau giữa tỷ suất lợi nhuận bình quân dựa trên sựa khác nhau
giữa cấu tạo hữu cơ của tư bản. Trong ví dụ trên, ngành III là ngành có tỷ suất lợi
nhuận cao nhất, và ngành V là thấp nhất. Khi các nhà tư bản nhận thấy điều này, họ
xem xét lại việc đầu tư của mình, do đó sẽ ngừng đầu tư tư bản vào các ngành như các
ngành IV, V, và đầu tư vào các ngành như ngành các II, III. Khi đó, mức cung của các


7

ngành II, III tăng lên, khiến giá cả hàng hóa của ngành đó giảm đi, khiến tỷ suất của
các ngành đó giảm xuống. Tương tự, do mức tư bản giảm đi, mức cung ở các ngành
IV, V giảm đi, kéo theo tỷ suất lợi nhuận cũng giảm theo. Vậy nhận thấy, sự di chuyển
tư bản một cách tự do kéo theo là ngành có mức cung lớn hơn cầu giá cả sẽ giảm
xuống và ngược lại, giá cả tăng lên với ngành có mức cung nhỏ hơn cầu gía cả sẽ tăng
lên. Điều này ảnh hưởng tới tỷ suất lợi nhuận của các ngành và hình thành nên tỷ suất
lợi nhuận bình quân.
Tỷ suất lợi nhuận bình quân được tính bằng thương của tổng giá trị thặng
dư của toàn xã hội và tổng giá trị tư bản xã hội đầu tư vào tất cả các ngành. Trước
cạnh tranh thì tỷ suất lợi nhuận của các ngành là hoàn toàn khác nhau, tuy nhiên sau
cạnh tranh, các tỷ suất lợi nhuận bình quân được san bằng thành một tỷ suất chung.
Khi đó, với một lượng tư bản bằng nhau được đầu tư vào bất kỳ ngành nào, ta đều thu
được một giá trị lợi nhuận nhất định, được gọi là lợi nhuận bình quân. Lợi nhuận bình
quân chính là số lợi nhuận bằng nhau thu được từ những tư bản bằng nhau đầu tư vài
b)

các ngành khác nhau, bất kể cấu tạo hữu cơ của tư bản như thế nào.
Sự chuyển hóa của giá trị hàng hóa thành giá cả sản xuất.
Giá cả sản xuất của hàng hóa được tính bằng tổng chi phí sản xuất và lợi
nhuận bình quân của hàng hóa đó, trong đó, chi phí sản xuất là giá trị lượng tư bản bất
biến và tư bản khả biến mà nhà tư bản ứng trước, bỏ ra để sản xuất loại hàng hóa đó.
Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa. Nhưng xét
trong điều kiện tự do cạnh tranh, giá cả hàng hóa phụ thuộc trực tiếp vào giá cả sản
xuất của hàng hóa đó. Với hàng hóa có chung một điều kiện sản xuất, cùng loại và
chất lượng tương đương nhau, sẽ được bán ở cùng một giá, nhưng phải đáp ứng hai
điều: một là, những giá trị cá biệt khác nhau phải được chung quy lại ở một giá trị xã
hội, và điều này thể hiện sự cạnh tranh giữa những người sản xuất cùng một loại hàng
hóa, và cũng như là sự tồn tại của một thị thường chung mà các hàng hóa đó được bán
ở đó; hai là, nói rằng một hàng hóa có giá trị sử dụng thì giống như chỉ để nói lên điều
xã hội mong muốn. Khi ta chỉ xét đến hàng hóa cá nhân, ta có thể nhận định rằng có


8

một nhu cầu cho một loại hàng hóa nhất định, và số lượng đã được thể hiện bởi giá cả
mà không cần xét đến số lượng cần thiết để đáp ứng nhu cầu đó.
Xét trong phạm vi toàn bộ nền kinh tế, tổng giá trị hàng hóa sẽ bằng tổng
giá cả sản xuất dù ở mỗi ngành, tổng giá trị hàng hóa và tổng gia cả sản xuất có thể
không bằng nhau.
Tóm lại, trong điều kiện tự do kinh doanh, giá trị thặng dư trở thành lợi
nhuận bình quân, giá trị hàng hóa chuyển hóa thành giá cả sản xuất, và quy luật giá trị
được biểu hiện bằng quy luật giá cả sản xuất.
2.
Hoạt động và biểu hiện của quy luật giá trị trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc
quyền.
Khi chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh phát triển đến một trình độ nhất
định, sinh ra tích tụ tư bản và tập trung sản xuất, sẽ xuất hiện các xí nghiệp độc quyền.
Các nhà tư bản liên tục tích tụ tư bản và tiến hành tái sản xuất mở rộng, trở thành nhà
tư bản lớn. Sau đó, các nhà tư bản lớn liên minh lại để chiếm đoạt trong tay phần lớn
việc sản xuất và tiêu thụ một loại hàng hóa nào đó, nhằm mục đích thu được lợi nhuận
độc quyền cao, đó chính là quá trình thành lập môt tổ chức độc quyền. Độc quyền
sinh ra nhờ cạnh tranh tự do, đối lập với cạnh tranh tự do. Tuy nhiên, độc quyền
không thủ tiêu cạnh tranh, mà còn khiến cạnh tranh thêm đa dạng và gay gắt. Lý do là
vì sẽ luôn có sự cạnh tranh về năng suất lao động giữa các tổ chức chức độc quyền,
khi xí nghiệp đã phát triển đến một quy mô nhất định, có lực lượng sản xuất lớn.
Người tiêu dùng sẽ luôn tìm đễn những hàng hóa có giá cả thấp nhưng giá trị sử dụng
cao, vậy nên, sẽ vẫn tồn tại cạnh tranh thông qua việc theo đuổi giá trị thăng dư siêu
ngạch.
Khi đó, trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa xuất hiện những loại hình cạnh
tranh mới: cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền với các xí nghiệp ngoài độc quyền
(các tổ chức độc duyền sẽ tìm mọi cách để chèn ép các xí nghiệp ngoài độc quyền,
dung nhiều biện pháp như độc chiếm nguồn nguyên liệu và nhân công,..); cạnh tranh
giữa các tổ chức độc quyền với nhau (có thể là cạnh tranh giữa các tổ chức độc quyền


9

cùng ngành, kết thúc là các bên thỏa hiệp hoặc có bên phá sản; có thể là sự cạnh tranh
giữa các tổ chức độc quyền khác ngành nhưng liên quan chặt chẽ với nhau như chung
nguồn nguyên liệu, kỹ thuật tương tự nhau,..); cạnh tranh trong nội bộ các tổ chức độc
quyền (các nhà tư bản trong tổ chức độc quyền tranh giành nhau phần thị trường có
lợi, tranh giành về cố phiếu của tổ chức,..)
Giai đoạn tư bản chủ nghĩa độc quyền được phát triển từ giai đoạn tư bản
chủ nghĩa cạnh tranh, hay các tổ chức độc quyền nhờ sự cạnh tranh trong nền kinh tế
mà hình thành. Độc quyền dù mang hình thức mới nhưng không vượt khỏi hay phủ
định đi những quy luật kinh tế, hay cụ thể là quy luật giá trị, mà chỉ phát triển và mở
rộng những quy luật kinh tế đó, khiến chúng có những biểu hiện mới.
Do chiếm được vị trí độc quyền về một loại hàng hóa nào đó trong nền
kinh tế, các tổ chức độc quyền áp đặt giá cả độc quyền để thu được lợi nhuận cao
nhất: giá cả độc quyền thấp khi mua, giá cả độc quyền cao khi bán. Các tổ chức độc
quyền đặt mức giá cả độc quyền thấp khi mua các tư liệu sản xuất, ép giá nguồn
nguyên liệu, sau đó kiểm soát lượng hàng hóa bán ra, đặt mức giá cả độc quyền cao
nhằm mục đích thu lợi nhuận độc quyền cao (trong đó giá cả độc quyền cao được tính
bằng tổng giá cả sản xuất và lợi nhuận độc quyền). Về bản chất, điều này không đi
ngược lại với quy luật giá trị, vì việc áp đặt mức giá cả độc quyền cao đó chỉ là chiếm
đoạt một phần giá trị thặng dư của người khác (công nhân làm việc không công trong
các xí nghiệp, các nhà tư bản nhỏ bị thua thiệt trong quá trình cạnh tranh với các tổ
chức độc quyền,..). Lượng giá trị lợi nhuận độc quyền của các tổ chức độc quyền dôi
ra chính là lượng giá trị thặng dư của người khác mất đi. Vậy nên xét trên góc độ toàn
bộ nền kinh tế tư bản chủ nghĩa trong giai đoạn độc quyền, tổng giá trị hàng hóa vẫn
bằng tổng giá cả.
Tóm lại trong giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền, quy luật giá trị được
III.

biểu hiện thành quy luật giá cả độc quyền.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò của quy luật giá trị qua các giai đoạn tư bản chủ
nghĩa.


10

Quy luật giá trị là quy luật căn bản của nền sản xuất và lưu thông hàng hóa.
Ở đâu có sản xuất, lưu thông hàng hóa, ở đó chịu tác động và chi phối trực tiếp của
quy luật giá trị. Thực tế đã cho thấy những biểu hiện hết sức rõ ràng của quy luật giá
trị như giá trị hàng hóa, sự vận động của giá cả, và những quy luật hệ quả của quy luật
giá trị như quy luật cung cầu,.. Không những thể, quy luật giá trị có có những vai trò
hết sức to lớn như điều tiết sản xuất và lưu thông trong nền kinh tế, kích thích lực
lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng suất lao động và thúc đẩy cải tiến kĩ thuật
công nghệ, thực hiện sự lựa chọn tự nhiên, đào thải yếu tố kém phát triển, thúc đẩy
yếu tố tích cực phát triển đồng thời phân hóa giàu nghèo. Như vậy, có nghĩa là quy
luật giá trị vừa có những mặt tích cực, vừa có những mặt tiêu cực. Vì vậy, việc hiểu rõ
quy luật giá trị và áp dụng một cách chính xác, khéo léo, làm thế nào để phát huy
những mặt tích cực, và hạn chế những mặt tiêu cực của quy luật giá trị.
Với những nhà tư bản, quy luật giá trị chỉ ra rõ họ phải luôn luôn tìm cách để
theo đuổi giá trị thặng dư siêu ngạch bằng cách không ngừng đổi mới tổ chức quản lý,
nâng cao trình độ của lực lượng sản xuất, cải tiến kĩ thuật và áp dụng khoa học công
nghệ. Việc nắm rõ quy luật giá trị sẽ giúp các nhà tư bản tránh được thất thoát và kiếm
được lượng giá trị thặng dư lớn nhất có thể, từ đó tiếp tục phát triển và tái sản xuất mở
rộng. Quy luật giá trị giup các nhà tư bản hiểu về giá cả của hàng hóa, từ đó có những
điều chỉnh phù hợp để tiếp tục phát triển. Điều này vô hình chung sẽ thúc đẩy sự phát
triển của toàn bộ nền kinh tế, theo thuyết Bàn tay vô hình của Adam Smith.
Đối với các nhà chiến lược, nhà kinh tế học, việc thấm nhuần quy luật giá trị
sẽ giúp giải đáp và dự báo được những biến động diễn ra trong nền kinh tế, cũng như
vạch ra nhưng bước đi đúng đắn để tránh được các vấn đề nổi trội như lạm phát,
khủng hoảng theo chu kì.
Đối với nhà nước, quy luật giá trị giúp điều chỉnh và ban hành các chinh sách
hợp lý, kịp thời để trực tiếp can thiệp vào nên kinh tế khi cần thiết như các chính sách
khuyến khích sản xuất, phát triển và áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất, chính
sách về hỗ trợ giá cả, chính sách mở rộng và giao lưu kinh tế giữa các vùng,.. Ngoài


11

ra, nhà nước cũng có thể ban hành những chính sách giảm thiểu khoảng cách trong sự
phân hóa giàu nghèo, hệ quả của quy luật giá trị mang lại.
C. KẾT LUẬN.
Vậy, quy luật giá trị tác động điều tiết và chi phối toàn bộ nền kinh tế. Việc
hiểu được quy luật giá trị sẽ việc áp dụng quy luật giá trị được khéo léo và chính xác,
từ đó, xây dựng nền kinh tế và làm giàu cho dân tộc, từ đó nâng cao chất lượng cuộc
sống, xây dựng đất nước vững mạnh. Tuy nhiên có phát huy được các mặt tích cưc ,
đẩy lùi các mặt tiêu cực còn là một vấn đề phụ thuộc nhiều vào vai trò quản lý vĩ mô
của nhà nước và nhận thức của mỗi công dân.

CÁC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Giáo

trình “Những nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác-Lênin. – NXB chinh trị quốc

gia sự thật.
2. Giáo trình kinh tế chính trị - NXB chính trị quốc gia sự thật.
3. Chương 9, 10, Phần 2, Quyển 3 bộ sách Tư bản – Karl Marx, Engels.


12

MỤC LỤC
A.

ĐẶT VẤN ĐỀ

1

NỘI DUNG

1

B.
I.

Quy luật giá trị.
1.

Nội dung và yêu cầu của quy luật giá trị

Vai trò va tác động của quy luật giá trị.
Nội dung, vai trò và biểu hiện hoạt động của quy luật
giá trị qia các giai đoạn của chủ nghĩa tư bản
1. Hoạt động và biểu hiện của quy luật giá trị trong
giai đoạn chủ nghĩa tư bản tự do cạnh tranh.
2. Hoạt động và biểu hiện của quy luật giá trị trong
giai đoạn chủ nghĩa tư bản độc quyền.
Ý nghĩa của việc nghiên cứu vai trò của quy luật giá
trị qua các giai đoạn tư bản chủ nghĩa.
2.

II.

III.

C.

KẾT LUẬN.

Mục lục tham khảo

1
1
2
4
4
8
10

11
12


13



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×