Tải bản đầy đủ

Thời trong tiếng nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng việt tt

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
----------------------

Vũ Thúy Nga

THỜI TRONG TIẾNG NHẬT
VÀ CÁC BIỂU HIỆN TƢƠNG ĐƢƠNG
TRONG TIẾNG VIỆT

Chuyên ngành:
Mã số:

Ng n ngữ so sánh đối chiếu

9 22 20 24

TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGÔN NGỮ HỌC

HÀ NỘI - 2018



Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI VIỆT
NAM
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Trần Thị Chung Toàn
Phản biện 1:
Phản biện 2:
Phản biện 3:

Luận án được bảo vệ tại Hội đồng chấm luận án cấp Học viện, họp tại
Học viện Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, 477
Nguyễn Trãi, Thanh Xuân, Hà Nội.
Vào hồi .... giờ ... ngày .... tháng ..... năm 201...

Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Quốc gia Việt Nam
- Thư viện Học viện Khoa học xã hội


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Thời được coi là một phạm trù ngữ pháp trong nhiều ngôn ngữ và là
mảng đề tài thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu nổi tiếng trên
thế giới. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng, việc hiểu và sử dụng đúng thời sẽ
giúp cho việc lý giải và xử lý các tài liệu, văn bản đảm bảo tính logic chặt
chẽ và nâng cao hiệu quả sử dụng ngôn ngữ.
Trong tiếng Nhật, thời được khẳng định là một phạm trù ngữ pháp cơ
bản và quan trọng. Đã có rất nhiều nghiên cứu của các nhà Nhật ngữ về
thời trong tiếng Nhật, hơn nữa, cũng có những nghiên cứu đối chiếu giữa
thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong các ngôn ngữ khác
như tiếng Anh, tiếng Trung, tiếng Hàn v.v... Tuy nhiên, tại Việt Nam, các
kết quả nghiên cứu về thời trong tiếng Nhật hầu như chưa được biết đến,
đặc biệt, có thể thấy, đến thời điểm hiện tại, ở Nhật Bản cũng như tại Việt
Nam, vẫn chưa có một nghiên cứu đối chiếu nào liên quan đến thời giữa
tiếng Nhật và tiếng Việt được thực hiện.
Tiếng Việt thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập, một loại hình ngôn ngữ


không sử dụng thời như một ngữ pháp bắt buộc. Do đó, với người Việt,
việc hiểu và sử dụng tốt thời trong tiếng Nhật - một loại hình ngôn ngữ
chắp dính hoàn toàn khác biệt là một khó khăn không hề nhỏ. Để giúp
người Việt có thể hiểu và vận dụng đúng thời tiếng Nhật hay giúp người
Nhật nắm bắt được các biểu đạt thời gian trong ngôn ngữ không bị ngữ
pháp hóa về thời như tiếng Việt đòi hỏi cần có những nghiên cứu về mặt
lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy ở cả hai ngôn ngữ
tiếng Nhật và tiếng Việt.
Với những lí do trên, chúng tôi chọn nghiên cứu đối chiếu “Thời
trong tiếng Nhật và các biểu hiện tương đương trong tiếng Việt” làm đề
tài nghiên cứu của luận án.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
 Mục đích nghiên cứu
- Nắm rõ cơ chế hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ góc độ lí
luận với tư cách là một phạm trù ngữ pháp thuộc loại hình ngôn
ngữ chắp dính khác biệt với tiếng Việt.
- Xác định lại những đặc thù khác biệt của tiếng Nhật khi biểu đạt
thời trong so sánh với cách biểu đạt thời gian của người Việt.
- Cung cấp thêm nguồn tư liệu thực chứng về hoạt động của phạm
trù thời trong tiếng Nhật thông qua việc xem xét các biểu hiện
hoạt động của phạm trù này trong khối ngữ liệu thực tế để phục


2
vụ cho công tác nghiên cứu về thời nói chung và tại Việt Nam nói
riêng.
- Đưa ra một số đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả giảng dạy thời
cho sinh viên Việt Nam trước mắt cũng như lâu dài.
 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống lại những vấn đề liên quan đến thời trong ngôn ngữ học
nói chung và thời trong tiếng Nhật nói riêng với tư cách là một
phạm trù ngữ pháp.
- Phân tích các biểu hiện thời trong tiếng Nhật về mặt hình thái và
ngữ nghĩa.
- Phân tích, đối chiếu thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện tương
đương trong tiếng Việt và cách chuyển dịch ý nghĩa thời gian từ
tiếng Việt sang tiếng Nhật.
- Phân tích lỗi sử dụng thời trong tiếng Nhật của sinh viên Việt
Nam, giúp ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn giảng dạy.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu chính của luận án là thời trong tiếng Nhật
được xem xét từ bình diện đối chiếu ngôn ngữ học.
- Ngoài ra, luận án cũng xem xét đến những biểu đạt trong tiếng
Việt tạo ra những nội dung tương đương với thời trong tiếng Nhật
hay các biểu đạt từ vựng tiếng Việt có thể được diễn đạt tương
ứng sang tiếng Nhật từ góc độ thời.
 Phạm vi nghiên cứu
Do dung lượng luận án có hạn, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc khảo sát
hoạt động của thời trong tiếng Nhật từ bình diện kết học và nghĩa học
trong nguồn cứ liệu là các văn bản viết. Việc khảo sát nguồn ngữ liệu
là khẩu ngữ của người Nhật, một nội dung liên quan đến hoạt động
ngữ dụng sẽ được dành riêng trong một nghiên cứu khác.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Luận án sử dụng một số phương pháp và thủ pháp nghiên cứu như:
- Phương pháp miêu tả; phương pháp phân tích ngữ pháp; phương
pháp đối chiếu.
- Một số thủ pháp như phân tích định lượng, phân tích định tính,
thống kê...
5. Ngữ liệu nghiên cứu
Ngữ liệu dùng để khảo cứu và khảo sát cho luận án là:


3
-

Các công trình nghiên cứu về Nhật ngữ học và Việt ngữ học liên
quan đến thời.
- Nguồn ngữ liệu tiếng Nhật: là những ấn phẩm văn hoá đáng tin
cậy, có văn phong chuẩn mực, một số tiểu thuyết, truyện ngắn
của các nhà văn có tầm ảnh hưởng lớn tại Nhật Bản đã được dịch
sang tiếng Việt nên sẽ thuận tiện cho việc đối chiếu ngôn ngữ
như: Akutagawa Ryunosuke, Miyazawa Kenji, Murakami Ryu.
- Nguồn ngữ liệu tiếng Việt: chúng tôi lựa chọn một số truyện ngắn
của các tác giả có tên tuổi trong làng Văn học Việt Nam đã được
các dịch giả Nhật Bản dịch sang tiếng Nhật như: Thạch Lam, Võ
Thị Hảo.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận án
Thông qua cơ sở lý luận về thời gian trong ngôn ngữ với trọng tâm là
thời, luận án góp phần làm rõ thêm những vấn đề lý luận tổng quan liên
quan đến thời.
Bằng phương pháp đối chiếu, luận án đã khẳng định, thời là phạm trù
ngữ pháp trong tiếng Nhật, có chức năng định vị sự tình trong thời gian
thông qua các biểu hiện hình thái ở vị từ (không chỉ ở động từ mà bao
gồm cả tính từ và cấu trúc ngữ pháp chứa danh từ) và có sự khác biệt rất
rõ rệt với các biểu đạt thời gian trong tiếng Việt.
Có thể thấy rõ, thời trong tiếng Nhật giữ vai trò quan trọng giúp cho
người tiếp nhận thông tin nắm được rõ ràng thời điểm xảy ra hành động,
sự việc thuộc về khung thời gian nào kể cả trong những phát ngôn không
có các yếu tố từ vựng hay các phó từ chỉ mức độ. Trong khi đó, các phó
từ ngữ pháp chỉ thời gian (P) “đã”, “sẽ”, “đang” trong tiếng Việt có ý
nghĩa tương đương thời trong tiếng Nhật cũng được huy động sử dụng với
tỉ lệ đáng kể nhưng không phải là sự đối ứng một - một mang tính bắt
buộc cho mọi trường hợp. Điều này là do cách tri nhận thời gian và biểu
đạt của người Việt không cùng chung một bình diện là thuần tuý phạm trù
ngữ pháp như tiếng Nhật mà thuộc một bình diện khác, đó là phạm trù “từ
vựng - ngữ pháp” như nghiên cứu của luận án đã chỉ ra.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
 Ý nghĩa lý luận
 Luận án tổng quan các quan điểm, khái niệm về thời trong các ngôn
ngữ, qua đó bổ sung thêm những nhận định về khái niệm thời trong tiếng
Nhật vào khái niệm thời trong tư liệu ngôn ngữ học phổ quát liên quan
đến thời tại Việt Nam.


4
 Hệ thống các cách biểu đạt thời trong tiếng Nhật, qua đó rút ra những
đặc thù trong phương thức biểu hiện thời của tiếng Nhật từ góc độ ngôn
ngữ học đối chiếu.
 Thông qua đối chiếu giữa hai ngôn ngữ Nhật - Việt, làm rõ những
nét tương đồng và khác biệt trong cách biểu hiện thời giữa hai loại hình
ngôn ngữ khác biệt là ngôn ngữ chắp dính và ngôn ngữ đơn lập, tìm ra
những điểm khác biệt mang tính đặc trưng liên quan đến biểu đạt thời
gian trong ngôn ngữ của hai dân tộc Việt Nam - Nhật Bản.
 Ý nghĩa thực tiễn:
 Luận án đóng góp những tư liệu thực tế liên quan đến thời trong
tiếng Nhật, bổ sung nguồn ngữ liệu xác thực về thời trong khối ngữ liệu
có liên quan đến biểu hiện thời gian và phạm trù thời của các ngôn ngữ
nói chung.
 Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ giúp người dạy và người học
tiếng Nhật nắm được những kiến thức cơ bản và có ý thức thường xuyên
hơn về biểu đạt thời trong tiếng Nhật cũng như ý thức hơn các biểu hiện
thời gian tương đương giữa tiếng Việt và tiếng Nhật trong quá trình dạy
và học tiếng Nhật.
 Đề xuất phương pháp giảng dạy thời trong tiếng Nhật trên cơ sở của
kết quả nghiên cứu đối chiếu, nêu bật tính đặc thù ngôn ngữ biểu đạt tư
duy có liên quan đến thời gian mà thời mang lại, hướng tới biên soạn các
bài giảng tiếng Nhật có chú trọng tới các biểu hiện thời.
8. Cấu trúc của luận án
Luận án gồm 150 trang chính văn. Ngoài phần mở đầu và kết luận,
luận án được chia thành 4 chương:
Chƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận phục vụ
nghiên cứu;
Chƣơng 2: Phân tích các biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái
và ngữ nghĩa;
Chƣơng 3: Phân tích biểu đạt của thời tiếng Nhật qua đối chiếu với các
biểu đạt thời gian tương ứng trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
và Việt - Nhật;
Chƣơng 4: Khảo sát cách nắm bắt và sử dụng thời trong tiếng Nhật của
sinh viên Việt Nam, đề xuất lưu ý trong dạy và học có liên quan đến thời.


5
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN PHỤC VỤ NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan về tình hình nghiên cứu
1.1.1. Tình hình nghiên cứu thời trên thế giới nói chung
Phạm trù thời là vấn đề thu hút sự chú ý của nhiều nhà nghiên cứu
trên thế giới. Theo quan điểm của các nhà ngữ pháp truyền thống, “Thời”
dịch từ tiếng Latinh “Tempus” là một phạm trù liên quan tới các mối quan
hệ thời gian được diễn hiện bằng các đối lập ngữ pháp có hệ thống của
động từ. Các nhà ngữ pháp truyền thống khi phân tích tiếng Hy Lạp và
tiếng Latinh đã thừa nhận ba đối lập: quá khứ, hiện tại và tương lai.
Guillaume (1929) đã phân biệt Thời thành Thời bao hàm và Thời hiện
lộ. Ông cho rằng Thời bao hàm là thể (aspect), Thời hiện lộ là thời của sự
tình (tens) được thực hiện bằng các yếu tố hình thái đơn thuần như việc sử
dụng một hệ thống biến tố nên trong những ngôn ngữ biến hình như tiếng
Anh và tiếng Pháp thời thường che lấp thể.
Khi nghiên cứu cơ chế ngữ nghĩa của biểu đạt thời, Reichenbach H.
(1947) đã chỉ ra các tham tố chỉ xuất thời gian bao gồm: thời điểm nói S
(point of speech); thời điểm chiếu vật R (point of reference); thời điểm
của sự kiện E (event frame); hướng (đi trước, trùng hợp, đi sau); khoảng
cách (xa, gần).
W.Frawley (1992) nêu cách biểu hiện ý nghĩa thời trong ngôn ngữ là
cách biểu hiện trực chỉ: “Thời thực hiện việc định vị một sự tình so với
một điểm qui chiếu được coi là cố định trong thời gian rồi nêu rõ mối
quan hệ giữa sự tình và cái trung tâm điểm thời gian đó bằng cách chỉ ra một
cái hướng và một khoảng cách nào đó”.
Nửa sau thế kỷ 20, xuất hiện rất nhiều công trình nghiên cứu về thời,
thể của các học giả tên tuổi trên thế giới như Benveniste E. (1966),
Comrie B. (1978, 1985), Lyons J. (1996), Panfilov V.S (2002) v.v…
Cùng với sự phát triển của ngành ngữ pháp học và các kết quả nghiên cứu
mới được bổ sung trong nghiên cứu về thời, mối quan hệ giữa thời gian
và biểu đạt thời gian ngày càng được nhìn nhận một cách khách quan hơn.
Nhiều kết quả nghiên cứu về thời trong các ngôn ngữ như tiếng Nhật,
tiếng Việt, tiếng Trung cũng đã và đang được công bố, tạo ra những cách
nhìn nhận mới, cung cấp thêm những cứ liệu thực chứng mới để các
nghiên cứu về thời trong ngôn ngữ học và phổ quát ngôn ngữ được trở
nên linh hoạt, toàn diện và sâu sắc hơn.


6
1.1.2. Tình hình nghiên cứu thời tại Nhật Bản
Ở Nhật Bản, những nghiên cứu về thời, thể đã được quan tâm từ thời
kỳ trung thế nhưng những nghiên cứu sớm nhất về thời trong tiếng Nhật
hiện đại phải kể tới là của Yuzawa (1929). Tác giả đã chỉ ra dạng chia của
động từ “テ イ/ル te i/ru” hay “テ アル te a/ru” là hình thái của thời,
thể trong tiếng Nhật thời kỳ trung đại khác nhiều so với hình thái biểu
hiện thời, thể trong tiếng Nhật hiện đại.
Trong tiếng Nhật hiện đại, có thể kể tới một số nhà nghiên cứu lớn gắn
với các công trình để lại nhiều dấu ấn quan trọng như: Kindaichi
Haruhiko (1950, 1955), Suzuki Shigerushin (1965, 1979), Teramura
Hideo (1984), Takahashi Taro (1986), Kato Yasuhiko & Fukuchi
Tsutomu (1989), Masuoka Takashi & Takubo Yukinori (1992), Kudo
Mayumi (1995), Nitta Yoshio (2007), Suzuki Tai (2013), Iori Isao &
Kiyomi (2016) v.v...
Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật đã đưa ra nhiều khái niệm về
thời trong tiếng Nhật. Nghiên cứu của Teramura (1984), Kato & Fukuchi
(1989), Masuoka & Takubo (1992), Nitta (2007) v.v… đều nhất trí cho
rằng thời trong tiếng Nhật không chỉ biểu hiện phạm trù ngữ pháp của
động từ như trong ngôn ngữ Ấn - Âu mà biểu hiện ở cả vị ngữ là tính từ
và danh từ.
Các học giả đã phân tích các cách sử dụng dạng “ta” biểu hiện thời
Quá khứ và dạng “ru” biểu hiện thời Phi quá khứ dựa trên 3 yếu tố: tính
chất của vị ngữ; tính kết nối trong câu; tâm lý của người nói.
Tại Nhật Bản, ngoài những nghiên cứu về mặt lý luận của các nhà
Nhật ngữ đã nêu trên, cũng có rất nhiều các nghiên cứu đối chiếu giữa
thời trong tiếng Nhật với thời trong các ngôn ngữ khác như: đối chiếu
thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Hàn (Inoue Yu & Ikukoshi
Naoki, 1997), thời trong tiếng Nhật với biểu hiện thời gian trong tiếng
Trung (Inoue Yu & Ikukoshi Naoki & Kimura Hideki, 2002); đối chiếu
thời trong tiếng Nhật với thời trong tiếng Anh của Nishiyama Atsuko
(2009) và một số công trình nghiên cứu khác.
1.1.3. Tình hình nghiên cứu thời tại Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề liên quan đến phạm trù thời, thể được bắt đầu
xuất hiện trong cuốn Từ điển Alexand de Rhodes năm 1651. Mặc dù vấn
đề này được đặt ra muộn hơn so với Châu Âu nhưng cũng đã gây khá
nhiều tranh luận và từ đó dẫn đến hai xu hướng nghiên cứu đối lập nhau.
Liên quan đến thời, có thể kể tới:


7
1) Khuynh hướng phủ nhận có thời trong tiếng Việt với các nhà
nghiên cứu tiêu biểu như: Johnes R.B. và Huỳnh Sanh Thông (1960),
Hoàng Tuệ (1988), Cao Xuân Hạo (1998), Diệp Quang Ban (2005) v.v…
2) Khuynh hướng khẳng định có sự tồn tại của thời trong tiếng Việt
như: Trương Vĩnh Ký (1883), Nguyễn Minh Thuyết (1995), Đinh Văn
Đức (2001), Trần Kim Phượng (2004) v.v…
Bên cạnh những khuynh hướng phủ nhận hoặc khẳng định có thời
nêu trên, Trần Thị Chung Toàn (2016) trong nghiên cứu về thời trong
tiếng Việt cho rằng: “thời trong tiếng Việt là một phạm trù mang các đặc
trưng từ vựng - ngữ pháp. Ở đó, các yếu tố từ vựng nằm trong thế phân bố bổ
túc với các yếu tố ngữ pháp tạo thành những cấu trúc ngữ pháp nhất định
được tái hiện trong lời nói “theo nguyên tắc ngầm định và tiết kiệm” trong
cách tri nhận thời gian theo tư duy của người Việt”.
Liên quan đến nghiên cứu đối chiếu thời trong các ngôn ngữ trên thế
giới với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt, đã có một số công trình
nghiên cứu như: đối chiếu với thời trong tiếng Pháp của Phạm Quang
Trường (2008), đối chiếu với thời trong tiếng Hàn của Nghiêm Thị Thu
Hương (2014), đối chiếu với thời trong tiếng Anh của Lương Bá Phương
(2016) v.v…
Cho đến nay, hiện vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đối chiếu
về thời trong tiếng Nhật với các biểu hiện thời gian trong tiếng Việt. Để
giúp người học tiếng Nhật hiểu và vận dụng đúng các biểu đạt thời gian
trong ngôn ngữ có thời là tiếng Nhật sang ngôn ngữ không ngữ pháp hóa
về thời như tiếng Việt và ngược lại, là vấn đề đòi hỏi cần có thêm nhiều
nghiên cứu về mặt lý luận và đối chiếu của các nhà nghiên cứu, giảng dạy
ở cả hai ngôn ngữ tiếng Nhật và tiếng Việt. Luận án là công trình đầu tiên
nỗ lực để giải quyết vấn đề này.
1.2. Cơ sở lý luận phục vụ nghiên cứu của luận án
1.2.1. Biểu hiện thời gian và phạm trù Thời
Cách nhìn thời gian và thể hiện thời gian trong các ngôn ngữ khác
nhau.
Lyons J. (1977) chỉ ra rằng, thời gian khách quan là thời gian siêu
ngôn ngữ (metalingiustic tense), thời gian ngữ pháp hóa là thời gian ngôn
ngữ (language‟s tense). Có ngôn ngữ ngữ pháp hóa thời gian bằng hệ
thống phạm trù thời, thể, tình thái như tiếng Anh, tiếng Nhật v.v… nhưng
có ngôn ngữ lại chủ yếu sử dụng phương tiện từ vựng (qua hệ thống các
từ chỉ thời gian như: hôm nay, sáng mai, lúc ấy, bây giờ, sớm, muộn v.v...)
kết hợp với các yếu tố ngữ pháp, hay bổ sung thêm ngữ cảnh, suy luận
logic, phương thức đảo trật tự từ… để thể hiện thời gian như: tiếng Việt,
tiếng Trung v.v…


8
Trong sự phát triển của ngành nghiên cứu ngôn ngữ học, đặc biệt là
ngữ pháp học, cùng với các kết quả nghiên cứu mới được bổ sung trên cứ
liệu của nhiều ngôn ngữ khác loại hình với các thứ tiếng Ấn - Âu, mối
quan hệ giữa thời gian và biểu đạt thời gian ngày càng được nhìn nhận
một cách khách quan và đầy đủ hơn, các kết quả nghiên cứu về thời ngày
một được bổ sung để tạo ra được những bức tranh chi tiết và xác thực hơn.
Luận án sẽ nghiên cứu, phân tích thời dựa trên quan điểm về thời gian
trong ngôn ngữ và cách nhìn nhận về thời như vậy.
1.2.2. Phạm trù thời nói chung và quan điểm làm việc của luận án
Theo ngôn ngữ học đại cương (2008), “Thời là phạm trù ngữ pháp
của động từ, biểu thị quan hệ giữa hành động với thời điểm phát ngôn
hoặc với một thời điểm nhất định nêu ra trong lời nói”. Tuy nhiên, cùng
với sự phát triển của ngôn ngữ, các bình diện nghiên cứu về thời ngày
càng được bổ sung chi tiết và đầy đủ hơn. Việc tìm ra các cách biểu đạt
khác nhau, mối liên quan về biểu đạt giữa từ vựng và ngữ pháp hay mối
quan hệ giữa thời trong ngôn ngữ và thời gian trong tư duy v.v... ngày
càng được chú ý.
Gần đây, khái niệm “phạm trù” ngày càng được dần mở rộng hơn.
Đinh Văn Đức (2001), Nguyễn Thiện Giáp (2008, 2011) và một số nhà
nghiên cứu ngôn ngữ khác, khi bàn đến vấn đề từ loại và phân loại từ
trong tiếng Việt đã đề xuất khái niệm “Phạm trù từ vựng - ngữ pháp”.
Trần Thị Chung Toàn (2016), trong nghiên cứu về biểu đạt thời gian
trong tiếng Việt cũng chỉ ra yếu tố từ vựng thời gian (T) và phó từ bổ
sung ý nghĩa về thời gian (P) như: “đã, sẽ, đang” đều cùng có thể biểu
hiện các ý nghĩa tương đương với biểu đạt thời trong các ngôn ngữ ngữ
pháp hóa thời và cho rằng trong tiếng Việt, “thời là một phạm trù từ vựng
- ngữ pháp”.
Theo tác giả, các biểu đạt thời gian của người Việt được thực hiện
theo 5 cách thức cơ bản sau:
1) Xác lập khung thời gian qua từ vựng (T) làm từ chứng
2) Vắng (P) thuộc khung thời gian do (T) chỉ xuất
3) Cơ chế ngầm tự động khôi phục (P) để xác lập (T) hoặc ngược lại
4) (T) và (P) cùng xuất hiện để tạo nghĩa tình thái nhấn mạnh cho phát ngôn
5) Ngầm định và quy ước lược bỏ (P/ T) theo nguyên lí tiết kiệm
Trong đó, (T) là các từ vựng có chức năng chỉ xuất thời gian cụ thể và
trong ngữ cảnh khi lần đầu tiên xuất hiện, đồng thời cũng chịu trách
nhiệm xác lập khung thời gian cho sự tình; (P) là yếu tố mang tính ngữ
pháp biểu đạt trạng thái về thời gian của sự tình.
5 cách thức cơ bản này đã tạo cho tiếng Việt có nhiều cấu trúc biểu
hiện thời gian, tuy nhiên, chỉ có một cấu trúc có mặt đầy đủ cả (T) và (P) và,


9
cấu trúc này lại không mấy được ưa thích sử dụng trong các phát ngôn của
người Việt bởi cách biểu đạt không tự nhiên, gò bó. Phần lớn các cấu trúc
khác chỉ có mặt một trong hai yếu tố (T) hoặc (P) theo nguyên tắc “ngầm
định” hay “tiết kiệm”.
Luận án không lấy vấn đề thời trong tiếng Việt làm mục đích nghiên
cứu nên tạm thời chấp nhận kết quả nghiên cứu này để giúp cho việc phân
tích, và đặc biệt, đối chiếu hoạt động của thời trong tiếng Nhật với biểu
hiện thời gian tương đương trong tiếng Việt.
1.2.3. Phạm trù thời trong mối quan hệ với thể và tình thái
Thời, thể có những đặc trưng cơ bản là phản ánh trực tiếp thuộc tính
của hoàn cảnh, sự vật như: thời điểm diễn ra hành động; hành động có
tính kéo dài hay không kéo dài, có bị hạn định hay không có hạn định bởi
thời gian hay một thuộc tính nào đó v.v… Do vậy, thời, thể biểu hiện tình
thái khách quan và có mối liên hệ gắn kết với nhau khi cùng liên quan
đến vấn đề biểu hiện thời gian trong từng ngôn ngữ.
Tình thái là phạm trù phổ quát cho mọi ngôn ngữ. Trong ngôn ngữ
học, người ta phân biệt cấu trúc nghĩa của phát ngôn thành hai phần cơ
bản là: dictum (biểu hiện nội dung sự tình, gắn với chức năng thông tin,
chức năng miêu tả của ngôn ngữ) và modus (tình thái) gắn với cách thức
biểu đạt sự tình của người nói.
Ngoài ra, xét về tính tiết kiệm, một trong những đặc thù cơ bản của
mọi ngôn ngữ, có những yếu tố có thể đồng thời giữ rất nhiều chức năng
ngữ pháp khác nhau nhưng tùy từng ngữ cảnh mà ý nghĩa ngữ pháp biểu
hiện như thời hoặc thể sẽ có tỉ trọng nặng nhẹ khác nhau. Chẳng hạn như
trong tiếng Nhật, hình thái “ru” hoặc “ta” có thể đồng thời biểu hiện cả ba
ý nghĩa thời, thể, tình thái song có lúc, có thể một ý nghĩa ngữ pháp nào
đó được sử dụng tách biệt hay được nhấn mạnh hơn, hoặc thiên về ý
nghĩa thời hoặc thể, hoặc chỉ đơn thuần là chỉ thời hay thể… nhưng nhìn
chung hình thái bao hàm cả ba ý nghĩa thời, thể, tình thái này thường xuất
hiện ở vị trí kết thúc câu. Trong đó, tình thái luôn là ý nghĩa bắt buộc cho
mọi phát ngôn.
1.2.4. Những vấn đề đối chiếu và dịch thuật liên quan đến đề tài nghiên
cứu
Luận án sử dụng nguồn ngữ liệu dịch Nhật - Việt và Việt - Nhật để
giúp xác nhận những nội dung về thời trong tiếng Nhật trên cơ sở chỉ xem
xét hoạt động của chúng trong nội bộ của các văn bản gốc, tìm ra những
cách biểu hiện hoạt động của phạm trù này từ góc nhìn của người Việt và
có so sánh với tiếng Việt.
Liên quan đến việc xem xét các kết quả dịch, lấy mẫu cho các phát
ngôn, cũng như xem xét việc nắm bắt và sử dụng thời tiếng Nhật của sinh


10
viên Việt Nam, luận án sử dụng các kết quả dịch thuật theo nguyên tắc
“tương đương dịch thuật” của Werner Koller (1992).
1.3. Thời trong tiếng Nhật
1.3.1. Sự đối lập lưỡng phân và phạm vi biểu hiện thời trong tiếng Nhật
Trong tiếng Nhật, các nhà ngữ pháp cho rằng nhận thức về sự đối lập
liên quan đến thời gian, hay nói đúng hơn, “khung” xác định thời gian của
người Nhật qua biểu hiện của thời được đặt trong thế lưỡng phân: Quá
khứ/ Phi quá khứ (trong phi quá khứ bao gồm: Hiện tại, Tương lai và Siêu
thời), chứ không phải là trong thế tam phân: “quá khứ/ hiện tại/ tương lai”
như cách hiểu trong nhiều ngôn ngữ khác. Nitta (2007) đã đưa ra một khái
niệm ngắn gọn nhưng bao hàm được cả những nội dung rộng hơn về thời
trong tiếng Nhật đó là: “Thời là phạm trù ngữ pháp của vị ngữ đặt sự việc
mà câu biểu hiện trên trục thời gian”. Theo Nitta, trong thành phần vị ngữ
không chỉ có động từ mà còn có cả tính từ và cấu trúc vị ngữ chứa danh từ.
Điều này hiện đã trở thành quan điểm chung thống nhất giữa các nhà
Nhật ngữ học. Như vậy, có thể nói, thời trong tiếng Nhật có phạm vi hoạt
động và diện biểu hiện rộng hơn so với phạm vi thời trong các ngôn ngữ
Ấn - Âu như tiếng Nga, tiếng Anh, tiếng Pháp v.v… vốn chỉ coi thời là
phạm trù ngữ pháp riêng của động từ.
1.3.2. Thời tuyệt đối và thời tương đối
1.3.2.1. Thời tuyệt đối
Thời tuyệt đối là thời lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui chiếu,
những sự việc xảy ra sau hay đồng thời với thời điểm phát ngôn thuộc vào
phân khúc “hiện tại hoặc tương lai”, những sự việc xảy ra trước thời điểm
phát ngôn thuộc vào phân khúc “quá khứ”.
Thời tuyệt đối bộc lộ rõ rệt nhất trong vị ngữ của câu đơn, hoặc trong
các mệnh đề đẳng lập của câu phức có các thành phần kết nối theo quan
hệ đẳng lập, hoặc là vị ngữ của mệnh đề đứng cuối trong câu phức có các
quan hệ phụ thuộc. Dạng “ru” về cơ bản miêu tả trạng thái, sự việc, hành
động, động tác của những sự tình ở thời phi quá khứ chỉ hiện tại và tương
lai nhưng cũng có những trường hợp chúng biểu hiện Siêu thời như miêu
tả những đặc trưng, tính chất mang tính vĩnh cửu; những qui tắc, chân lý
mang tính phổ biến hay những ghi chép nhật kí, thuyết minh, giải thích
v.v… Dạng “ta” miêu tả trạng thái, sự việc, động tác của sự tình ở thời
quá khứ.
1.3.2.2. Thời tương đối
Thời tương đối là thời không lấy thời điểm phát ngôn làm tọa độ qui
chiếu mà lấy thời điểm xảy ra của một sự tình nào đó hay chỉ đơn giản là
tâm trạng của người nói làm mốc qui chiếu. Thời tương đối thể hiện rõ


11
nhất ở trong mệnh đề phụ của các câu phức hay phức hay vị ngữ đứng
cuối của các phát ngôn trong thể loại văn phong biểu đạt tư duy hình
tượng, biểu cảm như tiểu thuyết, truyện kể, v.v... Lúc này, dạng “ru” thời
tương đối biểu hiện những sự tình đã xảy ra từ rất lâu trong quá khứ
nhưng ở thời điểm hiện tại chúng vẫn còn mang tính lịch sử hay những
phán đoán của người nói về sự việc trong quá khứ, trạng thái được biểu
thị trong mệnh đề phụ của câu v.v...; ở dạng “ta” biểu hiện những phát
hiện; hồi tưởng; giả định; yêu cầu cấp bách; những phê phán, đánh giá,
tâm trạng của người nói đối với những sự việc đã xảy ra trong quá khứ;
thái độ thừa nhận bản chất, chân lý sự việc, lí do mà người nghe đưa đến
hay những sự việc đã được quyết định v.v…
1.3.2.3. Hiện tượng Siêu thời hoặc giải phóng khỏi thời
Trong tiếng Nhật, ngoài thời tuyệt đối và thời tương đối, một số nhà
nghiên cứu còn đưa ra khái niệm “Hiện tượng giải phóng khỏi thời”,
trong đó có thể phân thành hai trường hợp.
Trường hợp thứ nhất là hiện tượng “Siêu thời”, chỉ những sự vật, sự
việc thuộc về chân lí, hiện tượng khách quan…
Trường hợp thứ hai thường gặp trong các loại vị ngữ tính từ nằm
trong mệnh đề phụ của những câu có hai mệnh đề trở lên, lúc này, người
tham thoại thường chú trọng vào mệnh đề chính của phát ngôn mà bỏ qua
yêu cầu “khắt khe” về thời như với các phát ngôn có vị ngữ là động từ.
1.3.2.4. Mối quan hệ giữa thời, thể, tình thái trong tiếng Nhật
Trong những ngôn ngữ có phạm trù ngữ pháp thời, thời - thể - tình
thái tuy mức độ thể hiện ít nhiều khác nhau nhưng luôn có mối quan hệ
gắn kết với nhau cả trên bề mặt hình thái của từ. Mối quan hệ mật thiết này
cũng được thể hiện rõ trong tiếng Nhật.
Kindaichi (1955) cho rằng, thể của động từ tiếng Nhật hiện đại là sự
đối lập về mặt hình thức ở “dạng vận động” và “dạng trạng thái” chứ
không phải là sự đối lập giữa “suru” và “shite i/ru”. Tuy nhiên, Okuda
(1977) lại thống nhất về mặt hình thái và ý nghĩa của dạng này và cho
rằng, “suru” là “thể hoàn thành”, biểu hiện một hành động, động tác được
xem như một chỉnh thể hoàn chỉnh không chia cắt, còn “shite i/ru” là “thể
chưa hoàn thành”, miêu tả động tác, hành động diễn ra liên tục được chia
thành các nhát cắt trong các giai đoạn phát triển của sự tình. Tương ứng
“thể hoàn thành” và “thể chưa hoàn thành”, có sự đối lập của thời quá khứ
và thời phi quá khứ. Teramura (1984) cho rằng “shita” được hiểu như là
một khối, điểm thể hiện tính thời, còn “shite i/ta” được hiểu theo bề rộng,
kéo dài thể hiện tính thể.


12
Tuy cùng chung một hình thức đuôi từ là “ru” hoặc “ta” nhưng trong
ngữ cảnh nào đó, nét nghĩa thuộc phạm trù thể hay thời sẽ được người
tham thoại chú trọng hơn và trở thành tiêu điểm của phát ngôn.
Luận án đặt trọng tâm nghiên cứu về thời trong tiếng Nhật nên tạm
thời sẽ tách khỏi những tiêu điểm về thể, tình thái và chỉ tập trung nhấn
mạnh vào các nội dung ngữ nghĩa liên quan đến thời.
1.4. Tiểu kết chƣơng 1
Trong chương này, chúng tôi đã phác thảo bức tranh chung về thời
với các quan điểm, khái niệm liên quan đến thời gian trong ngôn ngữ, đặc
biệt là những đặc trưng cơ bản nhất có liên quan đến thời trong tiếng Nhật.
Thời - thể - tình thái, mặc dù có sự phân bậc rõ ràng trong cấu trúc
chung của thành phần vị từ, nhưng nhiều trường hợp, ở dấu hiệu hình thái,
ngay trong cùng một vỏ ngữ âm của các vĩ tố “ru” và “ta”, chúng có thể
biểu thị đồng thời cả 3 chức năng thời, thể và tình thái. Đây cũng là một
trong những điểm khác biệt khá lớn giữa tiếng Nhật với các ngôn ngữ
cùng có phạm trù ngữ pháp thời như các ngôn ngữ Ấn Âu.
Trong khi thời trong tiếng Nhật là một phạm trù thuộc bình diện ngữ
pháp với sự biến đổi hình thái của vĩ tố đuôi từ rất rõ rệt thì các biểu hiện
thời gian trong tiếng Việt lại hoạt động theo cơ chế “ngầm định” và “tiết
kiệm” trên bình diện từ vựng - ngữ pháp, bởi vậy, chỉ có thể chỉ ra những
sự tương đương nhất định từ các kết quả dịch thuật mà khó có thể khái
quát hoá thành những sự đối ứng một - một trong cơ chế hoạt động của
hai ngôn ngữ này.
CHƢƠNG 2
PHÂN TÍCH BIỂU HIỆN CỦA THỜI TIẾNG NHẬT
TỪ GÓC ĐỘ HÌNH THÁI VÀ NGỮ NGHĨA
Ngoài các danh từ chỉ thời gian như “今日 hôm nay”, “明日 ngày
mai”, v.v... trong tiếng Nhật cũng còn có một loại phó từ (Pht) chỉ tần suất,
mức độ như “いつも thường xuyên” , “もう rồi”, v.v… có tác dụng tạo
ra các cấu trúc vị ngữ có liên quan đến các dạng thức của thời trong tiếng
Nhật. Để tách biệt giữa các yếu tố không biến hình này và các yếu tố hình
thái có biến hình ở vị từ trong các phát ngôn, chúng tôi xem xét các phát
ngôn tách riêng ra thành các cấp độ, từ bình diện từ loại của vị ngữ đến
đặc thù của vị ngữ cũng như hoạt động của vị từ trong sự kết nối với các
yếu tố (T) và (Pht) để tạo thành các phát ngôn với nhiều thành phần, cụ
thể như sau:


13
2.1. Phân tích biểu hiện của thời tiếng Nhật từ góc độ hình thái
của vị từ
Trong tiếng Nhật hình thái biểu hiện thời xuất hiện ở vị từ, bao gồm
cả vị ngữ động từ, vị ngữ tính từ và cấu trúc ngữ pháp chứa danh từ như ở
bảng 2.1:
Bảng 2.1 Biểu hiện thời trong tiếng Nhật từ góc độ hình thái
Thời
Hình thái
biểu hiện
Động từ
Tính từ-i
Tính từ-na và danh từ
Phi quá khứ

ru

i

Quá khứ

ta

katta

da/de aru/desu
datta/de atta/deshita

Khảo sát nguồn ngữ liệu, chúng tôi thu được tỉ lệ biểu hiện thời trong
thành phần vị từ ở các từ loại như ở bảng 2.2:
Bảng 2.2: Tỉ lệ vị ngữ biểu hiện thời ở động từ, tính từ và hệ từ
Thứ tự
Từ loại
Số lƣợng Tỉ lệ (%)
1
Động từ
1025
78
2

Tính từ đuôi“ i”

93

7,0

3

Danh từ và tính từ đuôi “na” kết hợp
với hệ từ

198

15

1316

100

Tổng

Kết quả cho thấy biểu hiện thời ở động từ chiếm tỉ lệ cao (78%), do
vậy dạng “ru” và dạng “ta” của động từ được các nhà ngôn ngữ Nhật lấy
làm hình thái điển hình, đại diện cho cả vĩ tố “i” hoặc “na”.
Như ở chương 1 chúng tôi đã trình bày, khi bàn về thời trong tiếng
Nhật, sự phân loại đầu tiên và cơ bản là sẽ xem xét hoạt động của thời ở
dạng thời tuyệt đối và thời tương đối. Do vậy, luận án khảo sát ngữ liệu
và phân tích xem thời tuyệt đối và thời tương đối biểu hiện theo hình thái
như thế nào. Kết quả như ở bảng 2.3:
Bảng 2.3: Tỉ lệ thời tuyệt đối, thời tƣơng đối trong ngữ liệu
Thời
Số lƣợng biểu hiện
Tỉ lệ (%)



không có (T)

682

51,7

87

có (T)
không có (T)
có (T)
Tổng

463
115
56
1316

35,3
8,7
4,3

13
100


14
Dựa trên kết quả khảo sát này, chúng tôi xem xét và phân tích các
biểu hiện thời tuyệt đối và thời tương đối được biểu hiện qua cấp độ hình
thái của các loại vị từ như sau:
2.1.1. Biểu hiện của thời tuyệt đối
Trong 1316 vị ngữ biểu hiện thời, có 1145 vị ngữ biểu hiện thời tuyệt
đối, chiếm tỉ lệ 87 %. Cụ thể như sau:
2.1.1.1. Biểu hiện của thời tuyệt đối ở vị ngữ động từ
Chúng tôi thu được 908 vị ngữ động từ ở thời tuyệt đối, chiếm tỉ lệ
69%. Ở dạng Phi quá khứ có cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ru”}; ở dạng
quá khứ có cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ta”}.
2.1.1.2. Biểu hiện của thời tuyệt đối ở vị ngữ tính từ và danh từ
Trong 1145 vị ngữ biểu hiện thời tuyệt đối, chúng tôi thu được 62 vị
ngữ tính từ-i miêu tả khả năng, tính chất… của sự vật, sự việc, chiếm tỉ lệ
4,7%. Tính từ-i, dạng Phi quá khứ có cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “i”};
khi biểu hiện quá khứ biến đổi đuôi “i” sang “ta”, có cấu trúc là: {[thân
từ] + vĩ tố“katta”}; 175 vị ngữ tính từ-na và danh từ ở thời tuyệt đối
miêu tả tính chất, khả năng, trạng thái, đặc thù về chủng loại... của sự vật,
sự việc, chiếm tỉ lệ 13,3%. Thời tuyệt đối ở vị ngữ là tính từ-na, dạng Phi
quá khứ có cấu trúc: {[thân từ] + hệ từ da/de aru/desu}; khi biểu hiện
quá khứ có cấu trúc: {[thân từ] + hệ từ de at/de shi/ dat + vĩ tố “ta”}.
2.1.2. Biểu hiện của thời tương đối
Trong 1316 vị ngữ có biểu hiện thời, có 171 vị ngữ có biểu hiện thời
tương đối, chiếm tỉ lệ 13%. Cụ thể biểu hiện thời tương đối cho từng từ
loại như sau.
2.1.2.1.Biểu hiện của thời tương đối ở vị ngữ động từ
Chúng tôi thu được 128 động từ ở thời tương đối, chiếm tỉ lệ 9,7% . Ở
dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ta” }; ở dạng quá
khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + vĩ tố “ru”}.
2.1.2.2. Biểu hiện của thời tương đối ở vị ngữ tính từ và danh từ
Chúng tôi thu được 28 vị ngữ là tính từ-i ở thời tương đối, chiếm tỉ lệ
2,2 %. Ở dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: biến đổi đuôi “i” sang “ta”
là {[thân từ] + vĩ tố“katta”}; khi biểu hiện quá khứ sử dụng cấu trúc:
{[thân từ] + vĩ tố “i”}; 15 vị ngữ tính từ na và danh từ ở thời tương đối
(1,1%). Ở dạng Phi quá khứ sử dụng cấu trúc: {[thân từ] + hệ từ de at/de
shi/ dat + vĩ tố “ta”}; khi biểu hiện quá khứ sử dụng cấu trúc:{[thân từ]
+ hệ từ da/de aru/desu}.
2.2. Phân tích biểu hiện ngữ nghĩa của thời tiếng Nhật từ góc độ
tính chất của vị ngữ


15
Phần lớn các nhà nghiên cứu ngôn ngữ Nhật cho rằng thời trong tiếng
Nhật biểu hiện khác biệt ở hai loại vị ngữ là vị ngữ trạng thái và vị ngữ
hành động.
2.2.1. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong vị ngữ trạng thái
Do yêu cầu biểu đạt của người phát ngôn, vị ngữ trạng thái có thể
xuất hiện ở trong bất cứ thành phần nào của câu, có thể ở cả mệnh đề
chính và mệnh đề phụ. Chúng có các nội dung ngữ nghĩa như: biểu đạt
những trạng thái thường xuyên, ổn định, Siêu thời gian; biểu đạt những
trạng thái nào đó
tại một thời điểm nhất định.
Ví dụ: 公園内に日本庭園風のデザインや植物の配置をすることは
[いやが外られ]たが、国人が利用する旅館やホテルなどにはいま
も 日本庭園は[欠かせな]い。Trong các công viên, mô hình bài trí
vườn cảnh hay trồng cây kiểu Nhật không còn được ưa chuộng nữa,
nhưng những quán trọ kiểu Nhật hay các khách sạn mà người nước ngoài
trọ thì cách bài trí theo lối vườn cảnh của Nhật Bản giờ vẫn là điều
không thể thiếu được.
2.2.2. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong vị ngữ hành động
Hoạt động của vị ngữ hành động luôn đa dạng, phong phú, theo đó,
những đặc tính về thời, thể của chúng, ngoài những nội dung biểu hiện
ngữ nghĩa như ở vị ngữ tình thái, còn có những biểu hiện đa chiều, đa
dạng hơn như: biểu đạt các sự tình mang tính chân lý, bản chất thuộc Siêu
thời; giải thích thứ tự, tuần tự các thao tác trong vận hành, sử dụng, chế
biến... trong một quá trình tổng thể; biểu thị các sự việc, hiện tượng được
nắm bắt qua các giác quan; biểu đạt những hành động, động tác, sự vận
động của sự tình xảy ra ở một thời điểm nào đó thuộc hiện tại, tương lai
hay quá khứ; biểu đạt các hành động, thói quen trong hiện tại hoặc quá
khứ.
Ví dụ: 今回 、戦争の苦しみを[経験しまし]た。共に、平和を広
め核兵器のない世界を原爆資料館で公開されるのは、この4羽
の折り鶴と芳名録で、芳名録には「私たちは追求する勇気を持
ちましょう」と、核兵器の廃絶に向けたメッセージが[記され
ていま]す。Món đồ được trưng bày tại bảo tàng tư liệu lần này là 4
con hạc giấy này và sổ lưu bút khách tham quan, trong sổ có ghi thông
điệp hướng tới bãi bỏ vũ khí hạt nhân “Chúng ta đã trải qua những đau
khổ của chiến tranh. Chúng ta hãy cùng nhau có dũng khí theo đuổi một
thế giới hoà bình không có vũ khí hạt nhân”.
2.3. Phân tích biểu hiện ngữ nghĩa của thời tiếng Nhật trong cấu trúc
cú pháp có/ vắng (T) trong quan hệ tƣơng tác với (Pht)


16
Trong tổng số 1316 vị ngữ biểu hiện thời, chúng tôi thu được 794 vị
ngữ không có thành phần từ vựng chỉ xuất thời gian (T) hay phó từ chỉ
mức độ (Pht), chiếm tỉ lệ 60% và 522 vị ngữ có (T) hay (Pht) chiếm tỉ lệ
40 %, được mô tả như ở bảng 2.4.
Bảng 2.4: Vị ngữ biểu hiện thời trong câu đơn/ câu ghép không có (T)
và có (T)
Loại câu
Câu đơn
Câu ghép
Tổng Tỉ lệ
Biểu hiện

Thời TĐ

Thời Tđ

Thời TĐ

Thời Tđ

Không có
(T)
Có (T)

66

1

599

128

794

60

28

3

430

61

522

40

(%)

2.3.1. Biểu hiện của thời trong cấu trúc câu không có (T)
Trong 794 vị ngữ không có (T) tham gia vào cấu trúc tổng thể của câu,
có 67 vị ngữ trong câu đơn và 727 vị ngữ trong câu ghép.
Kết quả khảo sát ngữ liệu cho thấy rằng thời trong cấu trúc câu không
chứa thành phần trạng ngữ (T) chiếm tỉ lệ cao (60%), phản ánh vai trò
quan trọng và khả năng độc lập về mặt hình thái của các yếu tố ngữ pháp
chỉ thời trong các phát ngôn của người Nhật. Có thể thấy biểu hiện thời
trong câu đơn hay câu ghép, về cơ bản chỉ cần dựa vào hình thái của đuôi
từ sẽ nắm được sự tình ở thời điểm hiện tại hay QK trên trục thời gian.
Tuy nhiên, cũng có những trường hợp ngoại lệ, biểu hiện thời tương đối.
2.3.2. Biểu hiện của thời trong cấu trúc câu có (T)
Qua khảo sát chúng tôi thu được 522 vị ngữ biểu hiện thời trong câu
có (T), chiếm tỉ lệ 40%. Trong đó có 31 vị ngữ biểu hiện thời trong câu
đơn và 491 vị ngữ biểu hiện thời trong câu ghép. Thời trong câu có (T)
cũng biểu hiện qua hình thái của vĩ từ như trong câu không có (T), có thể
mô tả hoạt động của chúng qua: Sự phối kết logic của (T) và thành phần
vị ngữ biểu hiện thời tuyệt đối; Sự lệch chuẩn trong kết hợp giữa (T) với
thành phần vị ngữ biểu đạt thời.
2.3.3. Biểu hiện ngữ nghĩa của thời trong cấu trúc câu có chứa phó từ
liên quan đến yếu tố thời gian
Trong tiếng Nhật, có một số phó từ chỉ tần suất (Pht) của sự tình, về
cơ bản, chúng thiên về biểu đạt ý nghĩa chỉ thể hoặc chỉ tần suất, trạng
thái của sự tình hơn là ý nghĩa chuyên biệt về thời gian nhưng cũng góp
phần tạo ra các vị từ chỉ thời gian như: 常に(thường xuyên), 時々 (thỉnh
thoảng), 一 般 的 に (nói chung, cơ bản là) 、 既 に (đã), ま だ (vẫn
chưa/chưa), もう (đã) v.v...


17
2.3.4. Mối liên hệ giữa (T) và (Pht) trong cấu trúc câu ghép
Quan sát ngữ liệu, chúng tôi thấy có sự phân biệt về thời giữa mệnh
đề phụ với nhau hoặc giữa mệnh đề chính và các mệnh đề phụ trong cùng
một phát ngôn, chứng tỏ luôn có sự độc lập của từng mệnh đề nhỏ với các
(T) hoặc (Pht) của chúng trong tổng thể phát ngôn.
Thông thường, mệnh đề chính đảm nhiệm vai trò ngữ pháp cho toàn
phát ngôn, đặt sự việc, sự vật trong mối quan hệ với các phát ngôn trước
và sau đó. Trong phát ngôn, có thể có (T)/(Pht) có quan hệ trực tiếp với vị
ngữ của mệnh đề chính, nhưng trong nhiều trường hợp, chúng chỉ có quan
hệ trực tiếp với mệnh đề phụ trong tổng thể phát ngôn.
2.3.4.1. Tính kết nối trong câu ghép đẳng lập
Khảo sát tư liệu chúng tôi thống kê được 156 câu có cấu trúc câu
ghép đẳng lập dựa vào các từ nối như「が、けれども...」 và thấy
rằng, quan hệ về thời giữa các mệnh đề trong câu ghép đẳng lập tương đối
độc lập với nhau. Tuy nhiên, cũng rất nhiều trường hợp, các sự tình được
biểu thị trong các mệnh đề đẳng lập trong cùng một phát ngôn, tuy độc
lập về nghĩa, nhưng lại cùng có chung một thời điểm gốc trên trục thời
gian, bởi vậy, chúng đều thuộc chung một thời, hoặc cùng thời quá khứ,
hoặc cùng thời phi quá khứ.
2.3.4.2. Tính kết nối trong câu ghép chính - phụ
Từ nguồn tư liệu khảo sát, chúng tôi thu được 746 câu có biểu hiện
thời trong cấu trúc chính - phụ, chiếm tỉ lệ 56,5%.
Trong câu ghép chính - phụ, mệnh đề chính chịu trách nhiệm ngữ
pháp cho toàn thể phát ngôn và thông thường, mệnh đề chính sử dụng
thời tuyệt đối; còn các biểu đạt thời trong mệnh đề phụ rất đa dạng và phụ
thuộc nhiều yếu tố như: xuất hiện trong câu trích dẫn, câu dẫn gắn với
danh từ, phó từ chỉ thời gian, tính chất vị ngữ là mệnh đề chỉ hành động
hay trạng thái, v.v... Ngoài ý nghĩa biểu đạt thời tuyệt đối thì trong câu
ghép chính - phụ, các mệnh đề phụ còn biểu hiện ý nghĩa thời tương đối.
2.4. Tiểu kết chương 2
Trong chương 2, chúng tôi đã phân tích và hệ thống các phương thức
biểu đạt thời trong tiếng Nhật về hình thái và ngữ nghĩa, đi từ cấp độ xem
xét hoạt động của vị từ trong câu, tách riêng các từ loại của vị từ và tính
chất của vị ngữ rồi mới đến cấp độ câu. Ở bước phân tích hình thái, khi
xem xét riêng hoạt động biến hình của từng từ loại, chúng tôi tạm thời
tách hoạt động của các vị từ ra khỏi sự có mặt của các yếu tố từ vựng (T)
và các phó từ biểu đạt nghĩa thời gian (Pht). Tiếp đó, chúng tôi đặt các vị
từ này trong sự phối kết hợp với các yếu tố (T) và/ hoặc (Pht) để có thể
nhìn thấy bức tranh toàn cảnh chung trong hành chức của vị từ khi biểu


18
đạt thời trong tiếng Nhật. Ở cấp độ câu, chúng tôi phân tách thành các
trường hợp câu đơn, câu ghép; đặc biệt chú trọng phân tích hoạt động của
thời trong câu ghép đa thành phần.
CHƢƠNG 3
PHÂN TÍCH BIỂU ĐẠT CỦA THỜI TIẾNG NHẬT QUA
ĐỐI CHIẾU VỚI CÁCH BIỂU ĐẠT THỜI GIAN TƢƠNG ỨNG
TRONG TIẾNG VIỆT TRÊN CỨ LIỆU DỊCH
NHẬT - VIỆT VÀ VIỆT - NHẬT
3.1. Phân tích biểu đạt thời tiếng Nhật qua các biểu đạt tƣơng ứng
trong tiếng Việt trên cứ liệu Nhật - Việt
3.1.1. Đối chiếu thời tuyệt đối tiếng Nhật với các biểu hiện tương đương
trong tiếng Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
Trong tổng số 1316 vị ngữ biểu hiện thời, luận án thu được 682 vị
ngữ biểu hiện thời tuyệt đối không có (T). Có thể thấy, các biểu hiện chỉ
dấu thời trong tiếng Nhật xuất hiện mang tính bắt buộc và có sự phân
định chức năng giữa “ru”, “ta”, “te i/ru”, “te i/ta” trong khi tiếng Việt do
không qui định sử dụng thời mang tính ngữ pháp như vậy mà chủ yếu
theo sự ngầm định về khung thời gian mà không cần phải thường xuyên
có mặt các yếu tố ngữ pháp; bởi vậy, phần lớn các biểu hiện thời trong
tiếng Nhật dịch sang tiếng Việt được đánh dấu là “”. Một số trường hợp
có các phó từ “đã”, “sẽ”, “đang”, “vẫn” xuất hiện, chiếm tỉ lệ thấp (15%)
và chủ yếu biểu đạt những mối quan hệ giữa các sự kiện trên trục thời
gian trong mối liên quan với các biểu đạt về tình thái và thể hơn là biểu
đạt thời một cách bắt buộc cho từng trường hợp hay trong tất cả các vị từ
như tiếng Nhật.
Luận án cũng thu được 463 vị ngữ biểu hiện thời tuyệt đối có thành
phần từ vụng chỉ xuất thời gian (T). Có thể thấy rằng khi dịch câu tiếng
Nhật có (T) sang tiếng Việt, ngoài biểu hiện từ vựng tương đương, sự
vắng mặt các phó từ (P) như “đã”, “sẽ”, “đang”... trong câu tiếng Việt
vẫn chiếm số lượng lớn. Tuy nhiên, nhiều trường hợp vẫn không thể thiếu
vai trò bổ sung các yếu tố (P) này. Đặc biệt, với sự xuất hiện của (P) “đã”
chiếm tỉ lệ 36% trong câu tiếng Việt cho thấy, ở một tỉ lệ bổ sung nhất
định, các yếu tố (P) trong tiếng Việt cũng góp phần quan trọng vào biểu
đạt ngữ pháp thời.
3.1.2. Xem xét thời tương đối và các biểu đạt tương đương trong tiếng
Việt trên cứ liệu dịch Nhật - Việt
Từ kết quả đối chiếu biểu hiện thời tương đối trong tiếng Nhật không
có (T) với các cách dịch sang tiếng Việt, có thể thấy rằng: Khi dịch sang


19
tiếng Việt, các biểu hiện thời tương đối hầu như không được xác định
bằng những yếu tố ngữ pháp, chỉ trừ khi chúng có thêm vai trò nhấn mạnh
về mặt tình thái hoặc thể. Các yếu tố (P), dù có thể vô tình trùng với các
biểu đạt về thời trong tiếng Nhật nhưng cũng như trong tiếng Việt, chúng
chủ yếu để biểu đạt nhấn mạnh các ý nghĩa về thể và tình thái. Việc sử
dụng thời tương đối ngoài phản ánh sự lệch chuẩn về sử dụng ngữ pháp
thời còn cho thấy sự khác biệt trong tư duy về thời gian trong ngôn ngữ
của người Nhật, tạo ra nét độc đáo, đặc sắc riêng cho ngôn ngữ Nhật.
3.2. Phân tích biểu đạt thời tiếng Nhật qua các biểu đạt tƣơng ứng
trong tiếng Việt trên cứ liệu Việt - Nhật
3.2.1. Xem xét các phát ngôn không có yếu tố (T) và (P) trong tiếng Việt
được dịch sang tiếng Nhật
Phân tích nguồn ngữ liệu, chúng tôi thu được 428 biểu hiện không có
(T)/(P) trong tiếng Việt, chiếm tỉ lệ 83%.
Có thể thấy, trong câu tiếng Việt dù không có các thành phần (T)
hoặc (P) nhưng câu dịch sang tiếng Nhật vẫn đảm bảo qui tắc chia thời,
thể rõ ràng phản ánh tư duy ngôn ngữ của người Nhật luôn ý thức phải đặt
sự tình, hành động trong dòng chảy của thời gian còn tiếng Việt thì sử
dụng theo qui tắc “ngầm định” hay “tiết kiệm”, phù hợp với tư duy vốn có
của người Việt là không sử dụng các yếu tố ngữ pháp chuyên biệt chỉ thời
như một yêu cầu ngữ pháp bắt buộc.
3.2.2. Xem xét các phát ngôn có chứa các yếu tố ngữ pháp biểu hiện thời
gian (P) được dịch sang tiếng Nhật
Theo Trần Thị Chung Toàn (2016), các yếu tố chỉ thời gian (P), dù
không phải là yếu tố chuyên biệt về mặt ngữ pháp để thể hiện thời, nhưng
chúng có vai trò bổ sung cho người tham thoại nhận diện thêm góc độ
thời gian trong một số phát ngôn.
Qua các ví dụ khảo sát, chúng tôi hệ thống các phó từ “đã”, “vẫn”,
“đang”, “sắp/sẽ” trong tiếng Việt được dịch sang các cấu trúc tiếng Nhật
như ở các bảng sau:
Bảng 3.5: Biểu hiện đối ứng giữa “đã” với cấu trúc tiếng Nhật
Trường hợp Tiếng Việt
“đã” 1

Dịch sang tiếng Nhật
“ta”

“đã” 2

“te i/ru”

Biểu hiện
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể hoàn thành
và tình thái trong câu
- thời Phi quá khứ
tuyệt đối, thể hoàn
thành và tình thái


20

“te i/ta”

nhấn mạnh
- thời Phi quá khứ
tuyệt đối, thể hoàn
thành và tình thái
nhấn mạnh, so sánh
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể hoàn thành

Bảng 3.6:Biểu hiện đối ứng giữa “vẫn” với cấu trúc tiếng Nhật
Trường hợp Tiếng Việt
“vẫn” 1 (Mđp)

Dịch sang tiếng Nhật

Biểu hiện

“te i/ru”

thời Phi quá khứ
tương đối, thể chưa
hoàn thành, tình thái

“vẫn” 2 (thói quen QK)

“te i/ta”

thời Quá khứ tuyệt
đối, thể tiếp diễn,

Bảng 3.7: Biểu hiện đối ứng giữa “đang” với cấu trúc tiếng Nhật
Trƣờng hợp Tiếng Việt
“đang” 1 (Mđc)

Dịch sang tiếng Nhật
“te i/ta”

“đang” 2 (Mđp)

“te i/ru”

Biểu hiện
thời Quá khứ tuyệt
đối, thể tiếp diễn
thể tiếp diễn, thời
tương đối

Bảng 3.8 Biểu hiện đối ứng giữa “sẽ, sắp” với cấu trúc tiếng Nhật
Trường hợp Tiếng Việt
“sẽ” 1 (câu trực tiếp)

Dịch sang tiếng Nhật
“ru”

“sẽ” 2 (câu kể)

“ru”

“sắp” (câu trực tiếp)

“ru”

“sắp” 1 (câu kể)

“ru”

Biểu hiện
thời Phi quá khứ
tuyệt đối, chỉ tương
lai
thời Phi quá khứ
tương đối
thời Phi quá khứ
tuyệt đối, chỉ tương
lai
thời Phi quá khứ
tương đối


21
3.3. Tiểu kết chƣơng 3
Trong chương 3, qua cứ liệu dịch Nhật - Việt, có thể thấy người dịch
là người Việt thường có xu hướng bỏ qua các yếu tố hình thái biểu đạt thời
một cách chi tiết trong tiếng Nhật và thường đưa sự tình vào trong khung
thời gian lớn theo qui ước ngầm định hoặc tiết kiệm của tiếng Việt. Các
hình thái biểu hiện thời tuyệt đối, thời tương đối hầu như không được biểu
đạt bằng các yếu tố ngữ pháp chuyên dụng tương đương; các yếu tố “đã”
“đang” “sẽ”... không nhất thiết phải được huy động như các yếu tố hình
thái “ru” hay “ta” của tiếng Nhật; chúng chỉ được huy động khi trong câu
tiếng Nhật có thêm sự nhấn mạnh về nghĩa tình thái hoặc thể.
Trên cứ liệu dịch Việt - Nhật, với những phát ngôn có chứa (P) trong
tiếng Việt, có thể thấy “sắp”, “sẽ” có sự tương ứng về hình thái vĩ từ là
„ru” hơn các yếu tố khác, biểu đạt thời. Bên cạnh đó, so với “đang” thì
“đã” dường như có sức nặng về biểu đạt thời hơn khi phần lớn các
phương án dịch đều hướng về dạng biểu đạt “ta” hoặc “te i/ta”; so với
“vẫn” thì “đang” được tiếp nhận ở nghĩa là thời chỉ hiện tại hơn là nghĩa
tình thái mặc dù chúng đều được dịch sang hình thái đuôi từ là “te i/ru”
hoặc “te i/ta”. Về cơ bản có sự đối ứng khá lớn giữa các (P) trong tiếng
Việt với các biểu hiện hình thái đuôi từ “ta” và “ru” trong tiếng Nhật, tuy
nhiên, khó có thể đưa ra một sự đối ứng hoàn toàn một - một giữa chúng
vì cơ bản, hoạt động của phạm trù thời trong tiếng Nhật thiên về bình diện
ngữ pháp trong khi tiếng Việt lại thiên về bình diện Từ vựng- ngữ pháp.
CHƢƠNG 4
KHẢO SÁT CÁCH NẮM BẮT VÀ SỬ DỤNG THỜI
TRONG TIẾNG NHẬT CỦA SINH VIÊN VIỆT NAM - ĐỀ XUẤT
LƢU Ý TRONG DẠY VÀ HỌC CÓ LIÊN QUAN ĐẾN THỜI
4.1. Xem xét cách nắm bắt và sử dụng thời tiếng Nhật qua khảo sát
văn bản dịch của sinh viên
Luận án đã tiến hành khảo sát về cách dịch thời trong tiếng Nhật với
đối tượng là sinh viên năm thứ 4 của khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà
Nội. Đây là khối sinh viên có chương trình học và khối lượng kiến thức
tương đương với sinh viên các Trường Đại Học có đào tạo cử nhân tiếng
Nhật ở Việt Nam.
4.1.1. Khảo sát lần thứ nhất
Tháng 9.2015, chúng tôi đã tiến hành khảo sát 120 sinh viên đang học
học kỳ 1, năm thứ 4 của khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội.
Tư liệu khảo sát dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt là chuyên luận văn
hóa 『知らなきゃ恥ずかしい日本文化』của Shirahata Yozaburo;
khảo sát dịch Việt - Nhật, chúng tôi sử dụng tư liệu là một trích đoạn


22
trong tác phẩm “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam.
4.1.2. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ nhất
Chúng tôi nhận thấy, ngoài những biểu hiện từ vựng chỉ thời gian có
tỉ lệ dịch tương ứng gần như 1:1, thì tỉ lệ sinh viên chú ý dịch biểu đạt
thời về mặt hình thái trong tiếng Nhật sang biểu đạt tương ứng trong tiếng
Việt có tỉ lệ rất thấp (27,5%); tương tự như vậy, ở dịch Việt - Nhật, tỉ lệ
sinh viên chú ý đúng ngữ cảnh biểu đạt để dịch đúng thời tương ứng trong
tiếng Nhật cũng rất thấp (19,5%). Trong văn bản dịch Nhật - Việt, sinh
viên thường có khuynh hướng bỏ qua hoặc không dịch biểu đạt thời trong
tiếng Nhật sang tiếng Việt. Điều này phản ánh thực tế chung của người
Việt là không có ý thức thường xuyên về việc huy động đúng và đủ các
yếu tố (P) để biểu đạt thời gian. Tuy nhiên, cũng có trường hợp việc dịch
lược bỏ (P) tương đương thời trong tiếng Nhật sẽ không truyền tải hết ngữ
nghĩa và thông điệp trong câu tiếng Nhật.
4.1.3. Khảo sát lần thứ hai
Tháng 4.2016, chúng tôi tiến hành khảo sát lần thứ hai, trên cơ sở đã
phân tích cho sinh viên nắm được những lỗi dịch sai ở lần khảo sát thứ
nhất. Lần này, đối tượng khảo sát thu hẹp chỉ còn 80 sinh viên, được lựa
chọn chủ yếu trong số những em đã có ý thức về thời để đánh giá xem sau
6 tháng học tập cũng như rút kinh nghiệm của lần dịch thứ nhất.
Tư liệu khảo sát dịch từ tiếng Nhật sang tiếng Việt là một đoạn trích
trong tác phẩm truyện ngắn tiếng Nhật『コインロッカー・ベイビー
ズ』của nhà văn Murakami Ryu; khảo sát dịch Việt - Nhật, chúng tôi sử
dụng tư liệu là một trích đoạn trong tác phẩm “Dây neo trần gian” của Võ
Thị Hảo.
4.1.4. Phân tích kết quả khảo sát lần thứ hai
Ngoài những biểu hiện từ vựng chỉ thời gian tương ứng thì tỉ lệ sinh
viên chú ý dịch biểu đạt thời trong tiếng Nhật sang tiếng Việt là 49,5% và
tỉ lệ dịch tiếng Việt sang tiếng Nhật có chú ý sử dụng đúng thời là 45%.
Do chưa nắm vững cách sử dụng thời tuyệt đối và thời tương đối nên
nhiều sinh viên còn sử dụng lẫn lộn dẫn tới kết quả chung vẫn chưa đạt
50%. Bên cạnh đó, sinh viên có khuynh hướng dịch các biểu hiện thời
trong tiếng Nhật sang tiếng Việt chủ yếu là “”, còn hạn chế huy động
các phó từ chỉ thời gian trong tiếng Việt. Điều này cho thấy, người Việt,
dù đã học lí thuyết tiếng về thời trong tiếng Nhật, được nhắc nhở về ý
thức sử dụng thời song ảnh hưởng tư duy, ngôn ngữ của tiếng mẹ đẻ vẫn
còn khá lớn.
4.2. Đề xuất một số lƣu ý trong dạy - học có liên quan đến thời
Từ thực tiễn giảng dạy cũng như qua kết quả khảo sát cách hiểu và sử


23
dụng thời của người học, có thể thấy rằng thời là một phạm trù ngữ pháp
quan trọng trong tiếng Nhật song chưa thực sự được quan tâm, chú ý đưa
vào dạy và học tiếng Nhật ở Việt Nam một cách bài bản, hệ thống.
Trong dạy và học, có thể lưu ý đến chuỗi kết hợp các yếu tố như: Yếu
tố nhận thức; Yếu tố luyện tập; Yếu tố tự xác nhận mô hình biểu đạt của
câu; Thực hành tổng hợp.
4.3. Tiểu kết chƣơng 4
Trong chương này, từ kết quả khảo sát sinh viên học tiếng Nhật tại
Trường Đại học Hà Nội về cách hiểu và dịch thời trong tiếng Nhật, chúng
tôi nhận thấy phần lớn sinh viên vẫn chưa nắm vững đặc thù biểu đạt thời
trong tiếng Nhật do chưa có thời gian rèn luyện đầy đủ cũng như vấn đề
thời, thể chưa được chú trọng trong quá trình giảng dạy tiếng Nhật cho
sinh viên. Điều này dẫn đến việc vận dụng khi đọc hiểu, thực hành dịch,
xử lí văn bản v.v... chưa thật sự hiệu quả.
Luận án đã đề xuất một số lưu ý trong dạy - học tiếng Nhật có liên
quan đến thời dựa trên kết quả nghiên cứu đối chiếu sự khác biệt giữa
phạm trù thời trong tiếng Nhật và đặc thù biểu đạt thời gian theo qui tắc
ngầm định và tiết kiệm trong tiếng Việt. Việc tận dụng kết quả của các
nhà nghiên cứu để giúp người học - là người đã trưởng thành, tự có ý thức
so sánh đối chiếu trong học ngoại ngữ, tự nâng cao năng lực nắm bắt và
sử dụng thành thạo ngoại ngữ là một thao tác cần thiết trong dạy - học
ngoại ngữ nói chung và học tiếng Nhật nói riêng.
KẾT LUẬN
(1) Luận án đã khẳng định thời trong tiếng Nhật là một phạm trù ngữ
pháp được ngữ pháp hoá một cách rõ ràng, rành mạch qua hệ thống biến
hình được phân định bằng các vĩ tố “ru” và “ta”. Các yếu tố này hoạt
động trong sự phối kết hợp với các danh từ chỉ thời gian (T) và phó từ chỉ
mức độ, tần suất của sự tình (Pht).
(2) Đặc biệt, với vai trò là một phạm trù ngữ pháp, thời trong tiếng Nhật
có chức năng định vị sự tình trong thời gian thông qua các biểu hiện hình
thái ở vị từ (không chỉ với động từ mà bao gồm cả tính từ và cấu trúc ngữ
pháp chứa danh từ)
(3) Trong tiếng Nhật, khi yếu tố hình thái đã có mặt thường xuyên trong
các cấu trúc, giữa các thành phần (T) và (Pht) thì (T) có vai trò quan trọng
hơn trong biểu đạt thời, còn (Pht) thiên về biểu đạt thể, có lúc các yếu tố
này hòa làm một và cùng với vị từ góp phần biểu đạt và xác định khung
thời gian cho sự kiện. Thành phần (T) trong các phát ngôn thường chỉ có
tác dụng biểu đạt thời trong phạm vi của các Mđp, giữa (T) của Mđp và
(T) của Mđc có sự độc lập đáng kể.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×