Tải bản đầy đủ

những vấn đề liên quan về thuế giá trị gia tăng, pháp luật về thuế giá trị gia tăng dựa vào pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng để đánh giá những

MỤC LỤC
MỤC LỤC............................................................................................................................................................1
LỜI MỞ ĐẦU.......................................................................................................................................................2

I. Một số vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng................................................................3
1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.................................................................3
2. Pháp luật về thuế giá trị gia tăng trong hệ thống pháp luật Việt Nam...............................................5

II. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở nước ta
hiện nay...........................................................................................................................5
1. Những yếu tố tích cực..........................................................................................................................5
2. Những yếu tố hạn chế..........................................................................................................................7

III. Nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam.. .11
1. Hoàn thiện pháp luật..........................................................................................................................11
2. Tăng cường ý thức của người thực thi pháp luật và người chấp hành pháp luật............................11
KẾT LUẬN.........................................................................................................................................................14
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO..................................................................................................................15


LỜI MỞ ĐẦU

Trong hệ thống pháp luật về thuế của Việt Nam hiện nay có nhiều loại thuế
được áp dụng như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân, thuế xuất
khẩu thuế nhập khẩu, … Mỗi loại thuế đều đóng một vai trò nhất định trong việc
tạo nguồn thu cho ngân sách nhà nước cũng như thực hiện chính sách điều tiết kinh
tế, tiêu dùng của nhà nước. Thuế giá trị gia tăng là một trong những loại thuế được
áp dụng phổ biến hiện nay, rất gần gũi với các nhà sản xuất, kinh doanh lẫn người
tiêu dùng. Đây là một loại thuế “trẻ” trên thế giới cũng như ở Việt Nam, nhưng tính
chất và việc áp dụng nó đã thể hiện nhiều điểm tích cực.
Đối với Việt Nam, thuế giá trị gia tăng từ khi được áp dụng đã thể hiện nhiều
ưu điểm và phát huy được những lợi thế của nó. Tuy nhiên, với một nền kinh tế
đang trong giai đoạn quá độ - kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – việc
áp dụng pháp luật nói chung và pháp luật về thuế giá trị gia tăng nói riêng còn
không ít những vấn đề cần quan tâm.
Xem xét các yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia
tăng để tìm ra những nguyên nhân của nó và đưa ra hướng hoàn thiện là một vấn đề
cấp thiết vì loại thuế này có mức độ ảnh hưởng rộng đối với người nộp thuế cũng
như đối tượng chịu thuế, và là một trong những nguồn thu cơ bản của ngân sách
nhà nước. Nâng cao được hiệu lực thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam sẽ giúp cho nhà sản xuất, người tiêu dùng và các chủ thể quản lý nhận thức rõ
vai trò và vị trí của thuế, tự nguyện thực hiện và đảm bảo thực hiện đúng đắn pháp
luật về loại thuế này.
Bài làm sẽ xem xét những vấn đề liên quan về thuế giá trị gia tăng, pháp luật
về thuế giá trị gia tăng; dựa vào pháp luật thực định và thực tiễn áp dụng để đánh
giá những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng ở Việt
Nam hiện nay.


I. Một số vấn đề chung về thuế giá trị gia tăng.
1. Khái niệm, bản chất và đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
a. Khái niệm thuế giá trị gia tăng
Thuế giá trị gia tăng là loại thuế tiêu dùng nhằm động viên một bộ phận thu
nhập của người chịu thuế đã sử dụng để mua hàng hóa và được cung cấp dịch vụ.
Đây là thuế thu trên phần giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong
quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.
Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế hiện đại, được các nhà kinh tế nghiên
cứu từ những năm 1920 nhưng đến tận năm 1954 thì phương thức thu thuế đối với
phần giá trị tăng thêm của hàng hóa mới được áp dụng đầu tiên ở Pháp. Từ năm
1968, Pháp mở rộng diện áp dụng đối với dịch vụ. Do có những ưu thế về việc thu
không gây ra tình trạng đánh thuế trùng lặp nên thuế này được nhiều nước áp dụng.
Năm 1977, Liên minh châu Âu ra Nghị quyết số 06 về hoàn thiện cơ chế thu thuế


giá trị gia tăng và xem việc áp dụng nó là điều kiện gia nhập cộng đồng. Hiện nay,
có khoảng 120 quốc gia, vùng lãnh thổ đã áp dụng loại thuế này.
b. Bản chất của thuế giá trị gia tăng
Bản chất của thuế giá trị gia tăng là thuế gián thu. Thuế thu đối với người
tiêu dùng thông qua việc nộp thuế của người sản xuất, kinh doanh. Tính gián thu
của loại thuế gián thu thể hiện ở chỗ người nộp thuế và người thực tế chịu thuế
khác nhau. Người nộp thuế là người sản xuất, kinh doanh nhưng người thực tế chịu
thuế là người tiêu dùng hàng hóa, dịch vụ vì số thuế nhà nước thu là một bộ phận
cấu thành của giá hàng hóa, dịch vụ. Do tính gián thu này mà thuế giá trị gia tăng
có khả năng điểu tiết tiêu dùng xã hội. Đây cũng là một loại thuế đem lại nguồn thu
lớn cho ngân sách, dễ quản lý vì người sản xuất, kinh doanh không phải là người
thực tế chịu thuế nên sẽ hạn chế động cơ trốn thuế.


Vì thuế giá trị gia tăng cấu thành một phần trong giá bán (giá cả hàng hóa,
dịch vụ) nên loại thuế này có ảnh hưởng trực tiếp dến sức tiêu dùng trong nước
cũng như chỉ số lạm phát của nền kinh tế. Nhà nước cần quan tâm đến vấn đề này
để quyết định những chính sách thuế suất hợp lý trong những giai đoạn nhất định
để đảm bảo khi thực hiện thuế giá trị gia tăng không gây ra những xáo trộn lớn
trong dân chúng.
c. Đặc điểm của thuế giá trị gia tăng.
- Thứ nhất, thuế giá trị gia tăng có đối tượng chịu thuế rất rộng. Mọi người
tiêu dùng trong xã hội khi mua hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ đều phải chi trả một
phần thu nhập của mình để thụ hưởng kết quả sản xuất của nền kinh tế xã hội. Loại
thuế này thể hiện sự công bằng trong chính sách thuế của nhà nước, đồng thời cũng
là công cụ để nhà nước điều tiết tiêu dùng xã hội: đánh thuế thấp đối với những
hàng hóa, dịch vụ được khuyến khích tiêu dùng và đánh thuế cao đối với những
hàng hóa, dịch vụ cần hạn chế tiêu dùng.
- Thứ hai, thuế giá trị gia tăng chỉ tính trên phần giá trị tăng thêm của hàng
hóa dịch vụ, cho nên không gây đột biến về giá cho người tiêu dùng.
- Thứ ba, nếu dựa trên giá mua cuối cùng của hàng hóa dịch vụ thì số thuế
giá trị gia tăng phải nộp không thay đổi phụ thuộc vào các giai đoạn lưu thông khác
nhau. Đây chính là tính liên hoàn của loại thuế này, và cũng là ưu việt của nó so với
thuế hàng hóa dịch vụ thông thường (thuế doanh thu) mà Việt Nam và nhiều quốc
gia đã áp dụng trong giai đoạn trước đây.
Trong tương quan so sánh với thuế doanh thu trước đây, thuế giá trị gia tăng
được coi là mọt loại thuế lý tưởng khi thỏa mãn bốn tiêu chuẩn: (i) đơn giản về mặt
kỹ thuật, tức là không tạo ra cơ hội trốn thuế: thuế suất áp dụng không ở nhiều
mức; (ii) hiệu quả về mặt tài chính, do chủ thể chịu thuế và đối tượng chịu thuế rất
rộng; (iii) công bằng về mặt xã hội: cơ chế đánh thuế của nó với mức thuế suất thấp


đánh vào các mặt hàng tiêu dùng thông thường và mức cao đánh vào các mặt hàng
xa xỉ, nhờ đó nó góp phần vào phân phối lại thu nhập tức là đưa lại kết quả phân
phối lại của cải xã hội; và (iv) có tác dụng khuyến khích về mặt kinh tế, tức là có
tác động thúc đẩy kinh tế phát triển nhờ vào cơ chế khấu trừ thuế đầu vào và miễn
thuế đối với hàng xuất khẩu.
2. Pháp luật về thuế giá trị gia tăng trong hệ thống pháp luật Việt Nam
Pháp luật thuế giá trị gia tăng là tổng hợp các quy phạm pháp luật do nhà
nước ban hành điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong quá trình đăng ký, kê khai,
nộp thuế, quản lý và quyết toán thuế giá trị gia tăng.
Pháp luật thuế giá trị gia tăng có hai đặc điểm cơ bản:
- Có tác động trong phạm vi rộng, đến tất cả các đối tượng có thu nhập, sử
dụng một phần thu nhập để phục vụ đời sống trong xã hội.
- Chỉ có thể được ban hành khi các điều kiện áp dụng đạt đến mức độ nhất
định, đặc biệt là các tiêu chuẩn về kế toán, chứng từ hóa đơn và khả năng quản lý
hành chính của các cơ quan tham gia quản lý, thu thuế.

II. Những yếu tố ảnh hưởng đến việc thực thi pháp luật thuế giá trị
gia tăng ở nước ta hiện nay.
1. Những yếu tố tích cực.
Một là, với diện chủ thể chịu thuế và đối tượng chịu thuế rộng; là loại thuế
gián tiếp không gây tác động lớn đến sự biến đổi giá cả và là thuế gián thu, thuế giá
trị gia tăng đã tạo ra nguồn thu thường xuyên và ổn định cho ngân sách nhà nước.
Có thể nhận thấy những loại thuế như thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá
nhân, thuế xuất khẩu nhập khẩu ...trong thời kỳ kinh tế suy thoái thường bị tác động
rất lớn. Tuy nhiên, đối với thuế giá trị gia tăng thì ngay cả trong thời kỳ kinh tế đi
xuống, nhà nước vẫn thu được một khi người tiêu dùng vẫn còn tiêu dùng. Hơn
nữa, tiêu dùng của xã hội càng ngày càng tăng. Do đó, nguồn thu ngân sách nhà


nước từ thuế giá trị gia tăng rất thường xuyên và ổn định. Các cơ quan nhà nước
nói chung và những chủ thể có trách nhiệm trong việc tính thuế, thu thuế có trách
nhiệm đối với việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia tăng nhằm đảm bảo thu đúng,
thu đủ loại thuế này.
Hai là, với việc quy định thuế suất 0% đối với hàng hóa xuất khẩu, và với
tính liên hoàn của nó, thuế giá trị gia tăng cũng là một yếu tố góp phần khuyến
khích hoạt động sản xuất, chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu. Hàng hóa, dịch
vụ qua nhiều khâu nhưng số tiền thuế không đổi nên những người sản xuất, kinh
doanh có thể chia nhỏ quá trình sản xuất ra mà không lo tăng giá. Với lợi thế này,
thuế giá trị gia tăng được các chủ thể sản xuất, kinh doanh quan tâm và áp dụng để
bảo vệ quyền lợi hợp pháp cho mình và tận dụng được chính sách của nhà nước để
tìm được lợi nhuận từ các hoạt động kinh doanh, đặc biệt là xuất khẩu.
Ba là, thuế giá trị gia tăng được tính toán trên cơ sở các hóa đơn, chứng từ
hợp pháp và hiện nay công tác hạch toán, kế toán của các doanh nghiệp cũng đã
hoàn thiện và ổn định dần. Đây là cơ sở để việc áp dụng thuế giá trị gia tăng được
dễ dàng, thuận lợi, minh bạch, hạn chế được gian lận về thuế.
Bốn là, hiện nay pháp luật Việt Nam quy định hai phương pháp tính thuế:
phương pháp khấu trừ và phương pháp trừ trực tiếp. So với nhiều quốc gia trên thế
giới chỉ áp dụng phương pháp khấu trừ thì ở Việt Nam, việc áp dụng hai cách tính
này là điểm phù hợp với nền kinh tế thị trường còn non trẻ. Các chủ thể kinh doanh
với mô hình chặt chẽ, hệ thống kế toán hoàn chỉnh và được phép sử dụng hóa đơn
sẽ được áp dụng phương pháp khấu trừ:
Thuế GTGT nộp = Thuế GTGT đầu ra – Thuế GTGT đầu vào.
Còn những mô hình không chặt chẽ, chi phí thấp, tiết kiệm, đơn giản và chỉ
sử dụng hóa đơn bán lẻ thì áp dụng phương pháp trừ trực tiếp:
Thuế GTGT nộp = GTGT X thuế suất.


Năm là, về quy định hoàn thuế của thuế giá trị gia tăng: Nhà nước sẽ trả lại
phần tiền thuế đã nộp vượt quá nghĩa vụ của người nộp thuế (áp dụng phương pháp
khấu trừ). Đây cũng là điểm tác động đến việc minh bạch hóa công tác hạch toán,
kế toán ở các mô hình sử dụng phương pháp khấu trừ và các quy định về hoàn thuế
được các chủ thể thực hiện nghiêm túc. Ngoài ra, với việc hoàn thuế đối với các dự
án đầu tư có thuế đầu vào 200 triệu đồng – một dạng của tín dụng thuế, một loại ưu
đãi của nhà nước nhằm khuyến khích đầu tư, quy định này cũng đóng vai trò trong
việc thực thi luật thuế giá trị gia tăng trong thực tiễn.
2. Những yếu tố hạn chế.
a. Các quy định của pháp luật
Một là, về đối tượng không chịu thuế: Xuất phát từ chủ trương thực hiện ưu
đãi về thuế, luật thuế giá trị gia tăng đã quy định 25 loại hàng hóa dịch vụ thuộc
diện không chịu thuế. Phạm vi này có thể coi là rộng. Thực tế cho thấy trong quá
trình áp dụng, nhiều trường hợp quy định về đối tượng không chịu thuế đã có
những kết quả đi ngược lại với ý đồ của nhà làm luật. Sự ưu đã này đưa đến kết quả
áp dụng không thống nhất trong phương pháp khấu trừ, ảnh hưởng đến lợi ích kinh
tế của các chủ thể. Khi sử dụng các hàng hóa dịch vụ được miễn thuế để sản xuất ra
các hàng hóa dịch vụ không được miễn thuế và ngược lại, có thể dễ dàng nhận thấy
thuế giá trị gia tăng đã chưa được tính toán một cách hợp lý. Ví dụ, dịch vụ y
tế thuộc diện không chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định tại Điều 5.9 Luật Thuế
giá trị gia tăng 2008, khi cung cấp các dịch vụ này sẽ không phát sinh thuế giá trị
gia tăng, các phòng khám không phải nộp thuế giá trị gia tăng; nhưng khi mua thiết
bị và dụng cụ y tế, thuốc chữa bệnh... lại phải chịu 5% thuế giá trị gia tăng đầu
vào theo quy định tại Điều 8.2.1 Luật Thuế giá trị gia tăng. Do không có thuế giá trị
gia tăng đầu ra để khấu trừ nên toàn bộ số thuế giá trị gia tăng đã trả khi mua các


thiết bị, thuốc men phục vụ cho việc chữa bệnh sẽ phải tính cả vào giá dịch vụ y
tế, gây khó khăn cho người dân khi khám chữa bệnh.
Hai là, về phương pháp tính thuế giá trị gia tăng: phương pháp từ trực tiếp có
những hạn chế nhất định. Số thuế GTGT phải nộp theo phương pháp này được tính
theo công thức:
Thuế GTGT phải nộp = GTGT

X

Thuế suất

Phương pháp này cần phải tính trực tiếp phần giá trị gia tăng của hàng hóa
dịch vụ phát sinh trong cả quá trình sản xuất – lưu thông – tiêu dùng. Về mặt lý
thuyết, điều này có vẻ dễ thực hiện: giá trị gia tăng của hàng hóa dịch vụ bằng giá
thanh toán của hàng hóa dịch vụ bán ra trừ giá hàng hóa dịch vụ mua vào tương
ứng. Tuy nhiên, ngay trong tính toán lý thuyết thì cách này cũng đã thể hiện tính
bất hợp lý. Có thể thấy rõ điều này qua phân tích dưới đây:
Giả sử: các khâu kinh doanh như sau: A bán hàng cho B, B mua hàng từ A và
sử dụng nó làm nguyên vật liệu sản xuất, sản phẩm của B được bán cho C.
A ---------- B----------- C
(P1

-

P2

-

P3 )

Thuế suất thuế giá trị gia tăng là t.
Phương pháp khấu trừ sẽ được tính theo bảng sau:
Khâu

Giá

Thuế GTGT đầu ra

Thuế GTGT

Giá bán

kd

chưa thuế

(ghi ở hóa đơn bán hàng)

phải nộp

(Giá có thuế)

1
2
3

P1
P2
P3

P1 . t
P2 . t
P3 . t

P1 . t
(P2 – P1) . t
(P3 – P2) . t

P1 (1+t)
P 2 (1+t)
P 3 (1+t)

Với phương pháp trừ trực tiếp thì thuế giá trị gia tăng phải nộp sẽ là:
[ P3 ( 1 + t ) – P 2 ( 1 + t ) ] . t
= ( P 3 – P2 ) . t + ( P 3 – P2 ) . t2


Phương pháp trừ trực tiếp cho kết quả lớn hơn so với phương pháp khấu trừ, vì nó
đã không trừ đi những phần thuế đã nộp trước đó.
Như vậy, giá tính thuế của phương pháp trừ trực tiếp không phải là giá chưa
có thuế giá trị gia tăng mà là giá đã bao gồm thuế giá trị gia tăng – vi phạm nguyên
tắc giá tính thuế là giá chưa có thuế giá trị gia tăng. Điều này đã gây ra sự bất bình
đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ và
đối tượng nộp theo phương pháp tính trực tiếp. Pháp luật thuế giá trị gia tăng đã
không đảm bảo được nguyên tắc dù tính thuế theo phương pháp nào thì phải nộp
thuế như nhau, áp dụng thuế suất như nhau.
Vấn đề thuế đánh chồng thuế tiếp tục cần phải điều chỉnh lại khi xem xét
trường hợp các đối tượng nộp thuế theo phương pháp khấu trừ có quan hệ giao dịch
với đối tượng nộp thuế theo phương pháp trực tiếp và ngược lại. Ví dụ: doanh
nghiệp A (nộp thuế theo phương pháp khấu trừ) mua hàng của hộ kinh doanh B
(nộp thuế theo phương pháp trừ trực tiếp) thì hộ kinh doanh B chỉ có thể cung cấp
hóa đơn bán lẻ cho doanh nghiệp A, và doanh nghiệp A sẽ không được trừ thuế giá
trị gia tăng đầu vào.
Ba là, pháp luật thuế giá trị gia tăng chưa có quy định về một số nội dung
quan trọng, như thời điểm phát sinh cũng như thời điểm kết thúc nghĩa vụ thuế giá
trị gia tăng, phạm vi lãnh thổ của nghĩa vụ thuế giá trị gia tăng, hoặc quyền đòi lại
thuế của doanh nghiệp trong trường hợp nghiệp vụ chuyển giao hàng hóa hoặc
cung cấp dịch vụ bị hủy bỏ hoặc không đòi được tiền, nên không phân biệt được
một cách rạch ròi giữa quyền hạn và trách nhiệm giữa quyền lợi và nghĩa vụ của
các bên khi tham gia các quan hệ pháp luật thuế giá trị gia tăng.
b. Sự lợi dụng chính sách của các chủ thể sản xuất, kinh doanh và thói quen
tiêu dùng của người dân.
Chính sách thuế giá trị gia tăng chủ yếu bị lợi dụng là hoàn thuế. Các doanh
nghiệp thường khai khống hóa đơn bán hàng để làm sai lệch thuế giá tính thuế giá


trị gia tăng. Giá ghi trong hóa đơn chứng từ thường thấp hơn rất nhiều so với giá
bán thực tế, đặc biệt là các mặt hàng tiêu dùng. Ví dụ thường gặp đó là các đại lý
bán xe máy. Nhờ vào thủ đoạn này, các doanh nghiệp luôn ở trong tình trạng thua
lỗ trên giấy tờ - không phải nộp thuế thu nhập doanh nghiệp lẫn thuế giá trị gia
tăng. Trong khi đó, người tiêu dùng hầu như không quan tâm đến vấn đề này vì họ
chỉ cần biết giá thực tế họ mua được là bao nhiêu. Việc làm này của người tiêu
dùng đã tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp trốn thuế, vừa nhận được một
khoản lợi bất chính từ việc hoàn thuế của nhà nước, do giá đầu vào thường được
khai cao hơn giá đầu ra.
Đối với hàng hóa xuất khẩu hoặc một số hàng hóa được áp dụng mức thuế
5%, các doanh nghiệp có thể lợi dụng sự ưu đãi này trong việc khai khống bản kê
mua bán hàng hóa là nông lâm thủy sản chưa qua chế biến của người bán không có
hóa đơn để chiếm đoạt tiền khấu trừ, hoàn thuế giá trị gia tăng; lập hồ sơ khống
hàng nông, lâm, thủy sản chưa qua chế biến xuất khẩu qua đường biên giới đất liền
để chiếm đoạt tiền hoàn thuế...
Việc sử dụng hóa đơn, chứng từ là công cụ để tính toán thuế giá trị gia tăng
cũng bị lợi dụng bởi việc mua bán hóa đơn chứng từ giả bởi các “doanh nghiệp
ma”. Với những hóa đơn này, giá đầu vào của các doanh nghiệp được đội lên rất
lớn. Nhà nước không những không thu được thuế vào ngân sách mà còn phải trích
ngân sách để hoàn thuế giá trị gia tăng cho các doanh nghiệp làm ăn phi pháp. Điều
này là một trong những yếu tố làm hạn chế tính cạnh tranh lành mạnh của thị
trường, và hạn chế khả năng phát triển của các doanh nghiệp chân chính.


III. Nâng cao hiệu quả trong việc thực thi pháp luật thuế giá trị gia
tăng ở Việt Nam.
1. Hoàn thiện pháp luật.
Pháp luật thuế giá trị gia tăng hiện nay đã được coi là một thành công trong
hệ thống pháp luật Việt Nam, tuy nhiên, với những phân tích trên đây, cho thấy vẫn
còn một số điểm hạn chế. Giải pháp hoàn thiện pháp luật thuế giá trị gia tăng là:
- Thu hẹp diện đối tượng được miễn thuế. Trong xã hội hiện nay thì vấn đề
tiêu dùng đã trở nên đa dạng, phong phú và phức tạp. Khi đối tượng được miễn
thuế còn nhiều thì việc nhà nước điều chỉnh các đối tượng này về việc đánh thuế
giá trị gia tăng sẽ bị hạn chế. Nó tạo ra sự bất bình đẳng giữa các chủ thể nộp thuế
và hạn chế khả năng thu ngân sách từ các đối tượng được miễn.
- Điều chỉnh phương pháp tính thuế trừ trực tiếp để đảm bảo sự thống nhất và
công bằng cho các cách tính thuế và các chủ thể phải nộp thuế, tiến tới việc áp
dụng thống nhất phương pháp tính khấu trừ thuế.
- Bổ sung các vấn đề quan trọng mà hiện nay luật thuế giá trị gia tăng còn bỏ
sót.
2. Tăng cường ý thức của người thực thi pháp luật và người chấp hành pháp
luật.
- Huy động người tiêu dùng cùng tham gia chống lại hành vi gian lận thuế
của các doanh nghiệp. Từ trước tới nay, người tiêu dùng vẫn được coi là “tiếp
tay” cho doanh nghiệp trong việc kê khai hóa đơn chứng từ giả do họ không mặn
mà với việc lấy hóa đơn khi mua hàng. Điều này xuất phát từ việc quyền lợi của
người tiêu dùng không bị ảnh hưởng gì từ những chiếc hóa đơn mua hàng, dẫn đến
doanh nghiệp tự do thao túng. Nhà nước cần có chính sách để thay đổi nhận thức
của người tiêu dùng về vấn đề này, đồng thời bảm đảo quyền lợi của họ.
Hiện nay, người dân phải chịu thuế thu nhập cá nhân và cả thuế giá trị gia
tăng khi đi mua hàng. Về bản chất, đây là việc thuế đánh chồng lên thuế khiến


người tiêu dùng chịu nhiều thiệt thòi. Cơ quan quản lí thuế nên xem xét việc khấu
trừ thuế giá trị gia tăng cho người tiêu dùng. Như vậy khiến người dân không
bị đánh chồng thuế đồng thời khuyến khích họ lấy hóa đơn khi mua hàng. Một khi
người dân được khấu trừ thuế giá trị gia tăng thì việc họ lấy hóa đơn khi mua hàng
hóa là điều tất yếu để tính thuế khấu trừ. Điều này có thể giúp giải quyết tình trạng
các doanh nghiệp kinh doanh hàng hóa không xuất hóa đơn. Cơ quan thuế có thể
cho phép người dân khấu trừ thuế theo tháng, quý hoặc theo năm theo công thức:
Số thuế TNCN phải nộp trong tháng (hoặc trong quý) = Số thuế TNCN phải
nộp trong tháng (hoặc trong quý) theo cách tính hiện hành - Số thuế GTGT trên
hóa đơn mua hàng trong tháng (hoặc trong quý).
Ngoài ra, trong tháng hoặc trong quý có số thuế GTGT được khấu trừ lớn
hơn số thuế TNCN phải nộp theo cách tính hiện hành thì được kết chuyển sang
tháng, quý hoặc năm sau nhưng không được kê khai hoàn thuế GTGT như vậy
thì mới khuyến khích người dân lấy đủ hóa đơn khi mua hàng. Điều này sẽ giúp
giải quyết triệt để tình trạng các doanh nghiệp bán hàng không xuất hóa đơn trên
toàn quốc.
- Tăng cường công tác quản lý thuế: Bên cạnh những đường lối chính sách
đúng đắn thì một yếu tố cũng cần phải được nâng cấp nhằm chống lại các hành vi
tiêu cực đó là năng lực quản lí của các cơ quan quản lí thuế cùng đội ngũ cán
bộ chuyên ngành có trình độ. Cần cải thiện một số vấn đề sau:
+ Tăng cường tính minh bạch, công khai của quy trình quản lý thuế
GTGT, quy định thống nhất trong Luật quản lý thuế; đẩy mạnh công tác thông tin,
tuyên truyền, giáo dục kiến thức chung về pháp luật thuế đến mọi đối tượng trong
xã hội nhằm nâng cao nhận thức của các tầng lớp dân cư trong xã hội về nghĩa vụ
nộp thuế, từng bước cải thiện tính tuân thủ pháp luật về thuế của các đối tượng.
+ Tăng cường và hợp lí hóa quy trình quản lí hóa đơn, sổ sách, chứng
từ kế toán. Hiện nay chế độ kế toán, thông tin báo cáo, hóa đơn chứng từ còn nhiều


bất cập, chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời để làm cơ sở cho việc tính toán
và xác định nghĩa vụ thuế một cách chính xác và hiệu quả. Do đó, cần cải cách
chế độ kế toán, thông tin báo cáo, hóa đơn chứng từ cho phù hợp với từng loại hình
doanh nghiệp và đối tượng nộp thuế nhằm đảm bảo tính rõ rang, minh bạch trong
tính toán, xác định nghĩa vụ thuế và hoàn thuế.
+ Đẩy mạnh công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát đối tượng nộp thuế kết
hợp với tăng cường sự phối hợp giữa cơ quan thuế với các cơ quan chức năng
trong công tác quản lí thuế nhằm đảm bảo thiết lập trật tự, kỷ cương trong quản
lí thuế GTGT, đặc biệt là khâu hoàn thuế.
+ Khuyến khích phát triển hệ thống dịch vụ tư vấn thuế dưới cả hình thức
Nhà nước (do cơ quan thuế tổ chức) và tư nhân (do các doanh nghiệp tư vấn thuế tổ
chức thực hiện) để đảm bảo nâng cao hiệu quả của công tác quản lí thuế, đặc biệt là
tiết kiệm chi phí đối với người nộp thuế.
+ Tăng cường đào tạo nghiệp vụ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp cho
đội ngũ cán bộ thuế. Hiện nay, đại bộ phận đội ngũ cán bộ thuế chưa có kĩ năng
chuyên nghiệp, chưa được đào tạo bài bản về nghiệp vụ và đạo đức nghề nghiệp,
khả năng ứng dụng công nghệ tin học vào quản lí thuế chưa phù hợp với yêu cầu
cải cách hành chính thuế. Thái độ và phong cách ứng xử của một bộ phận cán
bộ thuế chưa thật sự tận tụy, công tâm, chưa coi đối tượng nộp thuế là khách hàng
để có thái độ, chất lượng phục vụ tốt. Một bộ phận cán bộ thuế còn thiếu tinh thần
trách nhiệm, thông đồng với đối tượng nộp thuế gây thất thu ngân sách hoặc gây
khó khăn cho đối tượng nộp. Do đó, cần tổ chức lại và kiện toàn bộ máy cơ quan
thuế kết hợp với tăng cường đào tạo chuyên sâu về chuyên môn và đạo đức
nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ thuế nhằm tạo ra cơ sở vững chắc về tổ chức
bộ máy và con người để nâng cao hiệu quả công tác quản lý thu thuế.


KẾT LUẬN
Thuế giá trị gia tăng là một loại thuế mới được áp dụng trên thế giới cũng
như ở Việt Nam nhưng có nhiều ưu điểm và tạo ra nguồn thu lớn, ổn định, thường
xuyên cho ngân sách nhà nước; là công cụ để nhà nước điều chỉnh tiêu dùng. Phát
huy được vai trò của loại thuế này trong đời sống sẽ là cơ sở để nhà nước thực hiện
được các chính sách của mình


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Bộ Tư pháp – Viện Khoa học pháp lý – Từ điển Luật học – NXB Từ điển
Bách khoa, NXB Tư Pháp – H, 2006.
2. Bộ Tư pháp – Vụ Phổ biến, giáo dục pháp luật; Bộ Tài chính – Vụ Pháp chế Đề

cương

giới

thiệu

Luật

Thuế

giá

trị

gia

tăng.

Nguồn:

http://danketoan.com/forum/thue-gtgt/de-cuong-gioi-thieu-thuegtgt.94412.html
3. Phạm Thị Minh Lý & Lại Xuân Thủy – ĐH Kinh tế - ĐH Huế - Một số vấn
đề lý luận và thực tiễn áp dụng thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam – Tạp chí
Khoa học Đại học Huế - số 19/2003, trang 5-11 – Nguồn:
http://www.hce.edu.vn/hsv/showthread.php?t=25174
4. Trường Đại học Luật Hà Nội – Giáo trình Luật thuế Việt Nam – NXB Tư
pháp – HN, 2005



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×