Tải bản đầy đủ

Ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi , gừng, nghệ vào khẩu phần đến năng suất và chất lượng trứng của gà isa shaver nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa chăn nuôi – thú y trường đại học nông lâm thái nguyên

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

ĐINH THỊ TÌNH
Tên đ ề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT TỎI, GỪNG, NGHỆ VÀO
KHÂU PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA
GÀ ISA SHAVER NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA
CHĂN NUÔI THÚ Y – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành : Chăn nuôi thú y
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2017

Thái nguyên, năm 2017



ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------

ĐINH THỊ TÌNH
Tên đ ề tài:
ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG BỘT TỎI, GỪNG, NGHỆ VÀO
KHÂU PHÂN ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG TRỨNG CỦA
GÀ ISA SHAVER NUÔI TẠI TRẠI CHĂN NUÔI GIA CẦM KHOA
CHĂN NUÔI THÚ Y – TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy
Chuyên ngành: Chăn nuôi thú y
Lớp: K45 - CNTY - N04
Khoa: Chăn nuôi thú y
Khóa học: 2013 - 2017
Giáo viên hướng dẫn: TS. Cù Thị Thúy Nga

Thái nguyên, năm 2017


i

LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái
Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ
quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm
khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình
giảng dạy, dìu dắt tôi hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho tôi có được
lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này.
Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban
Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo
trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn
khóa học.
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên
hướng dẫn TS. Cù Thị Thúy Nga đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi
điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận.
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp và


những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những
tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập
nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này.
Cuối cùng, tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe,
hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2017
Sinh viên
Đinh Thị Tình


ii

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT


ii

BQ Cs
KPCS
Nxb
TTTĂ

TB


nh
qu
ân



C
ộn
g
sự

T

K
h

u
p
h

n
c
ơ
s

N
h
à
x
u

t
b

n

i
ê
u
t

n
t
h

c
ă
n
T
h

c
ă
n
Trun
g
bình


iii

DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1. Sơ đồ bố trí thí nghiệm ................................................................... 31
Bảng 3.2. Giá trị thức ăn trong thí nghiệm (ghi trên bao bì) .......................... 32
Bảng 3.3. Nhiệt độ và mật độ nuôi ................................................................. 32
Bảng 3.4. Quy trình phòng bệnh bằng vắc xin cho gà .................................... 33
Bảng 4.1. Chế độ chiếu sáng cho đàn gà ........................................................ 36
Bảng 4.2. Kết quả công tác phục vụ sản xuất ................................................. 38
Bảng 4.3: Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến tỷ lệ đẻ qua
các tuần tuổi (n=3)
................................................................................................. 39
Bảng 4.4: Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến năng suất
trứng qua các tuần tuổi (n=3)
.................................................................................... 40
Bảng 4.5. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến khối lượng
trứng của gà thí nghiệm (n = 3)...................................................................... 42
Bảng 4.6. Ảnh hưởng của bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến tỷ lệ lòng đỏ của
trứng gà thí nghiệm (n = 3) ............................................................................. 43
Bảng 4.7. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến tỷ lệ lòng
trắng của trứng gà thí nghiệm (n = 3) ............................................................. 44
Bảng 4.8. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến chỉ tiêu tỷ lệ
vỏ của trứng ở gà thí nghiệm (n=3) ................................................................ 45
Bảng 4.9. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến chỉ số lòng
đỏ của trứng ở gà thí nghiệm (n=3) ................................................................ 46
Bảng 4.10. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột, tỏi, gừng, nghệ đến chỉ số lòng
trắng của trứng gà thí nghiệm ( n=3) .............................................................. 47


iv

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN .................................................................................................... i
DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT ........................................................ ii
DANH MỤC CÁC BẢNG............................................................................... iii
MỤC LỤC ........................................................................................................ iv
LỜI NÓI ĐẦU ................................................................................................. 1
Phần 1 ĐẶT VẤN ĐỀ ..................................................................................... 2
1.1. Đặt vấn đề................................................................................................... 2
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài ................................................................... 2
1.2.1. Mục tiêu của đề tài .................................................................................. 2
1.2. 2. Yêu cầu của đề tài .................................................................................. 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài ...................................... 3
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU .................................................................. 4
2.1. Cơ sở khoa học........................................................................................... 4
2.1.1. Nguồn gốc của gia cầm ........................................................................... 4
2.1.2. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm .................................
5
2.1.3. Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm............. 16
2.1.4. Vai trò của tỏi, gừng và nghệ đối với động vật..................................... 17
2.1.5. Vài nét về gà thí nghiệm ....................................................................... 25
2.2. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước .............................................. 26
2.2.1. Tình hình nghiên cứu trong nước.......................................................... 26
2.2.2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước ......................................................... 29
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU ...... 30
3.1. Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu .......................................... 30
3.2. Nội dung nghiên cứu ................................................................................ 30
3.3. Mục tiêu cần đạt được khi kết thúc đề tài ................................................ 30


v

3.4. Phương pháp nghiên cứu.......................................................................... 30
3.4.1. Phương pháp bố trí thí nghiệm.............................................................. 31
3.4.2 Các yêu cầu về kĩ thuật .......................................................................... 32
3.4.3. Các chỉ tiêu và phương pháp theo dõi................................................... 33
3.5. Phương pháp xử lý số liệu........................................................................ 34
Phần 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN.......................................................... 35
4.1. Công tác phục vụ sản xuất ....................................................................... 35
4.1.1. Công tác chăn nuôi ................................................................................ 35
4.1.2. Công tác thú y ....................................................................................... 37
4.2. Kết quả nghiên cứu .................................................................................. 38
4.2.2. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi, gừng, nghệ đến năng suất trứng của
gà thí nghiệm ................................................................................................... 39
4.2.3. Ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi, gừng, nghệ đến một số chỉ tiêu chất
lượng trứng ...................................................................................................... 41
Phần 5 KẾT LUẬN VA ĐÊ NGHI .............................................................. 48
5.1. Kết luận .................................................................................................... 48
5.2. Đê nghi ..................................................................................................... 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 49


1
LỜI NÓI ĐẦU
Để trở thành kỹ sư chăn nuôi trong tương lai, ngoài việc trang bị cho
mình một lượng kiến thức lý thuyết, mỗi sinh viên còn phải trải qua giai đoạn
tiếp cận với thực tế sản xuất. Chính vì vậy, thực tập tốt nghiệp là khâu rất
quan trọng đối với tất cả các sinh viên trường Đại học nới chung cũng như
sinh viên trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng. Đây là thời gian
cần thiết để sinh viên củng cố và áp dụng những kiến thức đã học trong nhà
trường vào thực tế, thực hiện phương châm “học đi đôi với hành”.
Thực tập tốt nghiệp cũng là quá trình giúp cho sinh viên rèn luyện tác
phong khoa học đúng đắn, tạo lập tư duy sáng tạo để trở thành kỹ sư có trình
độ năng lực làm việc, góp phần vào việc xây dựng và phát triển nông thôn
mới nói riêng và đất nước nói chung.
Xuất phát từ thực tế chăn nuôi, được sự nhất trí của Nhà trường và Ban
chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên,
được sự phân công của giáo viên hướng dẫn, tôi tiến hành đề tài: ‘‘Ảnh
hưởng của việc bổ sung bột tỏi , gừng, nghệ vào khẩu phần đến năng suất
và chất lượng trứng của gà Isa Shaver nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm khoa
Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”. Được sự
giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn TS. Cù Thị Thúy Nga, cùng với sự
nỗ lực của bản thân, tôi đã hoàn thành khóa luận này. Do thời gian và kiến
thức có hạn, bước đầu làm quen với công tác nghiên cứu nên khóa luận không
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy, tôi mong nhận được sự đóng góp quý báu
của các thầy giáo, cô giáo và các bạn đồng nghiệp để khóa luận của tôi được
hoàn chỉnh hơn.


2
Phần 1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Đặt vấn đề
Hiên nay, chăn nuôi theo hương sinh hoc, hương tơi san phâm sach va an
toàn, không con hiên tương tôn dư khang sinh hay hoa chât đôc hai anh
hương xâu đên sưc khoe cua con ngươi , đam bao sưc khoe gia suc , gia câm la
mục tiêu hàng đầu của các nhà kho a hoc va cac nha chăn nuôi . Viêc ưng
dung các chất có nguồn gốc thiên nhiên có trong các loại thảo dược đang được
mở rông nghiên cưu va la biên phap phong bênh tôt nhât nhăm nâng cao năng
suât, chât lương va sưc khoe vât nuôi.
Đã từ lâu, con người đã biết công dụng của một số thảo dược và ứng
dụng trong chăn nuôi. Với tiến bộ khoa học kỹ thuật, con người đã tìm ra một
số hoạt chất sinh học cao trong thảo dược như các hợp chất sulphuric và
allicin có trong tỏi, zingerol và shogaola có trong gừng, curcumin có trong
nghệ…các chất này có tác dụng kích thích hoạt động hệ thống miễn dịch, cải
thiện tăng khối lượng, giảm tiêu tốn thức ăn , tư đo lam tăng hiêu qua kinh tê ,.
bên cạnh đó, còn phòng chữa một số bệnh cho người và động vật (Đỗ Huy
Bích và cs, 2004) [ 2 ].
Xuất phát từ những lý do đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài:
‘‘Ảnh hưởng của việc bổ sung bột tỏi, gừng, nghệ vào thức ăn đ ến năng
suất và chất lượng trứng của gà Isa Shaver nuôi tại trại chăn nuôi gia cầm
khoa Chăn nuôi – Thú y, trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”.
1.2. Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
1.2.1. Mục tiêu của đề tài
- Biết cách chăm sóc, nuôi dưỡng và quản lý trong chăn nuôi.
- Đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung tỏi,gừng, nghệ vào khẩu phần ăn
của gà Isa shaver đến năng suất và chất lượng trứng.


3
- Làm cơ sở để áp dụng trong chăn nuôi gà để tăng năng suất và chất
lượng trứng.
1.2. 2. Yêu cầu của đề tài
- Theo dõi thu thập đầy đủ và chính xác các số liệu có liên quan đến
năng suất và chất lượng trứng của gà Isa shaver.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn của đề tài
- Kết quả của đề tài có thể làm tài liệu tham khảo để phục vụ cho các
nghiên cứu tiếp theo.
- Có cơ sở khoa học khuyến cáo đối với người chăn nuôi gia cầm trong
việc sử dụng bột tỏi, gừng, nghệ để phòng bệnh cho gia cầm.


4


5
Phần 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1. Cơ sở khoa học
2.1.1. Nguồn gốc của gia cầm
Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã. Qua
quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các
giống gia cầm ngày nay.
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho
rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã. Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên.
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng;
ấp 20 - 21 ngày trứng nở. Khối lượng gà trưởng thành: gà mái khoảng 0,7 kg;
gà trống khoảng 1,0 - 1,1 kg. Gà Banquiva có lông màu sặc sỡ. Gà trống có
lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen,
lông bụng pha đen. Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ. Mỏ, chân
màu vàng đậm, vàng nhạt, đen. Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng
châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê
Hồng Mận, 2007 [9]).
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia
cầm chưa thật đầy đủ. Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà
đầu tiên ở Đông Nam Á. Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự
nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau.
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời. Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng


Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm. Trải qua quá trình phát triển nông
nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,…
những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên (Lê Hồng
Mận, 2007 [9]).
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [12], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học như sau:
Giới (Kingdom): Animan
Ngành (Phylum): Chodata
Lớp (Class): Aver
Bộ (Order): Galliformes
Họ (Famili): Phasiamictace
Chủng (Genus): Gallus
Loài (Species): Gallus Gallus
2.1.2. Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
2.1.2.1 Một số đặc điểm sinh học của gia cầm đẻ trứng
* Cơ quan sinh dục cái của gia cầm
Gồm một buồng trứng và ống dẫn trứng. Buồng trứng có chức năng tạo
lòng đỏ, còn ống dẫn trứng có chức năng tiết ra lòng trắng đặc, lòng trắng
loãng, màng vỏ, vỏ mỏng và lớp keo mỡ bao ngoài vỏ trứng. Thời gian trứng
lưu lại trong ống dẫn trứng từ 23 – 24 giờ.
+ Buồng trứng:
Buồng trứng nằm ở phía trái xoang bụng, hơi thấp hơn thận trái, kích
thước và hình dạng buồng trứng khác nhau tuỳ theo tuổi của gia cầm. Gà con
10 ngày tuổi buồng trứng có hình phiến mỏng, kích thước từ 1- 2 mm, khối
lượng 0,03g, đến 4 tháng tuổi buồng trứng có dạng hình thoi khối lượng
2,66g, đến thời kỳ đẻ trứng thì buồng trứng giống như chùm nho với khối
lượng 55g, ở thời kỳ gà nghỉ đẻ thay lông thì khối lượng buồng trứng giảm
xuống 5g. Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [4] xác định ở
giai đoạn phôi thai, hai phía phải và trái của gà mái đều có buồng trứng phát


triển nhưng sau khi nở thì buồng trứng bên phải tiêu biến chỉ còn lại buồng
trứng bên trái.
Sự phát triển của mỗi tế bào trứng gồm 3 giai đoạn:
+ Thời kỳ tăng sinh của các tế bào trứng bắt đầu xảy ra ngay trong thời
kỳ phát triển phôi thai và kết thúc ở giai đoạn gà con nở ra.
Thời kỳ sinh trưởng gồm có:
+ Thời kỳ sinh trưởng nhỏ: Từ khi gia cầm nở ra đến khi thành thục
về sinh dục.
+ Thời kỳ sinh trưởng lớn: Chỉ từ 4 – 13 ngày, đây là thời kỳ tích luỹ
lớn nhất 90% - 95% khối lượng trứng được tích luỹ trong giai đoạn này. Vào
thời kỳ đẻ đường kính của tế bào trứng 35 – 45 mm.
Số lượng tế bào trứng ở gà mái có thể đến hàng triệu để xác định số
lượng trứng lúc gà bắt đầu đẻ từ 900 – 3600 quả nhưng chỉ có một số lượng
hạn chế trứng chín và rụng (dẫn theo Phạm Thị Minh Thu, 2002 [6]). Trong
thời gian phát triển, lúc đầu các tế bào trứng được bao bọc bởi một tầng tế bào
không có liên kết với biểu bì phát sinh, tầng tế bào này phát triển trở thành
nhiều tầng và sự tạo thành tiến tới bề mặt buồng trứng, cấu tạo này gọi là
follicun. Bên trong follicun có một khoảng hở chứa đầy dịch, bên ngoài
follicun giống như một cái túi. Trong thời kỳ đẻ trứng, nhiều follicun chín dần
làm thay đổi hình dạng buồng trứng trở về hình dạng ban đầu, các follicun
trứng vỡ ra, quả trứng chín chuyển ra ngoài cùng với dịch của follicun và rơi
vào phễu ống dẫn trứng. Sự rụng trứng đầu tiên báo hiệu sự thành thục sinh
dục, đó là quá trình đi ra của tế bào trứng chín. Từ buồng trứng, bình thường
sự rụng trứng chỉ xảy ra một lần trong ngày, có những trường hợp đặc biệt có
thể có hai hoặc ba tế bào trứng cùng rụng một lúc, trường hợp quả trứng của
ngày hôm trước đẻ sau 4 giờ chiều thì phải sang ngày hôm sau mới xảy ra quá
trình rụng trứng. Tính chu kỳ của sự rụng trứng phụ thuộc vào nhiều yếu tố
khác nhau như: điều kiện nuôi dưỡng chăm sóc, lứa tuổi, trạng thái sinh lý
của gia cầm. Song điều chung nhất là sự rụng trứng của gia cầm chịu ảnh
hưởng của thần kinh và thể dịch.


+ Ống dẫn trứng: Là một ống dài có nhiều khúc cuộn, tại đây xảy ra
quá trình thụ tinh và hình thành trứng của gia cầm. Tuỳ thuộc vào hình dạng
và chức năng của ống dẫn trứng mà người ta chia thành các loại khác nhau.
Kích thước và hình dạng ống dẫn trứng thay đổi theo lứa tuổi và các hoạt
động của cơ quan sinh dục. Trước khi đẻ quả trứng đầu tiên ống dẫn trứng dài
ra, khối lượng tăng lên rất nhiều và nó chia thành từng phần khác nhau: ở gà
không đẻ trứng (trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 1 -18cm, ở gà đẻ
trứng (lúc trưởng thành) chiều dài ống dẫn trứng: 55 -68cm, ở thời kỳ thay
lông chiều dài ống dẫn trứng chỉ còn khoảng 7cm.
Theo đặc điểm hình thái và chức năng sinh lý ống dẫn trứng chia thành
5 phần: loa kèn, phần tiết lòng trắng, phần eo, tử cung, âm đạo.
- Loa kèn: Bề mặt niêm mạc loa kèn không có ống tuyến chỉ có phần cổ
phễu có ống tuyến tiết ra một phần lòng trắng đặc và hình thành dây chằng
lòng đỏ. Tại đây trứng được thụ tinh nếu gặp tinh trùng, trứng dừng lại ở đây
khoảng 20 phút.
- Phần tiết lòng trắng: Là bộ phận dài nhất của ống dẫn trứng. Ở thời
kỳ gia cầm đẻ trứng với tỷ lệ cao, chúng có thể dài tới 20 – 30 cm, niêm mạc
phần này có nhiều tuyến hình ống giống như cổ phễu tiết ra lòng trắng đặc
hình thành dây chằng lòng đỏ và tiết ra lòng trắng loãng, trứng dừng ở đây
khoảng 3 giờ.
- Phần eo: Là phần hẹp hơn của ống dẫn trứng, dài khoảng 8cm, các
tuyến ở đây tiết ra một phần lòng trắng và tiết ra một chất hạt hình thành nên
tấm màng dưới vỏ gồm 2 lớp, 2 lớp này tách nhau ra tại đầu lớn của vỏ trứng
hình thành nên buồng khí. Các dung dịch muối và nước có thể thấm qua
màng này đi vào lòng trắng. Trứng dừng ở đây 60 – 70 phút.
- Tử cung: Là phần tiếp theo của quá trình tạo vỏ, là phần mở to ra tạo
thành tử cung dài 8 – 12cm, tuyến vách tử cung tiết ra một chất dịch lỏng,
chất dịch thẩm thấu qua màng vỏ đi vào trong lòng trắng làm tăng khối
lượng lòng trắng, mặt khác một số tuyến ở tử cung tiết ra một chất dịch hình
thành nên vỏ cứng, quá trình hình thành vỏ trứng diễn ra chậm chạp. Trứng
dừng lại ở đây khá lâu 18 – 20 giờ.


- Âm đạo: Là đoạn cuối cùng của ống dẫn trứng, là cửa ngõ để trứng
ra ngoài cơ thể. Thành âm đạo có nhiều lớp cơ lớn, niêm mạc nhăn nhưng
không có các tuyến hình ống. Tại chính mép biểu mô của âm đạo tiết ra một
chất dịch tham gia hình thành lớp màng keo ở trên vỏ. Trứng đi qua phần âm
đạo rất nhanh.
* Những trường hợp trứng dị hình:
- Trứng không có lòng đỏ: Do trong cơ thể có những tế bào chết rơi
vào loa kèn và ống dẫn trứng không phân biệt được vì vậy vẫn có quá trình
tạo trứng và hình thành trứng nhỏ.
- Trứng 2 lòng đỏ: Do 2 trứng cùng rụng một thời điểm hoặc cách
nhau không quá 20 phút vì vậy hình thành nên quả trứng rất to.
- Trứng trong trứng: Thường ít gặp, do bi kích động đột ngột một quả
trứng hoàn chỉnh bị ống dẫn trứng co lại gây ra nhu động ngược lên phía
trên gặp tế bào trứng rụng mới, sẽ nằm cùng với lòng đỏ của trứng mới bên
ngoài được bao bọc bằng lòng trắng và vỏ cứng.
Ngoài ra còn có trứng méo mó, không vỏ do thiếu khoáng, vitamin D
hoặc do co bóp của ống dẫn trứng...
*Cơ quan sinh dục đực:
Gồm: Tinh hoàn, dịch hoàn phụ, ống dẫn tinh và cơ quan giao phối.
Tinh hoàn có hình ô van hoặc hạt đậu màu trắng hoặc hơi vàng nằm ở vị trí
phía trên thuỳ trước của thận, cạnh túi khí bụng, khối lượng tinh hoàn phụ
thuộc vào tuổi và trạng thái sinh lý. Cơ quan giao cấu có cấu trúc khác biệt,
nó không phát triển. Ở gà tây hầu như không có cơ quan giao phối, ngỗng,
gà, vịt có gai giao cấu nằm sâu ở dưới lỗ huyệt.
Quá trình hình thành tinh trùng diễn ra tương tự như ở gia súc, tế bào
sơ cấp bằng con đường phân chia hình thành tinh bào thứ nhất phát triển,
mỗi tinh bào thứ nhất lại chia thành hai tinh bào thứ hai, tiếp tục phát triển
sau đó hình thành tiền tinh trùng và cuối cùng hình thành tinh trùng.
Số lượng một lần phóng tinh gà 0,6 – 2ml. Trong mỗi 1ml chứa 3,2 tỷ
tinh trùng. Các phản xạ và cơ chế giao phối ở gia cầm giống động vật có vú,
nhưng thời gian để tinh trùng từ cơ quan sinh dục đực đến loa kèn rất lâu từ


72– 75 giờ (3 ngày) nhưng tinh trùng gà sống được rất lâu trong đường sinh
dục con cái.
2.1.2.2. Khả năng sinh sản của gia cầm
Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu
tố cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia
cầm. Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng, trong đó sản phẩm trứng được coi là
hướng sản xuất chính của gà hướng trứng. Còn gà hướng thịt (cũng như gà
hướng trứng) khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định đến sự
phân đàn di truyền giống mở rộng quy mô đàn gia cầm. Trần Đình Miên và
cộng sự, 1975 [7] đã viết: “Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm, vì
không những chức năng đó liên quan đến sinh tồn của loài gia cầm điểu mà
từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để sử dụng hai sản phẩm
quan trọng trứng và thịt (Phạm Thị Minh Thu, 2002 [6]). Sinh sản là chỉ tiêu
cần được quan tâm trong công tác giống của gia cầm. Ở các loại gia cầm
khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt.
Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm, đánh giá khả năng sản
xuất của gia cầm người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia
cầm.
Theo Brandsch H. và Bilchel H (1978) [25] thì sức đẻ trứng chịu ảnh
hưởng của 5 yếu tố chính.
1. Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục
2. Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng
3. Tần số thể hiện bản năng đòi ấp
4. Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông
5. Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (hay tính ổn định sức đẻ).
Các yếu tố trên có sự điều khiển bởi kiểu gen di truyền của từng
giống gia cầm.
*Tuổi đẻ đầu
Đó là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá
trình sinh sản. Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu
đẻ quả trứng đầu tiên. Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng
suất trứng. Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là


thời điểm tại đó đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5 %. Theo Hays (dẫn theo Brandsch và
Bilchel, 1978 [25]) thì những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu lớn hơn 245 ngày
cho sản lượng trứng thấp hơn những gà có tuổi đẻ quả trứng đầu nhỏ hơn
215 ngày là 6,9 quả. Tuổi đẻ trứng đầu phụ thuộc vào chế độ nuôi dưỡng các
yếu tố môi trường đặc biệt là thời gian chiếu sáng.Thời gian chiếu sáng dài
sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm. Tuổi đẻ đầu sớm hay muộn liên quan đến khối
lượng cơ thể ở một thời điểm nhất định. Những gia cầm thuộc giống bé có
khối lượng cơ thể nhỏ tuổi thường thành thục sinh dục sớm hơn những gia
cầm có khối lượng cơ thể lớn. Trong cùng một giống, cơ thể nào được nuôi
dưỡng, chăm sóc tốt, điều kiện thời tiết khí hậu và độ dài ngày chiếu sáng
phù hợp sẽ có tuổi thành thục sinh dục sớm hơn. Nhiều công trình nghiên
cứu đã chứng minh tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành
thục sinh dục muộn.
*Cơ sở di truyền của năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số
trứng đẻ ra trên một đơn vị thời gian. Đối với gia cầm thì đây là chỉ tiêu
quan trọng, nó phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ
sinh dục. Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất,
mùa vụ và đặc điểm của cá thể. Năng suất trứng là một tính trạng số lượng
nên nó phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh. Năng suất trứng được
đánh giá qua cường độ đẻ và thời gian kéo dài sự đẻ.
+ Tỷ lệ đẻ
Đây là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm. Đỉnh cao của tỷ lệ đẻ
có mối tương quan với năng suất trứng. Giống gia cầm nào có tỷ lệ đẻ cao và
kéo dài trong thời kỳ sinh sản, chứng tỏ là giống tốt, nếu chế độ dinh dưỡng
đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao. Gà chăn thả có tỷ lệ đẻ thấp trong vài
tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và tỷ lệ đẻ đạt cao ở những tuần tiếp
theo rồi giảm dần và tỷ lệ đẻ thấp ở cuối kỳ sinh sản. Năng suất trứng/ năm
của một quần thể gà mái cao sản được thể hiện theo quy luật, cường độ đẻ
trứng cao nhất vào tháng thứ hai, thứ ba sau đó giảm dần cho đến hết năm đẻ.
Cường độ đẻ trứng là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn. Trong
thời gian này có thể loại trừ ảnh hưởng của môi trường. Thời gian kéo dài


sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng. Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ
thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng. Đây là cơ sở để áp dụng chiếu
sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ. Giữa các trật đẻ, gà thường có những
khoảng thời gian đòi ấp. Sự xuất hiện bản năng đòi ấp phụ thuộc nhiều vào
yếu tố di truyền vì ở các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau. Điều
này chịu ảnh hướng nhiều bởi yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng dinh
dưỡng...Theo Brandsch H. và Bilchel H. 1978 [25] thì nhiệt độ cao và bóng
tối kích thích sự ham ấp, đồng thời yếu tố gen chịu tác động phối hợp giữa
các gen thường và gen liên kết giới tính. Trên cơ sở tỷ lệ đẻ hằng ngày hoặc
tuần cho phép đánh giá một phần nào về chất lượng giống và mức độ ảnh
hưởng của chế độ ngoại cảnh đến sự sản xuất của đàn giống. Nguyễn Huy
Đạt, 2000 [3] cho rằng gà thịt nặng cân đẻ ít hơn do tồn tại nhiều thể vàng
nên lấn át buồng trứng thường xuyên hơn so với gà dòng trứng.
Thời gian nghỉ đẻ ngắn hay dài có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng
trứng cả năm. Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần
về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên. Ngoài ra sự nghỉ đẻ này còn
do khí hậu, sự thay đổi thức ăn, chu chuyển đàn. Là một tính trạng số lượng
có hệ số di truyền cao, do đó người ta có thể cải thiện di truyền bằng cách
chọn lọc giống. Trong chọn lọc cần chú ý tới chỉ số trung bình chung. Khối
lượng trứng phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, tác động dinh
dưỡng tới gà sinh sản. Đồng thời khối lượng trứng lại quyết định tới chất
lượng trứng giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng và sức sống của gà con. Nó là chỉ
tiêu không thể thiếu của việc chọn lọc con giống.
Bandsch H. và Bilchel H, 1978 [25] cho rằng hiện nay chưa có cách
nào tăng khối lượng của quả trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ
thể. Đó cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng
trứng ở mức 55 – 60 gam để phù hợp với sinh lý của gà và kỹ thuật ấp nở.
Ngoài ra tăng khối lượng trứng còn làm tăng chi phí thức ăn.
Khối lượng trứng bình quân theo các tháng, Chambers J.R và cộng
sự 1990 [27] cho biết thì khối lượng trứng thường tăng đến cuối chu kỳ đẻ
trứng. Nhiều tác giả cho rằng, giữa khối lượng trứng và sản lượng trứng có


tương quan âm. Letner T.M. and Taylor, 1943 [28] xác định hệ số tương
quan giữa số lượng trứng và sản lượng trứng là r = - 0,11.
Bùi Quang Tiến và Nguyễn Hoài Tao (1985) [11] cho biết hệ số
tương quan giữa khối lượng và sản lượng trứng ở gà Rhoderi là r = - 0,33.
Khối lượng trứng có tương quan âm tới sản lượng trứng (r = - 0,36),
tương quan dương so với tuổi thành thục sinh dục (r = 0,365) và khối
lượng cơ thể (r = - 0,31).
Khối lượng trứng phụ thuộc trực tiếp vào chiều dài, chiều rộng của
quả trứng cũng như khối lượng lòng trắng, lòng đỏ và vỏ (dẫn theo Trần
Huê Viên, 2000 [18]).
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân, 1998 [4] trong cùng một
độ tuổi thì khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn
hơn nên giá trị năng lượng giảm dần.Khối lượng gà con khi nở thường bằng
62% - 78% khối lượng trứng ban đầu. Khối lượng trứng của các loại giống
khác nhau thì khác nhau.
2.1.2.3. Một số đặc điểm sinh học của trứng gia cầm
* Đặc điểm hình thái
- Hình dạng quả trứng: Là một đặc trưng của từng cá thể, vì vậy nó
được quy định di truyền rõ rệt. Theo Brandsch H. và Bilchel H, 1978 [25] thì
tỷ lệ giữa chiều dài và chiều rộng của quả trứng là một chỉ số ổn định 1 : 0,75.
Hình dạng của quả trứng tương đối ổn định, sự biến động theo mùa cũng
không có ảnh hưởng lớn. Nói chung, hình dạng quả trứng luôn có tính di
truyền bền vững và có những biến dị không rõ rệt.
- Vỏ trứng: Vỏ trứng là phần bảo vệ của trứng, nó cũng đồng thời tạo
ra màu sắc bên ngoài quả trứng. Màu sắc vỏ trứng phụ thuộc vào giống, lá tai
và từng loại gia cầm khác nhau. Hiện nay, ở Việt Nam, thị hiếu người tiêu
dùng ưa thích màu trứng gà Ri: màu trắng, hồng nhạt. Nói chung đây là thói
quen của người dân thích các màu sáng với ý niệm một màu sạch và sự quen
dùng của trứng gà Ri là loại trứng gà nội có chất lượng cao, thơm ngon.
- Độ dày của vỏ trứng có ảnh hưởng tới việc bảo quản trứng và sự phát
triển của phôi. Thời gian, độ ẩm trong quá trình ấp cũng chịu ảnh hưởng của


yếu tố độ dày của vỏ trứng. Do đó, độ dày vỏ là một chỉ tiêu đánh giá chất
lượng trứng quan trọng. Nó chịu ảnh hưởng của yếu tố môi trường và yếu tố
di truyền. Ở mỗi loài gia cầm khác nhau vỏ trứng có độ dày khác nhau và ở
mỗi thời điểm khác nhau, môi trường khác nhau vỏ trứng cũng có độ dày
khác nhau. Trong thực tế ta có thể thấy hiện tượng vỏ trứng mỏng khi khẩu
phần của thức ăn thiếu canxi.
Chất lượng vỏ trứng thể hiện ở độ dày và độ bền của vỏ trứng. Nó có ý
nghĩa trong vận chuyển và ấp trứng. Độ dày vỏ trứng gà đạt 0,311 mm và từ
0,229 – 0,373mm xác định vỏ trứng gà dày từ 0,3 – 0,34mm, độ chịu lực là
2
2,44 – 3 kg/cm . Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [4] thì chất
lượng vỏ trứng không những chịu ảnh hưởng của các yếu tố như canxi (70%
Canxi cần cho vỏ trứng là lấy trực tiếp từ thức ăn), ngoài ra vỏ trứng hình
thành cần có photpho, vitamin D3, vitamin K, các nguyên tố vi lượng...khi
0

nhiệt độ tăng từ 20 -30 C thì độ dày vỏ trứng giảm 6- 10% khi đó gia cầm đẻ
ra trứng không có vỏ hoặc bị biến dạng.
- Lòng trắng: Là phần bao bọc bên ngoài lòng đỏ, nó là sản phẩm của
ống dẫn trứng. Lòng trắng chủ yếu là Albumin giúp cho việc cung cấp khoáng
và muối khoáng, tham gia cấu tạo lông, da trong quá trình phát triển cơ thể ở
giai đoạn phôi chất lượng lòng trắng được xác định qua chỉ số lòng trắng và
đơn vị Haugh. Hệ số di truyền của tính trạng này khá cao.
Theo Trần Huê Viên, 2011 [18] cho biết khối lượng trứng tương quan
rõ rệt với khối lượng lòng trắng (r = 0,86) khối lượng lòng đỏ (r = 0,72) và
khối lượng vỏ (r = 0,48).
Chỉ số lòng trắng ở mùa đông cao hơn ở mùa xuân và mùa hè. Trứng
gà mái tơ và gà mái già có chỉ số lòng trắng thấp hơn gà mái đang độ tuổi sinh
sản. Trứng bảo quản lâu, chỉ số lòng trắng cũng bị thấp đi. Chất lượng lòng
trắng còn kém đi khi cho gà ăn thiếu protein và vitamin nhóm B. Để đánh giá
chất lượng lòng trắng người ta quan tâm đến chỉ số lòng trắng. Nó được tính
bằng tỷ lệ chiều cao lòng trắng đặc so với trung bình cộng đường kính nhỏ và
đường kính lớn của lòng trắng trứng. Chỉ số lòng trắng chịu ảnh hưởng của
giống, tuổi, chế độ nuôi dưỡng và thời gian bảo quản.


- Lòng đỏ: Là tế bào trứng có dạng hình cầu đường kính 35 – 40 mm
và được bao bọc bởi màng lòng đỏ có tính đàn hồi nhưng sự đàn hồi này giảm
theo thời gian bảo quản, ở giữa có hốc lòng đỏ nối với đĩa phôi lấy chất dinh
dưỡng từ nguyên sinh chất để cung cấp cho phôi phát triển. Lòng đỏ có độ
đậm đặc cao nằm giữa lòng trắng đặc, được giữ ổn định nhờ dây chằng là
những sợi protein quy tụ ở hai đầu lòng đỏ, phía trên lòng đỏ là mầm phôi.
Lòng đỏ cung cấp dinh dưỡng chủ yếu cho phôi. Thông qua nguồn năng
lượng dự trữ cho phôi mà người ta có thể đánh giá được chất lượng lòng đỏ.
Chất lượng lòng đỏ được đánh giá dựa trên chỉ số lòng đỏ, Chỉ số lòng đỏ
được tính bằng tỷ lệ giữa chiều cao lòng đỏ so với đường kính của nó.
Lòng đỏ bao gồm: Nước, protein, các axit amin không thay thế, các
loại vitamin... chỉ số này xuống 0,33 tức lòng đỏ bị biến dạng. Chỉ số lòng đỏ
ít biến đổi hơn lòng trắng. Chỉ số lòng đỏ nó bị giảm từ 0,25 – 0,29 nếu bị
tăng nhiệt độ và bảo quản lâu (Nguyễn Quý Khiêm, 1999 [6]).
Màu lòng đỏ phụ thuộc vào sắc tố màu và caroten có trong thức ăn.
Màu lòng đỏ ổn định trong suất thời gian đẻ trứng, nó thay đổi khi khẩu phần
ăn của gà mái thay đổi trước vài tuần. Tuy không biểu thị giá trị dinh dưỡng
của trứng nhưng nó có giá trị thương phẩm lớn.
*Chỉ số Haugh (HU)
Là chỉ số đánh giá chất lượng trứng xác định thông qua khối lượng
trứng và chiều cao lòng trắng đặc. Chỉ số HU càng cao thì chất lượng trứng
càng cao, trứng đạt chất lượng tốt. Chỉ số này chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố tác động: Thời gian bảo quản trứng, tuổi gia cầm, bệnh tật, nhiệt độ môi
trường, sự thay lông, giống, dòng.
* Tỷ lệ ấp nở
Tỷ lệ ấp nở của gia cầm được xác định bằng tỷ lệ (%) số con nở ra so
với số trứng có phôi. Đây là tính trạng đầu tiên biểu hiện sức sống ở đời con,
tỷ lệ nở của trứng không những chứng minh có đặc tính di truyền về sinh lực
của giống mà còn là sự xác minh về sự liên quan đến tỷ lệ nở với cấu tạo của
trứng. Những quả trứng quá lớn hoặc quá nhỏ đều có khả năng nở kém hơn
những quả trứng có khối lượng trung bình. Khi khối lượng trứng từ 45 – 64g


thì khả năng nở là 87%, khối lượng trứng nhỏ hơn 45g thì khả năng nở giảm
xuống còn 80% còn những trứng có khối lượng vượt quá 64g thì khả năng nở
là 71%.
2.1.2.4. Những yếu tố ảnh hưởng đến sức sản xuất trứng của gia cầm
Sức sản xuất trứng là đặc điểm phức tạp và biến động, nó chịu ảnh
hưởng bởi tổng hợp các yếu tố bên trong và bên ngoài.
- Giống, dòng: Ảnh hưởng đến sức sản xuất một cách trực tiếp. Cụ thể
giống Leghorn trung bình có sản lượng 250 – 270 trứng / năm. Về sản lượng
trứng, những dòng chọn lọc kỹ thường đạt chỉ tiêu cao hơn những dòng chưa
được chọn lọc kỹ khoảng 15% - 30%.
- Tuổi gia cầm: Có liên quan chặt chẽ tới sự đẻ trứng của nó. Như một
quy luật, ở gà sản lượng trứng giảm dần theo tuổi, trung bình năm thứ hai
giảm 15- 20% so với năm thứ nhất (so với gà), còn vịt thì ngược lại, năm thứ
hai cho sản lượng trứng cao hơn 9 - 15%.
- Tuổi thành thục sinh dục: Liên quan đến sức đẻ trứng của gia cầm, nó
là đặc điểm di truyền cá thể. Sản lượng trứng của 3 – 4 tháng đầu tiên tương
quan thuận với sản lượng trứng cả năm. Người ta cho rằng ít nhất cũng có hai
gen chính tham gia vào yếu tố này: một gen là E (gen liên kết với giới tính) và
một gen là e: còn cặp thứ hai là Ee. Gen trội E chịu trách nhiệm về tính thành
thục sinh dục.
- Mùa vụ: Ảnh hưởng đến sức đẻ trứng rất rõ rệt. Ở nước ta, mùa hè sức
đẻ trứng giảm xuống nhiều so với mùa xuân, đến mùa thu lại tăng lên.
- Nhiệt độ môi trường xung quanh: Liên quan mật thiết đến sản lượng
trứng. Ở điều kiện nước ta nhiệt độ chăn nuôi thích hợp với gia cầm đẻ trứng
0

là 14 - 22 C. Nếu nhiệt độ dưới hạn thấp thì gia cầm phải huy động năng
lượng chống rét và trên giới hạn cao sẽ thải nhiệt nhiều qua hô hấp.
-Ánh sáng ảnh hưởng đến sản lượng trứng của gia cầm. Nó được xác
định qua thời gian chiếu sáng và cường độ chiếu sáng. Yêu cầu của gà đẻ thời
gian chiếu sáng 12 - 16 h / ngày, có thể sử dụng ánh sáng tự nhiên và ánh
sáng nhân tạo để đảm bảo giờ chiếu sáng và cường độ chiếu sáng 3 - 3,5
2

w/m . Theo Letner và Taylor, 1987 [28], cho biết thời gian gà đẻ trứng


thường từ 7 - 17 giờ, nhưng đa số đẻ vào buổi sáng. Cụ thể số gà đẻ 7 – 9 giờ
đạt 17,7% so với tổng gà đẻ trong ngày. Ở nước ta do khí hậu khác với các
nước, cho nên cường độ đẻ trứng ở gà cao nhất là khoảng từ 8 - 12 giờ chiếm
60% gần 70% so với gà đẻ trứng trong ngày.
- Cường độ đẻ trứng: Liên quan mật thiết với sản lượng trứng, nếu
cường độ đẻ trứng cao thì sản lượng trứng cao và ngược lại. Yếu tố này do 2
cặp gen R và r phối hợp lại để điều hành.
- Chu kỳ đẻ trứng: Chu kỳ đẻ trứng được tính từ khi đẻ quả trứng đầu
tiên đến khi ngừng đẻ và thay lông, đó là chu kỳ thứ nhất và lặp lại tiếp tục
chu kỳ thứ hai. Chu kỳ đẻ trứng liên quan tới vụ nở gia cầm con mà bắt đầu
và kết thúc ở các tháng khác nhau thường ở gà là một năm. Nó có mối tương
quan thuận với tính thành thục sinh dục, nhịp độ đẻ trứng, sức bền đẻ trứng và
chu kỳ đẻ trứng, yếu tố này do hai gen P và p điều hành. Sản lượng trứng phụ
thuộc vào thời gian kéo dài chu kỳ đẻ trứng.
- Thay lông: Sau mỗi chu kỳ đẻ trứng gia cầm nghỉ đẻ và thay lông, ở
điều kiện bình thường, thay lông lần đầu tiên là những điểm quan trọng để
đánh giá gia cầm đẻ tốt hay xấu. Ngược lại nhiều con thay lông muộn và
nhanh thời gian nghỉ đẻ dưới hai tháng, đặc biệt là đàn cao sản thời gian nghỉ
đẻ chỉ 4 - 5 tuần và đẻ lại ngay sau khi chưa hình thành bộ lông mới, có con
đẻ ngay trong thời gian thay lông, yếu tố này do các gen M và m điều khiển.
Ngoài ra gia cầm đẻ trứng còn chịu sự chi phối trực tiếp của khí hậu, dinh
dưỡng, thức ăn, chăm sóc quản lý, tính ấp bóng.
2.1.3. Cơ sở khoa học về khả năng chuyển hóa thức ăn của gia cầm
Trong chăn nuôi, tạo ra giống mới có năng suất cao chưa đủ mà phải tạo
ra nguồn TĂ giàu dinh dưỡng, phù hợp với đặc tính sinh lý và mục đích sản
xuất của từng giống, dòng, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi
mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế.
Chi phí TĂ thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm, TTTĂ càng thấp
cho hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại. Đánh giá về vấn đề này, đối với
gia cầm sinh sản người ta đưa ra chỉ tiêu: TTTĂ cho 10 quả hay 1 kg trứng.


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×