Tải bản đầy đủ

Nghiên cứu giải pháp tăng thu nhập cho các hộ nghèo và cận nghèo ở huyện bắc mê, tỉnh hà giang

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CỦNG THỊ MẨY

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP
CHO CÁC HỘ NGHÈO VÀ CẬN NGHÈO Ở
HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

THÁI NGUYÊN - 2018


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

CỦNG THỊ MẨY

NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP TĂNG THU NHẬP
CHO CÁC HỘ NGHÈO VÀ CẬN NGHÈO Ở

HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
Ngành: Phát triển nông thôn
Mã số: 8.62.01.16

LUẬN VĂN THẠC SĨ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

Người hướng dẫn khoa học: TS. Hà Quang Trung

THÁI NGUYÊN - 2018


i

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan: Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của
riêng tôi. Các số liệu, kết quả thống kê, kết quả tổng hợp phân tích, nghiên cứu
trong luận văn được tập hợp từ nhiều nguồn tài liệu và liên hệ thực tế, các thông tin
trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Thái Nguyên, ngày

tháng

Tác giả luận văn

Củng Thị Mẩy

năm 2018


ii

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin trân trọng cảm ơn sâu sắc cá nhân TS. Hà Quang Trung, người đã
tận tình hướng dẫn, định hướng và giúp đỡ tôi về chuyên môn trong suốt thời gian
thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Trân trọng cảm ơn Tập thể Ban giám hiệu Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên; cảm ơn Ban Lãnh đạo, các thầy cô giáo trong Khoa Kinh tế & Phát triển
nông thôn, Phòng Đào tạo đã truyền đạt đầy đủ, sâu sắc nội dung các chuyên đề


theo chương trình của khoá học và tạo điều kiện hướng dẫn, giúp đỡ tôi trong quá
trình học tập, nghiên cứu để tôi thực hiện hoàn thành luận văn này.
Trân trọng cảm ơn Huyện ủy, HĐND, UBND huyện Bắc Mê; Đảng ủy,
HĐND, UBND và các hộ dân trên địa bàn các xã, thị trấn: Minh Ngọc, Phiêng
Luông, Yên Phú đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi về thông tin, số liệu trong suốt quá
trình thực hiện nghiên cứu luận văn.
Do thời gian nghiên cứu có hạn, luận văn của tôi không thể tránh khỏi những
sơ xuất, thiếu sót, tôi rất mong nhận đuợc sự đóng góp trân thành của các thầy cô
giáo, đồng nghiệp và toàn thể bạn đọc.
Xin trân trọng cảm ơn!

Thái Nguyên, ngày

tháng

năm 2018

Tác giả luận văn

Củng Thị Mẩy


iii
iiii

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN ....................................................................................................... i
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................ ii
MỤC LỤC................................................................................................................. iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ............................................................................v
DANH MỤC CÁC BẢNG........................................................................................ vi
DANH MỤC CÁC HÌNH ........................................................................................ vii
MỞ ĐẦU ....................................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài ..........................................................................................1
2.
Mục
tiêu
nghiên
cứu
......................................................................................2

đề

tài

3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài ................................................................2
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU..............................................................3
1.1. Cơ sở lý luận ........................................................................................................3
1.1.1. Khái niệm về thu nhập ......................................................................................3
1.1.2.
Khái
niệm
hộ
nghèo,
...................................................................4
1.1.3.
Các
yếu
tố
ảnh
..................................................................6

hộ

hưởng

cận

đến

thu

nghèo
nhập

1.1.4. Đặc điểm sinh kế của hộ nghèo và cận nghèo ................................................10
1.2. Cơ sở thực tiễn ...................................................................................................22
1.2.1. Tình hình thu nhập của khu vực nông thôn.....................................................22
1.2.2. Kinh nghiệm
................................24

nâng

cao

thu

nhập

của

một

số

địa

phương

1.2.3. Bài học kinh nghiệm .......................................................................................29
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU.........................................................................................................31
2.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu......................................................................31
2.1.1. Đối tượng nghiên cứu......................................................................................31
2.1.2. Phạm vi nghiên cứu.........................................................................................31
2.2.
Nội
dung
nghiên
..........................................................................................31

cứu

2.3. Phương pháp nghiên cứu....................................................................................31


iv
ivi
2.3.1. Phương pháp thu thập thông tin ......................................................................31


iv
iv

2.3.2. Phương pháp phân tích thông tin ....................................................................32
2.3.3. Hệ thống chỉ tiêu phân tích .............................................................................34
Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ..................................36
3.1. Đặc điểm của huyện Bắc Mê .............................................................................36
3.1.1. Đặc điểm tự nhiên ...........................................................................................36
3.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội của huyện Bắc Mê .................................................39
3.1.3. Đánh giá chung ...............................................................................................48
3.2. Thực trạng thu nhập của hộ nghèo, cận nghèo điều tra tại huyện Bắc Mê,
tỉnh Hà Giang ............................................................................................................51
3.2.1. Đặc điểm cơ bản của hộ nghèo và cận nghèo ở các xã điều tra
...........................51
3.2.2. Kết quả sản xuất của hộ nông dân nghèo và cận nghèo ở các xã điều tra
.............58
3.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến sản xuất của hộ nông dân ......................................63
3.3.1. Ảnh hưởng của KHKT, vốn, lao động đến sản xuất của các hộ .....................63
3.3.2. Ảnh hưởng của yếu tố thị trường đến sản xuất của hộ ...................................64
3.3.3. Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất ....................................65
3.4. Một số hạn chế trong việc nâng cao thu nhập của của hộ nghèo và cận
nghèo tại Bắc Mê ......................................................................................................66
3.5. Giải pháp nâng cao thu nhập cho hộ nghèo và cận nghèo ở huyện Bắc Mê,
tỉnh Hà Giang ............................................................................................................67
3.5.1. Quan điểm, mục tiêu .......................................................................................67
3.5.2. Giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nông dân .........................................71
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ................................................................................82
1. Kết luận .................................................................................................................82
2. Kiến nghị ...............................................................................................................83
TÀI LIỆU THAM KHẢO ......................................................................................86
PHỤ LỤC


v
v

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

BQ

Bình quân

CSXH

Chính sách xã hội

DN

Doanh nghiệp

DTTS

Dân tộc thiểu số

GIC

Nhóm nông dân cùng sở thích

HĐND

Hội đồng nhân dân

HTX

Hợp tác xã

KH

Kế hoạch

KT-XH

Kinh tế - xã hội

LĐTBXH

Lao động thương binh xã hội

NLKH

Nông lâm kết hợp

NLN

Nông lâm nghiệp

SXKD

Sản xuất kinh doanh

UBND

Ủy ban nhân dân

WB

Ngân hàng thế giới

XĐGN

Xoá đói giảm nghèo


vi
vi

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 3.1:

Hiện trạng các loại đất của huyện Bắc Mê năm 2017 .........................40

Bảng 3.2:

Tổng dân số, số hộ, số hộ nghèo, hộ cận nghèo trên địa bàn huyện
Bắc Mê năm 2017 ...............................................................................41

Bảng 3.3:

Cơ cấu lao động chia theo ngành nghề huyện Bắc Mê năm 2017 ......42

Bảng 3.4:

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội của huyện giai đoạn 2015 - 2017 ......43

Bảng 3.5:

Đặc điểm chung về hộ được điều tra năm 2017..................................52

Bảng 3.6:

Phân loại nghề nghiệp theo các ngành của nhóm hộ điều tra .............54

Bảng 3.7:

Phân bổ đất đai của nông hộ điều tra ..................................................54

Bảng 3.8:

Một số chỉ tiêu về lao động và nhân khẩu của hộ điều tra ..................56

Bảng 3.9:

Tỷ lệ lao động trong độ tuổi của các hộ nông dân điều tra .................56

Bảng 3.10:

Vốn sản xuất bình quân của hộ điều tra ..............................................57

Bảng 3.11:

Tổng giá trị sản phẩm từ sản xuất NLN của các hộ điều tra ...............59

Bảng 3.12:

Tổng chi phí sản xuất NLN của các hộ điều tra ..................................60

Bảng 3.13:

Tổng thu nhập từ sản xuất NLN ở các hộ điều tra ..............................62

Bảng 3.14:

Phương thức tiêu thụ một số sản phẩm của hộ điều tra ......................64

Bảng 3.15:

Ảnh hưởng của các điều kiện bên ngoài đến sản xuất của các hộ
điều tra .................................................................................................65

Bảng 3.16:

Tổng hợp các chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội chủ yếu của
huyện Bắc Mê từ năm 2015 đến năm 2020........................................68


vii

DANH MỤC CÁC HÌNH

Hình 3.1: Bản đồ hành chính huyện Bắc Mê ............................................................36
Hình 3.2: Biểu đồ hiện trạng các loại đất của huyện Bắc Mê năm 2017 ..................40
Hình 3.3: Biểu đồ cơ cấu lao động chia theo ngành nghề huyện Bắc Mê năm 2017
.......42
Hình 3.4: Biểu đồ phân bố đất sử dụng của hộ cận nghèo........................................55
Hình 3.5: Biểu đồ phân bố đất sử dụng của hộ nghèo ..............................................55


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm qua, huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang đã tập trung triển khai
các giải pháp thực hiện XĐGN, cải thiện đời sống và tăng thu nhập cho Nhân dân
nhằm góp phần phát triển toàn diện về kinh tế, văn hóa, xã hội, đảm bảo quốc
phòng, an ninh trên địa bàn. Theo văn kiện trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện
Bắc Mê lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020 đánh giá về kết quả giảm nghèo (theo tiêu
chí cũ) trong 05 năm giảm 24,07%, cụ thể: Năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo 47,3% đến
năm 2015 giảm xuống còn 23,23% (Văn kiện trình Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện
Bắc Mê lần thứ IX, nhiệm kỳ 2015-2020[9]).
Được sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh Hà
Giang; sự giúp đỡ của các Sở, ngành của tỉnh; sự quyết tâm của cấp ủy, chính
quyền, Mặt trận Tổ quốc, các ban, ngành và các tổ chức đoàn thể của huyện; sự nỗ
lực cố gắng của người dân, đời sống của Nhân nhân các dân tộc trên địa bàn huyện
Bắc Mê ngày càng được cải thiện đáng kể, nhiều mô hình phát triển kinh tế đã mang
lại hiệu quả cao. Tuy nhiên, thực hiện theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày
19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa
chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, kết quả rà soát năm 2017 với tổng số
10.556 hộ toàn huyện thì hộ cận nghèo và hộ nghèo là 6.212 hộ, chiếm 58,85%, cụ
thể: Hộ cận nghèo là 2.473 hộ, chiếm 23,43%; hộ nghèo là 3.739 hộ nghèo, chiếm
35,42%, trong khi tỷ lệ chung của toàn tỉnh thì hộ cận nghèo chỉ chiếm 14%, hộ
nghèo chiếm 34,18%/ tổng số hộ (Niên giám thông kê năm
2017[3]).
Từ tình hình trên, thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ chủ yếu 5 năm, nhiệm kỳ
2015– 2020 đã đề ra tại Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Bắc Mê lần
thứ IX; qua tiếp thu kiến thức từ các giảng viên Trường Đại học Nông lâm Thái
Nguyên và nghiên cứu các tài liệu liên quan, tôi nhận thấy huyện Bắc Mê cần thiết
phải có những giải pháp, cách làm bài bản, khoa học, cụ thể, thiết thực nhằm tăng
thu nhập cho Nhân dân, đặc biệt là các hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn huyện,
phấn đấu để các hộ có mức thu nhập bằng với mặt bằng chung của tỉnh.


2
Xuất phát từ thực tiễn đó, tôi quyết định chọn đề tài: “Nghiên cứu giải pháp
tăng thu nhập cho các hộ nghèo và cận nghèo ở huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang”
để nghiên cứu luận văn thạc sĩ phát triển nông thôn.
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu đánh giá thực trạng thu nhập; phân tích làm rõ các yếu tố ảnh
hưởng đến thu nhập; đề xuất các giải pháp nhằm tăng thu nhập cho các hộ nghèo và
cận nghèo trên địa bàn huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.
3. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
3.1. Ý nghĩa khoa học
Hệ thống hoá được cơ sở lý luận và thực tiễn về thu nhập, các hoạt động
nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo và cận nghèo. Kết quả nghiên cứu của đề tài
luận văn này là tài liệu tham khảo cho các đề tài nghiên cứu tương đồng.
3.2. Ý nghĩa thực tiễn
Giải pháp nâng cao thu nhập cho các hộ nghèo và cận nghèo trên địa bàn
huyện Bắc Mê nơi mà tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo theo cách tiếp cận đa chiều năm
2017 chiếm 58,85% tổng số hộ. Tác giả mong rằng kết quả của Luận văn này được
chính quyền địa phương tham khảo, vận dụng vào địa phương nhằm hoạch định
chính sách và xây dựng kế hoạch trong hoạt động sản xuất, nâng cao thu nhập cho
các hộ nghèo và cận nghèo một cách bền vững. Góp phần thúc đẩy sự phát triển
nông nghiệp nông thôn nhằm thực hiện hiệu quả chương trình phát triển kinh tế - xã
hội, xóa đói giảm nghèo của huyện Bắc Mê trong những năm tiếp theo.


3
Chương 1
TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm về thu nhập
Thu nhập là khoản của cải thường được tính thành tiền mà một cá nhân,
doanh nghiệp hoặc một nền kinh tế nhận được trong một khoảng thời gian nhất định
từ công việc, dịch vụ hoặc hoạt động nào đó.
Thu nhập có thể gồm các khoản như tiền lương, tiền công, tiền cho thuê tài
sản, lợi nhuận KD.
Thu nhập có thể có được từ nhiều nguồn khác nhau, có thể từ lao động, từ
việc sở hữu những giấy tờ có giá trị, từ thừa kế, được tặng cho...
Thu nhập của hộ phụ thuộc vào kết quả của hoạt động SXKD mà hộ thực
hiện. Thu nhập của hộ nông dân được hiểu là phần giá trị sản xuất tăng
thêm mà
chủ hộ được hưởng để bù đắp cho thù lao lao động của gia đình, cho tích lũy tái
mở rộng sản xuất nếu có. Có thể phân thu nhập của hộ nông dân thành ba loại:
Thu nhập từ nông nghiệp, thu nhập từ phi nông nghiệp và thu nhập khác.
Khi nghiên cứu thu nhập của hộ nông dân, thường đề cập đến các khái niệm
sau:
- Tổng thu của hộ là toàn bộ giá trị nhận được từ các nguồn thu bằng tiền của
hộ chủ yếu là từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, rừng, làm thuê, ngành nghề thủ
công, dịch vụ, nguồn thu từ ngân sách và các nguồn thu khác trong một khoảng thời
gian thường tính là 1 năm.
+ Các khoản thu đó có thể bao gồm thu hiện vật và thu bằng tiền, thu từ
SXKD và thu ngoài SXKD. Thu trong SXKD là thu từ sản xuất, làm thuê, lương,...
Thu từ ngoài SXKD là các nguồn từ nước ngoài gửi về, từ anh em họ hàng, từ các
hợp đồng kinh tế.
- Tổng chi của hộ là toàn bộ chi phí bằng tiền mà hộ bỏ ra bao gồm chi cho
sản xuất và chi cho tiêu dùng.
+ Chi sản xuất bao gồm chi phí vật chất và chi phí khác bằng tiền để sản xuất
ra sản phẩm (chi phí khả biến mua ở bên ngoài).


4
+ Chi tiêu dùng là các khoản chi ngoài sản xuất phục vụ cho đời sống hàng
ngày của hộ.
- Thu nhập thực tế hay còn gọi là thực thu của hộ: Bằng tổng thu trừ đi các
chi phí cho sản xuất của hộ.
- Tiết kiệm của hộ bằng tổng thu trừ đi toàn bộ chi phí bao gồm cả chi sản
xuất và chi tiêu dùng của hộ.
- Thu nhập thực tế mới phản ánh đúng và có liên quan đến đời sống của
người dân. Nếu hộ thực hiện được hạch toán kinh tế hộ thì cần phải tính được thực
thu hay thu nhập thực tế từ SXKD bằng cách:
Tổng thu của hộ - Tổng chi của hộ = Thu nhập thực tế (Thực thu của hộ)
(Trịnh Thị Minh Trang, 2016 [6]).
1.1.2. Khái niệm hộ nghèo, hộ cận nghèo
Tại hội nghị chống nghèo đói khu vực Châu á- Thái Bình Dương do ESCAP
tổ chức tại Băng cốc, Thái Lan (tháng 9 năm 2003) đã đưa ra định nghĩa như sau:
"Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn các nhu
cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tùy theo
trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương".
Để hiểu rõ bản chất và mức độ của nghèo đói các tổ chức quốc tế đã đưa ra
sự phân biệt nghèo đói theo hai nghĩa: nghèo đói tuyệt đối và nghèo đói tương đối.
+ Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng của một số bộ phận dân cư không
có khả năng thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu nhằm duy trì cuộc sống. Nó là tình
trạng con người không có ăn, không đủ lượng dinh dưỡng tối thiểu, cần thiết. Theo
quy định của Ngân hàng Thế giới (WB), nhu cầu dinh dưỡng đối với các nước
Đông Nam Á phải đạt số lượng là 2.100 calo/người/ngày.
+ Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới
mức trung bình của cộng đồng ở một thời kỳ nhất định. Nghèo tương đối phát triển
theo không gian và thời gian nhất định, tùy thuộc vào mức sống chung của xã hội.
Như vậy, nghèo tương đối gắn liền với sự chênh lệch về mức sống của một bộ phận
dân cư so với mức sống trung bình của địa phương ở một thời kỳ nhất định.


5
Từ những quan điểm trên cho thấy những khái niệm về nghèo đói tuy được
diễn đạt bằng những cách khác nhau, song tựu trung lại chúng có những điểm giống
và khác nhau. Giống nhau ở chỗ tiêu chí để xác định nghèo đói là thu nhập để đảm
bảo thu nhập tối thiểu trong điều kiện chung của cộng đồng. Khác nhau về mức
đánh giá nghèo đói, cụ thể, theo Hội nghị chống đói nghèo Châu á và ADB bộ phận
dân cư được coi là đói nghèo khi không đạt thu nhập tối thiểu của cộng đồng; còn
Việt Nam xác định trên cơ sở ngang bằng thu nhập tối thiểu của cộng đồng.
Bên cạnh quan điểm về nghèo đói, tùy thuộc vào từng giai đoạn, hoàn cảnh
cụ thể cũng như mục tiêu phát triển của mỗi quốc gia và mỗi vùng mà người ta có
những cách tiếp cận khác nhau về nghèo đói và phát triển xã hội. Tại Việt Nam, có
thể đánh giá thu nhập và sự phát triển xã hội theo các hướng sau:
Tiếp cận về dinh dưỡng: Tổng cục Thống kê Việt Nam dựa vào thu nhập và
chi tiêu theo đầu người để đánh giá thu nhập. Theo đó ngưỡng nghèo được xác định
dựa trên chi phí cho một giỏ hàng hoá tiêu dùng bao gồm lương thực và phi lương
thực, trong đó chi tiêu cho lương thực phải đủ đảm bảo 2.100 kcal/người/ngày. Các
hộ được coi là thuộc diện nghèo nếu mức thu nhập và chi tiêu không đủ để đảm bảo
giỏ tiêu dùng này.
Tiếp cận về thu nhập: Ở Việt Nam Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội dùng
phương pháp dựa trên thu nhập của hộ. Các hộ được xếp là hộ có thu nhập thấp nếu
thu nhập đầu người của hộ ở dưới mức chuẩn được xác định, chuẩn này có sự khác
nhau giữa khu vực thành thị và nông thôn. Qua cách tiếp cận trên cho thấy người có
thu nhập thấp là người có mức thu nhập không đảm bảo cho cuộc sống và chi tiêu.
Tiếp cận về xã hội: Để đánh giá sự phát triển con người, Trung tâm Khoa
học, xã hội và Nhân văn Quốc gia sử dụng chỉ số phát triển con người (HDI). HDI
đánh giá sự phát triển con người của một quốc gia ở 3 khía cạnh: Tuổi thọ (tính theo
tuổi thọ bình quân), tri thức (tính theo tỷ lệ biết chữ của người lớn và tỷ lệ tổng hợp
đi học), và thu nhập (tính theo thu nhập bình quân đầu người theo phương pháp sức
mua tương đương). HDI được tính theo phương pháp chỉ số và nhận giá trị lớn nhất
bằng một, nhỏ nhất bằng không. Quốc gia nào có HDI càng gần 1 được đánh giá là
sự phát triển con người cao và ngược lại. (Trịnh Thị Minh Trang, 2016 [6]).


6
- Trong luận văn này, để đơn giản cho việc nghiên cứu, tiến hành phân loại
hộ nông dân dựa theo thu nhập được quy định tại Điều 2 của Quyết định số
59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015, của Thủ tướng Chính phủ về việc Ban hành
chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020, trong đó hộ
nghèo, cận nghèo được xác định như sau:
+ Hộ nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:
Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; Có thu nhập
bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ
03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khu
vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu
người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng
trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ
thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
+ Hộ cận nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu
người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo
lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản; Khu vực thành thị: là hộ
có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và
thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ
bản. (Thủ tướng Chính phủ, 2015 [3].
1.1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập
1.1.3.1. Điều kiện bên ngoài
Đất đai: Đối với sản xuất nông nghiệp, đất đai là yếu tố đầu vào quan trọng
của quá trình sản xuất, từng loại đất, chất lượng đất sẽ quyết định được năng suất và
chủng loại cây trồng cho mỗi hộ gia đình và địa phương. Do vậy, hộ gia đình, địa
phương nào có nhiều chủng loại đất thì hộ gia đình, địa phương đó sẽ đa dạng về
cây trồng.
Khí hậu: Khí hậu ảnh hưởng rất nhiều đến sự đa dạng của giống vật nuôi,
cây trồng; khí hậu mỗi địa phương khác nhau nên cần phải chọn những giống cây
trồng, vật nuôi phù hợp với khí hậu địa phương đó, để có được năng suất cao. Ngoài
ra, nhiều địa phương đã dựa vào đặc điểm này mà tạo ra được những sản phẩm đặc


7
sản của địa phương, mang tính cạnh tranh cao với sản phẩm cùng loại đến từ địa
phương khác.
Điều kiện đi lại: Nền nông nghiệp hiện nay hội nhập, mang nhiều tính chất
thị trường nên có được thị trường rộng lớn là nhân tố thúc đẩy phát triển nền nông
nghiệp. Do đó, điều kiện đi lại quyết định rất lớn đến khả năng tiếp cận thị trường
của các sản phẩm nông sản của hộ và địa phương.
Tình hình sâu bệnh: Hiện nay với sự phát triển của KHCN đã cho ra đời
nhiều loại giống cây trồng, vật nuôi có sức kháng thể cao, đem lại năng suất lớn cho
các hộ nông dân. Nhưng bên cạnh đó, các cây trồng, vật nuôi hiện nay chịu nhiều
bệnh mới khó kiểm soát, nên cần có sự tham gia của các cấp, các ngành trong việc
kiểm soát dịch bệnh trên các loại cây trồng, vật nuôi.
Cơ sở hạ tầng nông thôn: Hiện nay đã có nhiều chương trình phát triển cơ sở
hạ tầng nông thôn như: Đường, hệ thống cung cấp nước tưới tiêu,...giúp cho việc sản
xuất được thuận lợi hơn mà không phải dựa nhiều vào yếu tố tự nhiên. Bên cạnh đó,
cơ sở hạ tầng hiện đại giúp nông sản của hộ, địa phương có thể tiếp cận được thị
trường mới và tiềm năng.
1.1.3.2. Yếu tố hộ gia đình
Số lượng lao động: Sản xuất nông nghiệp nước ta hiện nay vẫn dựa chủ yếu
vào sức người, cơ giới hóa vẫn còn chậm. Mặt khác, ở vùng sâu, vùng xa, vùng
kinh tế - xã hội khó khăn, trình độ nhận thức của người dân còn hạn chế, đường đi
lại khó khăn, cơ sở hạ tầng điện thiếu,… thì sản xuất nông nghiệp vẫn dựa chủ yếu
vào sức người.
Ốm đau bệnh tật: Sản xuất dựa nhiều vào sức người, nếu gia đình nào có
người mắc bệnh thì sẽ giảm sức lao động, một số thành viên trong gia đình lại phải
chăm sóc người bệnh, ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập của hộ nông dân.
Quản lý chi tiêu: Trình độ người nông dân, nhất là những vùng sâu, vùng xa
thường là còn thấp, nên khái niệm đầu tư để mở rộng sản xuất rất hạn chế. Nhiều gia
đình không quản lý chi tiêu chặt chẽ dẫn đến tình trạng thiếu vốn sản xuất, thường
xuyên phải nợ người khác, nợ ngân hàng, không tập trung sản xuất được.
Có người mắc TNXH: Khi trình độ dân trí thấp sẽ dễ mắc các TNXH như
nghiện rượu, cờ bạc,....vừa giảm sức lao động trong nông nghiệp, vừa giảm thu


8
nhập của các hộ nông dân. Điều này càng dễ xảy ra khi trong nông nghiệp thời gian
nông nhàn nhiều, trong khi ít nghề phụ để sản xuất, nhiều đối tượng đã mắc các
TNXH, gây ảnh hưởng xấu đến gia đình và xã hội.
1.1.3.3. Sản xuất
Lười lao động: Mọi công việc đều cần phải chịu khó, nhất là trong nông
nghiệp lao động chân tay là chủ yếu. Nếu không chịu khó, ham chơi, lười lao động
dẫn đến năng suất lao động thấp, đất bỏ hoang. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến thu
nhập của hộ nông dân.
Giống cây trồng, vật nuôi: Ngày nay, KHCN phát triển nhiều giống cây
trồng, vật nuôi đã được cải thiện đáng kể, năng suất tăng cao, chống chịu được
nhiều loại sâu bệnh. Đối với hộ nghèo, cận nghèo thì việc sử dụng giống mới còn
gặp nhiều khó khăn, vì giá giống cao, nên nhiều hộ vẫn chọn những giống truyền
thống, năng suất thấp.
Dụng cụ sản xuất: Là một yếu tố quan trọng, nếu có dụng cụ tốt, có khả năng
cơ giới hoá cao, người nông dân sẽ đỡ vất vả, năng suất lao động tăng, góp phần
tăng thu nhập đáng kể cho hộ. Những năm gần đây, các hộ có điều kiện đã cơ khí
hoá trang bị thêm như máy bơm, cáy cày, máy cấy, máy tuốt lúa, … nhằm giảm bớt
sức lao động cho mọi thành viên trong gia đình. Một đặc điểm của tư liệu lao động
trong kinh tế hộ nông dân là tư liệu lao động phục vụ sản xuất nhiều khi dùng cho
sinh hoạt và ngược lại, đặc biệt ở các vùng núi, vùng sâu, điều kiện còn khó khăn.
Sự giúp đỡ của người khác: Với đặc thù của sản xuất nông nghiệp cần nhiều
lao động, nên nhiều gia đình thiếu lao động sản xuất không có tiền để thuê đã đổi
công cho người khác để thực hiện đúng tiến độ công việc, ngoài ra trong sản xuất
nông nghiệp cần có sự giúp đỡ của người khác trong việc tư vấn, giúp đỡ về mặt kỹ
thuật nuôi trồng những giống cây trồng, vật nuôi mới.
Phương thức sản xuất: Yếu tố này thể hiện khả năng tiếp cận khoa học, tiếp
cận thị trường. Nếu phương thức sản xuất hiện đại cần tiếp cận với trình độ khoa
học tiên tiến, điều này thường được thực hiện ở vùng đồng bằng, nơi có điều kiện
tiếp cận. Nhưng đối với vùng núi, tiếp cận khoa học khó khăn, nên phương thức sản
xuất nhỏ lẻ, vẫn còn mang tính truyền thống, tự cung, tự cấp.


9
Nghề phụ và thời gian nông nhàn: Đặc thù của sản xuất nông nghiệp là thời
gian nông nhàn nhiều, nếu không có nghề phụ thì trong thời gian này không đem lại
thu nhập cho các hộ nông dân. Nhiều nơi đã biết tận dụng lợi thế địa phương để
phát triển ngành nghề địa phương như mây tre đan, rèn đúc, nấu rượu, chăn nuôi,...
để tăng thu nhập, vừa tận dụng được các nông sản mà chính họ sản xuất ra.
Tiếp cận khoa học: Người nông dân thường có trình độ học vấn thấp nên vấn
đề tiếp cận khoa học gặp nhiều khó khăn; hệ thống cán bộ khuyến nông là cầu nối
giữa khoa học với người nông dân, hướng dẫn người dân trồng trọt và chăn
nuôi cho năng suất, giá trị kinh tế cao. Đối với vùng núi, vùng sâu điều kiện đi lại
khó khăn, việc tiếp cận các tiến bộ KHKT rất hạn chế, nên ít áp dụng được khoa
học tiến tiến vào sản xuất.
1.1.3.4. Vốn sản xuất
Tài sản thế chấp: Đối với hộ nghèo, cận nghèo thì vấn đề tài sản thế chấp là
rất khó khăn, nên việc vay vốn khó được chấp nhận. Vậy, để có vốn sản xuất cần có
sự giúp đỡ của các cấp ủy Đảng, chính quyền và hệ thống NHCSXH để những hộ
nông dân nghèo có thể vay được vốn để đầu tư rộng sản xuất.
Sợ vay ngân hàng, sợ thủ tục rườm rà: Người nông dân thường rất ngại tiếp
xúc với các thủ tục hành chính, việc quản lý chi tiêu không hiệu quả dẫn đến việc sử
dụng đồng vốn không đúng với mục tiêu đề ra. Nhiều hộ sợ không trả được vốn vay
ngân hàng, không có chiến lược sử dụng vốn, ngại thủ tục vay vốn nên việc tiếp cận
nguồn vốn chính thức còn hạn chế.
Vay vốn từ người ngoài: Trong sản xuất nông nghiệp, việc sử dụng nguồn
vốn phi chính thức là thường xuyên, việc vay họ hàng, những người thân quen để có
được vốn để sản xuất. Nhược điểm của nguồn vốn này nhỏ lẻ, thời gian trả nợ
không rõ ràng nên khó có thể áp dụng trong việc mở rộng SXKD với quy mô lớn.
Nên cũng cần thay đổi tư duy và cách tiếp cận nguồn vốn phi chính thức.
1.1.3.5. Tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và chính sách
Quan tâm của các tổ chức chính trị - Xã hội và tổ chức xã hội: Đối với nông
thôn Việt Nam nói chung và đặc điểm từng địa phương, sản xuất vẫn dựa nhiều vào
cộng đồng. Đặc biệt, các hộ nghèo, cận nghèo thì rất cần có sự quan tâm của các
tổ


10
10
chức chính trị - Xã hội và tổ chức xã hội hỗ trợ để nâng cao trình độ, tư duy, kỹ
thuật,… trong sản xuất. Ngoài ra, các tổ chức này cũng là cầu nối giữa các hộ nông
dân với NHCSXH và thay mặt NHCSXH sách giám sát việc thực hiện nguồn vốn
vay.
Chính sách hỗ trợ sản xuất cho hộ nghèo: Đảng, Nhà nước ta đã ban hành
nhiều chính sách hỗ trợ hộ nghèo, cận nghèo về con giống, cây trồng, KHKT và cả
chi phí sản xuất. Đây là nguồn thúc đẩy quan trọng để các hộ nghèo, cận nghèo giảm
được chi phí, vì đối với các hộ nghèo, cận nghèo việc bỏ ra một lượng vốn lớn để
đầu tư SXKD là vô cùng khó khăn và đây cũng là bước đầu tiếp cận với KHKT,
nâng cao thu nhập của hộ nông dân.
Chương trình đào tạo nghề: Trong quá trình sản xuất nông nghiệp, thời
gian rảnh nhiều, cần phải đào tạo nghề làm thêm cho hộ nông dân như kiến thức
KHKT về trồng trọt, chăn nuôi, xây dựng, đan lát, rèn đúc,…ngoài sản xuất theo
mùa vụ để nâng cao thu nhập cho hộ nông dân. Các lớp này thường đặt ngay tại địa
phương, nhà nước hỗ trợ học phí để thu hút được nhiều người đến học. Với hình
thức đào tạo này, sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho người dân có được kiến thức chuyển
đổi trong hoạt động sản xuất của mình, giảm được thời gian nông nhàn, tăng thu
nhập cho các hộ nông dân. Chính sách hỗ trợ tín dụng: Việc vay vốn ngân hàng để mở
rộng sản xuất còn khó khăn, vì các rào cản về thủ tục, về lãi suất,... nên nhà nước ban
hành các chính sách hỗ trợ tín dụng nhằm giúp các hộ nông dân tiếp cận được nhiều hơn
với nguồn vốn chính thức. (Trịnh Thị Minh Trang, 2016 [6]).

1.1.4. Đặc điểm sinh kế của hộ nghèo và cận nghèo
1.1.4.1. Khái niệm sinh kế
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm
phát triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định
nghĩa về sinh kế bền vững như sau: Sinh kế bền vững bao gồm con người, năng lực
và kế sinh nhai, gồm có lương thực, thu nhập và tài sản của họ. Ba khía cạnh tài sản
là tài nguyên, dự trữ, và tài sản vô hình như dư nợ và cơ hội. Sinh kế bền vững khi
nó bao gồm hoặc mở rộng tài sản địa phương và toàn cầu mà chúng phụ thuộc vào
và lợi ích ròng tác động đến sinh kế khác. Sinh kế bền vững về mặt xã hội khi nó có
thể chống chịu hoặc hồi sinh từ những thay đổi lớn và có thể cung cấp cho thế hệ
tương lai. (Ban Quản lý dự án Chia sẻ, 2012 [2])


11
11
1.1.4.2. Khung phân tích sinh kế
Hình 1.1: Phân tích khung sinh kế của nông dân nghèo, cận nghèo.
Nguồn: DFID (2003) (Ban Quản lý dự án Chia sẻ, 2012 [2])
1.1.4.3. Đặc điểm các nguồn lực sinh kế hộ nghèo, cận nghèo
* Nguồn lực con người
- Lực lượng lao động tương đối đông: Theo Báo cáo của chương trình chia sẻ
- SIDA các hộ nghèo tại các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Quảng Trị không thiếu lao
động, phần lớn các hộ có từ 2-4 lao động. Bình quân có khoảng 2,59 lao động/ hộ,
thời gian làm việc trung bình 1 lao động đạt 9,91 tháng /1 năm, tuy nhiên thời gian
làm việc trong 1 tháng thấp, chủ yếu tập trung vào thời điểm mùa vụ. Đây là yếu tố
thuận lợi cho việc phát triển ngành nghề, phát triển chăn nuôi hoặc phát triển các
loại cây trồng yêu cầu sử dụng nhiều thời gian lao động.
- Lao động trẻ là yếu tố thuận lợi cho việc đào tạo văn hoá và chuyên môn và
nâng cao thu nhập cho nông hộ: Theo Báo cáo của chương trình chia sẻ - SIDA các
hộ nghèo tại các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Quảng Trị: Đa số lao động trong các địa
phương là lao động trẻ, tập trung chủ ở độ tuổi dưới 45. Lao động có độ tuổi từ 46
trở lên chiếm tỷ lệ thấp, đặc biệt là lao động ngoài 60 tuổi rất ít, chỉ chiếm 4.7%
tổng số lao động trong các hộ điều tra. Lực lượng lao động vừa có sức khỏe tốt vừa
đã tích luỹ được nhiều kinh nghiệm sản xuất và đời sống lại có cải thiện chất lượng


12
12
bằng cách đào tạo, tập huấn, bồi dưỡng thêm những kiến thức về đời sống và sản
xuất. Do vậy có thể kết luận rằng trình độ lao động là yếu tố thuận lợi cho việc mở
rộng sản xuất, nâng cao chất lượng và giá trị sản phẩm.
- Sự hỗ trợ của nhà nước và các tổ chức trong nước và quốc tế là yếu tố thuận
lợi hỗ trợ người dân tiếp cận nguồn lực: Theo Báo cáo của chương trình chia sẻ SIDA các hộ nghèo tại các tỉnh Hà Giang, Yên Bái, Quảng Trị: Sự công khai trong
việc chọn đối tượng tham gia tập huấn, nâng cao trình độ. Đối với dự án Chia Sẻ,
việc đào tạo tập huấn nâng cao trình độ được tiến hành và tổ chức xuất phát từ nhu
cầu của người dân địa phương. Một số thôn xã ở Yên Bái còn thực hiện cả bằng
tiếng dân tộc thiểu số tại địa phương. Đây là một phương pháp mới mang tính tích
cực.
- Trình độ văn hoá và chuyên môn của người nghèo hạn chế: Theo Báo cáo
của chương trình chia sẻ - SIDA các hộ nghèo tại các tỉnh Hà Giang, Yên Bái,
Quảng Trị cho thấy, đa số lao động có trình độ từ trung học cơ sở trở xuống, lực
lượng lao động có trình độ từ trung học phổ thông trở lên thấp, chủ yếu là các cán
bộ của địa phương. Do vậy, trình độ văn hoá và chuyên môn thấp của lực lượng lao
động ở các điểm điều tra hiện nay đang là cản trở lớn đến việc tiếp nhận các loại
khoa học kỹ thuật mới nhằm thâm canh tăng năng suất, chất lượng sản phẩm, tăng
vụ, mở rộng quy mô sản xuất… góp phần cải thiện đời sống của các hộ nông dân.
- Việc đến trường của trẻ em gặp nhiều khó khăn: Hiện nay một số gia đình
cần lao động để làm việc đã không cho con em đến trường, nhiều gia đình không
quan tâm tới việc học của con cái dẫn đến bỏ mặc chuyện học hành, bên cạnh đó
người dân lại có tập quán sinh nhiều con, trong khi đó giá trị sản xuất tăng chậm đã
làm cho nhiều hộ không đủ kinh phí cho con cái đi học, mưa lũ, sạt lở đường làm
cho học sinh bỏ học thường xuyên kết hợp với chất lượng giáo viên thấp, trang thiết
bị phục vụ công tác giáo dục hạn chế làm cho chất lượng giáo dục suy giảm, vì thế
mà nhiều em đã không thể học lên các cấp học cao hơn, từ đó tạo tâm lý chán
trường dẫn đến bỏ học…
- Người nghèo thường tập trung vùng sâu vùng xa do đó các hoạt động khám
chữa bệnh của người nghèo bị ảnh hưởng: Đa số các xã hiện nay đều có trạm y tế
cho nên khi ốm đau mọi người đều đến trạm y tế xã để chữa bệnh. Khoảng cách từ


13
13
nhà đến nơi khám chữa bệnh chính là từ nông hộ đến trung tâm xã hoặc huyện.
Khoảng cách này không xa và trung bình khỏang 5km. Trong điều kiện hiện tại đa
số người dân đều phương tiện xe máy để đi lại thì thời gian cho họ đi khám hoặc
cấp cứu những lúc ốm đau chỉ khỏang 20 phút. Tuy nhiên, một số hộ dân trong điều
kiện đồi núi đi lại khó khăn với với một số xã thì thời gian cho họ đến trung tâm xã
còn lâu hơn nhiều. (Ban Quản lý dự án Chia sẻ, 2012 [2])
* Nguồn lực vật chất
Nguồn vốn vật chất được phân chia làm 2 loại: Tài sản của cộng đồng và tài
sản của hộ. Tài sản của cộng đồng trong nghiên cứu này xem xét các cơ sở vật chất
cơ bản phục vụ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt như: điện, đường giao thông, trường
học, trạm y tế, công trình thủy lợi, thông tin liên lạc. Tài sản của hộ trong nghiên
cứu này khá phong phú bao gồm cả các tài sản phục vụ sản xuất và các tài sản phục
sinh hoạt của hộ.
- Sự quan tâm của nhà nước và hỗ trợ của các chương trình, dự án trong việc
đầu tư cơ sở hạ tầng tạo điều kiện cho nông hộ tiếp cận dễ dàng hơn: Trong những
năm qua, được sự hỗ trợ của Chính phủ, các tổ chức trong nước và quốc tế thông
qua các chương trình, dự án, nhiều địa phương đã được cải thiện được hệ thống
đường giao thông, thuỷ lợi, xây dựng mới được trường học, trạm xá, nhà văn hoá
thôn, xã, các các loại thiết bị giáo dục và y tế đã được bổ sung… nhờ đó mà việc đi
lại của bà con nông dân đã bớt khó khăn hơn, nhiều diện tích trước đây phải nhờ
hoàn toàn vào tự nhiên, chỉ cấy, trồng được 1 vụ đến nay đã sản xuất được 2 vụ, hệ
thống trường học và trạm y tế, nhà sinh hoạt cộng đồng được cải thiện cả về chất
lượng và số lượng, cục diện nông thôn có những thay đổi rõ rệt. Các dự án như Chia
Sẻ, 134, 135, dự án của World Bank v.v… đã xây dựng cho nhân dân địa phương
nhiều trường học, công trình đường, trạm điện, trạm y tế…
- Người dân tích cực tham gia xây dựng cơ sở hạ tầng: Hầu hết các nông hộ
đều mong muốn cải thiện hệ thống cơ sở hạ tầng với phương châm nhà nước và
nhân dân cùng làm. Mặc dù điều kiện sống của người dân còn nhiều khó khăn
nhưng họ vẫn sẵn sàng đóng góp sức người, sức của để xây dựng hệ thống cơ sở hạ
tầng ở nơi mà họ đang sinh sống và sản xuất. Đây thực sự là nhân tố thuận lợi trong


14
14
việc triển khai thực hiện các chương trình dự án hỗ trợ phát triển hạ tầng cho vùng
sâu vùng xa, vùng đồng bào thiểu số, vùng đặc biệt khó khăn cũng như việc quản lý
và sử dụng, khai thác các công trình sau này.
- Người nghèo được nhiều dự án quan tâm hỗ trợ: Hầu hết các chương trình,
dự án đều tập trung vào hỗ trợ nguồn lực cho các hộ nghèo, đây là điều kiện thuận
lợi để hộ nghèo tiếp cận nguồn vốn vật chất và phát triển sản xuất. Chúng ta hoàn
có thể khẳng định được điều này vì đối tượng mà các dự án 134, 135, 139… lựa
chọn là xã nghèo, trong đó việc xây bể nước, làm nhà vệ sinh, hỗ trợ gạo, xoá nhà
tạm… chỉ có người nghèo mới được hưởng; Đối tượng mà các dự án Tầm nhìn thế
giới, PLAN.. lựa chọn chủ yếu cũng vẫn là người nghèo. Các dự án này hỗ trợ
những người có trình độ thấp trong việc lập kế hoạch sản xuất, tập huấn kiến thức
chuyên môn kỹ thuật… trong đó chủ yếu là hộ nghèo; Đối tượng mà dự án Chia Sẻ
đầu tư cũng là những hộ nghèo, cận nghèo, được bình bầu dân chủ trong những
cuộc họp thôn với tinh thần hỗ trợ những người khó khăn nhất trước, không phân
biệt giới tính, không phân biệt dân tộc, tôn giáo.
- Người dân có ý thức cao trong việc phát triển sản xuất: Qua điều tra cho
thấy, đa số hộ nông dân có ý thức trong việc phát triển sản xuất nâng cao thu nhập,
từng bước tích luỹ, mua sắm công cụ, trang thiết bị phục vụ sản xuất.
- Cơ sở hạ tầng khó khăn là cản trở lớn nhất của người dân:
+ Đường giao thông nông thôn còn nhiều khó khăn, mặc dù tại tất cả các địa
phương đã có đường ô tô vào đến tận trung tâm thôn, xã. 100% số xã có đến trung
tâm xã nhưng đến nay đường vào trung tâm các thôn có tỷ lệ bê tông hoá thấp, chất
lượng đường vào thôn kém, người dân gặp phải rất nhiều khó khăn trong việc đi lại
vào mùa mưa.
+ Về thuỷ lợi: Trong những năm qua dự án Chia Sẻ, dự án 135 và nhiều dự
án khác đã đầu tư cho bà con nông dân xây dựng nhiều công trình thuỷ lợi như: Bê
tông hoá hệ thống kênh mương, xây đập giữ nước… nhưng đến nay diện tích lúa
không chủ động được nước tưới còn nhiều, nguyên nhân chủ yếu là do thiếu kênh
mương, thiếu nguồn nước dẫn vào, nhiều diện tích phụ thuộc vào nước trời nên chỉ
có thể trồng được 1 vụ; Hệ thống tưới, tiêu chưa đảm bảo, tỷ lệ bê tông hoá vẫn còn


15
15
thấp, khi có lũ lụt thường xảy ra sạt lở gây mất chủ động trong tưới nước và tiêu
nước khi ngập úng. Nước sinh hoạt: Mặc dù đã được đầu tư khá nhiều nhưng nhìn
chung nước sinh hoạt cho bà con nông dân thiếu khá nhiều, đặc biệt là vào mùa khô.
+ Điện: Tại các địa phương dân sống tập trung đông, địa hình không khó
khăn cho việc xây dựng đường đây, trạm cao thế, hạ thế như Quảng Trị thì đa số
nông hộ đều đã được kéo điện và sử dụng điện lưới quốc gia, tuy nhiên đến nay
điện phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất vẫn còn thiếu trầm trọng, hệ thống đường
dây kém chất lượng, vào mùa nóng xảy ra hiện tượng mất điện thường xuyên do
thiếu điện cấp. Tại một địa phương vùng sâu, vùng xa do tập quán thích sống ở trên
cao, dân lại ở thưa thớt rất khó khăn cho việc mắc trạm điện đến từng khu vực người
dân muốn mắc điện thì phải tự chuẩn bị dây, cột nên nhiều hộ nghèo vẫn chưa được
tiếp cận mạng lưới điện quốc gia vì chi phí lắp đặt đường dây quá cao so với khả
năng chi trả của họ.
+ Hệ thống truyền thông: Hầu hết các xã có loa đài truyền thông nhưng chủ
yếu là loa truyền thông cấp xã, hệ thống này không đảm bảo được việc cung cấp
thông tin cho người dân. Tỷ lệ thôn có loa phóng thanh thấp, chất lượng thiết bị
kém, thời lượng phát ngắn, không đáp ứng được nhu cầu thông tin của nhân dân.
Đây là một trong những điểm yếu của công tác truyền thông.
+ Về nhà văn hoá thôn: Hiện nay còn rất nhiều thôn chưa có nhà sinh hoạt
cộng đồng, đặc biệt là những thôn thuộc các xã vùng sâu, vùng xa. Để tổ chức các
cuộc họp, các lớp tập huấn, các buổi sinh hoạt cộng đồng, những thôn này phải nhờ
gia đình của một ai đó trong thôn. Nhiều thôn tuy đã có nhà sinh hoạt cộng đồng
nhưng phần nhiều trong số đó còn chật hẹp, xuống cấp trầm trọng, nhiều thôn có
nguy cơ sụp, đổ, bên cạnh đó các trang thiết bị phục vụ sinh hoạt không đủ, nhiều
nhà văn hoá thôn không có ghế để cho nhân dân ngồi mỗi khi đến dự họp. Chỉ có
một số thôn do dự án Chia Sẻ hỗ trợ đảm bảo được về mặt diện tích và trang thiết bị
phục vụ sinh hoạt.
+ Các cơ sở chế biến NLS, các cơ sở dịch vụ SX: Ở các vùng sâu vùng xa, tại
các địa phương trong huyện không có cở sở chế biến nông lâm sản lớn, đa số nông
sản được bán cho tư thương để đem đi chế biến, tiêu thụ ở nơi khác. Chỉ có một số
hộ rất ít hộ nông dân làm nghề tiểu thủ công nghiệp nhỏ như: nấu rượu, làm đậu phụ,
xay xát, phục


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×