Tải bản đầy đủ

Tài liệu: Điều kiện để hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan theo Chương trình ATIGA

Đề:
1.
Trình bày các điều kiện để hàng hóa được hưởng ưu đãi thuế quan theo
Chương trình ATIGA.
2.
So sánh việc áp dụng MFN đối với hàng hóa của các nước thành viên AFTA
đồng thời là thành viên WTO.
I.

Các điều kiện để hàng hóa được hưởng thuế suất ATIGA

Điều kiện 1: Phải là hàng hóa thuộc Biểu thuế quan Hài hòa ASEAN
1
(AHTN) . Tất cả các sản phẩm trong Danh mục hài hòa thuế quan của ASEAN (AHTN)
đều được đưa vào trong biểu cam kết thuế quan của từng nước trong ATIGA, bao gồm cả
những sản phẩm được cắt giảm thuế và cả những sản phẩm không phải cắt giảm thuế
Cụ thể, các sản phẩm mà thuế quan của Quốc gia thành viên xuất khẩu đã đạt hoặc ở
mức 20% hoặc thấp hơn và không thuộc lộ trình H2. Điều này có nghĩa là đối tượng mà
ATIGA hướng đến chỉ là hàng hóa, không bao gồm dịch vụ, đầu tư… và hàng hóa này phải
được quy định trong Biểu thuế quan Hài hòa do ASEAN quy định.
Điều kiện 2: Phải đáp ứng điều kiện về quy tắc xuất xứ tại Chương 3. Cụ thể

theo Điều 26 Hiệp định ATIGA, một hàng hóa được nhập khẩu từ Quốc gia thành viên
này đến Quốc gia thành viên khác phải được đối xử như một hàng hóa có xuất xứ nếu hàng
hóa đó đáp ứng một trong các trường hợp sau:
a.
Là hàng hóa có xuất xứ thuần túy hoặc được sản xuất toản bộ tại lãnh thổ
của một Quốc gia thành viên xuất khẩu tại Điều 27 Hiệp định ATIGA
Tiêu chí này thường được áp dụng đối với thực vật, động vật sống, sản phẩm đánh
bắt, phế thải, phế liệu …
b.
Là hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ
tại lãnh thổ tại Quốc gia thành viên xuất khẩu phù hợp với Điều 28 và 30 Hiệp định
ATIGA:

Hàng hóa có hàm lượng giá trị khu vực RVC không dưới 40% (công thức
nêu tại Điều 29 Hiệp định ATIGA.
Ví dụ: Một chiếc xe ô tô sẽ bao gồm: động cơ, khung xe, màu sơn, bản thiết kế…
Nếu chiếc ô tô này có RVC là 40% thì nó sẽ được coi là có xuất xứ tại ASEAN.
Nếu RVC của nguyên liệu nằm trong khoảng từ 20% tới dưới 40% thì RVC sẽ được
cộng gộp theo tỉ lệ thực tế vào hàm lượng nội địa. (Các hướng dẫn cụ thể được quy định tại
Phụ lục 6 của Hiệp định).
1 Điều 4 Hiệp định ATIGA
2 Điều 22 Hiệp định ATIGA



Tất cả các nguyên vật liệu không có xuất xứ được sử dụng để sản xuất hàng
hóa đã trả qua quá trình chuyển đổi mã số hàng hóa ở cấp bốn số của Hệ thống hài hòa và
phần chuyển đổi phải chiếm dưới 10% trở xuống tổng sản phẩm (Khoản 1 Điều 33 Hiệp
định ATIGA).
Hàng hóa có xuất xứ không thuần túy hoặc không được sản xuất toàn bộ là những
loại hàng hóa được gia công, chế biến tại một quốc gia thành viên từ một phần hoặc toàn
bộ nguyên liệu không có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng sẽ áp dụng tiêu chí này.
Ví dụ như một bộ quần áo sản xuất tại Việt Nam từ vải lụa tơ tằm không có xuất xứ
sẽ áp dụng tiêu chí này.
Khác với tiêu chuẩn hàm lượng giá trị khu vực (dùng để xác định tỷ lệ phần trăm giá
trị nội địa so với giá trị nhập khẩu trong tổng giá trị hàng hóa), tiêu chuẩn này có tính kỹ
thuật (về hải quan), được dùng để xác định xem liệu các nguyên vật liệu (chứ không phải là
bản thân hàng hóa) không có xuất xứ đã được "gia công, chế biến đầy đủ” tại quốc gia
thành viên hay chưa.
Lưu ý: tiêu chí CTC chỉ áp dụng đối với nguyên vật liệu không có xuất xứ.


II.

Việt Nam

Theo thông tin từ Bộ Tài chính, thực hiện cam kết ATIGA, tính đến ngày
1/1/2014, Việt Nam đã cắt giảm về 0% đối với 6.897 dòng thuế (chiếm 72% tổng Biểu thuế
nhập khẩu).
Đến ngày 1/1/2015, Việt Nam cắt giảm về 0% thêm 1.706 dòng thuế nữa. Số còn lại gồm
669 dòng thuế (chiếm 7% Biểu thuế), chủ yếu là những sản phẩm nhạy cảm trong thương
mại giữa Việt Nam và ASEAN, sẽ xuống 0% vào năm 2018, bao gồm: ô tô, xe máy, phụ
tùng linh kiện ô tô xe máy, dầu thực vật, hoa quả nhiệt đới, đồ điện dân dụng như tủ lạnh,
máy điều hòa, sữa và các sản phẩm sữa…
Các sản phẩm không phải xóa bỏ thuế nhập khẩu (duy trì thuế suất MFN) gồm Thuốc lá
điếu, lá thuốc lá, các mặt hàng an ninh quốc phòng như thuốc nổ, súng đạn, pháo hoa, rác
thải y tế, lốp cũ...
Để thực hiện Hiệp định ATIGA, Chính phủ vừa ban hành Nghị định
156/2017/NĐ-CP về biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt của Việt Nam để thực hiện Hiệp
định thương mại hàng hóa Asean giai đoạn 2018 - 2022. Theo Điều 4 Nghị định 156/2017,
để hàng hóa nhập khẩu được áp dụng thuế suất ATIGA phải đáp ứng đủ các điều kiện sau:
1.
Thuộc Biểu thuế nhập khẩu ưu đãi đặc biệt ban hành kèm theo Nghị
định 156/2017/NĐ-CP.


Theo đại diện Cục Thuế XNK (Tổng cục Hải quan), Danh mục AHTN 2017 có tổng
cộng 10.813 dòng hàng ở cấp độ 8 chữ số. So với Danh mục AHTN 2012, danh mục 2017
đã tăng lên 1.255 dòng hàng, giữ nguyên mô tả và mã số của 7.810 dòng, gộp 682 dòng,
tách mã, chuyển mã và mở dòng với mô tả mới là 2.321 dòng.
Đối với 2.321 dòng thuế tách mã, chuyển mã và mở dòng là nhằm chi tiết hóa mô tả
của các dòng hàng đã có trong Danh mục AHTN 2012 hoặc để cập nhật các thay đổi về
công nghệ, đặc tính thương mại, tiêu chuẩn môi trường phù hợp với tình hình thực tế. Một
dòng hàng này sẽ tương quan ngang với một dòng hàng của Danh mục AHTN 2012.
Do vậy, đối với 2.321 dòng thuế tách mã, chuyển mã và mở dòng thì việc thực hiện
Danh mục AHTN 2017 không dẫn đến sự thay đổi về thuế suất của Biểu thuế XK, NK ưu
đãi (Biểu thuế MFN) và lộ trình cam kết thực hiện các Hiệp định thương mại tự do (các
Biểu thuế FTA) hoặc chính sách mặt hàng.
Trong 682 dòng gộp, có 404 dòng gộp có cùng thuế suất và 278 dòng có chênh lệch
thuế suất so với Biểu thuế MFN. Trong 278 dòng gộp có chênh lệch thuế suất tập trung chủ
yếu vào các nhóm thủy sản, gỗ, lốp ô tô, xe máy, giấy, hóa chất, dệt may, máy móc thiết bị
và đặc biệt là nhóm ô tô. Việc gộp các dòng này sẽ đặt ra yêu cầu đối với việc xây dựng
Biểu thuế sau này phải rà soát để điều chỉnh hoặc lựa chọn mức thuế suất phù hợp để tiếp
tục duy trì chính sách mặt hàng.
Việc áp dụng Danh mục AHTN 2017 là nhằm cập nhật thay đổi về mô tả, công
nghệ, kỹ thuật trên nền AHTN 2012, do vậy về cơ bản không tác động đến chính sách
ngành hàng, không làm thay đổi lớn đến các cam kết quốc tế của Việt Nam trong WTO và
các cam kết FTA.
2.
Được nhập khẩu vào Việt Nam từ các nước là thành viên của Hiệp định
Thương mại Hàng hóa ASEAN (ATIGA)
Có nghĩa là phải nhập khẩu từ các nước thành viên của ATIGA gồm 10 nước
thành viên của ASEAN.
3.
Được vận chuyển trực tiếp từ nước xuất khẩu theo khoản 2 Điều 4 Nghị
định 156/2017/NĐ-CP vào Việt Nam do Bộ Công Thương quy định.
Về tiêu chí xuất xứ hàng hóa, áp dụng Thông tư 22/2016/TT-BCT do Bộ
Công thương ban hành
Bộ Công Thương vừa ban hành Thông tư số 27/2017/TT-BCT có hiệu lực kể từ
ngày 6/12/2017 sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 28/2015/TT-BCT của Bộ
Công Thương quy định việc thực hiện thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa trong
Hiệp định Thương mại hàng hóa ASEAN (ATIGA). Cụ thể, về tiêu chí lựa chọn thương
nhân tham gia thí điểm tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa, Bộ Công Thương đã bãi bỏ tiêu
chí “Kim ngạch XK đi ASEAN được cấp C/O mẫu D năm trước liền kề đạt tối thiểu 10


(mười) triệu đô la Mỹ”, quy định tại khoản 3 Điều 4 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT và
thay bằng tiêu chí “Là DN nhỏ và vừa trở lên”.
Đồng thời, Bộ Công Thương cũng bãi bỏ quy định về “tên viết hoa” của người được
thương nhân ủy quyền tại khoản 1 Điều 7 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT về hóa đơn
thương mại có nội dung khai báo xuất xứ.
Ngoài ra, nhằm phòng ngừa rủi ro vi phạm xuất xứ khi thực hiện thí điểm tự chứng
nhận xuất xứ hàng hóa, khoản 6, Điều 7 của Thông tư số 28/2015/TT-BCT được bổ sung
như sau: “Thương nhân được lựa chọn không được tự chứng nhận xuất xứ hàng hóa đối với
những lô hàng do cơ quan hải quan phân loại vào luồng vàng hoặc luồng đỏ.”
4.
Đáp ứng các quy định về xuất xứ hàng hóa trong Hiệp định Thương mại
Hàng hóa ASEAN và có Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (hay còn được gọi là
“C/O”) Mẫu D, theo quy định tại Điều 38 Hiệp định ATIGA.
Để được hưởng ưu đãi thuế quan, theo ATIGA, nhà xuất khẩu phải xin Chứng nhận
xuất xứ form D tại một cơ quan có thẩm quyền của nước xuất khẩu - ở Việt Nam là 18
Phòng Quản lý Xuất nhập khẩu thuộc Cục Xuất Nhập khẩu – Bộ Công Thương và 37 Ban
quản lý Khu công nghiệp, Khu chế xuất do Bộ Công Thương ủy quyền.

-

Một số thông tin thêm:

Tháng 1-2016, các nước ASEAN đã thống nhất các nội dung cần sửa đổi trong
Chương Quy tắc xuất xứ của ATIGA và Ban Thư ký ASEAN trình lên Hội đồng AFTA phê


duyệt giữa kỳ, gồm 2 nội dung: Danh mục các mặt hàng công nghệ thông tin theo HS 2012
và Thủ tục cấp và kiểm tra C/O được sửa đổi để áp dụng C/O mẫu D điện tử.
Cuối tháng 2-2016 và đầu tháng 3-2016, Hội đồng AFTA đã gửi thư phê chuẩn đối
với Danh mục các mặt hàng công nghệ thông tin (ITA) theo HS 2012 và thông qua việc sửa
đổi Thủ tục cấp và kiểm tra C/O để áp dụng C/O mẫu D điện tử trong ATIGA.
Để nội luật hóa những cam kết quốc tế này, Bộ Công Thương đã ban hành Thông tư
số 22, trong đó sửa đổi và bổ sung các nội dung: Phụ lục IV Danh mục các mặt hàng công
nghệ thông tin (ITA) theo mã HS 2012; phụ lục VII về thủ tục cấp và kiểm tra C/O (bổ
sung một số điều để áp dụng C/O mẫu D điện tử).
Ngoài ra, thời hạn lưu trữ hồ sơ (áp dụng cho cả hồ sơ giấy và dữ liệu hồ sơ điện tử)
cũng được quy định 5 năm (thay vì 3 năm như quy định tại Thông tư 21/2010/TT-BCT
trước đây). Các phụ lục khác cơ bản không thay đổi và được hợp nhất từ Thông tư số
21/2010/TT-BCT và Thông tư số 42/2014/TT-BCT.
I.
CHẾ ĐỘ ƯU ĐÃI ĐỐI XỬ TỐI HUỆ QUỐC KHI LÀ THÀNH VIÊN
CỦA AFTA VÀ WTO
-

Theo WTO:

Việc áp dụng quy chế MFN nhằm mục đích không phân biệt đối xử trong quan hệ
thương mại. Theo đó, các quốc gia phải cho các quốc gia thành viên khác được hưởng ưu
đãi thương mại mà họ cho quốc gia thứ ba hưởng sẽ được áp dụng cho sản phẩm tương tự
một cách ngay lập tức và một cách không điều kiện. Tuy nhiên, MFN trong khuôn khổ
WTO cũng có 4 trường hợp ngoại lệ cơ bản được quy định tại Điều 24 Hiệp định GATT.
Tóm lại, nếu WTO cùng quy định 2 biện pháp thuế quan và phi thuế quan tại cùng 1
điều khoản – Điều 1 GATT thì Hiệp định ATIGA chia ra thành 2 điều khoản khác nhau –
Điều 5 (Biện pháp thuế quan) và Điều 40 (Biện pháp phi thuế quan).
Khu vực tự do mậu dịch ASEAN (AFTA) là một hiệp định thương mại tự do (FTA)
đa phương giữa các nước trong khối ASEAN, là một trong những ngoại lệ của nguyên tắc
MFN được thừa nhận tại Điều 24 Hiệp định GATT 1994. Do đó, những thành viên của
AFTA được quyền dành cho nhau những mức thuế quan thấp hơn, điều kiện thấp hơn và ưu
đãi hơn so với những thành viên còn lại của WTO và AFTA cũng không có nghĩa vụ mở
rộng những ưu đãi này cho các thành viên đó. Ngoài ra, nếu việc áp dụng MFN trong
khuôn khổ WTO là “ngay lập tức và vô điều kiện” thì việc áp dụng MFN trong AFTA trong
trường hợp quy định tại Điều 5 Hiệp định ATIGA là phụ thuộc vào quyết định của nước
thành viên đó thông qua việc ban hành Biểu thuế quan của từng thành viên của AFTA.
-

Các ưu đãi mà các thành viên AFTA dành cho nhau (2 ưu đãi):


1.

Hưởng MFN: gồm thuế quan và phi thuế quan

a.

Hưởng thuế suất ATIGA

Đối với biện pháp thuế quan, nguyên tắc này chỉ áp dụng trong lĩnh vực thuế quan,
theo đó một nước thành viên ASEAN tham gia hiệp định thương mại tự do với một nước
không phải là thành viên ASEAN có cam kết cắt giảm thuế quan nhanh hơn hay có ưu
đãi hơn so với cam kết trong nội bộ ASEAN thì các nước thành viên ASEAN khác có
quyền yêu cầu đàm phán để được hưởng ưu đãi đó. Tuy nhiên, quyết định cuối cùng về
việc có cho hưởng ưu đãi đó hay không hay hưởng đến mức độ nào sẽ do nước ký kết đơn
phương quyết định. Nếu nước ký kết đồng ý cho một nước thành viên ASEAN hưởng ưu
đãi đó thì phải dành ưu đãi cho tất cả cho tất cả thành viên ASEAN còn lại (Điều 5 Hiệp
định ATIGA).
Ví dụ: Doanh nghiệp A nhập khẩu mặt hàng phân bón Supephosphat thuộc mã
số 3103.10.10 từ Malaysia là nước thực hiện đối xử tối huệ quốc trong quan hệ thương mại
với Việt Nam, doanh nghiệp A phải nộp thuế nhập khẩu theo mức thuế suất ưu đãi là 6%.
Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp A xuất trình được C/O form D và đáp ứng được
các điều kiện ưu đãi đặc biệt theo quy định tại Hiệp định ATIGA thì được áp dụng mức
thuế suất ưu đãi đặc biệt ATIGA là 5%.
b.

Huỷ bỏ hạn chế về định lượng hàng rào phi quan thuế

Các biện pháp phi thuế quan được quy định tại Chương 4 của Hiệp định quy đinh
các nước còn áp dụng hạn ngạch thuế quan sẽ dỡ bỏ TRQ (hạn ngạch thuế quan) theo ba
gói thống nhất với Chương trình làm việc về xoá bỏ hàng rào phi thuế quan. Các nước
thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ hàng rào phi thuế quan theo ba gói với thời gian quy định cụ
thể tại Điều 42 của Hiệp định: Brunei, Indonesia, Malaysia, Singapore, Thái lan sẽ xoá bỏ
lần lượt vào các năm 2008, 2009 và 2010; Philippines xoá bỏ lần lượt vào các năm 2010,
2011, 2012; các nước CLMV xoá bỏ lần lượt vào các năm 2013, 2014, 2015, có linh hoạt
tới năm 2018.
Đây cũng là cơ chế quan trọng thứ hai được tiến hành đồng thời với thực hiện
chương trình CEPT. Các nước thành viên ASEAN sẽ xoá bỏ tất cả các hạn chế về số lượng
đối với các sản phẩm CEPT trên cơ sở chế độ ưu đãi thuế quan được áp dụng cho các sản
phẩm đó. Đây là sự hỗ trợ cực kỳ quan trọng cho tiến trình AFTA vì lẽ cắt giảm thuế là biện
pháp cần thiết, đầu tiên song đó không phải là biện pháp duy nhất để thực hiện tự do hoá
thương mại. Các khía cạnh như: các kênh giảm thuế đồng tuyến, danh mục loại trừ tạm
thời, danh mục hàng nông nghiệp chưa qua chế biến… tạo nên tính kỹ thuật của chính sách
tự do hoá thương mại, còn cấu thành nên sự tác động có tính chất hành chính, pháp lý giữa
các quốc gia trong tiến trình chu chuyển thương mại đó là các biện pháp về giấy phép xuất


nhập khẩu, hạn ngạch, các hạn chế về tỷ giá hối đoái, các biện pháp về tiêu chuẩn kỹ thuật
hàng hoá…
Để chuẩn bị tốt tiến trình xoá bỏ các hàng rào phi quan thuế, Uỷ ban Phối hợp thực
hiện CEPT/AFTA của ASEAN đã tiến hành các bước như sau:
Bước 1: Các nước thành viên cùng thống nhất định nghĩa về các biện pháp phi quan
thuế dựa trên sự phân loại của UNCTAC.
Bước 2: tập trung trước tiên việc giảm các hàng rào phi thuế quan đối với các sản
phẩm có tỷ trọng lớn trong giao dịch thương mại nội bộ ASEAN.
Bước 3: Ban thư ký ASEAN sẽ tập hợp thông tin các hàng rào phi quan thuế của các
nước thành viên từ nhiều nguồn, gồm: báo cáo của các quốc gia thành viên, bản đánh giá
chính sách thương mại của GATT, báo cáo của Phòng thương mại-Công nghiệp ASEAN,
hệ thống thông tin và phân tích dữ liệu thương mại của UNCTAC… để có một chính sách
điều hoà thích hợp. Trừ một số lý do được phép duy trì các hàng rào phi quan thuế như: sự
cần thiết phải bảo hộ một số sản phẩm thuộc danh mục loại trừ hoàn toàn, sự bảo hộ đối với
một số sản phẩm trong thời gian còn được hưởng chế độ miễn trừ tạm thời… việc xoá bỏ
các hàng rào phi quan thuế cần được phối hợp đồng bộ với chương trình CEPT, trong đó
quan trọng nhất và khó khăn nhất là việc thống nhất các tiêu chuẩn về hàng hoá và việc
thừa nhận lẫn nhau về tiêu chuẩn hoá hàng hoá giữa các nước thành viên. Hiện tại, Uỷ ban
về tiêu chuẩn Chất lượng của ASEAN (ACCSQ) đang tiến hành thống nhất hoá các tiêu
chuẩn về kỹ thuật của các sản phẩm CEPT thuộc nhóm những hàng hoá có kim ngạch buôn
bán lớn giữa các nước ASEAN. Tất nhiên, ở đây cần phân biệt rõ giữa hàng rào phi quan
thuế và các biện pháp phi quan thuế bởi vì rất nhiều biện pháp phi quan thuế lại có tác dụng
tốt cho việc tạo dựng môi trường thương mại. Ví dụ, chính sách trợ giá xuất khẩu của
Chính phủ, biện pháp chống bán phá giá…
2.

Sự phối hợp về hải quan

Các nước ASEAN đã xác định việc hợp tác hải quan là một trong những nhân tố
quan trọng để thực hiện mục tiêu của AFTA, do vậy ngay sau khi Hiệp định CEPT được ký
kết, các nước đã tăng cường hợp tác trên lĩnh vực này.
Phối hợp hải quan là cơ chế thực hiện của chương trình CEPT khi nó hỗ trợ các
nước thành viên thống nhất biểu thuế quan theo Hệ thống điều hoà (HS) của nó. Hơn nữa,
nó tạo thuận lợi cho việc thực hiện giảm thuế và phi quan thuế khi hệ thống tính giá hải
quan được thống nhất, các luồng xanh ưu đãi cho hàng hoá theo CEPT của ASEAN được
hình thành và đặc biệt thủ tục hải quan được thống nhất. Như vậy, tiến trình AFTA nhanh
hay chậm, được điều chỉnh hay bổ sung đều tuỳ thuộc đáng kể vào các chương trình hợp
tác hải quan.


Tổng cục Hải quan của Việt Nam cũng đã tham gia với các nước thành viên ASEAN
khác trong mọi lĩnh vực hợp tác hải quan ASEAN: Điều hoà thống nhất danh mục biểu thuế
quan của các nước ASEAN; Điều hoà thống nhất các hệ thống xác định trị giá hải quan để
tính thuế; Điều hoà thống nhất quy trình thủ tục hải quan ASEAN; Xuất bản sách Hướng
dẫn về các quy trình thủ tục hải quan của các nước; Triển khai Hệ thống Luồng xanh để
nhanh chóng hoàn thành các thủ tục hải quan cho các sản phẩm của CEPT; Xây dựng tờ
khai hải quan chung; Xây dựng Hiệp định Hải quan của các nước ASEAN.
II.
CÁC DOANH NGHIỆP CẦN LÀM GÌ ĐỂ ĐƯỢC HƯỞNG MFN
TRONG AFTA
-

Đảm bảo đủ điều kiện hưởng MFN về nội dung lẫn thủ tục hải quan

Nâng cao quy trình sản xuất, chất lượng sản phẩm để đủ sức cạnh tranh với
các sản phẩm nhập khẩu
III.

Ví dụ

Theo lộ trình của hiệp định thương mại tự do AFTA, thuế nhập khẩu ô tô từ các
nước ASEAN vào Việt Nam về 0% kể từ đầu năm 2018. Đây là cơ hội để xe nhập khẩu từ
các nước ASEAN tăng mạnh và giấc mơ sở hữu ô tô giá rẻ của người dân sẽ thành hiện
thực.
Thế nhưng, cũng vào thời điểm này, Nghị định 116 về điều kiện nhập khẩu, ô tô
kinh doanh chính thức có hiệu lực đã dập tắt giấc mơ ấy.
Bởi, theo quy định này, xe nhập khẩu vào Việt Nam buộc phải có giấy chứng nhận
chất lượng kiểu loại xe cơ giới do nước ngoài cung cấp, mỗi lô hàng phải lấy ra một xe để
kiểm định... Rõ ràng Nghị định 116 như là một hàng rào kỹ thuật nhằm hạn chế lượng xe
nhập khẩu. Đây là rào cản trực tiếp buộc người dân sử dụng xe lắp ráp trong nước giá thành
cao.
Nghị định 116 được ban hành bên cạnh Nghị định 125 về giảm thuế nhập khẩu linh
kiện ô tô có điều kiện về sản lượng theo từng năm được kỳ vọng sẽ hỗ trợ cho các hãng xe
lắp ráp nội địa, nhằm tiếp tục khuyến khích việc phát triển ngành công nghiệp ô tô của Việt
Nam trong dài hạn, nhất là khi thị trường vừa có thêm sự gia nhập của Vinfast.
Tuy nhiên, một số lo ngại rằng các nước khác cũng có thể áp dụng các biện pháp trả
đũa thương mại bằng cách dựng lên các hàng rào phi thuế quan tương tự đối với các sản
phẩm nhập khẩu từ Việt Nam.
Thực tế đã cho thấy, các quốc gia khi giảm thuế theo các hiệp định thương mại vẫn
thường áp đặt hoặc nâng cao những hàng rào kỹ thuật để bảo hộ các ngành trong nước còn


non trẻ nhằm tránh phải phá sản những ngành này. Dù vậy, nếu quá nhiều hàng rào phi thuế
quan được dựng lên thì việc các dòng thuế nhập khẩu giảm xuống theo lộ trình của các hiệp
định thương mại tự do tất yếu sẽ không mang lại những hiệu ứng tích cực như mục tiêu đặt
ra.



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×