Tải bản đầy đủ

Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế tại việt nam trong giai đoạn hiện nay h

GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Mục lục
Nội dung
Mở đầu

Trang
2

Phần 1: Cơ sở lý thuyết
1.
2.
3.
4.

Khái niệm hệ thống tài chính
Chức năng của hệ thống tài chính
Cấu trúc hệ thống tài chính
Vai trò của hệ thống Tài chính
Phần 2: Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế
tại Việt Nam. Liên hệ trong giai đoạn hội nhập hiện nay.


1.
2.
3.
4.

Thị trường tài chính
Trung gian tài chính
Hệ thống cơ quan giám sát
Hệ thống cơ sở hạ tầng pháp lý
Phần 3: Kết Luận
Tài liệu tham khảo
Danh sách thành viên

Mở đầu
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội ở Việt Nam hiện nay,với xu thế hội
nhập,vai trò của tài chính và hệ thống tài chính là vô cùng quan trọng.Bất kì một
tổ chức nào cũng không thế hoạt động sản xuất kinh doanh khi không đủ nguồn
lực về vốn,nhu cầu về vốn luôn là vấn đề quan trọng và được ưu tiên hàng đầu khi
bước vào một kì kinh doanh mới.Tuy nhiên trong nền kinh tế luôn xuất hiện những
chủ thể có vốn nhàn rỗi và những chủ thể có nhu cầu sử dụng vốn cho hoạt động
kinh doanh và tiêu dùng nhưng lại không đủ hoặc không có vốn.Nhưng giữa hai
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

1


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
loại chủ thể này rất khó gặp nhau để có thể trao đổi nhu cầu về vốn của mình do
những cản trở về thời gian,sự quen biết,thông tin,trình độ và uy tín…Để giải quyết
mâu thuẫn đó các định chế tài chính trung gian ra đời,đã tạo nên sự thuận lợi và
phân tán rủi ro cho các bên.
Xã hội ngày càng phát triển,nhu cầu sử dụng về nguồn vốn ngày càng đa
dạng và phức tạp hơn.Trình độ khoa học công nghệ ngày càng cao,trình độ chuyên
môn cũng tăng lên không ngừng đã giúp cho việc trao đổi tài chính ngày càng trở
nên dễ dàng và nhanh hơn với nhiều hình thức tiếp cận nguồn vốn khác
nhau.Người ta có thể thỏa mãn nhu cầu về vốn thông qua thị trường tài chính trực
tiếp hoặc qua các trung gian tài chính.Tuy nhiên việc thông qua thị trường tài
chính trực tiếp mang lại nhiều nguy cơ tiềm ẩn với rủi ro cao hơn.Để đảm bảo cho
nền kinh tế tăng trưởng bền vững đòi hỏi dòng vốn phải được luôn chuyển một
cách trôi chảy,nhạy bén nhưng phải đặt trong một khuôn khổ, trật tự nhất


định.Điều đó đã tạo động lực hình thành và ra đời một hệ thống tài chính nhằm
đảm bảo dòng vốn luân chuyển an toàn, hiệu quả hơn.
Hiểu được tầm quan trọng của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế, đặc biệt
trong bối cảnh hội nhập không ngừng mà Việt Nam đang hướng tới.Cho nên việc
tìm hiểu hệ thống tài chính và vai trò của hệ thống tài chính đối với nền kinh tế
Việt Nam hiện nay là điều hết sức cần thiết. Nhằm làm rõ vấn đề này, tiểu luận tập
trung tìm hiểu và phân tích “ Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển
kinh tế tại Việt Nam”.
Nội dung nghiên cứu của nhóm gồm 3 phần:



Nghiên cứu cơ sở lý thuyết
Vai trò của hệ thống tài chính đối với sự phát triển kinh tế tại Việt Nam trong xu

hướng hội nhập mới
• Cơ hội – thách thức – giải pháp
Với thời lượng cho phép,nhóm 1 đã tìm hiểu thông tin trong giáo trình, một
số sách báo, và trang mạng cổng thông tin bộ tài chính nhưng không thể tránh khỏi
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

2


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
thiếu sót và hạn chế về kiến thức. Nhóm 1 rất mong nhận được góp ý bổ sung của
Cô giáo, bạn bè để hoàn chỉnh bài tiểu luận được tốt hơn.
Nhóm 1 chân thành cảm ơn!

PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1. Khái niệm hệ thống tài chính

Hệ thống tài chính (HTTC) là tổng thể bao gồm các bộ phận cấu thành: thị
trường tài chính, định chế tài chính trung gian, cơ sở hạ tầng pháp lý – kỹ thuật và
các tổ chức quản lý giám sát và điều hành HTTC; gắn liền với việc huy động, sử
dụng các công cụ Tài chính để tổ chức phân bổ nguồn lực tài chính nhằm đạt được
mục tiêu đề ra của các chủ thể trong nền kinh tế; được tạo lập trong một môi
trường kinh tế xã hội cụ thể.
2. Chức năng của hệ thống tài chính
a. Huy động nguồn tài chính

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

3


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Chức năng huy động vốn thể hiện khả năng tổ chức khai thác các nguồn tài
chính nhằm tạo lập nguồn lực đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế.Chức
năng huy động vốn được thực hiện trên cơ sở tương tác giữa các yếu tố:
b.

Chủ thể cần vốn
Các nhà đầu tư
Hệ thống tài chính gồm thị trường tài chính và định chế tài chính.
Môi trường tài chính và kinh tế
Phân bổ nguồn tài chính:
Chức năng phân bổ nguồn tài chính hay còn gọi là chức năng phân phối
nguồn tài chính biểu hiện thông qua thiết lập kế hoạch sử dụng nguồn lực có sẵn
để đạt được mục tiêu phát triển trong ngắn hạn và dài hạn của các chủ thể kinh tế xã hội.Qua chức na năng phân bổ nguồn lực,các quỹ tiền tệ chuyên dùng được
hình thành với những quy mô nhất định tương ứng với nhu cầu chi tiêu của các
chủ thể.

c. Sàng lọc, chuyển giao và phân tán rủi ro:

Chức năng sàng lọc, chuyển gia và phân tán rủi ro thể hiện qua việc tổ chức
thực hiện các công cụ của hệ thống tài chính,quản lý giám sát điều hành,cung cấp
thông tin giúp cho những nhà đầu tư lựa chọn kênh đầu tư an toàn hạn chế bớt các
hình thức đầu tư có tính rủi ro cao.
d. Kiểm tra giám sát quá trình phân bổ nguồn tài chính

Kiểm tra tài chính phản ánh hoạt động thu thập và đánh giá những bằng
chứng về thông tin liên quan đến quá trình huy động vốn và phân bổ các nguồn tài
chính với mục đích giảm bớt thông tin bất cân xứng, đảm bảo tính đúng đắn, tính
hiệu quả và hiệu lực của việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ.
e. Vận hành hệ thống thanh toán

Chức năng vận hành hệ thống thanh toán nhằm làm tăng tính thanh khoản
của các tài sản tài chính,giảm chi phi giao dịch,.. được thể hiện thông qua việc

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

4


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
phát triển và hoàn thiện các hệ thống thanh toán,đặc biệt thanh toán không bằng
tiền mặt
3.
a.
b.
c.
d.
4.

Cấu trúc hệ thống tài chính
Thị trường tài chính
Trung gian tài chính
Cơ sở hạ tầng pháp lý – kỹ thuật về tài chính
Các tổ chức điều hành, giám sát hệ thống tài chính
Vai trò của hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính có vai trò được thể hiện thông qua các mối liên hệ giữa
các dòng vốn với sự tăng trưởng kinh tế và sự điều hành của các định chế tài
chính ( chủ yếu là các trung gian tài chính) trong vai trò phân bổ nguồn lực vào
các khu vực kinh tế,các hoạt động kinh tế diễn ra một cách hiệu quả.

-

Hệ thống tài chính tạo ra các dòng vốn phục vụ cho tăng trưởng kinh tế.Bằng
nghiệp vụ của mình,hệ thống tài chính huy động và tạo lập các nguồn vốn, 1 phần
chảy trực tiếp vào các lĩnh vực đầu tư phát triển theo hình thức tự đầu tư,và một
phần lớn đước tăng cường vào dòng tài chính với mục tiêu thu được các khoản lợi
tức thống qua các khoản đầu tư nợ và đầu tư vốn chủ sở hữu.sự xuất hiện những
dòng vốn này cùng với sự bổ sung thường xuyên từ lợi tức tài chính làm vững
mạnh thị trường tài chính, tăng cường các nguồn lực tài chính cho tăng trưởng

-

kinh tế.
Hệ thống tài chính ( chủ yếu là các trung gian tài chính) có vai trò phân bổ nguồn

lực tài chính một cách hiệu quả.
 Trung gian tài chính với chức năng huy động vốn để cho vay từ đó đã nảy sinh ra
các dịch vụ giám sát và đánh giá các giao dịch tài chính,quản lý rủi ro và tạo thuận
lợi cho các giao dịch ( tăng thông tin và giảm chi phí ).
 Ngoài ra với sự ra đời của các trung gian tài chính cũng cũng có ý nghĩa trong việc

tích lũy vốn cho nền kinh tế và hỗ trợ đổi mới công nghệ cho vấn đề tăng trưởng
kinh tế trên nhiều khía cạnh khác nhau.
 Quản lý điều hành hiệu quả các dòng vốn (không để vượt giới hạn cho phép) và sự

hình thành phát triển của các thể chế tài chính.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

5


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền

PHẦN 2: VAI TRÒ CỦA HỆ THỐNG TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN KINH TẾ TẠI VIỆT NAM.LIÊN HỆ TRONG GIAI ĐOẠN HÔI NHẬP
HIỆN NAY.
1. Vai trò của thị trường Tài chính
* Thị trường tài chính tạo lập nguồn vốn cho nền kinh tế
Với vai trò là tích tụ và tập trung tư bản cho nền kinh tế, hệ thống Ngân hàng
thương mại là một kênh huy động vốn giáp tiếp để tạo lập nguồn vốn. Hệ thống
Ngân hàng thương mại thực hiện chức năng huy động vốn của mọi thành phần
kinh tế trong xã hội thông qua các dịch vụ tiền gửi tiết kiệm, dịch vụ thanh toán,
…Lãi suất huy động trên thị trường có ảnh hưởng rất quan trọng đến lượng vốn
mà các Ngân hàng thương mại huy động được. Lãi suất này phải đảm bảo là lãi
suất thực dương, tức là phải cao hơn tỷ lệ mất giá của tiền tệ nhưng phải thấp hơn
lãi suất cho vay để đảm bảo hiệu quả kinh doanh cho hệ thống Ngân hàng.Từ
nguồn vốn huy động này, các Ngân hàng thương mại cung ứng một lượng vốn dồi
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

6


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
dào cho nền kinh tế thông qua hoạt động cấp tín dụng.Lãi suất trên thị trường tiền
tệ có ảnh hưởng lớn đến việc phát hành và mua bán chứng khoán trên thị trường
vốn.
Khi lãi suất tiết kiệm chưa thật sự hấp dẫn những người có tiền nhàn rỗi
mong muốn có nơi đầu tư sinh lợi cao hơn, mạo hiểm hơn thì thị trường chứng
khoán là một kênh huy động vốn trực tiếp cho nền kinh tế. Dựa vào tính thanh
khoản cao của tài sản tài chính trên thị trường này cũng như tính linh hoạt trong
lựa chọn danh mục đầu tư sao cho mức sinh lời tối ưu, thị trường chứng khoán ra
đời ở Việt Nam đã thật sự là nơi thu hút vốn rất lớn vì tính hấp dẫn ở suất sinh lời
cao hơn lãi suất tiết kiệm hay sự kỳ vọng vào giá trị cổ phiếu trong tương lai. Mặt
khác, nhà đầu tư cần vốn chỉ phải bỏ ra chi phí rất thấp nhưng có thể huy động
nguồn vốn lớn, tức thì, không bị bó hẹp như cơ chế cho vay. Tuy nhiên, điều này
còn phụ thuộc vào sự thuyết phục của nhà đầu tư từ những dự án kinh tế có sức
sinh lời cao. Điều quan trọng là cần phải khơi thông cơ chế hoạt động cho thị
trường chứng khoán phát triển.
* Thị trường tài chính góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của nền kinh
tế
Các công cụ và chính sách trên thị trường tài chính ngày càng phát triển sẽ
giúp khai thông các nguồn vốn và khai thác triệt để các nguồn lực tài chính.Các
nguồn lực tài chính bao gồm nguồn lực trong nước và nguồn lực từ nước
ngoài.Đối với nguồn lực tài chính trong nước, cần phát triển đa dạng các dịch vụ
về tài chính để những khoản tiết kiệm, tiền nhàn rỗi được đưa vào lưu thông sinh
lợi hơn là đưa vào cất trữ.Khi đó, nội lực tài chính trong nước được huy động triệt
để. Đối với nguồn lực tài chính bên ngoài, cần có chính sách khơi thông luồng tiền
vào và ra bằng cơ chế giám sát hơn là các biện pháp quản lý hành chánh, để thu
hút nguồn lực tài chính lớn của các tập đoàn nước ngoài.
Thị trường tài chính phát triển, mọi thông tin trên thị trường được công khai,
minh bạch. Nhà đầu tư muốn phát hành cổ phiếu huy động vốn trên thị trường
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

7


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
phải thực sự là đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả cao. Sự cạnh
tranh thu hút vốn này buộc các doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả hoạt động,
thường xuyên đổi mới công nghệ để tăng hiệu quả kinh tế. Vì thế mà hiệu quả
kinh tế của xã hội cũng được nâng lên.Mặt khác, khi doanh nghiệp tạo được sự kỳ
vọng vào một giá trị thị trường tương lai tăng cao sẽ kích thích cho mọi người tăng
tiết kiệm để đầu tư vào các doanh nghiệp có hiệu quả cao.Vì vậy, thị trường tài
chính có vai trò kích thích việc sử dụng vốn tiết kiệm và có hiệu quả.
* Thị trường tài chính góp phần đầy nhanh quá trình tự do hóa tài chính và
hội nhập quốc tế
Ngày nay với tốc độ tự do hóa toàn cầu, không một thị trường nào có thể phát
triển riêng lẻ mà phải có mối liên hệ với nhau. Điều đó được thể hiện bằng việc
mức độ tự do hóa thị trường tài chính trong nước và mức độ hội nhập vào nền kinh
tế thế giới. Vì thế mà hiện nay ở hầu hết các nước trên thế giới tiến hành cải cách
tài chính tiền tệ theo xu hướng tự do hóa tài chính.
Đối với tự do hóa tài chính, được thể hiện ở các mặt sau:
- Tự do hóa lãi suất: lãi suất hình thành trên thị trường phải do thị trường
quyết định, phụ thuộc vào cung cầu, đầu tư, mức tiết kiệm và thu nhập trong nền
kinh tế. Tự do hóa lãi suất thường gắn liền với nó là tự hóa tỷ giá hối đoái, có tác
động mạnh đến toàn bộ nền kinh tế quốc dân, quyết định tốc độ và tính chất của
tăng trưởng kinh tế.
- Tự do hóa cơ chế quản lý tỷ giá linh hoạt: là thực hiện chế độ tỷ giá thả nổi
có quản lý. Việc áp dụng cơ chế này là phù hợp với thị trường tài chính hiện tại
của Việt Nam. Tuy nhiên, điều cần lưu ý là điều chỉnh tỷ giá linh hoạt tương ứng
với một rổ tiền tệ, gồm các đồng tiền tham gia vào thương mại với Việt Nam hơn
là neo chặt vào dollar Mỹ. Mấu chốt của chính sách tỷ giá thả nổi có quản lý là
xây dựng một hành lang tỷ giá cho phép tỷ giá giao động trong một giới hạn nhất
định xung quanh tỷ giá chính thức của Ngân hàng Nhà nước.
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

8


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Ngoài ra, quá trình tự do hóa tài chính ở Việt Nam phải được tiến hành từng
bước và gắn với tự do hóa các lĩnh vực khác như:
- Tự do hóa giao dịch vãng lai
- Tự do hóa giao dịch vốn
- Thực hiện chuyển đổi đồng bản tệ
Thị trường tài chính phát triển sẽ làm tăng khả năng chuyển đổi tiền tệ đối
với các giao dịch qua tài khoản vãng lai; mở rộng và không hạn chế các giao dịch
tài chính qua biên giới của công dân nước sở tại và nước ngoài; các luồng vốn
nước ngoài được tự do ra vào trên thị trường chứng khoán. Khi nền kinh tế của
một nước là lớn mạnh và đồng tiền có uy tín thì đồng tiền của quốc gia đó được
xem là đồng tiền chuyển đổi tự do khi mà bất cứ ai có đồng tiền đó đều có quyền
tự do chuyển đổi sang những ngoại tệ tự do mang đầy đủ chức năng thanh toán và
dự trữ quốc tế theo tỷ giá hối đoái thị trường ngay ở trong nước và cả khi ra khỏi
biên giới quốc gia.
Thị trường tài chính phát triển giúp cho các chủ thể tham gia trên thị trường
có thể hòa nhập vào nhau cho dù họ ở bất kỳ đâu trên thế giới và khi đó tính hội
nhập quốc tế được thể hiện.Trước hết là trong lĩnh vực kinh tế – thương mại.
Những vùng, miền kinh tế khác nhau có thể đang xen hoạt động kinh tế – thương
mại của nhau thông qua thị trường tài chính ở mỗi quốc gia khi mà thị trường tài
chính được tự do hóa.
Không thể phủ nhận những mảng sáng của thị trường tài chính. Một cách
chung nhất, đó là: Chủ động, linh hoạt, vật lộn và nhìn rõ ra nhiều góc khuất…
nên đã cơ bản thoát khỏi nhiều nguy cơ tái khủng hoảng tài chính, bùng nổ lạm
phát quá lớn và chặn được đà suy giảm kinh tế.
Tăng trưởng GDP và tỉ lệ thất nghiệp từ năm 1998 đến năm 2010

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

9


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền

( Nguồn: IMF World Economic Outlook )
Tỷ lệ thất nghiệp đã giảm dần qua các năm đi cùng với sự tăng lên của tốc
độ tăng trưởng kinh tế từ năm 2000 đến 2005
Từ năm 2005 tới 2007 tốc độ tăng trưởng kinh tế chỉ tăng nhẹ, còn lạm
phát lại nhích dần qua các năm.

Một số chỉ tiêu kinh tế Việt Nam giai đoạn 1998- 2010

( Nguồn: ADB statistics )
Trong bối cảnh gần như cả thế giới, kể cả những nền kinh tế phát triển tiếp
tục lâm vào tình trạng khủng hoảng nợ và chưa khắc phục xong cuộc khủng hoảng
tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu xuất phát từ Mỹ năm 2008,cuộc khủng
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

10


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
hoảng tài chính toàn cầu lại tác động dữ dội đến kinh tế trong nước, cộng với hậu
quả của chính sách thắt chặt tiền tệ có phần quá mức trong giai đoạn trước đó đã
khiến cho nền kinh tế rơi vào trạng thái giảm phát trong những tháng
cuối năm 2008. Mặc dù chịu tác động bởi những khó khăn cộng hưởng như vậy,
nhưng kết thúc năm 2008 và 2009, nền kinh tế Việt Nam vẫn kiểm soát được hầu
hết các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô nói chung và thị trường tài chính nói riêng ở mức
chấp nhận được và “cán đích an toàn” với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế đạt mức tương
ứng là 6,3% và 5,32% và lạm phát ở mức 19,90% và 6,52%. Tốc độ tăng tín dụng
tổng quát xung quanh 25%, đạt mức kỳ vọng; Chỉ số chứng khoán không mất
điểm như các thách thức từng đe dọa từ đầu năm, VNINDEX vẫn giữ ở mức xung
quanh 500 điểm; Thị trường bất động sản khá ổn định ở mức không bị trồi, sụt quá
lớn; Vốn đăng ký đầu tư trực tiếp nước ngoài đạt 17,2 tỉ USD, vốn giải ngân tăng
10% so với 2009 và “chạm” mức kỷ lục đã xác lập 11,5 tỉ USD năm 2008; Xuất
khẩu xác lập con số kỷ lục 71,6 tỉ USD; Nhập siêu chỉ còn 17,3% tổng kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu. Việt Nam vẫn đứng trong số các nước tăng trưởng khá trong
khu vực châu Á – vùng kinh tế đầu tầu của thế giới
Hầu hết các chỉ số tăng trưởng của cả 3 ngành công nghiệp, nông nghiệp,
dịch vụ đều tăng khá so với năm 2009 (lần lượt công nghiệp: 7,7%/5,57%; nông
nghiệp: 2,78%/3,74% và dịch vụ: 7,52%/6,64%), kéo theo tăng trưởng GDP:
6,78%/5,32% cùng cặp so sánh năm 2010/2009 – Nghĩa là, thị trường tài chính đã
từng bước đi đúng địa chỉ để kích hoạt cho nền kinh tế dần hồi phục sau suy giảm.
Bước sang 2013: Chỉ số giá tiêu dùng tháng 02/2013 tăng 2,59% so với tháng
12/2012 và tăng 7,02% so với cùng kỳ năm trước. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân
hai tháng năm 2013 tăng 7,04% so với bình quân cùng kỳ năm 2012.Kim ngạch
hàng hóa xuất khẩu tháng 02/2013 ước tính đạt 7,5 tỷ USD, giảm 34,6% so với
tháng trước, trong đó kim ngạch một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm mạnh:
cao su giảm 53,9%; giầy dép giảm 51,4%; dầu thô giảm 18,9%. So với cùng kỳ
năm trước, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu tháng Hai giảm 9%.
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

11


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Tóm lại, thị trường tài chính có vai trò quan trọng trong công cuộc xây dựng
phát triển đất nước.Đây là thị trường tiền đề cho mọi hoạt động của nền kinh tế xã
hội được diễn ra, bắt đầu từ việc tạo lập nguồn vốn đến nâng cao hiệu quả kinh tế
xã hội và cuối cùng là hội nhập và nền kinh tế thế giới. Cho nên, thị trường tài
chính cần được xây dựng trên những nền tảng vững chắc, có cơ chế giám sát phù
hợp nhằm hạn chế những tác hại, rủi ro khi có khuảng hoảng tài chính.
2. Trung gian tài chính
Theo số liệu của Tổng cục thống kê thì hiện Việt nam có: 5 Ngân hàng
thương mại lớn (Ngân hàng Ngoại thương, Ngân hàng Nông nghiệp, Ngân hàng
Công Thương, Ngân hàng Đầu tư Phát triển, Ngân hàng Xuất nhập khẩu), Ngân
hàng chính sách, Ngân hàng phát triển; 6 Ngân hàng liên doanh; 36 Ngân hàng
thương mại cổ phần; 46 chi nhánh Ngân hàng nước ngoài; 10 Công ty tài chính;
13 Công ty cho thuê tài chính; 998 Quỹ tín dụng nhân dân cơ sở.
Các tổ chức tài chính trung gian có thể là các ngân hàng, các công ty chứng khoán,
các hiệp hội cho vay, các liên hiệp tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài
chính...
Tại Việt Nam, hiện có đầy đủ các loại hình tổ chức tài chính trung gian bao
gồm:
• Ngân hàng thương mại:
• Công ty chứng khoán
• Công ty tài chính
• Công ty bảo hiểm
• Quỹ đầu tư gồm có các quỹ đầu tư chúng khoán và quỹ đầu tư bất động sản
Hệ thống ngân hàng Việt Nam đã có sự tăng trưởng rất nhanh trong những
năm qua với tốc độ tăng trưởng bình quân 35%/năm. Với hoạt động nhận tiền gửi,
cho vay, cung cấp các dịch vụ thanh toán, trao đổi ngoại tệ và các dịch vụ tư vấn
tài chính khác… hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

12


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
lớn cho nền kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn
đầu tư toàn xã hội.
Các công ty Chứng khoán trong quá trình phát triển luôn đồng thời tăng vốn
điều lệ, nhằm đáp ứng được khả năng tài chính và sự phát triển. Các công ty chứng
khoán đã góp phần tốt trong việc thúc đẩy quá trình cổ phần hóa các doanh
nghiệp. Tính đến cuối năm 2008, tỷ lệ vốn hóa thị trường chứng khoán đạt gần
40% GDP quốc dân. Một lượng tiền gần 300.000 tỉ đồng được đưa vào nền kinh
tế, cao hơn rất nhiều nguồn vốn được cung ứng qua kênh chứng khoán và trở
thành năm các tổ chức tín dụng cho vay nhiều nhất từ trước đến nay để đưa tổng
dư nợ tín dụng cho nền kinh tế xấp xỉ 1 triệu tỉ đồng, bằng 90% GDP. Điều này
chứng tỏ, Các công ty chứng khoán đã giúp các doanh nghiệp niêm yết có điều
kiện tiếp cận với nguồn vốn từ công chúng đầu tư, ổn định và với chi phí vốn thấp,
mang tính dài hạn.
Thị trường tài chính Việt Nam phát triển sinh ra một nhu cầu lớn về vốn. Khi
này, các Ngân hàng với những điều kiện chặt chẽ về hạn mức cho vay, kỳ hạn vay,
điều kiện giải ngân... sẽ rất khó đáp ứng hết được nhu cầu vốn lớn này.Sự ra đời
của các công ty tài chính, cho thuê tài chính là một bước phát triển tất yếu của thị
trường tài chính. Tại Việt Nam, hiện có tới 17 công ty tài chính, phần lớn thuộc
các tập đoàn kinh tế Nhà nước. Các công ty tài chính thường trực thuộc những Tập
đoàn, Tổng công ty Nhà nước như: Công ty tài chính công nghiệp Tàu thủy, Công
ty tài chính Điện lực, công ty tài chính xi măng, công ty tài chính Than khoáng sản
Việt nam, công ty tài chính Cổ phần Dầu khí…Các công ty tài chính với ưu thế về
nguồn vốn lớn từ các tập đoàn rót xuống đã liên tục đầu tư dài hạn, tài trợ các dự
án như: Dự án đóng tàu, dự án thủy điện, đầu tư tài chính... Ưu điểm của các công
ty tài chính là mang lại một nguồn vốn lớn dài hạn, cung ứng cho nhiều dự án lớn
trọng điểm. Tuy nhiên ở Việt Nam, các công ty tài chính lại trực thuộc các tập
đoàn mà các tập đoàn này về bản chất là sử dụng vốn của Nhà nước.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

13


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Hiện có khoảng 20 quỹ đang tham gia đầu tư vào thị trường chứng khoán
VN, trong đó có các quỹ lớn thuộc các công ty quản lý VinaCapital và Dragon
Capital như Vietnam Opportunity Fund (VOF), Vietnam Infrastructure Ltd (VNI),
Vietnam Growth Fund (VGF), Vietnam Enterprise Investment Ltd (VEIL) và
Vietnam Dragon Fund (VDF). Ngoài ra nhóm quỹ đầu tư vào bất động sản cũng
là một nhân tố tạo nên sự phát triển trong lĩnh vực đầu tư tại Việt Nam.
Trong lĩnh vực bảo hiểm, Việt Nam có 11 DN BH nhân thọ, 27 DN BH phi
nhân thọ, 1 DN tái BH và 10 DN môi giới. Cuối năm 2009 tổng doanh thu phí bảo
hiểm nhân thọ đạt 16.485 tỷ đồng (bằng 4,06% GDP), tổng doanh thu của các
doanh nghiệp bảo hiểm phi nhân thọ đạt đưuọc 3965.1 tỷ đồng đã góp phần làm
tăng trưởng kinh tế, giúp cho dòng vốn luân chuyển hiệu quả hơn. Hiện nay, với
việc gia tăng mạnh số lượng DN bảo hiểm trong thời gian qua, nhất là kể từ khi
các DN bảo hiểm trong và ngoài nước được kinh doanh bình đẳng trên hầu hết các
lĩnh vực bảo hiểm theo lộ trình WTO từ đầu 2009 đến nay, thị trường bảo hiểm
đang đóng góp phần không nhỏ vào sự tăng trưởng kinh tế của Việt Nam.
Sự phát triển của các loại hình tài chính trung gian đã tạo ra một lượng cung
vốn dồi dào cho các doanh nghiệp, có tác dụng thúc đẩy sản xuất, tăng trưởng kinh
tế.
Sau hơn 25 năm tiến hành công cuộc đổi mới đất nước làm thay đổi cơ bản
nền kinh tế với những chỉ số kinh tế ngày càng khả quan, hệ thống ngân hàng đã
đóng một vai trò quan trọng. Những đổi mới của hệ thống ngân hàng Việt Nam
được coi là khâu đột phá, có những đóng góp tích cực cho nền kinh tế như:
Thứ nhất, đóng vai trò quan trọng trong việc đẩy lùi và kiềm chế lạm phát,
từng bước duy trì sự ổn định giá trị đồng tiền và tỉ giá, góp phần cải thiện kinh tế
vĩ mô, môi trường đầu tư và sản xuất kinh doanh.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

14


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền

Thứ hai, góp phần thúc đẩy hoạt động đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh
và hoạt động xuất nhập khẩu. Đây là kết quả tác động nhiều mặt của đổi mới hoạt
động ngân hàng, nhất là những cố gắng của ngành ngân hàng trong việc huy động
các nguồn vốn trong nước cho đầu tư phát triển, trong việc đổi mới chính sách cho
vay và cơ cấu tín dụng theo hướng căn cứ chủ yếu vào tính khả thi và hiệu quả của
từng dự án, từng lĩnh vực ngành nghề để quyết định cho vay. Dịch vụ ngân hàng
cũng phát triển cả về chất lượng và chủng loại, góp phần thúc đẩy sản xuất kinh
doanh;
Thứ ba, tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho việc duy trì sự tăng
trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư nợ cho vay nền
kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng đóng góp trên
10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước;

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

15


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền

Thứ tư, đã hỗ trợ có hiệu quả trong việc tạo việc làm mới và thu hút lao động,
góp phần cải thiện thu nhập và giảm nghèo bền vững. Thông qua nguồn vốn tín
dụng cho các chương trình và dự án phát triển sản xuất kinh doanh, hàng năm hệ
thống ngân hàng đã góp phần tạo thêm được nhiều việc làm mới, nhất là tại các
vùng nông thôn. Việc sử dụng nguồn vốn ngân hàng cho mục đích này ngày càng
có tính chuyên nghiệp, minh bạch và hiệu quả, nhất là từ khi tín dụng chính sách
được tác bạch với tín dụng thương mại và giao cho Ngân hàng Chính sách xã hội
đảm nhiệm;
Thứ năm, góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường sinh thái, đảm bảo
phát triển bền vững. Đóng góp này được thể hiện qua công tác thẩm định dự án,
quyết định cho vay vốn ngân hàng cho các dự án và giám sát thực hiện một cách
chặt chẽ sau khi cho vay, các TCTD luôn chú trọng yêu cầu các khách hàng đảm
bảo an toàn và hiệu quả trong việc sử dụng vốn vay, tuân thủ các cam kết quốc tế
và các qui định về bảo vệ môi trường.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

16


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Tính đến nay, hệ thống ngân hàng nước ta có 6 ngân hàng thương mại nhà
nước (NHTMNN), 39 NHTMCP, 40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài, 5 ngân
hàng liên doanh, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 17 công ty tài chính và 13
công ty cho thuê tài chính, 926 tổ chức tín dụng nhân dân và 53 văn phòng đại
diện của các ngân hàng nước ngoài.
Hệ thống ngân hàng đã huy động và cung cấp một lượng vốn khá lớn cho nền
kinh tế, ước tính hàng năm chiếm khoảng 16-18% GDP, gần 50% vốn đầu tư toàn
xã hội
3: Hệ thông cơ quan giám sát
Hệ thống giám sát tài chính (HTGSTC) Việt Nam đi theo mô hình giám sát
phân tán, nghĩa là các cơ quan quản lý và giám sát được thành lập và vận hành
nhằm giám sát một loại định chế tài chính và khu vực thị trường nhất định trên tổng
thể thị trường tài chính. Hai cơ quan cấp bộ là Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước
Việt Nam (NHNN) cùng với Ủy ban Giám sát tài chính quốc gia (UBGSTCQG) và
Bảo hiểm tiền gửi (BHTG) là những tổ chức giám sát độc lập, chịu trách nhiệm
trước Chính phủ về thực hiện các chức năng giám sát của mình trên thị trường tài
chính.

Ưu

điểm của mô hình

giám sát này

là đảm bảo được các

định

chế

trung gian tài chính

một

cách

chặt

xuyên. Tuy

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

chẽ,

thường

nhiên, bất cập như

17


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
khuôn khổ pháp lý về giám sát tài chính còn nhiều khe hở, chưa đồng bộ; năng lực
giám sát của các cơ quan giám sát giám sát chuyên ngành còn yếu; thiếu sự liên thông
trong việc giám sát chung thị trường tài chính do các cơ quan giám sát chuyên ngành
hoạt động độc lập, thực hiện nhiệm vụ giám sát theo từng cách riêng của họ, chưa có
sự điều phối giữa các cơ quan giám sát chuyên ngành, dẫn đến gây nhiều khó khăn
cho việc giám sát rủi ro chéo; thực tiễn áp dụng các chuẩn mực quốc tế về giám sát thị
trường tài chính vẫn còn nhiều bất cập, chưa quan tâm tới giám sát an toàn vĩ mô; việc
giám sát hoạt động xuyên biên giới của các định chế tài chính có vốn nước ngoài còn
yếu; các quy định về chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan giám sát chuyên ngành
còn nhiều quy định chồng chéo vì thế đã tạo ra nhiều kẽ hở trong việc giám sát.

Vai trò của cơ quan giám sát:
-

Đảm bảo tuân thủ và công bằng minh bạch trên thị trường tài chính.
Phát hiện và xử lý vi phạm của chủ thể giám sát, đảm bảo xử lý đúng trên

-

thị trường Ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán.
Ngăn ngừa, phòng tránh các hành vi vi phạm và lạm dụng thị trường, hạn



chế sự tái phạm, lách luật.
- Ngăn chặn các định chế không đủ chất lượng tham gia thị trường.
• Đảm bảo an toàn tài chính
- Giám sát và phát hiện những bất ổn về sức khỏe tài chính và rủi ro trong
-

hoạt động tài chính trong các khu vực Ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán
Có phản ứng nhanh, kịp thời và phù hợp trước những biến cố của thị

-

trường .
Khả năng cảnh báo sớm những rủi ro hệ thống và phát hiện dấu hiệu
khủng hoảng tài chính.

Vào thời điểm gần nửa cuối năm 2008, thị trường tài chính Việt Nam gặp
khủng hoảng. Các doanh nghiệp Việt Nam bị co cụm thu hẹp sản xuất. Nhiều
doanh nghiệp ngành may mặc, chế biến sa thải công nhân ồ ạt. Lượng người bị

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

18


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
mất việc ở các khu công nghiệp cộng thêm số lao động bị mất việc ở nước ngoài
trở về nước đã trở thành “gánh nặng” lớn đối với nền kinh tế đất nước.
Bước sang năm 2009, nền kinh tế thế giới chính thức rơi vào khủng hoảng
với sự bắt đầu ở Mỹ khi thị trường nhà đất Mỹ bị đóng băng và sự phá sản của
hàng loạt Ngân hàng lớn. Cơn bão khủng hoảng lập tức lan nhanh ra khắp thế giới.
Ở Việt Nam, cuộc khủng hoảng này kéo theo suy thoái nền kinh tế. Mục tiêu
phát triển kinh tế cả năm khó có khả năng hoàn thành, vì thế Chính phủ đã chấp
nhận mức điều chỉnh tỷ lệ tăng trưởng kinh tế hạ xuống dưới 6% so với mục tiêu
tăng trưởng được đặt ra đầu năm là 8.5%. Tất cả Chính phủ các quốc gia đều rất
nỗ lực trong công cuộc cứu vãn, đối phó với cơn bão khủng hoảng. Lúc này, chính
phủ công bố gói hỗ trợ lãi suất đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh là
hơn 1 tỷ USD được giải ngân thông qua hệ thống Ngân hàng. Mức hố trợ lên tới
4%/ năm Sự can thiệp của chính phủ phần nào có tác dụng tốt tới thị trường tài
chính. Các ngân hàng bớt sự khó khăn trong vấn đề huy động vốn. Các doanh
nghiệp vui mừng sẽ được tiếp cận được luồng vốn rẻ.
Giai đoạn 2012 lạm phát giảm mạnh từ mức cao 18.13% của năm 2011
xuống mức 6.81%. Theo tính toán của UBGSTCQG, có được kết quả này trước
hết là do Chính phủ đã thực hiện nhất quán mục tiêu ổn định vĩ mô kiềm chế lạm
phát thông qua việc thắt chặt chính sách tiền tệ và tài khóa.
Thứ nhất, lạm phát được kiểm soát tốt khi chỉ số CPI 4 tháng đầu năm 2012
chỉ tăng 2,6%, mức tăng thấp nhất kể từ năm 2009, nếu không có sự điều chỉnh
chính sách và không có nhân tố đột biến từ nay đến cuối năm, CPI cả năm có thể
chỉ ở mức 7-8%, thậm chí là 6%.
Thứ hai, chỉ số sản xuất công nghiệp 4 tháng chỉ tăng 4,3% so với cùng kỳ
nhưng đã có dấu hiệu dần khởi sắc khi tháng 4 chỉ số này ước tăng 7,5%, trong đó
công nghiệp chế biến tăng 9,3%.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

19


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Thứ ba, tỷ giá ổn định, dự trữ ngoại hối được cải thiện rõ rệt; cán cân thanh
toán tổng thể quý I/2012 dự báo thặng dư khoảng 2 tỷ USD so với mức thâm hụt
126 triệu USD cùng kỳ năm ngoái.
Thứ tư, thị trường chứng khoán khởi sắc khi tính đến ngày 23/4/2012, VNIndex đã tăng 33,45% so với cuối năm 2011, giao dịch nhà đầu tư nước ngoài sôi
động với giá trị mua ròng lên tới gần 1.500 tỷ đồng trên cả 2 sàn tính từ đầu năm
đến nay.
Thứ năm, thanh khoản của hệ thống ngân hàng tiếp tục được cải thiện, biểu
hiện qua chỉ số cho vay trên huy động toàn hệ thống (LDR) giảm từ mức trên
100% trong tháng 1 xuống còn 92% vào giữa tháng 4. Lãi suất liên ngân hàng kỳ
hạn qua đêm xuống mức thấp kỷ lục trong nhiều năm trở lại đây khi hiện chỉ dao
quanh mức 3%/năm và lãi suất đang trên lộ trình giảm.
Vai trò của chính phủ
Nhìn lại thời kì đã qua,1986 Việt Nam bắt đầu thực hiện đường lối đổi mới
chuyển đổi nền kinh tế thị trường, phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, và xu
hướng hội nhập. Vai trò của chính phủ là vô cùng to lớ, đặc biệt vai trò của chính
phủ đối với hệ thống tài chính và tác động đến nền kinh tế Việt Nam.
Nhà nước đóng vai trò tích cực trong việc khắc phục, hạn chế những khuyết
tật cố hữu của thị trườngthông qua hệ thống công cụ điều tiết vĩ mô, đóng vai trò
"người dẫn đường" cho quá trình tái cấu trúc và chuyển đổi mô hình tăng trưởng
kinh tế. Với việc ban hành những bộ luật hệ thống pháp luật thích ứng và thúc đẩy
sự vận hành có hiệu quả là cơ sở hành lang pháp lý cho nền kinh tế nói chung và
thị trường tài chính nói riêng đã tạo ra sự tăng trưởng nhất định đối với kinh tế.
Với những chính sách tiền tệ và tài chính trong từng giai đoạn khác nhau đã giúp
thị trường tài chính Việt Nam phát triển nhanh chóng,thu hút nguồn vốn đầu tư của

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

20


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
các cá nhân, tổ chức cũng như nước ngoài, phục vụ cho mục tiêu phát triển kinh
té.
Cùng với việc xây dựng luật, các thể chế thị trường ở Việt Nam cũng từng
bước được hình thành. Chính phủ đã chủ trương xóa bỏ cơ chế tập trung, bao cấp,
nhấn mạnh quan hệ hàng hóa - tiền tệ, tập trung vào các biện pháp quản lý kinh tế,
thành lập hàng loạt các tổ chức tài chính, ngân hàng, hình thành các thị trường cơ
bản như thị trường tiền tệ, thị trường lao động, thị trường hàng hóa, thị trường đất
đai… Cải cách hành chính được thúc đẩy nhằm nâng cao tính cạnh tranh của nền
kinh tế, tạo môi trường thuận lợi và đầy đủ hơn cho hoạt động kinh doanh, phát
huy mọi nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế.
4:Hệ thống cơ sở hạ tầng pháp lý.
Cơ sở hạ tầng pháp lý, thể chế kinh tế là hệ thống những quy phạm pháp
luật nhằm điều chỉnh các chủ thể kinh tế, các hành vi sản xuất kinh doanh và các
quan hệ kinh tế. Thể chế kinh tế bao gồm các yếu tố chủ yếu: các đạo luật, luật lệ,
quy định, quy tắc,.. về kinh tế gắn với các chế tài xử lý vi phạm; các tổ chức kinh
tế; cơ chế vận hành nền kinh tế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa là loại hình thể chế kinh tế trong đó có sự thống nhất biện chứng giữa cái
chung là kinh tế thị trường với các đặc thù là định hướng xã hội chủ nghĩa.
Một là, định hướng, hướng dẫn, tạo khung khổ cho việc tổ chức, hoạt động
của nền kinh tế. Thể chế kinh tế là những luật lệ, qui tắc nên vai trò hàng đầu của
nó là định hướng, hướng dẫn hành vi và tạo khung khổ pháp lý cho việc tổ chức
hoạt động của nền kinh tế, tác động lớn đến sự lựa chọn và việc quyết định sản
xuất cái gì, đầu tư như thế nào vào lĩnh vực nào, ở đâu... của các chủ thể kinh tế.
Hai là, thể chế kinh tế đóng vai trò chủ thể quản lý kinh tế, và các công cụ
quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN. Nhà nước với tư cách là một thể
chế kinh tế, trong quá trình tổ chức quản lý vĩ mô nền kinh tế, đóng vai trò chủ thể
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

21


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
quản lý kinh tế trong nền KTTT định hướng XHCN. Hệ thống pháp luật, các công
cụ kế hoạch hoá, tài chính, tiền tệ trong nền KTTT luôn có vai trò hết sức quan
trọng việc tạo ra khung khổ pháp lý, tác động đến điều tiết, định hướng nền kinh
tế.
Ba là, thể chế kinh tế hình thành góp phần đồng bộ hoá hệ thống thị trường,
từng bước hoàn thiện và phát triển hệ thống thị trường của nền KTTT nước ta
Như vậy. khi hệ thống pháp lý được ban hành với những mục tiêu riêng
cho từng giai đoạn kinh tế sẽ có những tác động khác nhau tới hệ thống tài chính,
thúc đẩy sự phát triển và kìm chế sự tăng trưởng quá mức.
Ở Việt Nam, các luật để giúp Nhà nước quản lý hệ thống Tài chính gồm:
Luật Ngân sách nhà nước, Luật Ngân hàng nhà nước, Luật các tổ chức tín dụng,
Luật Kinh doanh bảo hiểm, Luật Bảo hiểm tiền gửi, Luật Bảo hiểm xã hội, Luật
Chứng khoán,…Hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn và đầy đủ hơn,luân
giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong số các công cụ mà Nhà nước sử dụng để quản
lý nền kinh tế nói chung và quản lý Hệ thống tài chính nói riêng. Các hệ thống
pháp lý đã góp phần cung cấp thông tin một cách đầy đủ hơn, chính xác hơn,giúp
các nhà đầu tư có thông tin an toàn,những đồng vốn được đầu tư đúng chỗ mang
lại hiệu quả cao.
Luật doanh nghiệp được sửa đổi năm 2000 đã tạo điều kiện cho sự phát
triển của các doanh nghiệp tư nhân. Bộ luật này đã thể chế hóa quyền tự do kinh
doanh của các cá nhân trong tất cả các ngành nghề mà pháp luật không cấm, dỡ bỏ
những rào cản về hành chính đang làm trở ngại đến hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp như cấp giấy phép, thủ tục, các loại phí… Từ 1/7/2006, Luật Doanh
nghiệp 2005 (áp dụng chung cho cả doanh nghiệp trong nước và đầu tư nước
ngoài) đã có hiệu lực.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

22


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
Hai Luật ngân hàng có hiệu lực từ cuối năm 1998 là bước tiến mới về củng
cố, hoàn thiện cơ sở pháp lý cho hoạt động ngân hàng. Cơ chế chính sách về hoạt
động ngân hàng đã ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với thông lệ quốc tế; Khuôn
khổ thể chế ngày một thông thoáng và minh bạch hơn. Những phân biệt đối xử
giữa loại hình tổ chức tín dụng, tổ chức tín dụng trong nước và tổ chức tín dụng
nước ngoài đã từng bước được loại bỏ; Chức năng cho vay tín dụng chính sách và
cho vay tín dụng thương mại đã được tách bạch; Các NHTM, các tổ chức tín dụng
đã được tự chủ và tự chịu trách nhiệm khá đầy đủ. Tính cạnh tranh của các tổ chức
tín dụng được nâng cao; Thị trường dịch vụ ngân hàng được phát triển an toàn và
hiệu quả.
(CSTT) được đổi mới và điều hành theo nguyên tắc thị trường và phù hợp
với thông lệ quốc tế. Các công cụ gián tiếp điều hành CSTT đã được hình thành và
phát triển. Chính sách lãi suất và tỷ giá hối đoái đã được áp dụng linh hoạt theo cơ
chế thị trường. Chính sách tín dụng được mở rộng và đổi mới theo hướng tạo sự
công bằng, bình đẳng đối với mọi thành phần kinh tế, doanh nghiệp và mọi đối
tượng dân cư.
Ngoại thương và hội nhập kinh tế quốc tế: Với chủ trương tích cực, chủ động
hội nhập kinh tế quốc tế, quan hệ kinh tế của Việt Nam với các nước, các tổ chức
quốc tế ngày càng được mở rộng. Việt Nam là thành viên quan trọng trong
ASEAN, tích cực thực hiện các cam kết Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA),
là thành viên tích cực của APEC, ASEM và nhiều tổ chức kinh tế quốc tế khác.
Hợp tác kinh tế của Việt Nam với các nền kinh tế lớn như Mỹ, EU, Nhật Bản,
Nga, Trung Quốc, Ấn Độ ngày càng được củng cố và mở rộng, Việt Nam đã ký
hiệp định thương mại song phương với Mỹ, đang đàm phán hiệp định đầu tư với
Mỹ, Hiệp định khung Đối tác và Hợp tác toàn diện (PCA) với EU, hiệp định đối
tác kinh tế toàn diện với Nhật Bản. Tháng 01 năm 2007, Việt Nam chính thức gia
nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), có quan hệ với trên 220 quốc gia và
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

23


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền
vùng lãnh thổ, đánh dấu sự hội nhập toàn diện và đầy đủ của Việt Nam vào nền
kinh tế toàn cầu.

PHẦN 3: KẾT LUẬN.
Thực tế có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển của nền kinh tế,trong
đó một phần là do sự phát triển, tác động của hệ thống tài chính.

Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

24


GVHD : TS Lê Thị Diệu Huyền

Đứng trước một xu thế mới,xu thế mở cửa,liên kết thương mại song phương,
Việt Nam vừa có những cơ hội, thách thức. Cơ hội là sự gia tăng liên kết với nhiều
đối tác thương mại quan trọng sẽ góp phần tạo nên động lực để Việt Nam có thể
chuyển đổi phát triển nền kinh tế,đi lên chủ nghĩa xã hội,khai thác các mặt hàng có
định hưỡng và thế mạnh xuất khẩu.
Nhưng bên cạnh đó những khó khăn như việc về vấn đề vốn, điều kiện về
khoa hoạc công nghệ, nguồn nhân lực,…
Qúa trình đối phó với các thách thức của doanh nghiệp cần thiết có sự hỗ trợ
của nhà nước trong việc xây dựng thể chế pháp lý và những chính sách cần thiết…
Đặc biệt, vấn đề quản lý tài chính doanh nghiệp và quản lý vốn của nhà nước tại
các doanh nghiệp là một vấn đề lớn mà ngành Tài chính phải tập trung giải
quyết.Trong giai đoạn mới, sẽ phải chú trọng hơn nữa đến việc thực hiện thực hiện
đồng bộ tự do hóa với xây dựng hạ tầng về thể chế, quản lý và chính sách liên
quan, để đảm bảo sự ổn định cho toàn bộ nền kinh tế, và hệ thống tài chính được
phát huy hết vai trò một cách hiệu quả hơn.
Nhóm 1 – Lớp K14-FIN01A-05

25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x