Tải bản đầy đủ

SKKN một số biện pháp phát triển nhận thức cho trẻ 5-6 tuổi

PHẦN I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Đến 5 tuổi đáng lẽ ra trẻ đã tích lũy được những biểu tượng và tiền khái
niệm phong phú về thế giới tự nhiên và xã hội xung quanh, trẻ phải có các
kỹ năng so sánh, quan sát, phân nhóm, xếp loại cũng như giải thích , dự
đoán, giải quyết vấn đề, thiết lập những mối quan hệ của trẻ đều dựa trên
kiểu tư duy trực quan hình tượng, tư duy tiền khái niệm. Khả năng của trẻ
bao gồm những gì trẻ biết và cách mà trẻ suy nghĩ, bao gồm: nhận thức về
xã hội, tự nhiên và nghệ thuật, biểu tượng ban đầu về toán, thể hiện thái độ
nhận thức tích cực, khả năng suy luận, sáng tạo… Thế nhưng, những khả
năng đó của trẻ ở trong lớp tôi lại không có nhiều trẻ có hoặc nếu có trẻ cũng
không thể hiện ra .
Việc tổ chức cho trẻ tham gia các hoạt động khám phá khoa học, khám
phá xã hội, làm quen với toán ở lớp tôi còn chưa hiệu quả, đặc biệt chưa bám
sát quan điểm đổi mới chương trình giáo dục mầm non cũng như phương
pháp dạy học tích cực. Giáo viên chưa linh hoạt, sáng tạo trong các hoạt
động phát triển nhận thức; chưa biết cách tìm hiểu khả năng nhận thức của
trẻ để lựa chọn nội dung, hình thức cho phù hợp; chưa biết tận dụng ; khai
thác tình huống cũng như đồ dùng xung quanh để dạy trẻ. Do đó dẫn đến
tâm lý ngại làm, ngại chuẩn bị đồ dùng và nhiều giáo viên còn e dè với các
hoạt động dạy trẻ phát triển nhận thức. Các hoạt động phát triển nhận thức

không tạo được sự lôi cuốn đối với trẻ, trẻ không chú ý tập trung trong giờ
học, hoạt động không có kết quả cao trên trẻ.
Nhận thức được ý nghĩa và tầm quan trọng của việc phát triển nhận thức
cho trẻ ở trường mầm non cũng như mong muốn được chia sẻ kinh nghiệm,
các phương pháp nhằm giúp trẻ phát triển nhận thức một cách hiệu quả, tích

1


cực nên tôi đã lựa chọn đề tài “Một số biện pháp phát triển nhận thức cho trẻ
mẫu giáo 5-6 tuổi ”
2. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn, đề tài “Một số biện pháp hát triển nhận thức
cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi” nhằm giúp giáo viên tổ chức thành công các hoạt
động dạy trẻ phát triển nhận thức, luôn tạo cho trẻ được sự hứng thú, tò mò,
kích thích sự sáng tạo, tư duy, kỹ năng phân tích, so sánh…để qua đó trẻ có
thể phát triển nhận thức tốt hơn.
3. Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Trẻ 5-6 tuổi tại lớp lá 3, Trường mầm non Eatul,
xã Ea tul, Huyện Cư M’gar, Tỉnh Đăk Lăk.
4. Giới hạn của đề tài
- Đề tài được thực hiện từ tháng 9/2017 đến cuối tháng 02/2018.
5. Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp quan sát thực tiễn
- Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Phương pháp thực hành
- Phương pháp đàm thoại

PHẦN II. NỘI DUNG
2


1. Cơ sở lý luận
Phát triển nhận thức góp phần quan trọng vào phát triển các lĩnh vực
phát triển thể chất, thẫm mỹ, tình cảm- kỹ năng xã hội, đặc biệt là phát triển
ngôn ngữ. Từ đó giúp trẻ có kiến thức về tự nhiên, xã hội; biết được một số
thuộc tính đơn giản của sự vật, hiện tượng, biết được một số quy luật gần gũi
xung quanh cuộc sống của trẻ cũng như trong tự nhiên, nắm bắt được các
biểu tượng toán sơ đẳng, phát triển dần các kỹ năng quan sát, các thao tác tư
duy: phân tích, tổng hợp, khái quát…là nền tảng vững chắc cho quá trình


phát triển sau này của trẻ.
2. Thực trạng của vấn đề
* Thuận lợi và khó khăn
a. Thuận lợi
- Được Ngành, nhà trường trang bị đồ dùng, học liệu cho việc dạy trẻ khám
phá khoa học, khám phá xã hội, làm quen với toán. Các trang thiết bị hiện
đại như: máy vi tính, máy in, loa đài…đầy đủ cho các hoạt động, đặc biệt là
máy vi tính đã được nối mạng internet.
- Phụ huynh nhiệt tình ủng hộ các nguyên vật liệu để làm đồ dùng đồ chơi;
tích cực phối hợp với giáo viên trong việc dạy trẻ.
- Trẻ đến trường ngoan, đến trường đều đặn.
- Bản thân tôi là giáo viên mầm non lại là người dân tộc Ê Đê, rất dễ dàng
trong việc giao tiếp với trẻ, được trang bị những kiến thức về Ngành học
Mầm non, được tìm hiểu về tâm sinh lý trẻ mầm non, do đó tôi luôn cố gắng
ân cần, niềm nở với trẻ, cũng như phụ huynh để luôn tạo được sự yên tâm
đối với phụ huynh khi họ gửi con cho cô giáo, tạo được cảm giác an toàn và
sự yêu thương đối với trẻ. Để thực hiện tốt được vai trò và nhiệm vụ thì bản
thân phải luôn cố gắng, không ngừng tu dưỡng phẩm chất đạo đức, lối sống,

3


phải là một giáo viên luôn yêu nghề mến trẻ, luôn tự giác học tập và rèn
luyện trong nâng cao chuyên môn nghiệp vụ.
b. Khó khăn
- Năm học 2017- 2018, dưới sự phân công của Ban giám hiệu nhà trường,
tôi được phân công chủ nhiệm lớp lá 3, với tổng số trẻ là 46 trẻ, trong đó trẻ
nữ là 19 trẻ, nam là 27 trẻ, trẻ chủ yếu là người đồng bào Ê đê.
- Đồ dùng, học liệu dạy trẻ phát triển nhận thức tuy đã được trang bị đầy đủ
nhưng lại chưa đa dạng, phong phú, chưa hấp dẫn và độ bền không cao.
- Lớp có nhiều trẻ nhận thức chậm, sĩ số lớp đông, các cháu còn hạn chế về
ngôn ngữ bởi 100% trẻ trong lớp là người đồng bào Ê đê, giao tiếp hằng
ngày của trẻ chủ yếu là sử dụng tiếng mẹ đẻ nên việc dạy học cho trẻ cũng
gặp không ít những khó khăn.
- Nhiều trẻ mới đi học, chưa qua lớp nhà trẻ, lớp mầm hay lớp chồi nên nhận
thức của trẻ chưa đồng đều.
- Giáo viên còn hạn chế trong việc cập nhật tin tức và ứng dụng công nghệ
thông tin vào giảng dạy.
* Số liệu đều tra trước khi thực hiện đề tài( 46 trẻ)
STT Mức độ nội dung khảo sát

1
Khả năng nhận biết
2
Năng lực quan sát
3
Khả năng nhận thức
4
Khả năng ứng dụng
5
Khả năng phân tích
6
Khả năng phân loại
7
Kỹ năng so sánh
3. Nội dung và hình thức của giải pháp

Đạt
Số

Tỷ lệ

lượng
19
26
20
19
10
15
20

%
41.3%
57%
43%
41.3%
22%
33%
43%

Chưa đạt
Số
Tỷ lệ
lượng
27
20
26
27
36
31
26

%
58.7%
43%
57%
58.7%
78%
67%
57%

3.1. Biện pháp 1: Sử dụng tối đa phương pháp dạy học tích cực

4


a. Nắm bắt khả năng nhận thức của trẻ
Giáo viên cố gắng nắm bắt khả năng nhận thức của trẻ về nội dung hoạt của
động, từ đó lựa chọn các hoạt động phù hợp với nhận thức, hứng thú của trẻ
đồng thời thiết kế các hình thức tổ chức phù hợp, phát huy tối đa tính tích
cực, chủ động, sáng tạo của trẻ.
Ví dụ:
+ Ở chủ đề Gia đình, các loại đồ dùng bát, thìa, cốc, đĩa…quá quen thuộc
với trẻ, nếu giáo viên dạy nội dung này chắc chắn trẻ sẽ thấy rất nhàm chán
và hoạt động sẽ không đạt kết quả cao. Do vậy, giáo viên có thể dạy trẻ tìm
hiểu về các loại quạt- một đồ dùng rất thiết yếu trong gia đình nhất là vào
mùa hè.
+ Ở chủ đề phương tiện giao thông, xe đạp- xe máy là hai loại phương tiện
rất gần gũi với trẻ, giáo viên có thể dạy cho trẻ về xe đạp – xe đạp điện- xe
máy. Khi dạy cô dành nhiều thời gian cho trẻ tìm hiểu về tên gọi, công
dụng , một số đặc điểm nổi bật bên ngoài và cách sử dụng của xe đạp điện
còn với xe máy, xe đạp thì dành ít thời gian hơn…kết hợp tích hợp nội dung
bảo vệ môi trường, sử dụng năng lượng hợp lý, tiết kiệm.
+ Ở chủ đề Tết và Mùa xuân, hầu hết trẻ đã biết được những món ăn đặc
trưng trong ngày Tết, những công việc chuẩn bị để đón Tết…nhưng các
phong tục cổ truyền của người dân Việt Nam trong ngày Tết thì còn quá xa
lạ đối với trẻ. Chính vì thế, giáo viên nên lựa chọn nội dung dạy cho trẻ biết
về các phong tục chúc Tết.
+ Ở chủ đề Nước và Các hiện tượng tự nhiên, giáo viên thiết kế các hoạt
động cho trẻ trải nghiệm, khám phá tìm hiểu về các trạng thái của nước.
- Khi biết hầu hết trẻ lớp minh định hướng hết được phải- trái; trêndưới; trước- sau của bản thân rất tốt, giáo viên có thể lên kế hoạch cho
trẻ ôn luyện, củng cố kiến thức bằng các trò chơi động- tĩnh luân
5


phiên. Khả năng định hướng phải- trái; trước- sau của bạn khác đa số
trẻ còn chưa nắm vững. Với nội dung này, giáo viên phải lên kế hoạch
dạy trẻ với hình thức đa số trẻ chưa biết và cần lưu ý củng cố, luyện
tập cho trẻ các hoạt động, tình huống thích hợp.
b. Tạo cơ hội cho trẻ khám phá và trải nghiệm
Ví dụ 1: Khám phá xã hội “Lời chúc dáng yêu”- Chủ đề Thế giới
Thực vật – Tết và Mùa xuân.
 Hoạt động 1: Ổn định – trò chuyện gây hứng thú cho trẻ
Mời trẻ nghe và thể hiện tình cảm bằng cách vận động theo bài hát “Sắp
đến Tết rồi”
 Hoạt động 2: Nội dung
1. Tìm hiểu về phong tục chúc Tết
- Cho trẻ xem clip thể hiện : con, cháu chúc Tết ông, bà, bố, mẹ, hàng
xóm, bạn bè chúc Tết cho nhau, trò chúc Tết thầy cô…
 Đàm thoại:
- Hoạt động đó diễn ra vào ngày nào?
- Các con thấy những ai đi chúc Tết?
- Mọi người mặc trang phục như thế nào? Thái độ, tình cảm của mọi
người khi đi chúc Tết ra sao?
- Thái độ của các bạn nhỏ khi đi chúc Tết người lớn tuổi?
- Cảm xúc của mọi người khi gặp nhau như thế nào?....
2. Những lời chúc Tết
- Cho trẻ xem đoạn video clip : bạn nhỏ chúc Tết ông, bà, bố , mẹ và bố mẹ
bạn nhỏ chúc Tết ông bà. Sau đó hoi trẻ:
+ Con thấy bạn nhỏ và bố mẹ chúc ông bà những gì?
+ Mọi người thường chúc điều gì đầu tiên?

6


- Cho trẻ nghe bài hát “Chúc Tết” và tìm hiểu lời chúc qua bài hát:
+ Các bạn nhỏ chúc ông bà điều gì?
+ Chúc cha, chúc mẹ như thế nào?
+ Con còn biết những câu chúc nào khác?
+ Với cô bác, họ hàng, bạn bè, cô giáo…con sẽ chúc như thế nào?
 Hoạt động 3: Trò chơi “Chúc Tết đầu năm”
- Cách chơi: cả lớp đúng thành vòng tròn, cầm tay nhau vừa đi và vừa
hát theo bài “Chúc Tết”, cô đúng ở giữa vòng tròn dùng xắc xô bắt
nhịp bài hát, khi đến câu “…em mặc áo mới đi chúc Tết…” cô dừng
xắc xô vào một trẻ bất kì và nói các vai mà trẻ thể hiện:
ông/bà/bố/mẹ…với vai là ông, bà, bố, mẹ thì trẻ chào hai trẻ bên cạnh
và hai trẻ bên cạnh phải khoanh tay nói lời chúc. Với vai là cô giáo ,
bác hàng xóm, bạn nhỏ thì trẻ phải đúng ra giữa lớp chào và cả lớp nói
lời chúc nhân vật đó theo ý thích của mình.
-

Luật chơi: Trẻ nào không thể hiện được lời chúc phù hợp sẽ phải
nhảy lò cò.

* Kết thúc: Gợi mở và giáo dục trẻ thể hiện tình cảm với người thân
trong ngày Tết bằng nhiều cách khác nhau như: học giỏi, ngoan, hát múa,
nói lời chúc hoặc làm thiệp chúc Tết…để mọi người vui lòng.
Hoạt động nối tiếp: Cho trẻ làm thiếp tặng người thân.
Ví dụ 2: Làm quen với toán “ Tách nhóm đối tượng có số lượng 10
thành 2 phần”, chủ đề thế giới Thực vật
 Hoạt động 1: Ôn nhận biết các nhóm đối tượng trong phạm vi 10
- Cho trẻ hát bài “ Năm ngón tay ngoan” và đếm số ngón tay trên một
bàn tay.
- Cho trẻ tạo nhóm 10 bạn đi đếm ngón tay của các bạn khác.

7


 Hoạt động 2: Dạy trẻ tách nhóm có 10 đối tượng có số lượng 10
thành 2 phần
- Cô kể một câu chuyện về hai bác nông dân đi trồng 10 cây rau ở hai
mảnh vườn có, cô dùng slide để trình chiếu
- Bác nông dân 1: Trồng 10 cây bắp cải theo cách: một khu vườn có 1
cây, một khu vườn có 9 cây
- Bác nông dân 2: Trồng 10 cây rau theo cách: một khu có 2 cây, một
khu có 8 cây.
- Cô hỏi lại trẻ cách trồng rau của 2 bác nông dân.
- Cho trẻ chơi trò chơi “Gieo hạt”
- Lần 1: Cho trẻ chơi trò chơi “Gieo hạt” hai khu vườn theo ý thích và
hỏi trẻ cách gieo hạt như thé nào?
- Con gieo hạt về hai khu vườn theo cách nào?(mỗi vườn có năm hạt)
- Bạn nào có cách gieo hạt giống bạn A?
- Lần 2: Cho trẻ gieo hạt về hai khu vườn theo yêu cầu của cô (3-4 lần).
- Quá trình trẻ thực hiện cô luôn bao quát và động viên trẻ
 Hoạt động 3: Luyện tập
- Trò chơi “ Tai ai tinh”
- Cách chơi: Cô dùng hai hộp( một hộp giấy, một hộp sắt)cô chia 10
viên sỏi về hai hộp theo cách khác.
- Luật chơi: Trẻ phải nhắm mắt và chỉ dùng tai nghe tiếng cô thả sỏi vào
hai hộp và nói cách chia.
- Trò chơi “ Nhảy vòng”
- Cách chơi: cho trẻ chơi tạo nhóm 10 bạn và nhảy vào vòng. Khi cô
nêu các cách tách nhóm số lượng : 4-6;2-8;5-5;1-9,... trẻ phải thảo

8


luận và thống nhất xem bạn nào ở trong vòng, những bạn nào nhảy ra
khỏi vòng.
- Cô tổ chức cho trẻ chơi 3-4 lần
- Luật chơi: Nhóm nào chia không đúng sẽ phải nhảy lò cò.
- Kết thúc: Cô nhận xét chung, tặng cờ cho trẻ và cho trẻ cất đồ dùng
cùng cô.
Ví dụ 3: “Những chiếc quạt nhà bé”, chủ đề Gia đình
 Gây hứng thú: đố trẻ câu đố về chiếc quạt giấy:
Vừa làm bằng giấy
Vừa làm bằng tre
Để bà phe phẩy
Bà đưa gió về
Là cái gì?
 Tiến trình:
 Hoạt động 1: Khám phá chiếc quạt giấy
- Cho trẻ đi lấy chiếc quạt giấy mà trẻ biết
 Đàm thoại:
+ Đây là cái gì?
+ Được làm bằng chất liệu gì?
+ Phần nào làm bằng giấy, làm bằng tre?
+ Quạt để làm gì? dùng quạt vào mùa nào? khi nào?...
+ Các con lấy tay quạt xem có mát không?
+ Muốn mát hơn các con phải dùng gì?
+ Muốn chiếc quạt này tạo ra gió phải sử dụng như thế nào?
+ Còn những chiếc quạt nào khác cũng dùng tay để quạt?

9


+ Các loại quạt này(quạt giấy, quạt nan, quạt mo)thường được sử dụng khi
nào?
 Hoạt động 2: Khám phá chiếc quạt nan
- Hỏi trẻ biết gì về chiếc quạt này?
- Đàm thoại với trẻ về các bộ phận của quạt như : lồng quạt, cánh quạt, các
số trên quạt...và cho trẻ trải nghiệm tốc độ gió khi nhấn các số khác nhau
- Nhắc nhở trẻ phải giữ an toàn khi sử dụng quạt, không nên tự cắm quạt vào
ổ điện.
- So sánh hai chiếc quạt: quạt điện – quạt giấy
Cho trẻ kể tên những chiếc quạt dùng điện khác.(Quạt trần, quạt cây, quạt
tích điện,...)
- Giáo dục trẻ cần có ý thức tiết kiệm điện khi sử dụng quạt.
 Hoạt động 3: Luyện tập
- Trò chơi “Chọn quạt thích hợp”
+ Khi cô nói “Mất điện” trẻ chạy đi lấy các quạt dùng tay để quạt
+ Khi cô nói “Có điện rôì” trẻ chạy vể phía các quạt dùng điện
- Trò chơi “Dùng quạt điện”: Cho trẻ đi lấy các thẻ số tương ứng với các số
ở quạt điện mà trẻ thích, tạo nhóm số lượng 4, trẻ cầm thẻ số từ 0-3. Sau đó
cô nói:
+ Tôi muốn gió nhẹ - trẻ giơ thẻ số 1
+ Tôi muốn gió vừa - trẻ giơ thẻ số 2
+ Tôi muốn gió mạnh – trẻ giơ thẻ số 0
 Kết thúc: Cô cho trẻ cất đồ dùng, nhận xét và tặng cờ cho trẻ.
Ví dụ 4: Khám phá khoa học “Xe đạp- Xe đạp điện- Xe máy”- chủ đề
Phương tiện giao thông
 Tiến trình:

10


- Ổn định: Cô mời trẻ vừa hát vừa vận động theo bài hát “Bác đưa thư vui
tính”.
Cô hỏi trẻ:
+ Bộ phận nào của xe kêu “ kính coong”?
+ Hãy tìm trong bài hát loại xe mà bác đưa thư đã dùng!
 Hoạt động 1: Khám pha về xe đạp
- Cô chỉ vào xe đạp và hỏi trẻ đó là xe gì và chỉ vào từng bộ phận(tay lái,
yên xe, chuông, chân chống...)của xe và hỏi trẻ tên của các bộ phận đó là
gì, dùng để làm gì. Sau đó hỏi trẻ:
+ Xe đạp có chở được nhiều người không?
+ Xe đạp chạy bằng gì?Muốn xe chuyển động ta phải làm gì?
- Cô tạo tình huống đặt chân chống xe xuống và cho trẻ quay bàn đạp để
phát hiện bánh xe chuyển động và yêu cầu trẻ mô phỏng bằng vận động
sao cho giống xe đạp.
- Cô kết luận: xe đạp là phương tiện giao thông đường bộ dùng sức người
để di chuyển, không dùng điện, không dùng xăng.
 Hoạt động 2: Khám phá xe đạp điện
- Cô chỉ vào xe đạp điện và hỏi trẻ:
+ Đây là xe máy hay xe đạp? Các con có thấy chỗ dùng để đổ xăng
không?
+ Xe đạp điện có gì giống/khác với xe đạp thông thường?(bàn đạp)
+ Để chiếc xe này hoạt động được thì có những cách nào?(Sạc điện và
đạp bằng chân)
+ Cách nào chạy nhanh hơn mà vẫn không bị ô nhiễm môi trường?cách
nào chạy chậm hơn mà vừa tiết kiệm năng lượng vừa không gây ô nhiễm
môi trường?

11


+ Trẻ nhỏ có tự mình sạc điện cho xe đạp điện được không?vì sao?
- Cô đi xe đạp điện một vòng cho trẻ quan sát, lắng nghe xem có phát ra
tiếng ồn lớn và khói bụi không.
Cô kết luận: Xe đạp điện là phương tiện giao thông đường bộ chạy nhanh
hơn xe đạp thông thường, ngoài ra, xe đạp điện còn dùng điện và không
gây ô nhiễm môi trường.
 Hoạt động 3: Khám phá chiếc xe máy
- Cô chỉ vào chiếc xe máy và hỏi trẻ:
+ Đây là chiếc xe gì?
+ Để xe chạy được là nhờ có gì ? Đổ xăng ở đâu ?
+ Để xe khởi động được phải tác động vào đâu ?
+ Khi xe nổ máy con nên đứng như thế nào ? Nếu đứng gần bô xe hoặc
chạm vào bô xe thì điều gì sẽ xảy ra ?
+ Con đoán xem xe máy có gây tiếng ồn, khói bụi không ?
- Cô nổ máy xe và đặt một tấm bìa trằng phía sau bô xe cho trẻ nghe và
quan sát ám đen từ bô xe máy bám vào tấm bìa trắng.
- Cô kết luận : Xe máy là phương tiện giao thông đường bộ, chưa tiết
kiệm năng lượng và gây ô nhiễm môi trường.
- Cô hỏi trẻ : Để bảo vẹ môi trường chúng ta nên sử dụng loại xe nào ?
(Mời 2-3 trẻ trả lời)
 Hoạt động 4 : Trò chơi « Mua đúng loại xe »
- Cô nói đăc điểm của xe nào –Trẻ chạy về đúng xe đó
- Cô nói loại xe tiết kiệm năng lượng và không gây ô nhiễm môi trường
hoặc loại xe gây ô nhiễm môi trường – Trẻ chạy về phía xe đó
- Kết thúc : Cô nhận xét hoạt đông, tặng cờ cho trẻ
c) Sử dụng hệ thống câu hỏi mở để phát huy tính tích cực nhận thức của trẻ

12


- Đối với các choạt động phát triển nhận thức, việc sử dụng hệ thống câu hỏi
mở là vô cùng quan trọng và cần thiết cho trẻ khi xây dựng kế hoạch cũng
như tổ chức thực hiện, giáo viên nên dùng các loại câu hỏi thuộc hai nhóm
sau :
- Câu hỏi kích thích trẻ phỏng đoán suy đoán diễn biến, kết quả của sự vật,
hiện tượng : Các câu hỏi nhóm này có thể bắt đầu bằng các cụm từ như : Do
đâu ?Làm sao con biết ? Điều gì sẽ xảy ra ?Con sẽ làm như thế nào để..... ?...
Ví dụ :
- Tại sao chong chóng lại quay ?
- Vì sao khi trời lạnh, mọi người phải mặc áo ấm ?
- Theo con, cây trồng trong hộp kín sẽ như thế nào ?
- Với những câu hỏi « mở » như vậy, giáo viên kích thích trẻ suy nghĩ và tìm
hiểu về sự vật, hiện tượng kĩ hơn, hứng thú hơn; trẻ sẽ đưa ra được nhiều
tình huống, câu trả lời với nhiều cách lí giải lôgic, ngộ nghĩnh, đáng yêu mà
cũng rất thực tế.
3.2. Biện pháp 2 : Ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động
phát triển nhận thức
a) Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động khám phá khoa học, khám
phá xã hội
- Khi muốn tìm hiểu về các các chủ đề « Trường mầm non » ; « Bản thân » ;
« Gia đình » ;...giáo viên chỉ cần dành một chút thời gian tìm trên mạng
internet là có thể có được những hình ảnh đẹp.
- In ra cho trẻ tìm hiểu hoặc sắp xếp thành các slide theo trình tự của hoạt
động với các hiệu ứng đơn giản trên PowerPoint.
Ví dụ :
- Ở chủ đề Một số nghề phổ biến, khi muốn cho trẻ tìm hiểu về nghề
công nhân làm gốm, cô sưu tập các hình ảnh về nghề làm gốm, tạo
13


thành slide trình chiếu lên để trẻ thấy các dụng cụ làm gốm, một số
thao tác và sản phẩm của người công nhân làm gốm để trẻ thấy quý
trọng công sức lao động của người công nhân.
- Ở chủ đề Quê hương – Đất nước – Bác Hồ, cho trẻ xem tranh ảnh
phim tài liệu về Bác Hồ, với mong muốn để trẻ nhận biết được hình
ảnh giản dị về Bác, tình cảm của Bác với các em nhỏ và tình cảm của
mọi người đối với Bác, từ đó giáo dục trẻ lòng kính yêu đối với Bác.
- Ở chủ đề Nước và các hiện tượng tự nhiên, cô có thể quay một đọan
clip về mưa và cho trẻ nghe, quan sát. Với đoạn video clip đó , trẻ biết
được các loại mưa, tác dụng cũng như tác hại của mưa, biết các hiện
tượng thời tiết xảy ra khi có mưa.
- Ở chủ đề Thế giới động vật, cô sưu tầm hình ảnh, đoạn clip quay các
con hổ, voi, sư tử, gấu, khỉ cho trẻ khám phá. Với những đoạn clip
như vậy, trẻ có thể rất hứng thú tham gia vào các hoạt động vì những
clip đó có những hình ảnh, âm thanh, màu sắc đẹp thu hút sự chú ý,
thích thú, tò mò của trẻ.
- Ở chủ đề Thế giới Thực vật, khi cho trẻ tìm hiểu về quá trình phát
triển hay vòng đời của cây, cô có thể sưu tầm làm slide trình chiếu để
trẻ có thể nắm bắt được cây mọc lên từ hạt, đâm rễ, nảy mầm, cây
con, cây ra hoa, cây ra quả.
b) Ứng dụng công nhệ thông tin trong các hoạt động làm quen với toán
- Khi tổ chức hoạt dộng cho trẻ làm quen với toán, bên cạnh việc sử dụng
các đồ dùng trực quan gần gũi để hoạt động, giáo viên có thể ứng dụng
công nghệ thông tin trong một số hoạt động như :
+ Hoạt động dạy trẻ đếm các nhóm đối tượng trong phạm vi 8, nhận biết
số 8 : cô làm slide để kẻ chuyện về hai anh em nhà Thỏ đi hái nấm và
trình chiếu lên máy tính. Cô cho trẻ cùng đếm số cây nấm với anh em
14


Thỏ. Với hoạt động này, trẻ học toán mà như được nghe kể chuyện cổ
tích nên rất hứng thú và tập trung.
+ Hoạt động dạy trẻ ôn nhận biết phía phải – phía trái của bạn khác có sự
định hướng : Cô sưu tập các hình ảnh tạo trên PowerPoint để dạy trẻ.
+ Ứng dụng chương trình học vui Kidsmart vào các phần luyện tập sau
khi làm quen với kiến thức mới.
Ví dụ :
+ Sau khi dạy trẻ đếm các dối tượng trong pham vi 1-10, nhận biết các số
từ 1-10, cho trẻ luyện tập ở phần máy đếm số hoặc chơi trò làm toán
trong « Ngôi nhà toán học của Millie ».
+ Sau khi dạy trẻ nhận biết các hình , tôi cho trẻ ôn tập, củng cố hình bằng
trò chơi « Ngôi nhà chuột » trong chương trình Kidsmart ...
c) Ứng dụng công nghệ thông tin vào trong các hoạt động khác để phát triển
nhận thức cho trẻ
- Vào hoạt dộng chiều, hoạt động góc : cho trẻ ôn luyện, củng cố kiến thức
trên máy tính bằng chương trình Kidsmart vói Ngôi nhà toán học của Millie,
ngôi nhà khoa học của Sammy, Ngôi nhà không gian và thời gian của Trudy.
- Hoạt động ở góc học tập hay cho trẻ về nhà thực hiện : In các bài tập toán
tạo trên word như : Ôn số lượng trong phạm vi 10, so sánh kích thước của
các đối tượng, định hướng trong không gian ...
3.3. Biện pháp 3 : Phát triển các kĩ năng nhận thức và thao tác tư duy
a) Phát triển kĩ năng nhận biết
Giáo viên sử dụng những câu hỏi để thông qua những câu trả lời trẻ có thể
khắc sâu vào trí nhớ những gì đã được học.
Ví dụ :
+ Qủa khế có bao nhiêu múi ?
+ Qủa cam có màu gì ?
15


+ Khi nào đến sinh nhật của con ?
+ Cái áo của cô trông như thế nào ?
b) Phát triển khả năng nhận thức
Khả năng nhận thức là trẻ có thể nắm bắt vấn đề, hiểu được ý nghĩa của vấn
đề. Chính vì vậy, giáo viên có thể sử dụng những câu hỏi để trẻ trả lời bằng
cách giải thích, mô tả các sự vật, sự việc.
Ví dụ :
+ Con có đoán được hình này là hình gì không ?
+ Con hãy miêu tả về lớp học của mình ?
+ Con có thể giải thích cô nghe tại sao nước biển lại có vị mặn ?
c) Phát triển kĩ năng ứng dụng
Kĩ năng ứng dụng bao gồm việc vận dụng những kiến thức đã được học vào
thực tiễn cuộc sống nên để trẻ phát huy được kỹ năng này, giáo viên có thể
đặt những câu hỏi gợi mở.
Ví dụ :
+ Trái đất và quả bóng có điểm gì giống nhau ?
+ Sự khác nhau giữa cây và bụi cây như thế nào ?
+ Khi trời mưa thường hay hay xảy ra hiện tượng gì ?
d) Phát triển khả năng phân tích
Để phát triển khả năng này, giáo viên có thể sử dụng câu hỏi mở nhằm giúp
trẻ tách thông tin thành nhiều phần, nhiều đoạn để xem xét một cách chi tiết
hơn.
Ví dụ :
+ Điểm khác nhau giữa bạn trai và bạn gái ?
+ So sánh giữa quả trứng gà và quả trứng ngỗng ?
+ Hãy giải thích nếu không giữ gìn sức khỏe thì cơ thể dễ bị ốm
e) Rèn luyện năng lực quan sát
16


Vì đặc điểm của trẻ là luôn tò mò, thích tìm hiểu những điều mới lạ, đẹp
mắt, sống động nên để phát triển khả năng cảm giác, tri giác, rèn luyện năng
lực quan sát cho trẻ, bên cạnh việc cho trẻ quan sát tranh ảnh, mô hình, sa
bàn, hình ảnh trình chiếu,...giáo viên cần chú ý quan tâm đến những điều
kiện vật chất thật với sự đa dạng và phong phú với mỗi chủ đề để trẻ luôn có
điều kiện sáng tạo.
Ví dụ : Ở chủ đề Một số nghề phổ biến, giáo viên tổ chức cho trẻ được
trò chuyện, tìm hiểu, khám phá về các nghê bằng các hoạt động :
+ Quan sát của hàng tạp hóa
+ Thăm cô thợ may ở sân trường.
+ Trò chuyện với chú bộ đội.(Nhân dịp 22/12 mời phụ huynh là bộ đội đến
nói chuyện)
f) Rèn luyện khả năng phân loại
- Với đặc điểm của trẻ 5 tuổi, giáo viên có thể cho trẻ phân loại các đối
tượng theo 2 hay nhiều dấu hiệu khác nhau như : màu sắc, hình dạng, kích
thước, đặc điểm, nơi sống, nơi hoạt động,...và trong quá trình phân loại giáo
viên luôn chú ý rèn cho trẻ kĩ năng phân loại từ dễ đến khó theo tính đồng
tâm phát triển.
Ví dụ :
+ Phân loại một nhóm hình vuông, một nhóm hình tròn.
+ Xếp những hình có màu đỏ vào rổ đỏ, hình màu vàng vào rổ vàng.
+ Các con hãy chia nhóm rau ăn lá , nhóm rau ăn của.
+ Chia nhóm con vật theo nơi sống.
- Nếu trẻ lúng túng, giáo viên có thể gợi ý theo cách « Loại bớt đối tượng
không cùng nhóm » hoặc « Hoàn thành một nhóm », ví dụ :
- Hãy nhặt hết hình tròn ra khỏi rổ, còn lại là những hình gì ?
- Chọn những loại rau ăn củ để vào giỏ, còn lại là nhóm rau gì ?
17


- Đưa những con vật sống dưới nước về biểu tượng hình cái ao, những
con vật nuôi trong gia đình về biểu tượng hình ngôi nhà, còn lại là
những con vật sống ở đâu ?
- Nếu trẻ đã làm tốt thì cho trẻ phân loại nhóm lớn thành các nhóm nhỏ theo
đặc điểm: quả không có hạt, quả có một hạt, quả nào có nhiều hạt ; cây lấy
bóng mát, cây cho hoa, cây cho quả; quả vỏ nhẵn, quả vỏ sần, quả vỏ
gai/tua..
- Cho trẻ nhận biết, phân loại bằng các giác quan.
Ví dụ :
+ Nhắm mắt lại, sờ và chọn cho cô những quả vỏ sần.
+ Nhắm mắt lại và chọn cho cô những chùm nhãn.
+ Nhắm mắt lại và ngửi xem đây là mùi của quả / hoa gì ?
+ Ngửi hoa nào thơm và hoa nào không thơm ?
- Việc phát triển kĩ năng phân loại cho trẻ không chỉ được rèn luyện trong
các hoạt động học mà còn được tôi chú ý rèn ở mọi lúc, mọi nơi.
Ví dụ : Sau khi trẻ chơi các hoạt động góc xong, cô cho trẻ cất đồ dùng theo
các kí hiệu nhằm giúp trẻ phân loại: đồ dùng nhà bếp, đồ dùng phòng khách,
đồ dùng phòng ngủ hoặc nhóm rau ăn củ, rau ăn quả, rau ăn lá. Hoặc khi cho
trẻ hoạt động ngoài trời, cho trẻ nhặt lá và phân loại theo đặc điểm: lá tròn,
lá dài, lá to, lá nhỏ, lá ướt; sỏi, đá, đất, cát...
- Vào những giờ hoạt động chiều, cùng với việc cho trẻ lao động tự
phục vụ, giáo viên có thể sử dụng chính đồ dùng của trẻ để rèn kỹ
năng phân loại cho trẻ như: xếp dép xăng – đan/giày/dép lẻ; gấp áo
dài tay/áo cộc tay/quần dài/quần sooc; áo mùa đông/áo mùa hè, mũ
lưỡi trai/mũ len/mũ vành...
g) Rèn luyện phát triển kĩ năng so sánh
Để rèn kĩ năng này, cô có thể sử dụng những câu hỏi như :
18


- Xe đạp điện và xe đạp thông thường có gì giống và khác nhau ?
- Tìm điểm giống và khác nhau giữa con tôm và con cá ?
- Áo của con giống áo của bạn A ở điểm nào ?
- Có gì giống nhau giữa quạt điện và quạt nan ?
- Điểm khác nhau giữa hình tròn và hình tam giác ?
- Điểm giống nhau giữa hình vuông và hình chữ nhật ?
3.4. Biện pháp 4 : Phối hợp với phụ huynh giáo dục trẻ và chuẩn bị đồ
dùng dạy học
- Sau mỗi hoạt động, giáo viên dành thời gian trao đổi với phụ huynh trong
các giờ đón, trả trẻ để phụ huynh biết được hôm nay các con đã học gì, con
tiếp thu thế nào, cần phải làm gì để con nhớ bài tốt hơn...
- Trước mỗi hoạt động cần đến những đồ dùng có ở gia đình, giáo viên cần
trao đổi với phụ huynh để họ cùng chuẩn bị đồ dùng dạy học như: các loại
chai-lọ, lon nước, hộp sữa, cây xanh, ảnh của bé và gia đình, ảnh sinh nhật
bé, dép, các loại hộp các- tông, báo cũ, lịch cũ, tranh ảnh theo các chủ đề.
- Tư vấn cho phụ huynh các cách để phát triển nhận thức và kĩ năng nhận
thức cho trẻ ở nhà như: chơi cùng trẻ; trả lời các câu hỏi của trẻ, đặt câu hỏi
để kích thích tư duy và trí tò mò của trẻ; mua các loại sách, tạp chí khoa học,
băng đĩa...phù hợp với lứa tuổi của trẻ; cho trẻ tham quan danh lam thắng
cảnh nổi tiếng, các di tích lịch sử và hướng dẫn cho trẻ hiểu.
4. Kết quả đạt được
a) Đối với giáo viên
Giáo viên vững vàng, tự tin trong các hoạt động dạy trẻ phát triển nhận thức.
Được bổ sung thêm kiến thức chuyên môn và kỹ năng sư phạm.
b) Đối với trẻ
- 42/46 trẻ (tỷ lệ trên 90% ) đã hứng thú, tích cực, nhanh nhẹn và hoạt động
theo nhóm hiệu quả hơn.
19


- 40/46 trẻ(tỷ lệ trên 85%) đã cảm nhận được vẻ đẹp của mọi vật xung quanh
trẻ, trẻ cũng đã nhận biết và nắm bắt được một số đặc điểm, quy luật của các
sự vật, hiện tượng xảy, thông qua các biện pháp trên trẻ đã tích lũy được
những biểu tượng và tiền khái niệm phong phú về thế giới tự nhiên và xã hội
xung quanh. Các kỹ năng so sánh, quan sát, phân nhóm, xếp loại cũng như
giải thích, dự đoán, giải quyết vấn đề, thiết lập những mối quan hệ của trẻ
đều dựa trên kiểu tư duy trực quan hình tượng, tư duy tiền khái niệm. Khả
năng nhận thức của trẻ bao gồm cả những gì trẻ biết và cách mà trẻ suy nghĩ,
bao gồm: Nhận thức về xã hội, tự nhiên và nghệ thuật, biểu tượng ban đầu
về toán, thể hiện thái độ nhận thức tích cực, khả năng suy luận và sáng
tạo. ...của các sự vật, hiện tượng gần gũi xung quanh.
- Trẻ ý thức hơn với một số quy tắc xã hội; biết chia sẻ, quan tâm, giúp đỡ
người khác, yêu con người, quê hương, đất nước, cuộc sống...
- Ngôn ngữ của trẻ cũng phát triển tích cực, trẻ mạnh dạn hơn trong giao tiếp
với bạn bè và mọi người xung quanh.
Bảng kết quả so sánh có đối chứng.
STT Mức độ nội dung khảo sát

1
2
3
4
5
6
7

Khả năng nhận biết
Năng lực quan sát
Khả năng nhận thức
Khả năng ứng dụng
Khả năng phân tích
Khả năng phân loại
Kỹ năng so sánh

Đầu năm
Số
Tỷ lệ

Cuối năm
Số
Tỷ lệ

lượng
Số

%
Tỷ lệ

lượng
43

%
94%

lượng
19
26
20
19
10
15
………….

%
41.3%
57%
43%
41.3%
22%
33%

43
42
40
39
39
39

94%
91%
87%
85%
85%
85%

20


PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận

21


Phát triển nhận thức cho trẻ không chỉ giúp trẻ có được một số kiến thức
đơn giản về tự nhiên, xã hôi ; biết được đặc điểm nổi bật của một số sự vật
hiện tượng, một số quy tắc, quy luật của cuộc sống...mà còn hình thành ở trẻ
các kĩ năng, các thao tác tư duy một cách tích cực nhằm góp phần phát triển
một cách toàn diện cho trẻ. Không chỉ vậy, phát triển nhận thức còn giúp trẻ
ứng xử trong cuộc sống, biết quan tâm, chia sẻ giúp đỡ người khác, giúp trẻ
gần gũi, thân thiện hơn với môi trường tự nhiên và xã hội. Chính vì vậy mà
tôi đã chọn đề tài « Một số biện pháp phát triển nhận thức cho trẻ mẫu giáo
5-6 tuổi » để nghiên cứu, với những biện pháp mà tôi đưa ra đã phần nào
giúp bản thân tôi rèn luyện thêm chuyên môn, tự tin hơn trong các giờ dạy
hoạt động phát triển nhận thức, trẻ tham gia các hoạt động cũng dần hứng
thú hơn, mạnh dạn hơn.
2. Kiến nghị
a) Về phía giáo viên
- Tích cực sử dụng phương pháp dạy học tích cực với các hoạt động trải
nghiệm, hoạt động nhóm...phù hợp với trẻ trong các hoạt động phát
triển nhận thức.
- Làm tốt công tác xã hội hóa giáo dục để đồ dùng đồ chơi phục vụ cho
hoạt động dạy trẻ phát triển nhận thức được phong phú, đa dạng hơn.
- Nâng cao trình độ tin học và ứng dụng công nghệ thông tin hiệu quả
vào các hoạt động giáo dục.
b) Về phía cấp trên
- Thường xuyên tổ chức các buổi sinh hoạt chuyên đề, các lớp tập huấn
có các tiết dạy mẫu để giáo viên được tham dự, trao đổi, học hỏi và rút
kinh nghiệm.
- Tiếp tục tạo điều kiện cho giáo viên nâng cao trình độ chuyên môn,
nghiệp vụ cũng như trình độ tin học, ngoại ngữ, nghiên cứu các tài
22


liệu đặc biệt là được tham khảo các tài liệu, chương trình đang được
thực hiện hiệu quả ở các tỉnh thành khác.
Trên đây là sáng kiến kinh nghiệm « Một số biện pháp phát triển
nhận thức cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi » mà tôi đã nghiên cứu và thực hiện
tại lớp lá 3, Trường mẫu giáo xã Ea tul, các biện pháp tôi đưa ra chắc
chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu xót, rất mong sự góp ý chân thành
của các bạn đồng nghiệp và các cấp lãnh đạo để tôi có thể thực hiện đề tài
tốt hơn ./.
Xin chân thành cảm ơn !
Eatul, ngày 02 tháng 03 năm 2018
Người viết
H’ Mõi Niê

23


24



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×