Tải bản đầy đủ

Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA KẾ TOÁN

TIỂU LUẬN MÔN

TÀI CHÍNH – TIỀN TÊ

Đề tài số 5:

Tóm lượt lý thuyết về mối quan hệ giữa
nợ công và tăng trưởng kinh tế
Giảng viên hướng dẫn:
Trương Minh Tuấn
Nhóm sinh viên thực hiện: Nhóm 17
Họ và tên sinh viên
1. Nguyễn Thị Kim Loan

Số thứ tư
66

Chữ ki



2. Đào Lê Phương Dung
3. Hoàng Thị Huê
4. Nguyễn Thị Thanh Tâm

11
43
118

TP. Hồ Chí Minh, Tháng 11 năm 2012

Mục lục
Lời cảm ơn
I.

Quan điểm về nợ công................................................................................2

II.

Tăng trưởng kinh tế...................................................................................3

III.

Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế............4
1. Các quan điểm cổ điển.................................................................................4
2. Các quan điểm hiên đại................................................................................5

IV.

Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh

truyền dẫn trung gian......................................................................................11
1. Nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiêm tư nhân sẽ chững lại..........11
2. Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lê đầu tư công có khuynh hướng giảm
dần12
3. Mối quan hê giữa nợ công và lãi suất.............................................................14
4. Nợ công tăng cao gây áp lực tăng thuế trong tương lai để ổn định nợ............16
V.


Kết luận.......................................................................................................18

Tài liệu tham khảo............................................................................................18


NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
I.

Quan điểm về nợ công
Nợ công thường được hiểu là nợ của khu vực công. Tuy nhiên, hiên nay vẫn còn

nhiều quan niêm khác nhau về nợ công:
Theo Ngân hàng Thế giới (WB), nợ công là toàn bộ những khoản nợ của chính phủ
và những khoản nợ được chính phủ bảo lãnh.
Theo Quỹ Tiền tê Quốc tế (IMF), nợ công bao gồm nợ của khu vực tài chính công
và khu vực phi tài chính công. Tại hầu hết các nước trên thế giới, nợ công được xác
định bao gồm nợ của chính phủ và nợ được chính phủ bảo lãnh. Một số nước, nợ công
còn bao gồm nợ của chính quyền địa phương (Bungari, Rumani, Viêt Nam…), nợ
của doanh nghiêp nhà nước phi lợi nhuận (Thái Lan, Macedonia…). Như vậy,
quan niêm về nợ công cũng còn tùy thuộc vào thể chế kinh tế- chính trị của mỗi quốc
gia.
Ở Viêt Nam, theo khoản 2 Điều 1 của Luật quản lý nợ công ban hành năm 2009
(có hiêu lực từ tháng 7 năm 2010) quy định nợ công bao gồm: Nợ chính phủ, nợ được
chính phủ bảo lãnh và nợ chính quyền địa phương:


Nợ chính phủ là khoản nợ được ký kết phát hành nhân danh Nhà nước hoặc Chính

phủ, các khoản nợ do Bộ Tài chính ký kết, phát hành hoặc ủy quyền phát hành, không
bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Viêt Nam phát hành nhằm thực hiên
mục tiêu chính sách tiền tê trong từng thời kỳ.




Nợ chính phủ bão lãnh là khoản nợ của doanh nghiêp, tổ chức tài chính, tín dụng

vay trong nước, nước ngoài được Chính phủ bảo lãnh.


Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực

thuộc trung ương ký kết phát hành hoặc ủy quyền phát hành.
II.

Tăng trưởng kinh tế
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hoặc tổng
sản lượng quốc gia (GNP) hoặc quy mô sản lượng quốc gia tính bình quân trên đầu
người (PCI) trong một thời gian nhất định.


Tổng sản phẩm quốc nội (Gross Domestic Products, GDP) hay tổng sản sản phẩm

trong nước là giá trị tính bằng tiền của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được sản
xuất, tạo ra trong phạm vi một nền kinh tế trong một thời gian nhất định (thường là một
năm tài chính).


Tổng sản phẩm quốc gia (Gross National Products, GNP) là giá trị tính bằng tiền

của tất cả sản phẩm và dịch vụ cuối cùng được tạo ra bởi công dân một nước trong một
thời gian nhất định (thường là một năm). Tổng sản phẩm quốc dân bằng tổng sản phẩm
quốc nội cộng với thu nhập ròng.


Tổng sản phẩm bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc nội chia cho dân số.

Tổng thu nhập bình quân đầu người là tổng sản phẩm quốc gia chia cho dân số.


Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình quân

đầu người trong một thời gian nhất định. Tăng trưởng kinh tế thể hiên sự thay đổi về
lượng của nền kinh tế. Tuy vậy ở một số quốc gia, mức độ bất bình đẳng kinh tế tương
đối cao nên mặc dù thu nhập bình quân đầu người cao nhưng nhiều người dân vẫn sống
trong tình trạng nghèo khổ.

III.

Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế


1. Các quan điểm cổ điển
Quan điểm truyền thống đại diên là Keynes cho rằng: Khi chính phủ vay nợ để bù
đắp cho thâm hụt ngân sách do cắt giảm các nguồn thu từ thuế trong khi mức chi tiêu
công không thay đổi sẽ tác động đến hành vi tiêu dùng của người dân. Cụ thể là làm
mức tiêu dùng tăng, từ đó làm tăng tổng cầu về hàng hóa và dịch vụ, tăng sản lượng,
viêc làm trong ngắn hạn. Tuy nhiên, về dài hạn lại làm cho tiết kiêm quốc gia giảm và
kèm theo đó là những hê lụy khác.
Quan điểm của David Ricardo, một nhà kinh tế người Anh (1772-1832) lại cho
rằng mức thuế cắt giảm được bù đắp bằng nợ chính phủ sẽ không có tác động đến tiêu
dùng như quan điểm về nợ truyền thống, kế cả trong ngắn hạn. Ngược lại, nó sẽ làm
các khoản tiết kiêm tư nhân tăng lên bởi người dân đang chuẩn bị cho mức thuế cao sẽ
đến trong tương lai để chi trả lãi và gốc cho các khoản nợ hiên tại.
Trong thực tế, hai quan điểm trên luôn tồn tại song hành. Xét về mặt tích cực,
Chính phủ các quốc gia có thể sử dụng nợ công như là một công cụ để tài trợ vốn, đáp
ứng nhu cầu đầu tư cho các dự án, công trình trọng điểm quốc gia, khuyến khích phát
triển sản xuất, kích thích tăng trưởng kinh tế. Giải pháp tăng nợ công để bù đắp thâm
hụt ngân sách do cắt giảm thuế có thể sẽ góp phần kích thích tiêu dùng, tăng sản lượng,
viêc làm, tăng tổng sản phẩm quốc dân trong ngắn hạn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy,
trong dài hạn, một khoản nợ chính phủ lớn cũng là nguyên nhân khiến cho lãi suất
tăng, đầu tư giảm, tiết kiêm giảm và khuyến khích luồng vốn từ nước ngoài chảy vào,
từ đó làm cho sự tăng trưởng sản lượng tiềm năng quốc gia chậm lại. Nợ công tăng
cao, vượt quá giới hạn an toàn sẽ khiến cho nền kinh tế dễ bị tổn thương và chịu nhiều
sức ép từ bên trong lẫn bên ngoài quốc gia.
2. Các quan điểm hiện đại
Thứ nhất, nợ công là một nguồn rất cần thiết thuộc cấu trúc vốn tài chính của
các quốc gia, đặc biệt là những quốc gia đang phát triển, góp phần vào sự phát triển
kinh tế đất nước trong ngắn hạn, nhưng trong dài hạn có nguy cơ gây tổn hại cho
nền kinh tế bởi những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của nó.


Theo quan điểm của Folorunso S. Ayadi và Felix O. Ayadi (2008), nợ là một
trong những nguồn thuộc cấu trúc vốn tài chính của bất kỳ một nền kinh tế nào, đặc
biêt, đối với những đất nước đang phát triển thuộc Châu Phi, Châu Á, Châu Mỹ La
Tinh, đặc trưng bởi một cấu trúc vốn nội bộ không thỏa đáng, do đó, luôn gặp phải
vòng luẩn quẩn của năng suất thấp do thiếu nguồn vốn đầu tư nâng cấp và xây dựng
cơ sở hạ tầng, cập nhật công nghê kỹ thuật, rồi dẫn đến thu nhập thấp, kéo theo là
tiết kiêm cũng thấp và tiếp tục quay lại với cấu trúc vốn nội bộ thiếu thốn. Vì vậy,
lúc này, những kiến thức thuộc về chuyên môn, bộ máy quản lý tài chính quốc gia
và sự hỗ trợ tài chính từ những nước Phương Tây để khắc phục sự khó khăn về
nguồn lực là điều trở nên rất cần thiết. Mặt khác, nợ nước ngoài như là một sự ràng
buộc chính yếu đến cấu trúc vốn của những quốc gia đang phát triển. Trong hầu hết
các trường hợp, nợ dồn tích lại bởi vì những yêu cầu thanh toán cả vốn gốc và lãi của
nó, do đó, nợ dần trở nên không góp phần một cách đáng kể cho sự phát triển kinh tế
tại những đất nước đang phát triển trong dài hạn. Phát triển những ý tưởng trên, theo
Elmendorf và Mankiw (1999), nợ công có ảnh hưởng quan trọng đến nền kinh tế cả
trong ngắn và dài hạn. Các khoản nợ (phản ánh tài trợ thâm hụt) có thể kích thích
tổng cầu và sản lượng trong ngắn hạn do lượng vốn cung cấp cho nền kinh tế tăng
cao, đáp ứng nhu cầu huy động vốn của những cá nhân và tổ chức trong nền kinh tế,
nhưng chèn lấn vốn đầu tư và làm giảm sản lượng trong dài hạn. Nợ công cao có thể
ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng thông qua lãi suất dài hạn cao hơn,
bóp méo hê thống thuế trong tương lai cao hơn, lạm phát và sự không chắc chắn cao
hơn về các triển vọng và chính sách.
Có thể nói rằng: trong ngắn hạn, nợ công tác động tích cực lên tăng trưởng kinh
tế bởi cung cấp một lượng vốn thiết yếu đối với chi tiêu cho đầu tư phát triển của
quốc gia, nâng cao năng suất nhưng kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ phải thực hiên
trong tương lai, dẫn đến những ảnh hưởng bất lợi đến tích lũy vốn và tăng trưởng
kinh tế dài hạn nếu không có một chính sách quản lý nợ công phù hợp và hữu hiêu.


Thứ hai, đối với những quốc gia phát triển và những nền kinh tế thị trường mới
nổi, mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế biểu hiện rõ nhất khi nợ vượt
mức 90-100% GDP. Lúc này, nợ càng tăng, tăng trưởng kinh tế giảm đáng kể.
Theo M. Reinhart và S. Rogoff, hai nhà kinh tế học nổi tiếng về nghiên cứu lĩnh
vực nợ công, đã xem xét mối quan hê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế với các
mức độ khác nhau của nợ công ở những nền kinh tế tiên tiến và mới nổi, dựa trên
chuỗi số liêu quá khứ dài hạn và mô tả thực nghiêm đã đưa ra kết quả tác động phi
tuyến của nợ công đối với tăng trưởng kinh tế. Nghiên cứu gần đây (2010) được thực
hiên bởi hai tác giả này, thông qua thống kê tương quan đơn giản về những mức khác
nhau của nợ công và tốc độ tăng trưởng GDP thực dài hạn trong mẫu 20 quốc gia
phát triển (Úc, Áo, Bỉ, Canada, Đan Mạch, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland,
Nhật Bản, Hà Lan, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Thụy điển, Anh, Mỹ, Nauy, New
Zealand, Ý) trải dài khoảng hai thế kỷ (1790 – 2009), và mẫu 24 nền kinh tế thị
trường mới nổi (Argentina, Bolivia, Brazil, Chile, Trung Quốc, Colombia, Ai Cập,
Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Mexico, Nigeria, Peru, Philippines, Nam
Phi, Thái Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Uruguay, và Venezuela). giai đoạn 1946-2009 nhận thấy
rằng: (i) mối quan hê giữa nợ công và tăng trưởng dài hạn thì yếu đối với tỷ số
nợ/GDP dưới ngưỡng 90% GDP; (ii) trên 90%, khi nợ tăng, tốc độ tăng trưởng giảm
đáng kể.
Như vậy, đây chính là điểm mấu chốt trong viêc đề ra những chính sách quản lý
nợ công và trần nợ công phù hợp cho mỗi quốc gia dựa vào ngưỡng nợ cảnh báo, từ
đó, tránh vay mượn quá đà, rơi vào trạng thái mất khả năng chi trả và ảnh hưởng tiêu
cực đến tăng trưởng kinh tế.
Thứ ba, có thể xem xét sự tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông
qua dữ liệu nợ nước ngoài cùng với những rủi ro và hệ lụy mà nó đưa lại: sự
không khuyến khích đầu tư, giới hạn sự tham gia của các quốc gia đang phát triển
với nền kinh tế toàn cầu, sự trống rỗng trong dự trữ ngoại hối quốc gia, cứng nhắc
trong chính sách tiền tệ và chính sách tài khóa.


Một số nghiên cứu của Krugman (1988) và Sachs (1989) đã xem xét tác động của
nợ công lên tăng trưởng kinh tế thông qua sự tác động của một yếu tố đóng vai trò
quan trọng: đó là nợ nước ngoài, lên tăng trưởng kinh tế ở những nền kinh tế đang
phát triển. Hầu hết động cơ của các nghiên cứu này là giả thuyết "số dư nợ quá mức"
– một tình huống trong đó, gánh nặng nghĩa vụ nợ của một quốc gia là quá nặng đến
nỗi một phần sản lượng lớn phải tích lũy cho các chủ nợ nước ngoài và do đó gây nên
sự không khuyến khích đầu tư. Cũng theo đánh giá của Ayadi (1999) và Ayadi et. al.
(2003), gánh nặng nợ nước ngoài đã giới hạn sự tham gia của những quốc gia đang
phát triển với nền kinh tế toàn cầu và kèm theo đó là những nghĩa vụ nợ đã gây trở
ngại đến tăng trưởng và phát triển kinh tế. Khi vay nợ của một quốc gia tăng lên và
càng cao, những e ngại về vấn đề mất khả năng chi trả được đặt nặng, các quốc gia
khác tiến hành thẩm định môi trường đầu tư kỹ càng hơn và từ đó, đưa ra những điều
khoản khắt khe hơn gây ảnh hưởng đến hội nhập kinh tế của nền kinh tế chính quốc.
Hơn thế nữa, gánh nặng nợ quốc gia gây cản trở chi tiêu công cho đầu tư phát triển,
hạn chế viêc tích lũy nguồn vốn (sự trống rỗng trong dự trữ) và có khuynh hướng cản
trở áp dụng những chính sách tiền tê linh hoạt để củng cố những doanh nghiêp vừa và
nhỏ do nguồn thu được phải đáp ứng phần lớn nghĩa vụ nợ cả gốc và lãi. Điều này đã
ảnh hưởng một cách gián tiếp đến viêc làm, học vấn và sự bần cùng, nghèo khó của
người dân trong một quốc gia.
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế, tiết kiệm và đầu tư có mối quan hệ với nhau, khi
vốn nội địa không đủ để tài trợ cho chi tiêu đầu tư trong nước thì vay nợ là tất yếu
để phục vụ phát triển kinh tế. Tuy nhiên, vay nợ luôn kèm theo những rủi ro do lãi
suất, thời hạn, cơ cấu vay mượn, gây ảnh hưởng tiêu cực lên tăng trưởng kinh tế,
do đó vấn đề quản lý nợ hiệu quả đang trở nên cấp thiết.
Theo Hunt (2007), sự tăng lên trong tiết kiêm và đầu tư của nền kinh tế dẫn đến
tăng trưởng kinh tế. Sachs (2002) tranh luận rằng sự tăng trưởng sẽ không tăng cho
đến khi tổng lượng vốn tăng đạt đến một ngưỡng nhất định. Khi lượng vốn tăng, đầu
tư và sản lượng đầu ra tăng, trong vòng xoắn tiến lên, tiết kiêm sẽ tiếp tục tăng. Sau
khi đạt được một mức độ, sự tăng lên trong cả vốn và tiết kiêm sẽ kích thích sự tăng


lên trong tăng trưởng một cách tự lực. Lý thuyết “dual-gap” nói rằng đầu tư là một
hàm của tiết kiêm, và trong những quốc gia đang phát triển, mức độ tiết kiêm nội địa
không đủ để tài trợ cho đầu tư cần thiết để đảm bảo phát triển kinh tế, vì vậy, thật hợp
lý khi tìm kiếm sử dụng những sản phẩm và dịch vụ từ bên ngoài. Colaco (1985) đã
giải thích tính chất nhạy cảm của viêc thanh toán nợ đối với những nước đang phát
triển thông qua sử dụng ba kịch bản: (i) quy mô khoản nợ nước ngoài đạt đến một
mức độ mà lớn hơn so với vốn tự có, dẫn đến sự không cân bằng giữa nợ và vốn tự
có; (ii) tỷ lê nợ với lãi suất thả nổi tăng đột ngột, vì vậy những người vay mượn phải
đối mặt trực tiếp với viêc lãi suất tăng cao; (iii) thời hạn vay rút ngắn đáng kể, một
phần bởi vì sự giảm đi của những nguồn chính thức. Bên cạnh đó, Mehran (1986) cho
rằng quản lý nợ tương xứng là thiết yếu trong môi trường tài chính ngày càng phức
tạp. Mehran cũng xác định môi trường quản lý nợ là sự kết hợp về chính sách, môi
trường kiểm soát, kế toán, phân tích thống kê và những yếu tố khác như chính sách
minh bạch và chống tham nhũng, sự cải tiến của cấu trúc quản lý nợ và quá trình đưa
ra quyết định. Vấn đề tiếp theo trong viêc nhận và quản lý nợ là quyết định quy mô
nợ thực tế. Vay mượn nước ngoài trong thực tế được đo lường bởi những tỷ số riêng,
ví dụ như nợ trên xuất khẩu, thanh toán nợ trên xuất khẩu, nợ trên GDP (hoặc GNP),
và nợ nước ngoài so với tổng thu nhập quốc dân (GNI). Tuy nhiên, quyết định mức
phù hợp của những chỉ số này khó xác định và viêc hữu ích bây giờ là giảm thiểu
nguy cơ bùng nổ trong tăng trưởng nợ nước ngoài. Ví dụ, nếu nợ nước ngoài tăng
cao, thanh toán gánh nặng nợ cao hơn so với khả năng chịu đựng gánh nặng nợ của
quốc gia, viêc nhận nợ sẽ trở nên rắc rối và tình huống này phải được đảo ngược
thông qua mở rộng xuất khẩu; nếu xuất khẩu không được mở rộng, vay mượn nhiều
hơn sẽ cần thiết cho thanh toán nợ, và nợ nước ngoài sẽ chồng chất vượt quá khả
năng chịu đựng của một quốc gia.
Do đó, điều cần tham khảo ở đây chính là xác định đúng những yếu tố thuộc môi
trường quản lý nợ công của mỗi quốc gia, đặc trưng vốn có của chúng để có thể đề ra
được chính sách quản lý phù hợp: môi trường kiểm soát, hê thống kế toán nợ công,
vấn đề thực hiên minh bạch và chống tham nhũng, quy trình ra quyết định khi vay nợ


và xét duyêt dự án.
Thứ năm, nợ tích lũy theo thời gian và dòng chi trả nợ đã gây cản trở lớn đến
tăng trưởng kinh tế do những trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi
tiêu cho đầu tư phát triển của Chính Phủ.
Cohen (1993) và Clements et al. (2003) cũng làm vững thêm cho tác động đã nói
ở trên của nợ, như họ quan sát thấy tác động tiêu cực của nợ lên tăng trưởng không
chỉ thông qua sự tồn đọng của nợ, mà còn thông qua dòng chi trả nợ, điều mà giống
như sự giảm bớt chi tiêu cho đầu tư Chính Phủ. Điều này rất quan trọng cho viêc
đánh giá, xem xét vì chi tiêu công được xem là yếu tố quyết định chủ yếu của các
hoạt động kinh tế trong nhiều vấn đề chức năng. Nợ tích lũy làm giảm sức mạnh của
nền kinh tế thông qua tác động “nợ tăng thêm” với trở ngại thuế khóa và bất ổn định
vĩ mô. Trở ngại thuế khóa nghĩa là tồn nợ lớn không khuyến khích đầu tư vì những
người đầu tư tiềm năng nhận thấy rằng sẽ có thuế cao hơn trên thu nhập tương lai để
tạo nên khoản hoàn trả nợ. Bất ổn vĩ mô có liên quan đến viêc gia tăng thiếu hụt tài
chính, không chắc chắn do sự huy động vốn bất thường, sự suy giảm giá trị đồng nội
tê, mở rộng tiền tê và lạm phát dự đoán.
Tóm lại, theo phân tích của giới kinh tế học trên thế giới, nợ công là thành phần
không thể thiếu được trong cấu trúc tài chính của mỗi quốc gia. Nó có tác động tích
cực đến nền kinh tế trong ngắn hạn, nhưng cũng có thể gây nên nguy cơ tổn hại đối
với nền kinh tế trong dài hạn. Đó là do sự tồn đọng nợ theo thời gian, những yêu cầu
chi trả nợ cả vốn gốc và lãi, sự trở ngại thuế khóa, bất ổn vĩ mô và sự giảm bớt chi
tiêu đầu tư phát triển quốc gia một cách đáng kể. Do đó, chính sách quản lý nợ công
hiêu quả đòi hỏi phải lường trước những nguy cơ, rủi ro gặp phải, xác định mức nợ
phù hợp, cân đối hợp lý mức chi trả nợ trong tương lai, góp phần tác động tích cực
đến tăng trưởng kinh tế.
IV.

Mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế thông qua các kênh truyền

dẫn trung gian
Theo hai tác giả Cristina Checherita và Philipp Rother, nợ công không tác động


trực tiếp đến tăng trưởng kinh tế mà thông qua những kênh truyền dẫn trung gian để
từ đó mỗi sự thay đổi trong nợ công sẽ làm biến động những kênh trung gian này và
qua đó tác động lên tăng trưởng kinh tế theo một độ trễ nhất định. Đồng thời đưa ra
những quan điểm và bằng chứng thực nghiêm khác để lý giải về mỗi cơ chế tác động
đang xem xét.
Hai tác giả trên tiến hành điều tra mối quan hê giữa tỷ lê nợ chính phủ trên GDP
và tỷ lê tăng trưởng GDP trên đầu người đối với mẫu 12 nước thuộc khu vực đồng
tiền Euro, gồm có: Áo, Bỉ, Phần Lan, Pháp, Đức, Hy Lạp, Ireland, Ý, Lucxembua,
Hà Lan, Bồ Đào Nha, và Tây Ban Nha. Dữ liêu bắt nguồn đầu tiên từ cơ sở dữ
liêu European Commission AMECO, trong suốt giai đoạn 1970-2011. Chúng ta thấy
được một số bằng chứng cho các kênh truyền dẫn của tiết kiêm tư nhân, đầu tư công.
Hai kênh truyền này có mối quan hê phi tuyến với nợ công
1. Nợ công vượt ngưỡng 82 – 91% GDP, tiết kiệm tư nhân sẽ chững lại
Viêc phân tích kênh tỷ lê tiết kiêm tư nhân sử dụng phương trình hồi quy sau:

Phương trình xem xét tác động của nợ công lên tỷ lê tiết kiêm tư nhân có biến phụ
thuộc là tỷ lê tiết kiêm tư nhân, biến độc lập là nợ công và nợ công bình phương.
Ngoài tỷ lê tiết kiêm tư nhân và biến số nợ, các biến kiểm soát còn lại là các yếu tố
quyết định của tiết kiêm. Tỷ lê tiết kiêm tư nhân được cho rằng phụ thuộc vào: (i) mức
thu nhập theo đầu người, (ii) những sự thay đổi nhân khẩu và cấu trúc dân số được
xác định bởi tốc độ tăng trưởng dân số và tỷ số giữa số dân không thuộc độ tuổi lao
động trên số dân thuộc độ tuổi lao động, chia tách tỷ lê người già và trẻ em phụ
thuộc; (iii) mức thuế (được xác định bởi tổng số thu từ thuế của chính phủ tính theo
phần trăm GDP); (iv) chiều sâu của hê thống tài chính và các chỉ số tài chính khác,
được xác định bởi phần trăm tín dụng tư nhân trong nước trong GDP và lãi suất dài
hạn; (v) các chỉ số thể hiên độ mở của nền kinh tế thu hút tiềm năng của các dòng


vào và các dòng ra tiết kiêm nước ngoài.
Các kết quả hồi quy chỉ ra tác động phi tuyến tương tự của nợ công đối với tiết
kiêm tư nhân. Điểm ngoặt trong tỷ lê nợ trên GDP là tại các mức thấp hơn, ví dụ như
giữa 82% và 91%. Nếu vượt trên ngưỡng này và giữ cho các yếu tố khác không đổi thì
khu vực tư nhân sẽ bắt đầu không tiết kiêm, điều này có thể là bằng chứng chống lại
giả thuyết tương đương của Ricardian. Các kết quả này có thể được giải thích bằng
thực tế là các cá nhân có thể chống lại các áp lực do lạm phát gây ra và/hoặc
những rắc rối trong thị trường tài chính và/hoặc sự chuyển giao vốn ra nước ngoài.
2. Nợ công vượt ngưỡng 45% - 68% GDP, tỷ lệ đầu tư công có khuynh
hướng giảm dần
Xét đến kênh đầu tư tư nhân, chúng tôi không tìm thấy tác động (trực tiếp) của nợ
lên đầu tư tư nhân. Phương trình ước lượng tổng nguồn vốn cố định như sau:

Kết quả qua các mô hình khác nhau không thuyết phục thì cũng không mạnh, các
biến số của nợ hầu như là vô nghĩa. Xoay quanh đầu tư công (tính trên tổng nguồn
vốn cố định của chính phủ), phương trình hồi quy sau được đưa ra:

Kết quả hồi quy chỉ ra mối quan hê dạng lõm giống nhau giữa nợ công và đầu tư
công; với điểm ngoặt từ 45% GDP đến 68% GDP. Vượt trên ngưỡng này, mối quan hê
phủ định giữa nợ công và đầu tư công có thể được giải thích bởi thực tế là khi nợ
vay tăng quá cao, nỗi lo sợ về vấn đề phụ thuộc kinh tế và ảnh hưởng đến can thiêp
chính trị đã làm cho các Chính Phủ có xu hướng cắt giảm chi tiêu cho đầu tư công, kể
cả viêc xây dựng và bảo quản cơ sở hạ tầng công cộng, điều thiết yếu trong lĩnh vực
công để dồn sức hoàn trả những khoản nợ đang tăng dần.


Liên quan đến kênh truyền đầu tư, có quan điểm cho rằng viêc vay mượn của
Chính Phủ thì mở rộng trong ngắn hạn nhưng bị thu hẹp trong dài hạn. Lý thuyết kinh
tế của Keynes tranh luận rằng: khi khoảng cách giữa giá cả và lương bổng bị thu
hẹp, nợ cao hơn do cắt giảm thuế để tài trợ cho thâm hụt hoặc gia tăng tiêu dùng làm
tăng tổng cầu, dẫn đến thu nhập và sản lượng đầu ra gia tăng. Tuy nhiên, thâm hụt làm
giảm tiết kiêm khu vực công. Nếu tiết kiêm tư nhân và dòng vốn vào không tăng
đủ để bù đắp hoàn toàn cho vay mượn của Chính Phủ, lãi suất sẽ tăng theo thời gian.
Kết quả là, đầu tư bị chèn lấn, vốn và sản lượng sẽ sụt giảm, làm vô hiêu hóa lợi ích
mở rộng nợ trong ngắn hạn. Như vậy, trong ngắn hạn, tác động của nợ Chính Phủ
chủ yếu được xác định bởi kiểu cú sốc tài khóa hoặc tiền tê gây ra viêc mở rộng nợ.
Nợ Chính Phủ cao hơn vẫn có thể thu hút đầu tư vào trong nước mặc dù lãi suất
thực cao hơn nếu nợ được tạo ra bởi viêc giảm thuế hoặc bởi viêc gia tăng đầu tư
hữu ích của Chính Phủ, bởi vì cả hai đều làm tăng dòng vốn ròng. Trong thời gian dài
hơn, sau khi mở rộng nợ, viêc bóp méo hê thống thuế sẽ ảnh hưởng tiêu cực trong đầu
tư. Chúng tôi nhận thấy rằng hầu hết các công cụ tài chính phản ứng lại nợ một cách
có hê thống theo các ưu tiên: khi tỷ số nợ/sản lượng tăng, Chính Phủ sẽ giảm sức mua
và gia tăng thuế thu nhập để ổn định nợ. Trong số các công cụ khác nhau được sử
dụng điều chỉnh tài chính, tăng thuế thu nhập, thông thường là thuế suất đánh trên vốn,
sẽ có tác động rất tiêu cực đối với đầu tư.
3. Mối quan hệ giữa nợ công và lãi suất là không rõ ràng
Về tác động tiềm tàng của nợ công lên lãi suất quốc gia dài hạn, mô hình hồi quy
sau được đưa ra lần lượt cho lãi suất danh nghĩa và lãi suất thực.

Phương trình ước lượng lãi suất thực dài hạn cũng tương tự:


Trong khi tác động phi tuyến của nợ lên tỷ lê nợ công trên GDP hầu như được xác
định cho hai kênh đầu tiên, một tác động mạnh mẽ lên lãi suất danh nghĩa cũng như lãi
suất thực dài hạn được tìm thấy từ những thay đổi trong tỷ lê nợ. Mức tỷ số nợ
công (hoặc là dạng tuyến tính hoặc là dạng bậc hai) đều không có ý nghĩa trên mức
trung bình trong viêc xác định lãi suất dài hạn trong mô hình nêu trên.
Có một vài cách lý giải về mối quan hệ cùng chiều giữa nợ công và lãi suất.
Thứ nhất, viêc vay mượn nợ tăng khiến sự e ngại về mất khả năng trả nợ tăng, dẫn
đến phần bù rủi ro được đẩy lên cao làm tăng lãi suất. Cách lý giải này chưa chặt chẽ
vì trong một mức độ nào đó, khi mà khả năng trả nợ của quốc gia chưa ở tình trạng
“báo động” thì viêc tăng phần bù rủi ro là không hợp lý.
Thứ hai, giả định rằng Chính Phủ vay mượn để đầu tư, sự đầu tư kém hiêu quả của
chính phủ dẫn đến lượng sản phẩm đầu ra không tương xứng với vốn đầu tư ban
đầu, xuất hiên tình trạng sự vận động tiền không tương thích với số hàng hóa trên thị
trường, làm cho lạm phát tăng lên. Để giải quyết vấn đề lạm phát này, biên pháp “chữa
cháy” tức thời của chính phủ là thắt chặt chính sách tiền tê – tăng lãi suất. Cách lý giải
này phù hợp với nợ được bảo lãnh của chính phủ cho các doanh nghiêp Nhà nước
làm ăn kém hiêu quả. Tuy nhiên, đầu tư chỉ là một khía cạnh của viêc vay nợ và nợ
bảo lãnh cũng chiếm một tỷ lê nhỏ trong nợ công, nên tác động theo cách lý giải này
chưa bao quát được vấn đề.
Cách lý giải khác là dựa vào viêc duy trì tình trạng có thể trả được nợ của Chính
Phủ thông qua điều chỉnh chính sách thuế. Khi Chính Phủ trì hoãn thuế bằng cách phát
hành nợ hôm nay và tăng thuế trong tương lai, thế hê tương lai sẽ gánh chịu một phần
sự gia tăng thuế trong tương lai này. Thế hê hiên tại nhận thức rằng viêc cắt giảm thuế
hôm nay có giá trị hơn hiên giá của tất cả các khoản thuế trong tương lai, nói cách
khác giảm thuế hôm nay dẫn đến sự giàu có ròng và do đó tăng tiêu dùng bằng cách
giảm tài sản sản xuất (nhà xưởng, máy móc, thiết bị…). Vì vậy, bằng cách tăng mức
nợ hiên tại và chuyển sự giàu có qua các thế hê, Chính Phủ làm giảm sự tích lũy vốn
và kết quả là khiến lãi suất tăng. Tuy nhiên, Noriaki Kinoshita (2006) tiến hành hồi
quy và nhận thấy ảnh hưởng đến lãi suất của viêc tăng chi tiêu Chính Phủ sẽ lớn hơn


gấp nhiều lần so với ảnh hưởng
của nợ công. Vậy, chỉ khi nợ công tăng để bù chi thì ảnh hưởng lên lãi suất mới đáng
kể.
Nhìn chung, nhiều bài nghiên cứu thực nghiêm về tác động này kết luận rằng ảnh
hưởng của nợ công lên lãi suất là cùng chiều, tức là khi nợ tăng thì lãi suất sẽ tăng
nhưng mối quan hê này không có ý nghĩa thống kê cao, hay nói cách khác là không rõ
ràng. Robert Ford và Douglas Laxton (1999) cho rằng lãi suất trong nước chịu ảnh
hưởng từ nợ công thế giới hơn là nợ công của quốc gia trong bối cảnh sự tự do hóa
tài chính làm cho các thị trường vốn được hợp nhất và hiêu ứng lan truyền tác động
của cú sốc nợ qua các quốc gia (xem Public Debt and long – term interest rates. The
case of Germany, Italy and USA của Paolo Paesani, Rolf Strauch và Manfred Kremer
7/2006).
Để lý giải cho mối quan hê cùng chiều nhưng không rõ ràng này của nợ công đối
với lãi suất ở các nước trong Liên Minh Tiền Tê Châu Âu, Luigi Marattin và
Simone Salotti (7/2006) cho rằng sự phá vỡ kết nối rõ ràng do (i) sự thành lập Liên
minh Tiền tê Châu Âu và (ii) sự không thuần nhất trong mức nợ công. Từ đó hai tác
giả tiến hành xem xét. Tuy nhiên, sau khi kiểm tra bằng mô hình PVAR cho 38
quan sát hàng năm, giai đoạn 1970 – 2008 của 11 quốc gia trong EMU, hai tác giả
thấy rằng: Trước khi EMU ra đời, lãi suất dài hạn nhạy cảm với sự gia tăng phi hê
thống trong nợ công, chỉ ra rằng những kênh truyền điển hình này hoàn toàn hoạt
động. Trong khi đó, sự không thuần nhất trong mức nợ công trong mẫu 11 nước này
không giải thích được cho vấn đề nêu trên.
4. Nợ công tăng cao gây áp lưc tăng thuế trong tương lai để ổn định nợ
Nếu như viêc sử dụng nợ như một đòn bẩy tài chính cho doanh nghiêp thì Chính Phủ
của một quốc gia sử dụng nợ công như một chính sách đắc lực trong viêc đầu tư
công, phát triển các cơ sở hạ tầng, an sinh giáo dục. Tuy nhiên, nếu không cân nhắc
trong viêc sử dụng nợ, không phân tích cẩn trọng thực trạng nền kinh tế và khả năng
trả nợ ra sao cũng sẽ dễ đẩy nền kinh tế rơi vào vòng xoáy thâm hụt ngân sách ngày
càng nặng nề và dẫn đến cuộc khủng hoảng nợ không mong muốn. Khi đó lại rơi vào


viêc lạm dụng chính sách thuế thắt chặt nhằm bù đắp cho thâm hụt ngân sách, rõ ràng
nợ không được quan tâm đúng mức sẽ gây ra tác động xấu đến chính sách thuế ở quốc
gia đó. Thuế được cho là một công cụ chính sách kém hiêu quả trong khắc phục tình
trạng thâm hụt ngân sách ở các nước đang phát triển bởi lẽ, mặc dù tổng thu nhập
ngân sách quốc gia từ thuế có thể là một nguồn lớn để điều chỉnh thâm hụt nhưng vấn
đề ở đây là khi mức thuế suất trở nên cao hơn và chạm ngưỡng khả năng chịu thuế của
xã hội sẽ làm cho tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại và làm giảm cả phúc lợi xã hội
nếu mục đích sử dụng ngân sách thu được từ thuế bị bóp méo.
Có rất nhiều thảo luận mở rộng xoay quanh vấn đề chính sách tài khóa: điều chỉnh
và liên kết như thế nào giữa thu nhập từ thuế, chi tiêu và nợ công để đạt được chính
sách tài khoá tối ưu. Người ta đã kết hợp rất nhiều chính sách cơ bản gồm: vai trò của
Chính Phủ trong thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội, tái phân phối thu
nhập, tạo công ăn viêc làm, công bằng xã hội bằng cách giảm bất cân xứng trong
thu nhập và của cải giữa các tầng lớp và giữa thế hê hiên tại với thế hê tương lai, đảm
bảo hiêu quả tối ưu trong phân chia sử dụng nguồn tài nguyên.
Chính sách thuế thực sự quan trọng và là vấn đề “nhạy cảm” trong nền kinh tế bởi
nó liên quan đến thu nhập khả dụng của tất cả những cá nhân và tập thể gánh chịu
thuế trong xã hội, do đó, có thể tác động đến tăng trưởng kinh tế thông qua viêc không
khuyến khích đầu tư và kinh doanh hoặc bóp méo các quyết định đầu tư do thuế làm
cho một số dạng đầu tư có thêm lợi nhuận hơn những loại khác hoặc thuế làm giảm
mọi nỗ lực làm viêc của người lao động nếu vượt ngưỡng chịu đựng của họ.
Dưới các quan niêm hữu ích đó, một thuế suất tối ưu thật là cần thiết cho quyết
định tài trợ ngân sách và vì mục đích này Chính Phủ nên sử dụng nợ và công cụ
thuế đồng thời với nhau. Ví dụ, để đáp lại một sự gia tăng không mong muốn trong
chi tiêu Chính Phủ hoặc sự sụt giảm trong sản lượng, Chính Phủ nên phân tích rằng
bao nhiêu phần của sự gia tăng đó đang trở thành khoảng cố định trong chi tiêu.
Khoảng cố định này cần được tài trợ bằng cách áp đặt các loại thuế khác nhau và
phần tạm thời cần được tài trợ bởi phát hành trái phiếu. Tuy nhiên, tài trợ trái phiếu
hay vay mượn nợ nước ngoài cần phải được nghiên cứu và phân tích kỹ những rủi


ro gặp phải cần phải và cần phải dừng lại vào một ngày trong tương lai.
V.

Kết luận
Như vậy trên đây nhóm đã sưu tầm những thông tin tóm lượt về lí thuyết mối quan

hê giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, có rất nhiều quan điểm được ra từ các tác giả
khác nhau. Viêc khẳng định quan điểm nào đúng, quan điểm nào sai là hoàn toàn
không có cơ sở để bác bỏ. Mà chỉ có thể khẳng định rằng các quan điểm trên luôn luôn
song hành cùng với nhau, viêc áp dụng quan điểm nào là tùy thuộc vào điều kiên, thể
chế chính trị, bối cảnh kinh tế của từng quốc gia.

Tài liệu tham khảo
1. Bài viết của Lê Thị Minh Ngọc, khoa tài chính – học viên ngân hàng
www.hvnh.edu.vnmagazine4901808
2. Tiểu luận nghiên cứu khoa học của nhóm sinh viên trường đại học kinh tế
TP.HCM
www.TaiLieuTongHop.Com--moi_quan_he_giua_nguong_no_va_tang_truong_kinh_te__quan_ly_no_cong_o_viet_nam
3. Bài viết trên wikipedia
http://vi.wikipedia.org/wiki/T%C4%83ng_tr%C6%B0%E1%BB%9Fng_kinh_t
%E1%BA%BF
4. Bài

viết trên báo lao động điên tử

http://laodong.com.vn/Lao-dong-cuoi-tuan/Phai-thay-doi-tu-duy-ve-no-cong-vadoanh-nghiep-nha-nuoc/86477.bld
5. Luật

quản lí nợ công


http://www.vietlaw.gov.vn/LAWNET/docView.do?
docid=23497&type=html&searchType=fulltextsearch&searchText=



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×