Tải bản đầy đủ

Hoàn thiện phân tích tài chính của công ty cổ phần chuyển phát nhanh bưu điện

1

PHẦN MỞ ĐẦU

Trong điều kiện kinh tế thị trường, các doanh nghiệp muốn tồn tại,
đứng vững và ngày càng phát triển, đòi hỏi phải có một tiềm lực tài chính
mạnh mẽ để tiến hành sản xuất kinh doanh và cạnh tranh có hiệu quả. Mặt
khác, theo đà phát triển của nền kinh tế, các mối quan hệ kinh tế tài chớnh
ngày càng trở nên phong phú và phức tạp.
Vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải thường xuyên tiến
hành công tác phân tích tài chính và không ngừng hoàn thiện công tác này,
trên cơ sở đó, định hướng cho các quyết định nhằm nõng cao hiệu quả sản
xuất kinh doanh, cải thiện tình hình tài chính của doanh nghiệp. Thực tiễn đã
chứng minh, nếu các nhà quản trị doanh nghiệp quan tõm đúng mức tới công
tác phân tích tài chính thì họ sẽ có những quyết định đúng đắn và có nhiều cơ
hội thành đạt trong kinh doanh, ngược lại họ sẽ khó tránh khỏi những quyết
định tài chính sai lầm và thất bại.
Công ty cổ phần Chuyển phát nhanh Bưu Điện là một công ty thành
viên của Tập đoàn Bưu Chớnh - Viễn Thông có nhiệm vụ chuyển phát nhanh
các bưu phẩm đi khắp các tỉnh thành . Công tác phõn tích tài chớnh của công
ty đã bước đầu được quan tõm và có nhiều tiến bộ , tuy nhiên vẫn không tránh

khỏi những khó khăn và hạn chế.
Nhận thức được tầm quan trọng của phõn tích tài chớnh , nghiên cứu
thực trạng công tác phõn tích tài chớnh của công ty , sau thời gian thực tập tại
phòng Tài chính kế toán , được sự giúp đỡ của ban giám đốc , các cô chú ,
anh chị trong phòng Tài chớnh kế toán và thầy giáo hướng dẫn PGS.TS


2

Nguyễn Hữu Tài em đã chọn đề tài : ” Hoàn thiện phõn tích tài chớnh của
công ty Cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện “ để làm đề tài cho chuyên
đề tốt nghiệp của mình . Em xin chõn thành cảm ơn các cô , các chú , các anh
chị trong Công ty Cổ phần chuyển phát nhanh Bưu Điện và thầy giáo PGS.TS
Nguyễn Hữu Tài đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành chuyên đề này.
Em xin chân thành cảm ơn!


3

PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ CÔNG
TÁC PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP
1.1Khái niệm và mục tiêu phân tích tài chính doanh nghiệp
1.1.1Khái niệm
Doanh nghiệp là chủ thể kinh tế độc lập, có tư cách pháp nhân, hoạt
động kinh doanh trên thị trường nhằm làm tăng giá trị của chủ sở hữu.
Doanh nghiệp là một cách thức tổ chức hoạt động kinh tế của nhiều cá
nhõn. Có nhiều hoạt động kinh tế chỉ có thể thực hiện được bởi các doanh
nghiệp chứ không phải các cá nhõn.
Ở Việt Nam, theo Luật doanh nghiệp: doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng kí kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh - tức là thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi.
Tài chính doanh nghiệp được hiểu là những quan hệ giá trị giữa doanh
nghiệp với các chủ thể trong nền kinh tế. Các quan hệ tài chớnh doanh nghiệp
chủ yếu là: quan hệ giữa doanh nghiệp với Nhà nước, quan hệ giữa doanh
nghiệp với thị trường tài chớnh, quan hệ giữa doanh nghiệp với các thị trường
khác, quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp. Việc quản lý tài chớnh luôn luôn


giữ một vị trí trọng yếu trong hoạt động quản lý của doanh nghiệp, nó quyết
định tớnh độc lập, sự thành bại của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh,
đặc biệt trong xu thế hội nhập khu vực và quốc tế, trong điều kiện cạnh tranh


4

đang diễn ra khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, quản lý tài chớnh càng trở
nên quan trọng hơn bao giờ hết.
Nghiên cứu phõn tích tài chớnh là một khõu quan trọng trong quản lý
doanh nghiệp. Phõn tích tài chớnh được các nhà quản lý bắt đầu chú ý từ cuối
thế kỷ XIX. Từ đầu thế kỉ XX đến nay, phân tích tài chớnh thực sự được phát
triển và được chú trọng hơn bao giờ hết bởi nhu cầu quản lý doanh nghiệp có
hiệu quả ngày càng tăng, sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống tài chớnh, sự
phát triển của các tập đoàn kinh doanh và khả năng sử dụng rộng rói công
nghệ thông tin.
Phân tích tài chính là sử dụng một tập hợp các khái niệm, phương
pháp và các công cụ cho phép xử lý các thông tin kế toán và các thông tin
khác về quản lý nhằm đánh giá tình hình tài chính của một doanh nghiệp,
đánh giá rủi ro, mức độ và chất lượng hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
đó.
Quy trình thực hiện phân tích tài chính ngày càng được áp dụng rộng
rói trong mọi đơn vị kinh tế được tự chủ nhất định về tài chính như các doanh
nghiệp thuộc mọi hình thức, các tổ chức xã hội, tập thể và các cơ quan quản
lý, tổ chức công cộng. Đặc biệt sự phát triển của các doanh nghiệp, các ngõn
hàng và của thị trường vốn đã tạo nhiều cơ hội để phân tích tài chính chứng tỏ
thực sự là có ích và vô cùng cần thiết.
1.1.2 Mục tiêu của phân tích tài chính doanh nghiệp
Thông qua việc tớnh toán các chỉ tiêu tài chính, xem xét các mối quan
hệ chiến lược, phân tích tài chính giúp cho người sử dụng thông tin đánh giá
chớnh xác sức mạnh tài chớnh, khả năng sinh lói, triển vọng phát triển của
doanh nghiệp và là cơ sở để dự báo về tình hình tài chính, đưa ra các quyết
định tài chính. Bởi vậy, phân tích tài chính là mối quan tõm của nhiều nhúm
người khác nhau như: Ban giám đốc, các nhà đầu tư, các cổ đông, các chủ nợ,


5

các khách hàng, các nhà quản lý, kể cả các cơ quan Nhà nước và bản thõn
người lao động trong doanh nghiệp. Mỗi đối tượng quan tõm đến tình hình tài
chớnh của doanh nghiệp trờn các góc độ khác nhau, sử dụng các chỉ số và các
thông tin thu được để đưa ra các quyết định khác nhau.
Phân tích tài chính đối với các nhà quản trị
Các hoạt động nghiên cứu tài chính trong doanh nghiệp được gọi là
phân tích tài chính nội bộ khác với phõn tích tài chính bên ngoài do các nhà
phõn tớch ngoài doanh nghiệp tiến hành, do có thông tin đầy đủ và hiểu rừ
hơn về doanh nghiệp, các nhà phân tích tài chính trong doanh nghiệp có nhiều
lợi thế để có thể phân tích tài chính tốt nhất.
Phân tích tài chính nội bộ có nhiều mục tiêu:
- Tạo thành các chu kỳ đánh giá đều đặn về các hoạt động kinh doanh
quá khứ, giúp nhà quản trị tài chính đánh giá được hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, xác định điểm mạnh, điểm yếu của doanh nghiệp từ đó tiến
hành cõn đối tài chính, khả năng sinh lời, khả năng thanh toán, trả nợ và rủi ro
tài chính của doanh nghiệp.
- Định hướng các quyết định của Ban giám đốc cũng như của Giám đốc
tài chớnh: quyết định về đầu tư, tài trợ, phõn chia lợi tức cổ phần…
- Là cơ sở cho các dự báo tài chính: kế hoạch đầu tư, phần ngõn sách
tiền mặt…
- Cuối cùng phân tích tài chính là công cụ để kiểm soát các hoạt động
quản lý.
Phõn tích tài chính làm nổi bật tầm quan trọng của dự báo tài chính và
là cơ sở cho các nhà quản trị, làm sáng tỏ không chỉ chớnh sách tài chính mà
cũn làm rừ các chớnh sách chung.
Phân tích tài chính với các nhà đầu tư.


6

Các nhà đầu tư có thể là các cá nhõn hoặc các tổ chức đã giao vốn cho
doanh nghiệp - là cổ đông của doanh nghiệp hoặc là những người có vốn
nhưng chưa đầu tư và đang có nhu cầu sử dụng vốn mua cổ phiếu của doanh
nghiệp. Thu nhập của các nhà đầu tư sẽ là tiền chia lợi tức và giá trị tăng thêm
của vốn đầu tư (thu nhập trên cổ phiếu), hai yếu tố này chịu ảnh hưởng của lợi
nhuận kỳ vọng của doanh nghiệp. Ngoài ra, một phần không nhỏ thu nhập mà
các nhà đầu tư kỳ vọng là phần giá trị tăng thêm của vốn đầu tư do sự biến
động của giá cổ phiếu trên thị trường.
Các nhà đầu tư thường không hài lòng với lợi nhuận tớnh theo sổ sách
kế toán mà họ thường dựa vào kết quả phõn tích tài chớnh của các nhà chuyên
môn để dự báo vể triển vọng của doanh nghiệp, đánh giá cổ phiếu của doanh
nghiệp. Họ rất quan tõm tới tình hình thu nhập của chủ sở hữu, tới khả năng
sinh lời của doanh nghiệp. Đó là một trong những căn cứ giúp nhà đầu tư ra
quyết định có bỏ vốn vào doanh nghiệp hay không, có nên mua thêm hay bán
cổ phiếu mà họ đang nắm giữ?
Phân tích tài chính với người cho vay.
Người cho vay phân tích tài chính để nhận biết khả năng vay và trả nợ
của khách hàng. Chẳng hạn, để quyết định cho vay, một trong những vấn đề
mà người cho vay cần xem xét là doanh nghiệp có thực sự có nhu cầu vay hay
không? Khả năng trả nợ của doanh nghiệp như thế nào? Vì vậy việc phõn tích
tài chính khách hàng là rất cần thiết nhằm mục tiêu xác định rừ hiện trạng tài
chính của khách hàng: giá trị tài sản, tình hình công nợ, khả năng thanh toán.
Dự báo về tình hình tài chớnh của khách hàng trong tương lai, dự báo về các
rủi ro có thể xảy ra ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của khách hàng.
Việc phõn tích tài chớnh đối với những khoản nợ dài hạn và ngắn hạn
là khác nhau:


7

- Nếu là những khoản cho vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan
tõm đến khả năng thanh toán nhanh của doanh nghiệp.
- Nếu là những khoản vay dài hạn, người cho vay phải tin chắc khả
năng hoàn trả và khả năng sinh lời của doanh nghiệp mà việc hoàn trả vốn và
lói sẽ tuỳ thuộc vào khả năng sinh lời này.
Phân tích tài chính với những người hưởng lương trong doanh
nghiệp
Khoản tiền lương nhận được từ doanh nghiệp luôn là nguồn thu nhập
đáng kể của những người lao động trong doanh nghiệp vì vậy kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có tác động lớn đến tiền lương
và thu nhập khác của họ. Ngoài ra, trong một số doanh nghiệp, người lao
động được tham gia mua một lượng vốn cổ phần nhất định, nên có quyền lợi
và trách nhiệm gắn với doanh nghiệp như một nhà đầu tư. Do đó họ rất quan
tâm đến tình hình tài chớnh doanh nghiệp.
Ngoài ra, phõn tích tài chớnh cũng rất cần thiết đối với một số đối
tượng khác như các cán bộ thuế, thanh tra, cảnh sát kinh tế, luật sư…Dù họ
công tác ở các vị trí khác nhau, nhưng họ đều muốn hiểu biết về hoạt động
của doanh nghiệp nhằm phục vụ cho công việc của mình.
1.2 Công tác phân tích tài chính doanh nghiệp.
1.2.1 Xây dựng quy trình phân tích tài chính doanh nghiệp.
Phân tích tài chính có ý nghĩa quyết định đến kết quả hoạt động sản
xuất kinh doanh, vì vậy công tác phân tích tài chính phải có hiệu quả, mang
lại những thông tin chớnh xác, đầy đủ phục vụ cho việc ra quyết định của
người sử dụng thông tin. Muốn vậy, công tác phân tích tài chính cần phải
được tổ chức thực hiện theo một quy trình hoàn thiện với nguồn thông tin chất
lượng, với phương pháp và nội dung phân tích phù hợp, khoa hoc. Công tác
phân tích tài chính có thể được tiến hành theo các bước sau:


8

Bước 1: Chuẩn bị cho công tác phân tích
- Xác định mục tiêu, kế hoạch phân tích, từ đó lập ra các kế hoạch chi
tiết về nguồn thông tin sử dụng, thời gian tiến hành phân tích, số lượng nhõn
sự, yêu cầu trình độ, chuyên môn cán bộ cần cho công tác phân tích, tổ chức
phõn công công việc khoa học…
- Lập kế hoạch phối hợp giữa các bộ phận trong quá trình phân tích.
- Lựa chọn các phương pháp và nội dung phân tích nhằm hoàn thành
mục tiêu đề ra.
- Thu thập và xử lý sơ bộ các nguồn thông tin bên trong và bên ngoài
doanh nghiệp
Bước 2: Tiến hành phân tích
- Tớnh toán các chỉ tiêu, nhúm chỉ tiêu tài chính cần thiết, trên cơ sở đó,
tuỳ theo góc độ nghiên cứu khác nhau mà sẽ đi sâu vào phân tích các nội
dung có liên quan.
- Lập bảng biểu để so sánh, phân tích các chỉ tiêu đã tớnh toán, nhằm
tỡm ra nguyên nhõn gõy ra thực trạng của tình hình tài chính.
Bước 3: Báo cáo kết quả phân tích tài chính.
- Đưa ra nhận xét đánh giá về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Dựa vào đó, đề xuất những giải pháp nhằm phát huy những
thành công và khắc phục những hạn chế.
- Lập kế hoạch, dự báo tài chính cho năm tới.
1.2.2 Thu thập và xử lý thông tin.

* Thu thập thông tin
Phân tích tài chính sử dụng mọi nguồn thông tin có khả năng lý giải,
thuyết minh thực trạng hoạt động tài chớnh của doanh nghiệp, phục vụ quá


9

trình dự đoán tài chính. Nó bao gồm cả những thông tin nội bộ và những
thông tin bên ngoài, những thông tin kế toán và cả những thông tin quản lý
khác, những thông tin về số lượng và giá trị trong đó các thông tin kế toán
phản ánh tập trung trong các báo cáo tài chính là những nguồn thông tin đặc
biệt quan trọng.
Thông tin bên ngoài doanh nghiệp.
Trong thông tin bên ngoài, doanh nghiệp cần lưu ý thu thập những
thông tin chung (thông tin liên quan đến trạng thái nền kinh tế, cơ hội kinh
doanh, chớnh sách thuế, lói suất), thông tin về ngành kinh doanh (thông tin
liên quan đến vị trí của ngành trong nền kinh tế, cơ cấu ngành, các sản phẩm
của ngành tình trạng công nghệ, thị phần, hệ thống chỉ tiêu trung bình ngành)
- Các thông tin chung: hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp
chịu tác động của nhiều yếu tố thuộc môi trường kinh tế vĩ mô, nên khi tiến
hành phân tích tài chính doanh nghiệp nhà phõn tích cần đặt tình hình của
doanh nghiệp trong bối cảnh chung của nền kinh tế trong nước và khu vực.
Sự suy thoái hoặc tăng trưởng của nền kinh tế có tác động mạnh mẽ
đến cơ hội kinh doanh, đến sự biến động của các yếu tố đầu vào và thị trường
tiêu thụ sản phẩm đầu ra, từ đó tác động đến kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh nghiệp. Khi các tác động diễn ra theo chiều hướng có lợi,
hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp được mở rộng, lợi nhuận
tăng và nhờ đó kết quả kinh doanh trong năm là khả quan. Tuy nhiên, khi các
tác động diễn ra theo chiều hướng bất lợi, nó sẽ tác động xấu đến hoạt động
sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Ngoài ra, các chính sách thuế như thuế
giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu, thuế tiêu thụ đặc biệt và thuế thu nhập
doanh nghiệp có ảnh hưởng lớn đến các quyết định tài trợ và sản xuất của
doanh nghiệp. Bên cạnh đó các cơ hội kinh doanh, các định hướng phát triển


10

kinh tế của Nhà nước, sự ổn định chớnh trị, xã hội…cũng ảnh hưởng không
nhỏ tới kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Chính vì vậy, để có sự đánh giá một cách khách quan, chính xác về tình
hình tài chớnh của doanh nghiệp chúng ta phải xem xét cả các thông tin kinh
tế bên ngoài có liên quan.
- Các thông tin theo ngành kinh tế: Nội dung nghiên cứu trong phạm vi
ngành là việc đặt sự phát triển của doanh nghiệp trong mối liên hệ với các
hoạt động chung của ngành kinh doanh.
Việc nghiên cứu theo ngành chỉ rừ:
+ Tầm quan trọng của ngành nghiên cứu trong nền kinh tế.
+ Các sản phẩm và hoạt động khác nhau của ngành.
+ Quy trình công nghệ
+ Các khoản đầu tư
+ Cơ cấu ngành (mức độ tập trung hoá, các tập đoàn chủ yếu…)
+ Độ lớn của thị trường và triển vọng phát triển.
Thông tin theo ngành kinh tế đặc biệt là hệ thống chỉ tiêu trung bình
ngành là cơ sở tham chiếu để người phõn tích có thể đánh giá, kết luận chính
xác về tình hình tài chớnh doanh nghiệp.
Thông tin trong nội bộ doanh nghiệp.
Để đánh giá một cách cơ bản tình hình tài chớnh của một doanh nghiệp,
có thể sử dụng thông tin kế toán trong nội bộ doanh nghiệp như là một nguồn
thông tin quan trọng bậc nhất. Đó là các thông tin tổng quát về tình hình tài
sản, sự hình thành tài sản, sự vận động và thay đổi của chúng qua mỗi chu kỳ
kinh doanh của doanh nghiệp. Tất cả các thông tin này được phản ánh khá đầy
đủ trong các báo cáo tài chớnh.
Hệ thống báo cáo tài chính gồm có:

Bảng cân đối kế toán


11

Bảng cõn đối kế toán là một báo cáo tài chớnh mô tả tình trạng tài
chớnh của một doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định nào đó. Đây là một
báo cáo tài chớnh có ý nghĩa rất quan trọng đối với mọi đối tượng có quan hệ
sở hữu, quan hệ kinh doanh và quan hệ quản lý với doanh nghiệp. Thông
thường, Bảng cõn đối kế toán được trình bày dưới dạng bảng cõn đối số dư
các tài khoản kế toán: Một bên phản ánh tài sản và một bên phản ánh nguồn
vốn của doanh nghiệp.
Bên tài sản của Bảng cân đối kế toán phản ánh giá trị của toàn bộ tài
sản hiện có tại thời điểm lập báo cáo thuộc quyền quản lý và sử dụng của
doanh nghiệp bao gồm tài sản cố định và tài sản lưu động. Bên nguồn vốn
phản ánh số vốn để hình thành các loại tài sản của doanh nghiệp đến thời
điểm lập báo cáo: đó là vốn chủ sở hữu và các khoản nợ. Các khoản mục trên
Bảng cân đối kế toán được sắp xếp theo khả năng chuyển hoá thành tiền giảm
dần từ trên xuống dưới.
Về mặt kinh tế, bên tài sản phản ánh quy mô vốn và kết cấu các loại tài
sản; bên nguồn vốn phản ánh cơ cấu tài trợ, cơ cấu vốn cũng như khả năng
độc lập về tài chính của doanh nghiệp. Bên tài sản và bên nguồn vốn của
Bảng cân đối kế toán đều cú cỏc cột chỉ tiêu: số đầu kỳ, số cuối kỳ. Ngoài các
khoản mục trong nội bảng cũn cú một số khoản mục ngoài Bảng cân đối kế
toán như: Một số tài sản thuê ngoài, vật tư, hàng hoá nhận giữ hộ, nhận gia
công, hàng hoá nhận bán hộ, ngoại tệ các loại…
Mặt hạn chế của Bảng cân đối kế toán cũng như của các báo cáo tài
chớnh nói chung làm ảnh hưởng đến công tác phõn tích tình hình tài chính, đó
là dữ liệu mà chỳng cung cấp thuộc về quá khứ trong khi phõn tích lại hướng
đến tương lai.
Tuy nhiên, Bảng cân đối kế toán vẫn là một tư liệu quan trọng bậc nhất
giúp cho các nhà phõn tích đánh giá được khả năng cõn bằng tài chớnh, khả


12

năng thanh toán và khả năng cõn đối vốn của doanh nghiệp. Nhìn vào Bảng
cân đối kế toán, nhà phõn tích có thể nhận biết được loại hình doanh nghiệp,
quy mô, mức độ tự chủ tài chớnh của doanh nghiệp.

Báo cáo kết quả kinh doanh.
Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết sự dịch chuyển của tiền trong quỏ
trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và cho phép dự tớnh khả năng
hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai. Báo cáo kết quả kinh doanh cũng
giúp nhà phân tích so sánh doanh thu với số tiền thực nhập quỹ khi bán hàng
hoá dịch vụ, so sánh tổng chi phí phát sinh với số tiền thực xuất quỹ, nó cung
cấp những thông tin tổng hợp về tình hình và kết quả sử dụng các tiềm năng
về vốn, lao động, kỹ thuật và trình độ quản lý sản xuất - kinh doanh của
doanh nghiệp.
Nội dung của Báo cáo kết quả kinh doanh là chi tiết hoá của các chỉ
tiêu của đẳng thức tổng quát quá trình kinh doanh:
Doanh thu – Chi phí = Lợi nhuận
Từ đó Báo cáo kết quả kinh doanh cho biết tình hình sản xuất - kinh
doanh của doanh nghiệp trong năm là lỗ hay lói. Báo cáo kết quả kinh doanh
bao gồm các khoản mục: doanh thu từ hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh
thu từ hoạt động tài chính, doanh thu từ các hoạt động bất thường và chi phí
tương ứng với từng hoạt động đó.
Hạn chế của Báo cáo kết quả kinh doanh là các chỉ tiêu chi phí phụ
thuộc vào quan điểm của kế toán trong quá trình hoạch toán, doanh thu bán
hàng được ghi nhận ngay khi khách hàng chấp nhận thanh toán, trong khi việc
thanh toán tiền hàng lại xảy ra vào một thời điểm khác. Nhược điểm này dẫn
đến sự cần thiết của Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.

Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.


13

Để đánh giá một doanh nghiệp có đảm bảo được chi trả hay không, cần
tỡm hiểu tình hình Ngõn quỹ của doanh nghiệp. Ngõn quỹ thường được xác
định cho thời hạn ngắn (thường là từng tháng), xác định hoặc dự báo dòng
tiền thực nhập quỹ từ hoạt động kinh doanh; dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt
động đầu tư, dòng tiền thực nhập quỹ từ hoạt động bất thường. Xác định dự
báo dòng tiền thực xuất quỹ bao gồm: Dòng tiền xuất quỹ thực hiện sản xuất
kinh doanh, dòng tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động đầu tư, tài chớnh; dòng
tiền xuất quỹ thực hiện hoạt động bất thường.
Về cơ bản có hai phương pháp lập Báo cáo lưu chuyển tiền tệ: Phương
pháp trực tiếp và phương pháp gián tiếp. Phương pháp trực tiếp đơn giản với
người lập và dễ dàng cho người đọc thuộc mọi đối tượng, bắt đầu từ tiền thu
bán hàng, đi qua tất cả các nghiệp vụ kinh tế có liờn quan đến chi, thu tiền
thực tế để đến dòng ngõn lưu. Phương pháp gián tiếp khá trừu tượng dựa vào
các suy luận ngược, bắt đầu từ lợi nhuận ròng sau đó điều chỉnh các khoản
hạch toán thu chi không dùng đến tiền mặt, loại trừ các khoản lỗ lói từ hoạt
động đầu tư và hoạt động tài chớnh, sau đó điều chỉnh những thay đổi của tài
sản lưu động trên bảng cân đối kế toán, để đi đến dòng ngõn lưu. Phương
pháp gián tiếp nói rừ mối quan hệ giữa Bảng cân đối kế toán và Báo cáo kết
quả kinh doanh.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cùng với Báo cáo kết quả kinh doanh, Bảng
cân đối kế toán chỉ ra được chất lượng của lợi nhuận. Báo cáo lưu chuyển tiền
tệ cũn giúp nhà phõn tích giải thích được nguyên nhõn thay đổi về tình hình
tài sản, nguồn vốn, khả năng thanh toán của doanh nghiệp và thiết lập mức
ngõn quỹ dự phòng tối thiểu cho doanh nghiệp nhằm mục tiêu đảm bảo chi
trả.

Thuyết minh báo cáo tài chính.


14

Đây là báo cáo quan trọng được trình bày bằng lời văn nhằm giải thích
thêm chi tiết của những nội dung thay đổi về tài sản, nguồn vốn mà các dữ
liệu bằng số trong các báo cáo tài chính không thể thể hiện hết được như: đặc
điểm hoạt động kinh doanh (hình thức sở hữu, hình thức hoạt động, lĩnh vực
kinh doanh…), chế độ kế toán áp dụng tại doanh nghiệp, phương thức phân
bổ chi phí, phương thức trích khấu hao, tỉ giá hối đoái được dùng để hạch
toán trong kỳ, sự thay đổi trong đầu tư, tài sản cố định, vốn chủ sở hữu, tình
hình thu nhập của nhõn viên và các tình hình khác.
Tóm lại, để phân tích tình hình tài chính của một doanh nghiệp, các nhà
phõn tích cần phải đọc và hiểu được các báo cáo tài chính, qua đó, họ nhận
biết được và tập trung vào các chỉ tiêu tài chớnh liên quan trực tiếp tới mục
tiêu phân tích của họ.
Thu thập thông tin trong phõn tích tài chính là bước đầu tiên nhưng có
ý nghĩa xuyên suốt quá trình phân tích tài chính doanh nghiệp. Trong bước
này, căn cứ vào mục đích của công tác phân tích tài chính, nhà phõn tích sẽ
lựa chọn thông tin cho phù hợp.
* Xử lý thông tin: Giai đoạn tiếp theo của phân tích tài chính là quá
trình xử lý thông tin đã thu thập được. Trong giai đoạn này, người sử dụng
thông tin ở các góc độ nghiên cứu, ứng dụng khác nhau, có phương pháp xử lí
thông tin khác nhau phục vụ mục tiêu phõn tích đã đặt ra. Xử lý thông tin là
quá trình sắp xếp các thông tin theo những mục tiêu nhất định nhằm tớnh
toán, so sánh, giải thích, đánh giá, xác định nguyên nhõn của các kết quả đã
đạt được phục vụ cho quá trình dự đoán và quyết định.
Tuy nhiên phõn tích tài chính không có ý nghĩa khi chỉ đơn thuần là
công việc tổng hợp và sắp xếp số liệu trong khi các đối tượng tài chính cần
nghiên cứu lại luôn luôn biến động về số lượng và trạng thái tồn tại. Cho nờn
ở bước này, các nhà phõn tích tài chính phải biết đặt một đối tượng tài chớnh


15

này trong mối quan hệ biện chứng với các đối tượng khác và trong mối liên
hệ với các tiêu chuẩn, các định mức tài chính và kinh tế.
* Dự đoán và ra quyết định: Thu thập xử lí thông tin nhằm chuẩn bị
những tiền đề và điều kiện cần thiết để người sử dụng thông tin dự đoán nhu
cầu và đưa ra các quyết định tài chính. Có thể nói, mục tiêu của phân tích tài
chính là đưa ra các quyết định tài chính. Đối với chủ doanh nghiệp phân tích
tài chính nhằm đưa ra các quyết định liên quan tới mục tiêu hoạt động của
doanh nghiệp là tăng trưởng, phát triển, tối đa hoá giá trị xí nghiệp. Đối với
người cho vay và đầu tư vào xí nghiệp là đưa ra các quyết định về tài trợ và
đầu tư, đối với cấp trên của doanh nghiệp đưa ra các quyết định quản lý doanh
nghiệp …
Tuy nhiên hiệu quả của công tác dự đoán và ra quyết định tài chính cũn
phụ thuộc vào trình độ chuyên môn của các nhà nhõn tích cũng như những
người sử dụng thông tin từ hoạt động phân tích tài chính.
1.2.3 Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính.
Phương pháp phân tích tài chính bao gồm một hệ thống các công cụ và
biện pháp nhằm tiếp cận, nghiên cứu các sự kiện, hiện tượng, các mối liên hệ
bên trong và bên ngoài, các luồng dịch chuyển và biến đổi tài chính, các chỉ
tiêu tài chớnh tổng hợp và chi tiết, nhằm đánh giá tình hình tài chính doanh
nghiệp.
Lựa chọn phương pháp phân tích tài chính là một nội dung cơ bản của
công tác phân tích tài chính trong các doanh nghiệp, là chìa khoá để cung cấp
thông tin cho nhà quản trị theo các lợi ích khác nhau. Xuất phát từ đặc điểm
hoạt động kinh doanh của từng bộ phận, từng doanh nghiệp khác nhau trong
quá trình phõn tích có thể vận dụng những phương pháp cho phù hợp với mục
đích của việc nghiên cứu.


16

Về lý thuyết có nhiều phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp
nhưng trên thực tế người ta thường sử dụng phương pháp so sánh, phương
pháp tỷ số và phương pháp Dupont.
* Phương pháp so sánh.
Phương pháp so sánh là phương pháp sử dụng phổ biến và quan trọng
trong phõn tích kinh tế nói riêng và phõn tích tài chớnh nói chung. Theo
phương pháp này, nhà phân tích thường đối chiếu các chỉ tiêu kinh tế với nhau
để thấy được mức độ biến động của các đối tượng đang nghiên cứu. Phương
pháp này có ưu điểm là đơn giản, ít tớnh toán khi phõn tích nên được sử dụng
rộng rói.
Để áp dụng phương pháp so sánh cần phải đảm bảo các điều kiện để có
thể so sánh được của các chỉ tiêu tài chính (thống nhất về không gian, thời
gian, nội dung, tớnh chất và đơn vị tớnh toán...) và theo mục đích phõn tích
mà xác định gốc so sánh. Gốc so sánh được chọn là gốc về mặt thời gian hoặc
không gian, kỳ phân tích được lựa chọn là kỳ báo cáo hoặc kỳ kế hoạch, giá
trị so sánh có thể lựa chọn bằng số tuyệt đối, số tương đối hoặc số bình quân.
Nội dung so sánh bao gồm:
- So sánh giữa số thực hiện kỳ này với số thực hiện kỳ trước để thấy rừ
xu hướng thay đổi về tài chính doanh nghiệp. Đánh giá sự tăng trưởng hay
thụt lựi trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số thực hiện với số kế hoạch để thấy mức độ phấn đấu
của doanh nghiệp.
- So sánh giữa số liệu của doanh nghiệp với số liệu trung bình của
ngành, của các doanh nghiệp khác để đánh giá tình hình tài chính của doanh
nghiệp mình tốt hay xấu, được hay chưa được.
- So sánh theo chiều dọc để xem xét tỷ trọng của từng chỉ tiêu so với
tổng thể, so sánh theo chiều ngang của nhiều kỳ để thấy được sự biến đổi cả


17

về số tương đối và số tuyệt đối của một chỉ tiêu nào đó qua các niên độ kế
toán liên tiếp.
Phương pháp này thường được áp dụng rộng rói trong hầu hết các
doanh nghiệp vì tớnh đơn giản, dễ thực hiện lại đánh giá được rất nhiều các
chỉ tiêu kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp thường xuyên xõy dựng định
mức, kế hoạch, doanh nghiệp thuộc các ngành đã xõy dựng được hệ thống chỉ
tiêu trung bình ngành để làm chuẩn mực.
*Phương pháp tỷ số
Phương pháp truyền thống được áp dụng trong phân tích tài chính là
phương pháp tỷ số. Phương pháp tỷ số là phương pháp trong đó các tỷ số
được sử dụng để phõn tích, đó là các tỷ số đơn được thiết lập bởi chỉ tiêu này
so với chỉ tiêu khác. Đõy là phương pháp có tớnh hiện thực cao với các điều
kiện áp dụng ngày càng được bổ sung và hoàn thiện do nguồn thông tin kế
toán và tài chính được cải tiến, cung cấp đầy đủ hơn là cơ sở để hình thành
những tỷ lệ tham chiếu đáng tin cậy; việc áp dụng công nghệ tin học cho phép
tích luỹ dữ liệu và thúc đẩy nhanh quá trình tớnh toán các tỷ số, hệ thống
được hàng loạt các tỷ số theo chuỗi thời gian liên tục.
Phương pháp này dựa trờn ý nghĩa chuẩn mực của các tỷ số của đại
lượng tài chớnh trong các quan hệ tài chớnh. Sự biến đổi các tỷ số phản ánh
sự biến đổi của các đại lượng tài chớnh. Các tỷ số này được phõn thành các
nhúm tỷ số đặc trưng, phản ánh những nội dung cơ bản theo các mục tiêu hoạt
động của doanh nghiệp. Bao gồm nhúm chỉ tiêu về khả năng thanh toán,
nhóm chỉ tiêu về cơ cấu vốn, nhúm chỉ tiêu về năng lực hoạt động và nhóm
chỉ tiêu về khả năng sinh lời. Mỗi nhúm tỷ số lại bao gồm nhiều tỷ số phản
ánh riêng lẻ từng bộ phận hoạt động tài chớnh trong mỗi trường hợp khác
nhau, tuỳ theo giác độ phân tích, người phõn tích lựa chọn các nhúm chỉ tiêu
khác nhau để phục vụ mục tiêu phân tích của mình.


18

Cũng như phương pháp so sánh,phương pháp tỷ số đơn giản và được sử
dụng ở rất nhiều doanh nghiệp, nó yêu cầu phải xác định được các ngưỡng,
các định mức, để nhận xét, đánh giá tình hình tài chớnh doanh nghiệp, trên cơ
sở so sánh các tỷ số của doanh nghiệp với tỷ lệ tham chiếu. Vì vậy để nõng
cao hiệu quả phân tích tài chính, phương pháp tỷ số thường được sử dụng kết
hợp với phương pháp so sánh.
*Phương pháp Dupont.
Ngoài hai phương pháp trên, người ta cũn hay sử dụng phương pháp
Dupont. Phương pháp này do Công ty Dupont của Mỹ sử dụng trong phân
tích tài chính lần đầu tiên vào khoảng sau chiến tranh thế giới thứ nhất. Ngay
sau đó, phương pháp này đã nhanh chúng thu hút sự chú ý của giới chuyên
môn vì tớnh hữu dụng của nó và dưới nhiều hình thức được áp dụng rộng rói
tại các công ty lớn ở Mỹ.
Bản chất của phương pháp phân tích tài chính Dupont là tách một tỷ số
tổng hợp thành tích của chuỗi các tỷ số có mối liên hệ nhõn quả với nhau.
Điều đó cho phép phân tích những ảnh hưởng của các tỷ số thành phần với tỷ
số tổng hợp. Với phương pháp này, các nhà phân tích có thể nhận ra những
nguyên nhõn dẫn đến các hiện tượng tốt, xấu trong hoạt động của doanh
nghiệp.
Ví dụ từ chỉ tiêu doanh lợi tài sản - ROA, áp dụng phương pháp Dupont
ta có một cách tớnh mới như sau:
ROA = LNST / Tài sản = LNST / Doanh thu x Doanh thu / Tài sản
Với cách tớnh ROA mới này có thể thấy khả năng sinh lợi của đồng
vốn doanh nghiệp bỏ ra đầu tư chịu ảnh hưởng bởi khả năng sinh lợi từ hoạt
động tiêu thụ sản phẩm và hoạt động quản lý tài sản của doanh nghiệp.
Phương pháp Dupont rất có hiệu quả trong phân tích, tuy nhiên nó
không được áp dụng rộng rói mà chỉ áp dụng cho các công ty lớn, có đội ngũ


19

cán bộ phõn tích chuyên trách, có trình độ là do phương pháp này không chỉ
đòi hỏi đánh giá sự tác động của chỉ tiêu thành phần với chỉ tiêu tổng hợp mà
cũn sử dụng kinh tế lượng để đánh giá mức độ tác động của các chỉ tiêu thành
phần với nhau.
Trong quá trình xõy dựng quy trình phõn tích tài chính, người làm công
tác quản lý phải biết lựa chọn những phương pháp phân tích phù hợp tuỳ
thuộc vào ưu nhược điểm, điều kiện áp dụng của từng phương pháp cũng như
đặc điểm, điều kiện cụ thể của doanh nghiệp mình.
1.2.4 Xác định nội dung phân tích tài chính
*Phân tích khái quát hoạt động tài chính doanh nghiệp.
Qua các số liệu từ Bỏo cáo kết quả kinh doanh và Bảng cân đối kế toán,
chúng ta tiến hành phõn tích một cách khái quát nhất tài chính doanh nghiệp
để thấy được xu hướng thay đổi của từng khoản mục theo thời gian. Việc
phõn tích được tiến hành ở 3 nội dung chủ yếu sau:
- Về tài sản: so sánh số đầu kỳ với số cuối kỳ về số tuyệt đối và tỷ
trọng, so sánh tỷ trọng từng khoản mục bên tài sản với tổng số tài sản hiện có
để thấy được xu hướng biến động của chúng qua các năm.
- Về nguồn vốn cũng so sánh tương tự như phần tài sản nhằm rút ra
những kết luận chung nhất về khả năng thanh mở rộng hoạt động sản xuất
kinh doanh, về khả năng tài trợ cho các tài sản.
- Về kết quả kinh doanh: xem xét sự thay đổi của doanh thu thuần, lợi
nhuận thuần cũng như tỷ trọng của từng loại chi phí trong tổng doanh thu (giá
vốn hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý) để đánh giá xu hướng thay
đổi của từng chỉ tiêu và đánh giá kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
*Phân tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn:
Phõn tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn là xem xét và đánh giá
sự thay đổi của các chỉ tiêu cuối kỳ so với đầu kỳ trên Bảng cân đối kế toán


20

về nguồn vốn và cách thức sử dụng vốn của doanh nghiệp. Để tiến hành phân
tích diễn biến nguồn vốn và sử dụng vốn trước tiên nhà phân tích tiến hành
lập bảng kê nguồn vốn và sử dụng vốn (Bảng tài trợ), nó giúp nhà quản lý xác
định rừ các nguồn cung ứng vốn và việc sử dụng các nguồn vốn đó.
Để lập bảng này, trước hết phải liệt kê sự thay đổi các khoản mục trên
bảng cân đối kế toán từ đầu kỳ đến cuối kỳ. Mỗi sự thay đổi được phõn biệt ở
hai cột: Sử dụng vốn và nguồn vốn theo nguyên tắc: nếu các khoản mục bên
tài sản tăng hoặc các khoản mục bên nguồn vốn giảm thì điều đó thể hiện việc
sử dụng vốn; nếu các khoản mục bên tài sản giảm hoặc các khoản mục bên
nguồn vốn tăng thì điều đó thể hiện việc tạo nguồn.
Bảng tài trợ
Khoản mục

N-1

N

Sử dụng vốn

Đơn vị tinh:…
Nguồn vốn

I.Tài sản
1. Tiền và tương đương tiền
2. Phải thu
3. Dự trữ
4. Tài sản cố định hữu hình
5.Tài sản cố định vô hình
6.Tài sản tài chính
II. Nguồn vốn
1. Phải trả nhà cung cấp
2. Phải trả, phải nộp khác
3. Vay ngắn hạn
4. Vay dài hạn
5. Vốn ban đầu
6. Quỹ
7.Lợi nhuận chưa phân phối
Tổng cộng

Việc thiết lập Bảng tài trợ là cơ sở để chỉ ra những trọng điểm đầu tư
vốn và những nguồn vốn chủ yếu được hình thành để đầu tư.
Ngoài phân tích việc sử dụng vốn và nguồn vốn, người ta cũn phân tích
tình hình tài chính theo luồng tiền để xác định sự tăng (giảm) tiền và nguyên


21

nhân tăng giảm tiền. Trên cơ sở đó, doanh nghiệp sẽ có những biện pháp quản
lý ngõn quỹ tốt hơn.
*Phân tích tình hình đảm bảo nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh.
Để tiến hành sản xuất kinh doanh các doanh nghiệp cần có tài sản bao
gồm Tài sản lưu động (TSLĐ) và đầu tư ngắn hạn, Tài sản cố định (TSCĐ) và
đầu tư dài hạn. Để hình thành hai loại tài sản này phải có các nguồn tài trợ
tương ứng bao gồm nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn.
- Nguồn vốn ngắn hạn là nguồn vốn mà doanh nghiệp sử dụng trong
khoảng thời gian dưới 1 năm cho hoạt động sản xuất kinh doanh bao gồm: nợ
ngắn hạn, nợ quá hạn, nợ nhà cung cấp và nợ phải trả ngắn hạn khác.
- Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn doanh nghiệp sử dụng lâu dài cho
hoạt động kinh doanh bao gồm: vốn chủ sở hữu, nguồn vốn vay trung và dài
hạn.
Nguồn vốn dài hạn trước hết được dùng để hình thành TSCĐ, phần dư
của nguồn vốn dài hạn và nguồn vốn ngắn hạn được đầu tư hình thành TSLĐ.
Chênh lệch giữa vốn dài hạn với TSCĐ hay giữa vốn ngắn hạn với TSLĐ
được gọi là vốn lưu động thường xuyên (hay cũn gọi là vốn lưu động ròng).
Vốn lưu động thường xuyên = Nguồn vốn dài hạn – TSCĐ
hoặc: Vốn lưu động thường xuyên = TSLĐ - Nguồn vốn ngắn hạn
Mức độ an toàn của tài sản ngắn hạn phụ thuộc vào mức độ của vốn lưu
động thường xuyên. Khi vốn lưu động thường xuyên < 0 nguồn vốn dài hạn
không đủ đầu tư cho TSCĐ, doanh nghiệp phải dùng nguồn vốn ngắn hạn để
đầu tư một phần TSCĐ. TSLĐ của doanh nghiệp không đáp ứng đủ nhu cầu
thanh toán nợ ngắn hạn đến hạn. Nếu vốn lưu động thường xuyên > 0, nguồn
vốn dài hạn dư thừa sau khi đầu tư vào TSCĐ, phần dư thừa đầu tư vào
TSLĐ. Đồng thời TSLĐ > nguồn vốn ngắn hạn do vậy khả năng thanh toán
tốt.


22

Vốn lưu động thường xuyên = 0 có nghĩa là nguồn vốn dài hạn đủ tài
trợ cho TSCĐ và TSLĐ đủ để doanh nghiệp trả các khoản nợ ngắn hạn, tình
hình tài chính như vậy là lành mạnh.
Vốn lưu động thường xuyên là một chỉ tiêu tổng hợp rất quan trọng để
đánh giá tình hình tài chính của doanh nghiệp, cho biết doanh nghiệp có đủ
khả năng thanh toán các khoản nợ ngắn hạn không và TSCĐ của doanh
nghiệp có được tài trợ một cách vững chắc bằng nguồn vốn dài hạn không.
Ngoài vốn lưu động thường xuyên nghiên cứu tình hình bảo đảm nguồn
vốn cho hoạt động kinh doanh người ta còn sử dụng các chỉ tiêu như nhu cầu
vốn lưu động thường xuyên và vốn bằng tiền.
Nhu cầu vốn lưu
động thường xuyên

Vốn bằng tiền =

Các khoản

= Hàng tồn kho +

Vốn lưu động

phải thu

-

- Nợ ngắn hạn

Nhu cầu vốn lưu động

thường xuyên
thường xuyên
Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên là lượng vốn ngắn hạn doanh

nghiệp cần để tài trợ cho một phần TSLĐ, đó là hàng tồn kho và các khoản
phải thu. Nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 tức là tồn kho và các khoản
phải thu > nợ ngắn hạn, tại đây các sử dụng ngắn hạn của doanh nghiệp lớn
hơn các nguồn vốn ngắn hạn, doanh nghiệp phải dùng vốn dài hạn để tài trợ
cho phần chờnh lệch. Ngược lại, nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên < 0
nghĩa là các nguồn vốn ngắn hạn dư thừa để tài trợ các sử dụng ngắn hạn,
doanh nghiệp không cần nhận vốn ngắn hạn để tài trợ cho chu kỳ kinh doanh.
Vốn bằng tiền < 0 xảy ra tình trạng mất cõn đối trong nguồn vốn ngắn
hạn và dài hạn hoặc mất cõn đối trong đầu tư dài hạn.
Như vậy, để đảm bảo nguồn vốn và sử dụng vốn kinh doanh đảm bảo
sự lành mạnh về tài chính doanh nghiệp, trước tiên phải có vốn lưu động
thường xuyên > 0. Nếu nhu cầu vốn lưu động thường xuyên > 0 phải tỡm


23

cách làm giảm hàng tồn kho, tăng thu từ các khoản phải thu; nếu nhu cầu vốn
lưu động thường xuyên < 0 phải hạn chế vay ngắn hạn từ bên ngoài.
*Phõn tích các chỉ tiêu tài chớnh trung gian
Phõn tích các chỉ tiêu tài chớnh trung gian nhằm đánh giá chi tiết tình
hình tài chính và dự báo những điểm mạnh và điểm yếu của doanh nghiệp.
Những chỉ tiêu này là cơ sở để xác lập nhiều hệ số rất có ý nghĩa về hoạt
động, cơ cấu vốn…của doanh nghiệp.

Lãi gộp
Thu nhập trước khấu
hao và lãi vay
Thu nhập trước thuế
và lãi vay

=

Doanh thu

-

=

Lãi gộp

-

=

Thu nhập trước thuế

=

Thu nhập sau thuế

=

Thu nhập trước
khấu hao và lãi vay
Thu nhập trước thuế
và lãi vay
Thu nhập trước thuế

Giá vốn hàng bán
Chi phí bán hàng,
quản lý

-

Khấu hao

-

Lãi vay

-

Thuế thu nhập
doanh nghiệp

Trên cơ sở đó, nhà phân tích có thể xác định mức tăng tuyệt đối và mức
tăng tương đối của các chỉ tiêu qua các thời kỳ để nhận biết tình hình hoạt
động của doanh nghiệp. Đồng thời, nhà phân tích cũng so sánh chúng với các
chỉ tiêu cùng loại của các doanh nghiệp cùng ngành để đánh giá vị thế của
doanh nghiệp.
*Phân tích cỏc nhúm chỉ tiêu tài chính
Có 4 nhóm chỉ tiêu chủ yếu là tỷ số về khả năng thanh toán, tỷ số về
khả năng cõn đối vốn, tỷ số về khả năng hoạt động, tỷ số về khả năng sinh lời.


24

Tuỳ theo mục đích phõn tích tài chính mà nhà phân tích chú trọng
nhiều hơn tới nhóm tỷ số này hay nhúm tỷ số khác. Chẳng hạn, các chủ nợ
ngắn hạn đặc biệt quan tõm tới tình hình khả năng thanh toán của người vay.
Trong khi đó, các nhà đầu tư dài hạn quan tõm nhiều hơn đến khả năng hoạt
động và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Họ cũng cần nghiên cứu tình hình về
khả năng thanh toán để đánh giá khả năng của doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu
thanh toán hiện tại và xem xét lợi nhuận để dự tớnh khả năng trả nợ cuối cùng
của doanh nghiệp.
Mỗi nhúm tỷ số bao gồm nhiều tỷ số và trong từng trường hợp các tỷ số
được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào bản chất, quy mô của hoạt động phân tích.
Tuy nhiên việc phân tích các tỷ số sẽ có ý nghĩa hơn nếu sử dụng số liệu trong
các báo cáo tài chính để minh hoạ bản chất, cách tớnh toán và ý nghĩa của
chỳng.
Nhóm chỉ tiêu phản ánh khả năng thanh toán.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp luôn cần huy
động các nguồn tín dụng để tài trợ cho nguồn vốn thiếu hụt của mình. Việc
doanh nghiệp có huy động được nguồn vốn tín dụng hay không phụ thuộc vào
uy tín và khả năng tài chính của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp đảm bảo
được khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn thì các chủ ngõn hàng, các tổ
chức tín dụng yên tâm cho doanh nghiệp vay vốn để hoạt động sản xuất kinh
doanh. Họ luôn đặt ra câu hỏi liệu doanh nghiệp có khả năng trả các khoản nợ
tới hạn hay không? Để trả lời các cõu hỏi đó thường sử dụng các chỉ tiêu sau:
- Hệ số khả năng thanh toán hiện hành (hay khả năng thanh toán ngắn
hạn)
TSLĐ
Nợ ngắn hạn
Tỷ số khả năng thanh toán hiện hành là thước đo khả năng thanh toán
Khả năng thanh toán hiện hành =

ngắn hạn của doanh nghiệp, nó cho biết mức độ các khoản nợ của các chủ nợ


25

ngắn hạn được trang trải bằng các tài sản có thể chuyển thành tiền trong một
giai đoạn tương đương với thời hạn của các khoản nợ đó.
Giá trị của hệ số này cũn phụ thuộc vào ngành nghề kinh doanh, ngành
nghề nào mà TSLĐ chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản thì hệ số này lớn và
ngược lại. Nếu hệ số này lớn hơn 1 thì được coi là an toàn, cũn hệ số này nhỏ
hơn 1 thì doanh nghiệp rất dễ rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Tuy
nhiên nếu hệ số này quá cao, khả năng thanh toán là khả quan nhưng khả
năng sinh lời chưa hẳn đã tốt bởi có thể do đầu tư quá nhiều vào TSLĐ so với
nhu cầu, một sự đầu tư không mang lại hiệu quả lâu dài, đòi hỏi doanh nghiệp
phải có chớnh sách phõn phối vốn hợp lí hơn.
- Hệ số khả năng thanh toán nhanh.
Tiền + Phải thu
Nợ ngắn hạn
Hệ số khả năng thanh toán nhanh là tỷ số giữa các tài sản quay vòng
Hệ số khả năng thanh toán nhanh =

nhanh với nợ ngắn hạn. Tài sản quay vòng nhanh là những tài sản có thể
nhanh chóng chuyển đổi thành tiền, bao gồm: tiền, chứng khoán ngắn hạn,
các khoản phải thu. Tài sản dự trữ (tồn kho) là các tài sản khó chuyển thành
tiền hơn trong tổng TSLĐ và dễ bị lỗ nhất nếu được bán. Do vậy, hệ số khả
năng thanh toán nhanh cho biết khả năng trả các khoản nợ ngắn hạn không
phụ thuộc vào việc bán tài sản dự trữ. Hệ số này cao là tốt cho khả năng thanh
toán của doanh nghiệp, nhưng nếu qua cao có thể do tỷ trọng các khoản phải
thu trong tổng TSLĐ quá lớn, điều chứng tỏ doanh nghiệp đang bị chiếm
dụng nhiều vốn hoặc có thể do doanh nghiệp đang duy trì một mức dự trữ
ngân quỹ không hợp lý.
- Hệ số khả năng thanh toán tức thời
Hệ số khả năng thanh toán tức thời =

Tiền
Nợ đến hạn


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×
x