Tải bản đầy đủ

Tìm hiểu thực tiễn quy trình quyết định dự toán NSNN tại quốc hội ở việt nam trong những năm gần đây và đưa ra ý kiến bình luận cần thiết

MỤC LỤC

ĐẶT VẤN ĐỀ.................................................................................................................2
NỘI DUNG.....................................................................................................................2
I.Quy trình quyết định dự toán ngân sách nhà nước tại Quốc hội..............................2
1. Vai trò của Quốc hội trong quyết định dự toán NSNN.............................................2
2. Quá trình quyết định dự toán NSNN..........................................................................3
II. Thực tiễn quy trình dự toán ngân sách nhà nước...................................................7
1.Một số vấn đề bất cập trong thực hiện quy trình quyết định dự toán ngân
sách nhà nước tại Quốc hội trong những năm gần đây. .............................................7
2. Quyết định dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 tại Quốc hội..........................8
III. Ý kiến bình luận về thực trạng quy trình quyết định NSNN tại Quốc hội............11
IV. Giải pháp để cải thiện và nâng cao hiệu quả quy trình quyết định dự toán NSNN tại
Quốc hội...........................................................................................................................14
KẾT LUẬN......................................................................................................................15
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................16

1


ĐẶT VẤN ĐẾ

Hiện nay đất nước ta đang trong quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa, ngày
càng đổi mới tiến bộ và phát triển đi lên hội nhập cùng thế giới chính vì vậy các quyết
định và định hướng chính sách phát triển quốc gia của cơ quan đứng đầu bộ máy nhà
nước như Quốc hội có nhiệm vụ rất quan trọng, mang tính quyết định tới sự phát triển
của nền kinh tế quốc gia. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước
ta, có quyền trong quyết định các chính sách quan trọng nhất của quốc gia, trong đó có
lập dự toán ngân sách nhà nước, đặc biệt là quy trình quyết định dự toán ngân sách
nhà nước tại Quốc hội. Để hiểu thêm về vấn đề này trong thực tế hiện nay ở nước ta
em xin trình bày vấn đề: “ Tìm hiểu thực tiễn quy trình quyết định dự toán NSNN
tại Quốc hội ở Việt Nam trong những năm gần đây và đưa ra ý kiến bình luận cần
thiết.”

NỘI DUNG
I.Quy trình quyết định dự toán ngân sách nhà nước tại Quốc hội.
1. Vai trò của Quốc hội trong quyết định dự toán NSNN.
Quá trình cải cách về tài chính và pháp lý đã mang lại cho Quốc hội quyền hạn rất
lớn và trách nhiệm nặng nề trong việc thực hiện 3 chức năng cơ bản của mình là chức
năng lập pháp, giám sát và quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước. Quốc hội
có quyền quyết định về NSNN, đồng thời đảm bảo tính công khai, minh bạch, công
bằng trong phân bổ Ngân sách Trung Ương và bước đầu đã có tiến bộ, về cơ bản hạn
chế được tình trạng "xin - cho" trong lĩnh vực ngân sách, thực hiện chế độ tự chủ tự
chịu trách nhiệm trong lĩnh vực ngân sách tại một số cơ quan, qua đó đã tạo ra động
lực thúc đẩy các ngành, các cấp các khu vực tích cực khai thác các nguồn thu và chi
tiêu ngân sách tiết kiệm, có hiệu quả. Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao
nhất có quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia trong đó có quyết định dự
toán NSNN dựa trên các căn cứ pháp luật được Hiến pháp- đạo luật có giá trị pháp lý
cao nhất của nhà nước ta và các văn bản pháp Luật quy định cụ thể:

2


Điều 84 Hiến pháp 1992: “QH quyết định chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia; quyết
định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách nhà nước, phê chuẩn quyết
toán ngân sách nhà nước; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế.”
Theo Khoản 3 Điều 15 Luật NSNN Quốc hội có quyền quyết định dự toán NSNN
bao gồm:
“ a) Tổng số thu ngân sách nhà nước, bao gồm thu nội địa, thu từ hoạt động xuất khẩu
và nhập khẩu, thu viện trợ không hoàn lại;
b) Tổng số chi ngân sách nhà nước, bao gồm chi ngân sách trung ương và chi ngân
sách địa phương, chi các lĩnh vực đầu tư phát triển, chi thường xuyên, chi trả nợ và


vện trợ, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, dự phòng ngân sách. Trong chi đầu tư phát
triển và chi thường xuyên có mức chi cụ thể cho các lĩnh vực giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ;
c) Mức bội chi ngân sách nhà nước và nguồn bù đắp”
Điều 74 Luật tổ chức Quốc hội:
“Quốc hội quyết định kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội dài hạn và hàng năm của
đất nước; các công trình quan trọng quốc gia; chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia,
dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương.
Chính phủ trình Quốc hội dự án kế hoạch, dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ
ngân sách trung ương của năm sau tại kỳ họp Quốc hội cuối năm trước.
Quốc hội phê chuẩn tổng quyết toán ngân sách nhà nước do Chính phủ trình chậm
nhất là mười tám tháng, sau khi năm ngân sách kết thúc.
Các dự án phải được gửi đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là mười ngày, trước ngày
khai mạc kỳ họp.”
2. Quá trình quyết định dự toán NSNN.
Sau khi ban hành Luật Ngân sách Nhà nước năm 2002, theo đó quy trình ngân sách
nhà nước gồm 3 giai đoạn. Giai đoạn 1: các cơ quan, tổ chức và các địa phương chịu
trách nhiệm lập dự toán, cơ quan tài chính tổng hợp dự toán báo cáo Chính phủ trình
3


QH quyết định. Sau khi QH quyết định dự toán ngân sách nhà nước và quyết định phân
bổ dự toán ngân sách Trung ương, Thủ tướng Chính phủ giao dự toán cho các tỉnh,
thành phố trực thuộc Trung ương, các bộ, ngành và các cơ quan Trung ương. Giai
đoạn 2: căn cứ vào dự toán được giao, các cơ quan, tổ chức, đơn vị dự toán, cơ quan tài
chính, kho bạc Nhà nước tổ chức thực hiện dự toán. Giai đoạn 3: các đơn vị sử dụng
ngân sách lập quyết toán, đơn vị dự toán cấp trên duyệt quyết toán cho đơn vị cấp dưới
và tổng hợp quyết toán ngân sách cấp mình. Bộ Tài chính thẩm định quyết toán của các
cơ quan Trung ương, các đơn vị dự toán cấp 1 và tổng hợp quyết toán ngân sách Nhà
nước báo cáo Chính phủ trình QH phê chuẩn.
Một trong các nhiệm vụ có tính chất hàng năm của Quốc hội là quyết định dự toán
ngân sách nhà nước. Trong điều kiện QH không làm việc thường xuyên, chỉ họp 2
hoặc 3 kỳ họp trong một năm, để bảo đảm thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ theo quy
định của Hiến pháp và pháp luật, QH đã phân cấp một số nhiệm vụ cho cơ quan
thường trực là UBTVQH và cơ quan chuyên môn của QH là Hội đồng Dân tộc và các
Ủy ban. Theo Luật Tổ chức QH và các văn bản luật liên quan đến tài chính, ngân sách,
UBTVQH có nhiệm vụ:
Căn cứ vào Nghị quyết của QH về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân
sách Trung ương năm đầu của thời kỳ ổn định ngân sách quyết định tỷ lệ phần trăm
phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách từng địa phương đối với khoản
thu tại khoản 2, Điều 30 Luật Ngân sách nhà nước.
Ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình QH quyết định dự toán ngân sách nhà nước,
phương án phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà
nước.
Cho ý kiến về các báo cáo của Chính phủ và ý kiến thẩm tra của các Ủy ban chuyên
môn về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương. Đối với những
vấn đề còn khác nhau, UBTVQH cho ý kiến để Chính phủ cũng như các cơ quan thẩm
tra hoàn chỉnh báo cáo trình QH xem xét, quyết định.
Giám sát việc thực thi pháp luật về ngân sách, chính sách tài chính, nghị quyết của
QH, UBTVQH về lĩnh vực tài chính – ngân sách. Đình chỉ việc thi hành các văn bản
của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực tài chính – ngân sách trái với Hiến
pháp, luật, nghị quyết của QH và trình QH quyết định việc hủy bỏ các văn bản đó.
Hủy bỏ các văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ về lĩnh vực tài chính – ngân
sách trái với pháp lệnh, nghị quyết của UBTVQH. Bãi bỏ các nghị quyết của HĐND
4


cấp tỉnh về lĩnh vực tài chính – ngân sách trái với Hiến pháp, luật, nghị quyết của QH,
pháp lệnh và nghị quyết của UBTVQH.
Quyết định tỷ lệ phần trăm phân chia giữa ngân sách Trung ương và ngân sách từng
địa phương năm đầu thời kỳ ổn định đối với các khoản thu tại khoản 2, Điều 30 Luật
Ngân sách Nhà nước.
Cho ý kiến trước khi Chính phủ quyết định về những chế độ, chính sách quan trọng,
phạm vi ảnh hưởng rộng, liên quan đến việc thực hiện nhiệm vụ KT – XH của cả nước
như: chế độ tiền lương, trợ cấp xã hội, chế độ đối với người có công với cách mạng, tỷ
trọng chi ngân sách thực hiện nhiệm vụ giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ trong
tổng chi ngân sách nhà nước.
Cho ý kiến trước khi Thủ tướng Chính phủ quyết định về định mức phân bổ ngân
sách làm căn cứ xây dựng dự toán, phân bổ ngân sách cho các cơ quan ở Trung
ương. Cho ý kiến về phương án sử dụng nguồn tăng thu ngân sách do Chính phủ trình.
Theo các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn tiến hành thì quy trình thực
hiện quyết định dự toán NSNN tại Quốc hội có thể tóm tắt như sau:
+ Căn cứ các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh để
quyết định dự toán ngân sách UBTVQH ban hành Quy chế lập, thẩm tra, trình QH
quyết định dự toán ngân sách nhà nước. Chính phủ có trách nhiệm ra các quy định về
căn cứ xây dựng dự toán ngân sách nhà nước hàng năm, gắn kết chặt chẽ giữa dự toán
ngân sách hàng năm với kế hoạch tài chính trung hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn,
đảm bảo tính dự báo của ngân sách và phù hợp với tình hình phát triển chung của đất
nước.
+ Chủ thể chịu trách nhiệm lập và trình Quốc hội dự toán NSNN và phân bổ ngân sách
trung ương hàng năm là Chính phủ. Đồng thời Chính phủ ban hành quy chế xem xét,
quyết định dự toán NSNN. Bộ tài chính chủ trì phối hợp với các Bộ, cơ quan ngang
Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan khác thuộc trung ương, NBND cấp tỉnh lập dự
toán NSNN và phân bổ ngân sách trung ương. Chính phủ trình Quốc hội dự toán ngân
sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương của năm sau tại kỳ họp Quốc hội cuối
năm trước.
+ UBTVQH cho ý kiến về các báo cáo của Chính phủ và ý kiến thẩm tra của các Ủy
ban chuyên môn về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách Trung ương.
5


Đối với những vấn đề còn khác nhau, UBTVQH cho ý kiến để Chính phủ cũng như
các cơ quan thẩm tra hoàn chỉnh báo cáotrước khi trình QH xem xét, quyết định dự
toán. Cụ thể, Chính phủ trình dự toán NSNN trước ngày 1/10 để Uỷ ban Tài chínhNgân sách thẩm tra trước 5/10 sau UBTVQH họp cho ý kiến về các vấn đề này chậm
nhất là vào ngày 12/10, Sau khi Chính phủ báo cáo, Uỷ ban Tài chính-Ngân sách, Hội
đồng dân tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội thẩm tra, trong đó Hội đồng dân tộc và
các uỷ ban khác của Quốc hội phải tổ chức thẩm tra trước về các vấn đề thuộc lĩnh vực
được phân công phụ trách và có ý kiến bằng văn bản để tham gia cuộc họp thẩm tra do
Uỷ ban Tài chính-Ngân sách chủ trì; sau đó UBTVQH xem xét, cho ý kiến về các báo
cáo dự toán NSNN do Chính phủ trình.
+ Uỷ ban kinh tế và ngân sách chủ trì thẩm tra dự án, các báo cáo của Chính phủ về dự
toán ngân sách nhà nước và phương án phân bổ ngân sách trung ương đồng thời giám
sát hoạt động của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ trong qua trình thực hiện dự
toán ngân sách nhà nước.
+ Theo quy định của Luật NSNN, để các cơ quan của Quốc hội xem xét, thẩm tra tình
hình thực hiện NSNN năm hiện hành, dự toán NSNN và phương án phân bổ NSTƯ,
các báo cáo dự toán ngân sách phải gửi tới HĐND và các Uỷ ban của Quốc hội trước
1/10. Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách chủ trì thẩm tra chậm nhất là ngày 5/10, tiếp đó các
báo cáo phải được hoàn thiện gửi tới ĐBQH 10 ngày trước ngày khai mạc kỳ họp
Quốc hội
+ Tại kỳ họp Quốc hội xem xét các dự án sau khi nghe thuyết trình của Chính phủ, báo
cáo thẩm tra của Hội đồng dân tộc hoặc Ủy ban hữu quan; lấy ý kiến từ các đại biểu
Quốc hội về bản dự toán ngân sách và biểu quyết thông qua sau khi Quốc hội đã thảo
luận và quyết định( Điều 75 Luật TCQH). Quốc hội thông qua các dự án bằng cách
biểu quyết từng vấn đề, sau đó biểu quyết toàn bộ, hoặc biểu quyết toàn bộ một lần.
Nếu dự toán chưa được Quốc hội thông qua thì Chính phủ lập lại dự toán ngân sách
nhà nước, phương án phân bổ ngân sách trung ương trình Quốc hội vào thời gian do
Quốc hội quyết định(khoản 1 Điều 42 NĐ 60).
+ Trường hợp cần điều chỉnh lại dự toán ngân sách do có biến động lớn về ngân sách
so với dự toán đã phân bổ thì Chính phủ lập dự toán NSNN trình Quốc hội quyết định
tại kỳ họp gần nhất. Nếu phải điều chỉnh lại dự toán do yêu cầu cấp bách về quốc
phòng-an ninh hoặc do yêu cầu khách quan mà không làm biến động lớn về tổng thể và
6


cơ cấu ngân sách thì Chính phủ trình UBTVQH quyết định dự toán và báo cáo Quốc
hội tại kỳ họp gần nhất. ( khoản 2, khoản 3 Điều 43 NĐ 60).
II. Thực tiễn quy trình quyết định dự toán ngân sách nhà nước.
1.Một số vấn đề bất cập trong thực hiện quy trình quyết định dự toán NSNN tại
Quốc hội trong những năm gần đây.
Trong thực tế thực hiện nhiệm vụ quyết định ngân sách Nhà nước vẫn còn nhiều khó
khăn, chưa thực hiện đầy đủ thẩm quyền trong quyết định dự toán NSNN của Quốc
hội- cơ quan nhà nước có thẩm quyền tối cao. Chất lượng các quyết định mà Quốc hội
đưa ra chưa có hiệu lực áp dụng cao, chưa phù hợp với nhu cầu và đáp ứng được đòi
hỏi ngày càng cao của cử tri và nhân dân trong cả nước để đáp ứng điều kiện cho sự
phát triển của nền kinh tế thị trường hiện nay. Mặt khác, với những quy định hiện hành
của Luật Ngân sách nhà nước thì việc quyết định ngân sách nhà nước còn một số bất
cập như: nguồn thu ngân sách nhà nước chưa vững chắc, còn phụ thuộc nhiều vào hoạt
động xuất nhập khẩu, nhất là xuất khẩu nguyên liệu thô (dầu thô), tỷ trọng thuế trực
thu còn thấp và tăng chậm, tình trạng thất thu thuế còn khá cao. Việc phân cấp nguồn
thu giữa ngân sách Trung ương và ngân sách địa phương, giữa các cấp ngân sách còn
có điểm chưa phù hợp với thực tế.
Căn cứ xây dựng dự toán NSNN hàng năm do Chính phủ quy định còn chưa đầy đủ,
chưa gắn kết chặt chẽ giữa dự toán ngân sách hàng năm với kế hoạch tài chính trung
hạn và kế hoạch chi tiêu trung hạn, làm hạn chế tính dự báo, lựa chọn ưu tiên và hiệu
quả phân bổ ngân sách nhà nước; căn cứ quyết định dự toán ngân sách hàng năm của
cấp có thẩm quyền chưa gắn sát với kết quả thực hiện nhiệm vụ của đơn vị.
Sự phối hợp giữa Uỷ ban Kinh tế và Ngân sách với Hội đồng dân tộc và các Uỷ ban
khác của Quốc hội trong quá trình thẩm tra, giám sát ngân sách, thẩm định chương
trình dự toán NSNN còn thiếu hiệu quả. Việc chia sẻ thông tin, phân tích số liệu giữa
các cân đối vĩ mô với chỉ tiêu chuyên ngành; sự hợp lý, gắn kết giữa chính sách ngân
sách Nhà nước và ngân sách ngành, lĩnh vực cũng chưa được phối hợp đánh giá một
cách chặt chẽ, gắn kết giữa các Uỷ ban. Nội dung trình các chương trình, dự án quan
trọng quốc gia tại Quốc hội rất phức tạp, liên quan đến nhiều lĩnh vực khác nhau, nên
sự phối hợp giữa các Uỷ ban của Quốc hội để có một báo cáo thẩm tra toàn diện, có
chất lượng là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thảo luận và quyết
định của Quốc hội về chương trình, dự án đó tại phiên họp toàn thể của Quốc hội. Để
7


cơ quan lập pháp có điều kiện thảo luận và quyết định dự toán ngân sách nhà nước một
cách tích cực, có chất lượng thì những thông tin quản lý cần phải được cung cấp một
cách kịp thời, chính xác và có hệ thống. Ngoài những thông tin do Chính phủ cung
cấp, Quốc hội cũng cần nhận được những thông tin từ Kiểm toán Nhà nước và những ý
kiến đóng góp của các tổ chức xã hội. Nguồn thông tin độc lập sẽ tạo ra cách nhìn
nhận, đánh giá của các đại biểu Quốc hội từ nhiều góc độ, quan điểm khác nhau.
2. Quyết định dự toán ngân sách nhà nước năm 2012 tại Quốc hội.
Ngay trong kỳ họp quốc hội tháng 11 năm 2011, xem xét lại quy trình xây dựng dự
toán và phân bổ ngân sách trung ương năm 2012, các đại biểu Quốc hội đặc biệt quan
tâm quy trình quyết định dự toán NSNN do nổi bật nhiều bất cập chưa được giải quyết
kịp thời. Quốc hội đã thông qua nghị quyết 14/2011/QH13 về dự toán ngân sách nhà
nước năm 2012.
+ Đánh giá chung về tình hình thu NSNN năm 2011, Ủy ban Tài chính và Ngân sách
của Quốc hội cho rằng, cơ cấu thu NSNN đã có sự chuyển biến dựa vào sản xuất kinh
doanh trong nước song chưa nhiều. Qua thực hiện giai đoạn 2006-2010 và năm 2011
cho thấy, chính sách thu hiện hành còn nhiều bất cập về mức huy động, về chính sách
ưu tiên và miễn giảm còn lồng ghép nhiều chính sách xã hội làm giảm tính trung lập
của thuế. Cơ cấu nguồn thu chưa vững chắc, chưa đáp ứng yêu cầu tái cấu trúc nền
kinh tế trong tình hình mới. Qua giám sát thực tế cũng cho thấy, mặc dù Nghị quyết số
11/NQ-CP của Chính phủ tập trung vào việc cắt giảm chi tiêu công, tiết kiệm thêm
10% chi thường xuyên (ngoài phần tiết kiệm 10% dự toán từ đầu năm), nhưng tổng số
chi NSNN vẫn vượt dự toán 9,7% (70.400 tỷ đồng). Đây là mức tăng khá lớn, chưa thể
hiện vai trò tích cực của chính sách tài khóa trong việc kiềm chế lạm phát, ổn định kinh
tế vĩ mô
+ Nhiều đại biểu đề nghị sớm sửa đổi Luật Ngân sách nhà nước vì cho rằng, chính sách
tài khóa, đặc biệt là công tác xây dựng dự toán ngân và phân bổ ngân sách trung ương
“có vấn đề”. Đại biểu Đinh Xuân Thảo (Đoàn Hà Nội) : “Chừng nào chưa sửa đổi
Luật Ngân sách nhà nước thì cách làm ngân sách của chúng ta cũng chỉ đến mức độ
như thế thôi”. Dẫn chứng để thấy những bất cập tồn tại nhiều năm nay trong việc quyết
định dự toán và phân bổ ngân sách ở nước ta, đại biểu Thảo cho hay: "Việc quyết toán
ngân sách nhà nước năm 2008, cụ thể là khoản thu chuyển nguồn – khoản ngân sách
đã ứng trước của năm sau, khi đưa ra Quốc hội, có nhiều đại biểu băn khoăn: Tại sao
khoản thu lại vượt quá như thế, thắc mắc về khoản nọ, khoản kia. Nhưng sau đó, Quốc
hội cũng cho qua vì thu thì đã thu rồi, chi cũng đã chi rồi". Có thể nhận thấy một phần
8


nguyên nhân của việc này là do quyết định dự toán tại Quốc hội chưa thực sự đạt hiệu
quả, vẫn để xảy ra những khoản thu chi bất hợp lý trong dự toán NSNN.
+ Qua báo cáo tình hình thực hiện ngân sách năm 2011 của Chính phủ ta có thể thấy rất
nhiều mục thu, chi vượt dự toán khá lớn, như thu ngân sách nội địa đã vượt 11,3% so
với dự toán. Nguồn thu từ dầu thô ước thực hiện năm nay khoảng 100 nghìn tỷ đồng,
vượt 44% so với dự toán; tổng chi ngân sách vượt dự toán 9,7%, trong đó, chi đầu tư
phát triển vượt dự toán và tăng 15,1%... Theo các đại biểu, những con số vượt dự toán
khá cao, đặc biệt là chi ngân sách trong bối cảnh đang thực hiện chính sách tài khóa
thắt chặt, giảm đầu tư công thì không thể coi đây là những “thành tích” mà cần đánh
giá nghiêm túc chất lượng công tác xây dựng và quyết định dự toán NSNN không chỉ
tại Quốc hội mà tất cả các cơ quan có trách nhiệm liên quan trong quá trình ngân sách.
+ Ngay trong trong dự toán NSNN năm 2011 có một trọng tâm là ưu tiên đầu tư cho
lĩnh vực y tế, chủ yếu tập trung đầu tư hạ tầng bệnh viện tuyến huyện để giảm tải cho
bệnh viện tuyến trên. Nhưng kết quả thực hiện việc này như thế nào thì năm 2012
không thấy Chính phủ báo cáo nên các đại biều tại phiên họp Quốc hội không có đủ
các căn cứ, thông tin chính xác để đưa ra ý kiến về vấn đề này xây dựng giúp Quốc hội
quyết định dự toán ngân sách đảm bảo hiệu quả.
Chính vì vậy Ủy ban Tài chính và Ngân sách của Quốc hội đề nghị Chính phủ rà
soát lại các nguồn thu, có kế hoạch thanh tra, kiểm tra, tăng cường chống chuyển giá,
chống thất thu trong khu vực DNNN, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh
nghiệp ngoài quốc doanh, trong quản lý đất đai, tài nguyên, xem xét lại chính sách thu
từ đất và có kế hoạch lập dự toán thu từ đất sát với thực tế từng năm, tránh tình trạng
vượt dự toán quá lớn, xem xét lại các khoản thu đối với tập đoàn, tổng công ty nhà
nước... nhằm tăng thu NSNN năm 2012 cao hơn.
Trước khi biểu quyết thông qua Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước năm
2012, Phó chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Kim Ngân cho biết đa số ý kiến ĐBQH đã đề
nghị cần phân bổ lại một số khoản chi theo hướng tập trung tránh dàn trải. Tiếp thu ý
kiến của đa số ĐBQH, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đề nghị Chính phủ khẩn trương
rà soát để có phương án phân bổ hợp lý hơn đối với một số khoản chi.
- Biểu quyết về tổng số thu cân đối ngân sách Nhà nước năm 2012 là 740.500 tỷ
đồng được 91,60% tổng số ĐBQH tán thành. Nếu tính cả 22.400 tỷ đồng thu
chuyển nguồn năm 2011 sang năm 2012 thì tổng số thu cân đối ngân sách nhà
nước là 762.900 tỷ đồng

9


- Biểu quyết về tổng số chi cân đối ngân sách Nhà nước năm 2012 là 903.100 tỷ
đồng được 90,40% tổng số ĐBQH tán thành.
- Biểu quyết về mức bội chi ngân sách Nhà nước năm 2012 là 140.200 tỷ đồng,
tương đương 4,8% tổng sản phẩm trong nước, phấn đấu tăng thu để giảm bội chi
xuống dưới 4,8% GDP được 86,40% ĐBQH tán thành.
- Biểu quyết toàn bộ dự thảo Nghị quyết về dự toán ngân sách Nhà nước năm
2012 được 90% ĐBQH tán thành.
Đồng thời Quốc hội cũng giao Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt
chặt; cơ cấu lại chi ngân sách nhà nước theo hướng ưu tiên cho con người; bảo đảm an
sinh xã hội; điều chỉnh cơ cấu chi đầu tư phát triển, nhằm thúc đẩy chuyển đổi mô hình
tăng trưởng kinh tế; khuyến khích, thu hút đầu tư từ các thành phần kinh tế trong và
ngoài nước; phối hợp đồng bộ chính sách tài khóa với chính sách tiền tệ để kiềm chế
lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô; điều hành chặt chẽ thu, chi ngân sách; bảo đảm tỷ lệ
chi ngân sách cho các lĩnh vực: Giáo dục - đào tạo, khoa học - công nghệ, văn hóa thông tin, bảo vệ môi trường, y tế... theo đúng tinh thần nghị quyết của Quốc hội; giữ
vững an ninh tài chính quốc gia.
Trong năm 2012, Quốc hội cũng giao cho Chính phủ đầu tư trở lại không quá 30%
số vượt thu so với dự toán thu hàng năm, nhưng dự toán thu phải cao hơn số thực hiện
năm trước đối với số thu từ thuế xuất nhập khẩu hàng hóa thông quan tại cửa khẩu
quốc tế đường bộ trên địa bàn cho ngân sách các tỉnh có cửa khẩu quốc tế đường bộ.
Chính phủ dự kiến phương án phân bổ và sử dụng hợp lý trình Ủy ban Thường vụ
Quốc hội xem xét,quyết định, nhưng không quá 200 tỷ đồng/ năm đối với một địa
phương để đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu kinh tế cửa khẩu giai đoạn 2012 –
2015, theo Đề án đầu tư được Chính phủ phê duyệt. Cho phép phát hành 45.000 tỷ
đồng trái phiếu Chính phủ đầu tư cho lĩnh vực giao thông, thủy lợi, y tế, giáo dục quan
trọng; xây dựng phương án phân bố cụ thể đối với từng dự án, công trình để trình Ủy
ban Thường vụ Quốc hội quyết định trước ngày 31-1-2012.
Quốc hội yêu cầu Chính phủ tăng cường các khoản chi ngân sách nhà nước, nhất là
chi đầu tư xây dựng cơ bản; vốn trái phiếu Chính phủ, chương trình mục tiêu quốc gia;
chống thất thoát, lãng phí, tham nhũng; quản lý chặt chẽ các khoản chi thường xuyên
theo đúng dự toán được phê duyệt. Ngoài ra, trong năm 2012, chỉ cho phép chuyển
10


nguồn để thực hiện chế độ tiền lương mới; chuyển nguồn của các cơ quan hành chính
và đơn vị sự nghiệp thực hiện cơ chế tự chủ về tài chính; chi cho các đề tài nghiên cứu
khoa học; giảm chi chuyển nguồn trong đầu tư xây dựng cơ bản. Quốc hội cũng giao
Chính phủ tiếp tục thực hiện chính sách tài khóa thắt chặt; cơ cấu lại chi ngân sách
III. Ý kiến bình luận về thực trạng quy trình quyết định NSNN tại Quốc hội.
Thứ nhất, thời gian dành cho việc lập, thẩm tra dự toán NSNN còn quá ngắn ,do vậy
không đủ thời gian cho các chủ thể có trách nhiệm liên quan xem xét đánh giá dự toán
chính xác trước khi trình Quốc hội quyết định. Mặc dù luật NSNN năm 2002 và Nghị
quyết số 387,2003,NQ/UBTVQH-11 ngày 17/3/2003 của UBTVQH đã quy định Chính
phủ trình dự toán NSNN trước 1/10,Uỷ ban Tài chính-Ngân sách thẩm tra trước 5/10,
UBTVQH họp cho ý kiến về các vấn đề này chậm nhất là vào ngày 12/10, nhưng trên
thực tế phải đến ngày 1/10 Chính phủ mới hoàn chỉnh được các báo cáo về dự toán
NSNN,cho nên sau khi Chính phủ báo cáo, Uỷ ban Tài chính-Ngân sách, Hội đồng dân
tộc và các Uỷ ban khác của Quốc hội chỉ có 5 ngày để thẩm tra, trong đó Hội đồng dân
tộc và các uỷ ban khác của Quốc hội phải tổ chức thẩm tra trước về các vấn đề thuộc
lĩnh vực được phân công phụ trách và có ý kiến bằng văn bản để tham gia cuộc họp
thẩm tra do Uỷ ban Tài chính-Ngân sách chủ trì; UBTVQH có không quá 7 ngày để
xem xét, cho ý kiến về các báo cáo NSNN do Chính phủ trình, các cơ quan Quốc hội
phải chịu sức ép về thời gian rất lớn để hoàn thành báo cáo thẩm tra trình ra Quốc hội.
Điều này ảnh hưởng đến chất lượng báo cáo thẩm tra ngân sách và chất lượng thảo
luận, quyết định ngân sách của Quốc hội. Trong khi ở nhiều quốc gia, thời gian để
Quốc hội và các Uỷ ban thẩm tra, thảo luận ngân sách từ 2 - 3 tháng, có một số quốc
gia lên đến trên 4 tháng.
Với trình tự đó dường như không có thời gian hoặc thời gian không đủ để các hoạt
động chuyên môn như KTNN có thể xem xét đánh giá các khía cạnh của dự toán
NSNN nhằm giúp Uỷ ban Tài chính -Ngân sách và các Uỷ ban của Quốc hội thẩm tra
cho ý kiến trước khi trình Quốc hội xem xét quyết định dự toán. Như vậy cần có quy
định điều chỉnh lại thời gian dành cho việc lập, thẩm tra dự toán NSNN hợp lý hơn.
Cần thay đổi lịch biểu tài chính trong quy trình ngân sách thông qua việc sửa đổi Luật
NSNN để các cơ quan Quốc hội có thêm thời gian thẩm tra, thảo luận ngân sách và
những vấn đề quan trọng khác. Thời gian bắt đầu xây dựng dự toán ngân sách tiến
hành sớm hơn, nên bắt đầu từ tháng 2, dự toán ngân sách Chính phủ trình Quốc hội nên
vào khoảng tháng 8 hàng năm.
11


Thứ hai, theo quy định tại Điều 74 Luật tổ chức Quốc hội thì các dự án phải được gửi
đến đại biểu Quốc hội chậm nhất là 10 ngày, trước ngày khai mạc kỳ họp, như vậy có
thể thấy thời gian này là không đủ để các đại biểu có thể xem xét và đưa ra ý kiến với
các vấn đề quan trọng về ngân sách của một quốc gia. Nhất là số đại biểu Quốc hội
hoạt động chuyên trách quá ít mà đa số là những đại biểu kiêm nhiệm nên họ không
hiểu sâu sắc và nghiên cứu nhiều được về vấn đề này, hơn nữa đội ngũ chuyên gia hỗ
trợ các Uỷ ban còn thiếu về số lượng và hạn chế về kinh nghiệm, kỹ năng, nhất là trong
lĩnh vực kinh tế - ngân sách nên quy định này của pháp luật là không hợp lý để đảm
bảo tính khách quan cho quy trình quyết định ngân sách tại Quốc hội.

Thứ ba, cơ chế biểu quyết thông qua tại Quốc hội là không đảm bảo tính khoa học và
khách quan của một dự án quan trọng mang tầm quốc gia và còn nhiều hạn chế vì:
Những đại biểu Quốc hội của ta hiện nay đa số là đại biểu kiêm nhiệm nên không có
trình độ chuyên môn cao trong lĩnh vực ngân sách để đưa ra các ý kiến khách quan, có
tính chiến lược ngay để quyết định dự toán ngân sách, hơn nữa tài liệu về dự toán ngân
sách chỉ được chuyển cho họ chậm nhất 10 ngày trước khi khai mạc kỳ họp, liệu các
đại biểu này có thực sự đưa ra được những phán đoán và ý kiến chính xác để quyết
định các vấn đề trong bản dự toán ngân sách.
Về hình thức thì biểu quyết thông qua dự toán ngân sách tại Quốc hội thể hiện sự
công bằng, dân chủ và khách quan nhưng thực chất nó không hề khách quan như vậy
mà có sự xung đột về lợi ích khi đại biểu Quốc hội vừa ở vai hành pháp, vừa ở vai lập
pháp hoặc đại diện cho đoàn thể, doanh nghiệp, địa phương. Nhìn chung, chưa có động
lực thực sự để đại biểu Quốc hội làm tốt chức năng của mình. Sự đan xen, lẫn lộn giữa
trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể trong quy trình ra quyết định hiện nay là
rào cản cho quy trình xác định trách nhiệm khi có sai phạm, nhất là những sai phạm
lớn thuộc về chủ trương, chính sách.
Thứ tư, thời hạn điều chỉnh lại dự toán và trình Quốc hội Quyết định lại như hiện nay
là không phù hợp. Nếu Chính phủ lập lại dự toán NSNN và trình Quốc hội vào thời
gian do Quốc hội quyết định nhưng phải trước năm ngân sách trong khi Quốc hội
quyết định dự toán NSNN năm sau trước ngày 15/11 năm trước thì thời gian để điều
chỉnh lại dự toán là quá ngắn để có thể thay đổi và phân bổ lại dự toán ngân sách cho
phù hợp.
12


Thứ năm, trong hoạt động của các ủy ban Quốc hội không đạt được kết quả như yêu
cầu và mục tiêu đặt ra, Quốc hội còn nặng về cơ cấu cho đủ các thành phần xã hội mà
không quan tâm chất lượng đại biểu. Để cải thiện tình trạng này cần chia nhỏ các Uỷ
ban của Quốc hội để tạo sự chuyên môn hoá cao, đồng thời tăng tỷ lệ Đại biểu Quốc
hội chuyên trách hoạt động trong các Uỷ ban. Chẳng hạn, Uỷ ban Kinh tế và Ngân
sách nên tách ít nhất thành hai Uỷ ban là Uỷ ban Kinh tế và Uỷ ban Tài chính - Ngân
sách. Cải cách cơ cấu của Quốc hội, không nên nặng về cơ cấu cho đủ các thành phần
xã hội mà nên coi trọng chất lượng Đại biểu Quốc hội, nhất là Đại biểu Quốc hội
chuyên trách. Trong Quốc hội nên có Đại biểu là những chuyên gia, những cán bộ khoa
học đầu đàn của các lĩnh vực quan trọng của nền kinh tế.
Thứ sáu, Quốc hội đặt ra chỉ tiêu phấn đấu giảm bội chi NSNN trong năm 2012 xuống
dưới 4,8%GDP chưa có tính khả thi với tình hình kinh tế hiện tại của đất nước. Trong
bản dự toán ngân sách thì Quốc hội sẽ đặt ra các chỉ tiêu để thực hiện các biện pháp
giảm mức bội chi, phấn đấu thực hiện cân bằng thu chi nguồn ngân sách nhằm đảm
bảo giữa nguồn thu và nhiêm vụ chi cho ngân sách nhà nước. Nhưng hiện nay, các địa
phương vay vốn để đầu tư theo quy định tại khoản 3 Điều 8 của Luật NSNN tương đối
lớn và chưa được quản lý một cách chặt chẽ. Với nhiều địa phương đây là điều kiện để
tăng cường cơ sở vật chất, tạo điều kiện phát triển kinh tế. Điều đáng lưu ý là trong khi
nguồn vốn ngân sách hiện có chưa tận dụng hết, các địa phương vẫn tiến hành vay vốn;
tỷ lệ vốn vay chiếm tỷ trọng khá lớn trong tổng chi đầu tư phát triển. Trong khi phải đi
vay thì ngân sách địa phương lại để kết dư lớn, có tỉnh cuối năm kết dư bằng 78,5% số
bổ sung từ ngân sách trung ương và bằng 24,9 % so với tổng chi ngân sách địa
phương.Thực chất các khoản vay của ngân sách địa phương chính là bội chi NSNN.
Một trong những nguyên tắc quản lý NSNN ở Việt Nam là tuân theo theo nguyên tắc
thống nhất, tổng thể NSNN bao gồm ngân sách các cấp, điều đó đòi hỏi các khoản bội
chi của ngân sách địa phương phải được tổng hợp để tính bội chi NSNN. Tuy nhiên khi
vay, các địa phương phải cân đối ngân sách nên không thể hiện đầy đủ bội chi khi
quyết toán NSNN. Như vậy, mức bội chi NSNN hằng năm trình Quốc hội mới chỉ phản
ánh được mức bội chi của ngân sách trung ương. Đây là một trong những mắt xích
cần phải được giải quyết trong việc xử lý bội chi NSNN.
Thứ bảy, việc quyết định dự toán ngân sách tại quốc hội chưa thực sự mang tính thực
quyền với nghĩa đúng của nó mà đôi khi đó chỉ là hình thức để đưa bản dự toán ngân
sách vào thực thi sao cho đảm bảo về mặt hình thức. Sau khi Luật ngân sách 2002 ban
hành thì hầu như các quyền hạn của Quốc hội trong quyết định dự toán ngân sách đã
được đảm bảo cụ thể hơn giúp cho Quốc hội có quyền năng rõ ràng trong lĩnh vực
13


ngân sách nhưng thực tế thì quyền năng này không có một cách thực sự mà chỉ là hình
thức pháp lý do pháp luật quy định.
IV. Giải pháp để cải thiện và nâng cao hiệu quả quy trình quyết định dự toán NSNN
tại Quốc hội.
Để khắc phục những bất cập nêu trên đòi hỏi phải có sự nghiên cứu thấu đáo để xây
dựng và ban hành Luật Ngân sách nhà nước mới nhằm đổi mới cả về thẩm quyền, nhận
thức, nội dung, phương pháp và điều kiện để QH quyết định ngân sách nhà nước một
cách thực chất và có hiệu quả hơn, bảo đảm thực quyền của QH.
Để bảo đảm cho QH thực hiện thực quyền quyết định ngân sách nhà nước, cần một số
điều kiện chủ yếu sau:
Một là, cần hoàn thiện hệ thống pháp luật về ngân sách nhà nước, khắc phục được
những điểm bất cập của Luật Ngân sách nhà nước hiện hành, quy định đầy đủ hơn về
thẩm quyền của QH trong việc quyết định dự toán và phân bổ ngân sách, quyết định
các căn cứ xây dựng phương án thu, chi ngân sách nhà nước.
Hai là, công tác chuẩn bị báo cáo về dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách
Trung ương để trình QH phải bảo đảm đúng quy trình và thời hạn về thời gian, nội
dung và hình thức theo quy định của pháp luật. Các báo cáo phải được chuẩn bị
nghiêm túc, đầy đủ, toàn diện, chính xác và tin cậy với các thuyết minh, giải trình chi
tiết, hợp lý, thuyết phục trước Quốc hội.
Ba là, công tác xem xét, đánh giá, thẩm tra của Ủy ban Tài chính và Ngân sách phải
đúng quy trình, quy chế, phải thật sự chu đáo, tỷ mỷ, thận trọng, khách quan. Hội đồng
Dân tộc và các Ủy ban khác của QH cũng phải thực hiện tốt trách nhiệm cùng tham gia
thẩm tra của mình. Các ý kiến thẩm tra phải toàn diện, vừa mang tính bao quát, thể
hiện tầm vĩ mô vừa sâu sắc, cụ thể. Các nhận định, đánh giá phải thể hiện đầy đủ, rõ
chính kiến của cơ quan thẩm tra và của các thành viên tham dự Hội nghị thẩm tra với
phân tích và lý giải sâu sắc, có căn cứ xác đáng, có lý lẽ thuyết phục. Nội dung và ý
kiến thẩm tra phải giúp cho ĐBQH có cơ sở, có căn cứ để hình thành các ý kiến độc
lập và bày tỏ thái độ. Đồng thời, kết quả thẩm tra cần cung cấp các thông tin đa dạng, ý
kiến nhiều chiều, các nhìn nhận từ nhiều phía, các quan điểm khác nhau (dù là số ít)
trong quá trình thẩm tra để QH thảo luận đưa ra quyết địnhcuối cùng tại phiên họp
Quốc hội.

14


Bốn là, việc thảo luận của các ĐBQH tại tổ và tại hội trường phải thật dân chủ, cởi mở,
nghiêm túc và thẳng thắn với tinh thần trách nhiệm cao. Để có quyết định đúng và thực
chất rất cần bản lĩnh và trí tuệ của đại biểu trong thảo luận và tranh luận, rất cần quan
điểm rõ ràng và cách nhìn nhận toàn cục nhưng sâu sắc và cụ thể. Các quyết định của
QH phải đúng luật, phù hợp thực tế và có tính khả thi cao.
Năm là, các ĐBQH phải có thời gian và có năng lực nghiên cứu các báo cáo về vấn đề
tài chính, ngân sách, có được sự tham mưu, hỗ trợ có hiệu quả của các cơ quan phục vụ
của QH, trực tiếp là Vụ Tài chính và Ngân sách – VPQH.
Sáu là, cần nâng cao chất lượng báo cáo thẩm tra các dự án về kinh tế - ngân sách, các
báo cáo thẩm tra các dự án công trình quan trọng quốc gia kết hợp với cung cấp cho
Đại biểu Quốc hội đầy đủ các thông tin liên quan cần thiết để giúp Quốc hội có thể
thảo luận, đưa ra những quyết sách đúng đắn, có hiệu quả cao.
Bảy là, cần đổi mới cơ chế lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Quốc hội để đảm
bảo Quốc hội vừa thực hiện tốt đường lối, chính sách của Đảng, đồng thời cũng phát
huy tính dân chủ, quyền chủ động trong hoạt động của Quốc hội nhằm tạo điều kiện để
Quốc hội thực hiện có hiệu quả những chức năng được Hiến pháp và Luật quy định,
đặc biệt là quyền quyết định của Quốc hội đối với những vấn đề quan trọng của Quốc
gia.
Trong thời gian tới, để đạt được mục tiêu tiêu phấn đấu tăng thu 5-8% so với dự
toán, có nguồn giảm bội chi NSNN năm 2012 xuống dưới mức Quốc hội quyết định,
đòi hỏi các Bộ, ngành và địa phương cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu phát triển sản xuất kinh doanh, tháo gỡ kịp thời khó khăn cho doanh nghiệp, quản lý chặt chẽ nguồn thu,
tăng cường chống thất thu và xử lý nợ đọng.
KẾT LUẬN
Như vậy quy trình quyết định dự toán ngân sách nhà nước tại Quốc hội nước ta hiện
nay còn rất nhiều vấn đề bất cập, còn mang nặng tính hình thức nên cần xem xét và
thay đổi lại cho phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nước đảm bảo một cách khách
quan nhất tính chất phù hợp, chính xác của một bản dự toán ngân sách quốc gia để đưa
đất nước ngày càng phát triển hội nhập cùng thế giới. Cần có những quy định mới phù
hợp hơn về chu trình thông qua dự toán ngân sách nhà nước của Quốc hội để đảm bảo
thực quyền quyết định các vấn đề quan trọng của quốc gia của cơ quan quyền lực nhà
nước cao nhất đại diện ý chí và nguyện vọng của toàn thể nhân dân.
15


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.
2.
3.
4.
5.

Luật ngân sách nhà nước ( NXB Lao động 2011)
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (NXB lao động 2010)
Luật tổ chức Quốc hội số 30/2001/QH10 ngày 25/12/2001
Nghị quyết số 14/2011/QH13 ngày 10/11/2011.
Đánh giá thực trạng lập, chấp hành, quyết toán NSNN và phương hướng
hoàn thiện.(ThS.VŨ VĂN CƯƠNG PGĐ Trung tâm Tư vấn PL – HLU.
Nguồn: Đề tài “Nghiên cứu Pháp luật về Tài chính công Việt Nam”, Đại học

Luật Hà Nội, TS.Phạm Thị Giang Thu (chủ nhiệm), Hà Nội, 2011).
6. Nghị quyết số 387/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17.3.2003 của UBTVQH ban
hành Quy chế lập, thẩm tra, trình QH quyết định dự toán ngân sách nhà nước,
phương án phân bổ ngân sách Trung ương và phê chuẩn quyết toán ngân sách
nhà nước đã quy định trình tự, thời hạn, trách nhiệm, mẫu biểu lập, gửi dự toán,
báo cáo quyết toán ngân sách nhà nước.
7. TĂNG CƯỜNG VAI TRÒ CỦA QUỐC HỘI TRONG VIỆC QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ
QUAN TRỌNG CỦA ĐẤT NƯỚC (Tài liệu Hội thảo "Quốc hội Việt Nam 60 năm

hình thành và phát triển" Hà Nội, 23-24/12/2005; TP. Hồ Chí Minh,
27/12/2005) GS- TSKH Tào Hữu Phùng Phó Chủ nhiệm Uỷ ban Kinh tế và
Ngân sách của Quốc hội.
8. Tailieu.vn
9. Nghị định 60 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Ngân
sách nhà nước.

16



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×