Tải bản đầy đủ

CHẾ ĐỘ CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN

II CHƯƠNG 2
II.1. Mục tiêu, nhiệm vụ.
- Mục tiêu: trang bị cho sinh viên kiến thức; khái niệm chung về cấu trúc hệ
thống điện, các chế độ làm việc của hệ thống điện, đặc điểm hoạt động của hệ thống
điện, sự hợp nhất các hệ thống điện.
- Nhiệm vụ của sinh viên khi học xong phải nắm được các kiến thức cơ bản về :
+ Cấu trúc nguồn và cấu trúc lưới của hệ thống điện, lưới điện linh hoạt..
+ Các chế độ làm việc của hệ thống điện. (chế độ xác lập, chế độ quá độ trong
hệ thống điện)
+ Điều kiện cần và đủ để tồn tại chế độ xác lập bình thường.
+ Các đặc điểm hoạt động của hệ thống điện.
II.2. Quy định hình thức học cho mỗi nội dung nhỏ

Nội dung

Hình thức học

II.1. Cấu trúc của hệ thống điện.

Giảng


II.2. Các chế độ làm việc của hệ thống điện.

Giảng, thảo luận.

II.3. Đặc điểm hoạt động của hệ thống điện.

Giảng, thảo luận.

II.4. Sự hợp nhất các hệ thống điện.

Giảng, thảo luận.

II.3. Các nội dung cụ thể
A. Nội dung lý thuyết

57
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


CHƯƠNG II CHẾ ĐỘ CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN
§ I. CẤU TRÚC CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN
1. Cấu trúc nguồn
Nguồn điện là các nhà máy điện các loại. Cấu trúc của nguồn điện phải thỏa mãn
các điều kiện sau:
1. Cung cấp đủ năng lượng cho phụ tải với độ tin cậy cao.
2. Cung cấp đủ công suất tác dụng và công suất phản kháng cho phụ tải trong mọi
tình huống vận hành, với độ tin cậy cao.
3. Thỏa mãn hai điều kiện trên với giá thành sản xuất điện năng nhỏ nhất.
Ở đây độ tin cậy cao chứ không phải tuyệt đối, vì nếu đảm bảo độ tin cậy tuyệt đối
thì giá thành hệ thống điện sẽ rất lớn, khó có thể chấp nhận được.
Nếu hệ thống điện chỉ có các nhà máy nhiệt điện thì vấn đề đảm bảo năng
lượng không khó khăn, vì hệ thống có thể chủ động cung cấp năng lượng sơ cấp cho
các nhà máy nhiệt điện. Nhưng nếu hệ thống bao gồm cả thủy điện thì sẽ gặp khó
khăn trong vấn đề đảm bảo năng lượng, vì năng lượng của thủy điện phụ thuộc vào
thời tiết, rất khó có thể chủ động được. Lượng mưa giữa năm mưa nhiều và năm
khô hạn khác nhau khá lớn, để đảm bảo độ tin cậy nhất định phải tăng công suất dự
trữ của các nhà máy nhiệt điện, làm giá thành hệ thống điện lên cao. Do đó phải có
tỷ lệ hợp lý giữa thủy điện và nhiệt điện.
Vấn đề đảm bảo công suất phụ thuộc vào công suất dự trữ, độ linh hoạt của
nguồn điện và cấu trúc lưới điện. Công suất đặt của hệ thống điện luôn phải lớn hơn


công suất cực đại hằng năm của phụ tải một lượng nhất định, đó là phần công suất
dự trữ cần thiết để hệ thống điện làm việc với độ tin cậy cung cấp điện cao. Trong
chế độ vận hành, công suất khả phát của các tổ máy tham gia vận hành phải lớn hơn
công suất đang phát một lượng, gọi là dự trữ quay hay nóng, đủ để đáp ứng các sự
cố nguồn điện và điều chỉnh tần số khi phụ tải tăng nhanh. Khoảng cách giữa công
suất đang phát và công suất có thể phát nhỏ nhất của các tổ máy vận hành phải thỏa
mãn điều kiện điều chỉnh tần số. Khoảng cách giữa công suất khả phát và công suất
tối thiểu của hệ thống cùng với tốc độ nhận tải của các tổ máy tạo thành độ linh hoạt
của nguồn điện. Nếu độ linh hoạt không đủ sẽ dẫn đến không đáp ứng được công
suất phụ tải trong các chế độ tối thiểu, không đáp ứng được chất lượng điều chỉnh
tần số trong những tình trạng sự cố hoặc vào thời tiết không thuận lợi…. Để có độ
linh hoạt và hiệu quả kinh tế cao, hệ thống điện phải có tỷ lệ hợp lý giữa các tổ
máy: Tổ máy nhiệt điện chạy đáy ( phần dưới cùng của đồ thị phụ tải) có tính kinh
tế cao nhưng công suất tối thiểu lớn và tốc độ nhận tải chậm: Tổ máy nhiệt điện
chạy lưng( phần giữa của đồ thị phụ tải) có độ linh hoạt cao hơn nhưng tính kinh tế
58
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


kém hơn; Các tổ máy tuabin khí có tốc độ nhận tải cao, công suất tối thiểu nhỏ
nhưng giá thành sản xuất cao và chạy đỉnh (phần đỉnh của đồ thị phụ tải) Nếu có
thủy điện thì độ linh hoạt của hệ thống sẽ rất cao vì thủy điện có tốc độ nhận tải cao
và công suất tối thiểu thấp.
Tỷ lệ hợp lý giữa thủy điện và nhiệt điện, giữa các loại nhà máy nhiệt điện
khác nhau sẽ làm cho hệ thống điện có giá thành sản xuất điện năng thấp nhất.
Nhà máy điện có nhiệm vụ quan trọng là điều chỉnh tần số, do đó các tổ máy
phát điện phải được trang bị bộ điều tốc và một số tổ máy nhất định còn có thêm bộ
điều chỉnh tần số.
Để điều chỉnh điện áp, các tổ máy được trang bị tự động điều chỉnh kính từ
loại tỷ lệ, một số tổ máy có vị trí đặc biệt được trang bị tự động điều chỉnh kích từ
loại mạnh để đảm bảo ổn định tĩnh.
Trong một nhà máy còn có thể trang bị hệ thống tự động phân bố công suất tối
ưu giữa các tổ máy.
Các nhà máy điện và các đường dây liên lạc hệ thống được liên kết với nhau
trong hệ thống điều chỉnh tần số, hệ thống này còn có thể thực hiện cả chức năng
phân bố tối ưu công suất.
2. Cấu trúc lưới hệ thống:
Lưới hệ thống nối liền các nhà máy điện và các trạm biến áp khu vực thành hệ
thống điện. Để hệ thống điện bền vững trước các sự cố, lưới hệ thống có nhiều
mạch vòng và vận hành kín. Lưới hệ thống cũng có thể có nhiều cấp điện áp tùy
thuộc vào lịch sử phát triển của hệ thống điện. Điện áp của lưới hệ thống là điện áp
cao và siêu cao áp (110KV – 220 KV- 500KV)
Một thành phần rất quan trọng của lưới hệ thống là các đường dây dài siêu cao
áp nối liền các phần xa nhau (hệ thống con) của hệ thống điện tạo thành hệ thống
quốc gia duy nhất.Sự nối liền các hệ thống con thành hệ thống điện duy nhất mang
lại nhiều lợi ích những cũng đặt ra nhiều vấn đề kỹ thuật phức tạp, vấn đề ổn định
tĩnh, vấn đề thừa công suất phản kháng trong chế độ non tải, tổn thất vầng quang…
Phân bố công suất tron lưới điện phụ thuộc vào chế độ làm việc của các
nguồn điện và cấu trúc lưới hệ thống. Do đó khi thiết kế các đường dây điện phải
chú ý sao cho phân bố công suất trong đường dây đạt được mức độ hợp lý, tránh
tình trạng đường dây mang tải nặng, còn một số khác lại non tải. Đường dây có vai
trò quan trọng trong đảm bảo độ tin cậy cung cấp điện cũng như mức điện áp trên
hệ thống điện.
Để đảm bảo độ tin cậy, cấu trúc của lưới hệ thống phải là cấu trúc thừa, cho
phép bảo dưỡng định kỳ các đường dây mà không làm giảm thấp độ tin cậy, không
gây quá tải hoặc giảm thấp điện áp.
59
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


Để đảm bảo cân bằng công suất phản kháng và điều chỉnh điện áp, tổn thất
điện áp trên lưới phải ở mức cho phép, phải có hệ thống điều chỉnh điện áp ở nguồn
điện, ở các máy biến áp, các nguồn phát và tiêu thụ công suất phản kháng điều
chỉnh vô cấp, hữu cấp.
Tiêu chuẩn kinh tế để đánh giá lưới hệ thống là giá thành tải điện trung bình
trong trong thời gian đủ dài nhỏ nhất.
Từ trước đến nay lưới hệ thống điện thường là bộ phận thụ động trong hệ
thống điện, gần đây lưới hệ thống trong các hệ thống tiên tiến trên thế giới đã phát
triển thành lưới tích cực, gọi là lưới linh hoạt. Nhờ sự phát triển mạnh mẽ của các
ngành công nghệ như điện tử công suất, vi xử lý, vi điện tử và thông tin liên lạc... đã
cho phép hoàn thiện cấu trúc lưới điện và tạo ra lưới điện linh hoạt có độ tin cậy
cao, dễ điều khiển hơn và có hiệu quả cao hơn so với lưới điện kiểu cũ.
Các thiết bị điều khiển điện tử có thể điều khiển liên tục tổng trở của đường
dây, công suất bù ( từ cảm tính đến dung tính) và góc pha của điện áp.
Các thiết bị điều khiển điện tử cho phép:
-

Điều khiển dòng công suất trên đường dây ( trong lưới điện kín) theo ý
muốn;

-

Giữ được tải của đường dây gần giới hạn nhiệt;

-

Nâng cao khả năng truyền công suất giữa các phần hệ thống, do đó giảm
được dự trữ chung của hệ thống.

-

Phòng ngừa được lan truyền do hạn chế được ảnh hưởng của sự cố và hỏng
hóc phần tử.

-

Giảm được dao động điện áp có thể gây hại cho các phần tử và làm giảm giới
hạn truyền tải điện.

Các thiết bị được áp dụng cho lưới điện linh hoạt bao gồm:
-

Bộ giảm dao động điện áp gồm có bộ tụ nối nối tiếp với đường dây, nối song
song với bộ tụ là bộ kháng điện và điện trở nối tiếp, dòng điện đi qua bộ này
được điều khiển nhờ Thyristor.

Bộ giảm dao động cho phép điều chỉnh trơn và tức thời tổng trở của đường dây, do
đó hạn chế dao động điện áp, có tác dụng tốt cho ổn định động của hệ thống điện.
-

Máy bù tĩnh SVC gồm bộ tụ và kháng nối song song, một trong hai bộ này
được điều chỉnh trơn từ cảm tính đến dung tính. SVC cho phép điều chỉnh và
giữ vững điện áp, hạn chế được dao động điện áp, có lợi cho ổn định của hệ
thống điện.

-

Bộ bù tĩnh statcom là sự hoàn thiện của SVC. Statcom chỉ gồm các bộ tụ
điện, điện áp ra của nó được điều khiển bằng bộ converter, sử dụng gate- turn

60
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


of thyristor. Nếu điện áp ra cao hơn điện áp lưới thì nó phát công suất phản
kháng, còn nếu thấp hơn thì nó tiêu thụ công suất phản kháng.
-

Bộ tụ bù dọc được điều khiển bằng thyristor bao gồm nhiều tụ điện nối tiếp
nhau và nối tiếp với đường dây. Mỗi tụ điện được nối tắt qua kháng điện,
dòng qua kháng điện được điều chỉnh bằng thyristor, bộ này cho phép điều
chỉnh liên tục tổng trở của đường dây từ tổng trở tự nhiên trở xuống do đó
cho phép điều chỉnh dòng công suất trong lưới điện. Điện kháng của đường
dây có thể được điều từ cảm tính đến dung tính, có tác dụng chế ngự các dao
động, do đó có tác dụng tốt cho ổn định động.

-

Các bộ điều chỉnh pha cho phép điều chỉnh trơn góc pha của điện áp trước và
sau máy biến áp điều chỉnh mắc nối tiếp trên đường dây. Bộ này cho phép
điều chỉnh dòng công suất tác dụng lên lưới.

-

Bộ hãm động là bộ phụ tải điện trở được điều khiển bằng thyristor nối gần
máy phát điện, khi xẩy ra dao động công suất lớn do ngắn mạch thì bộ này
hoạt động làm hạn chế dao động công suất phát của máy phát, nâng cao ổn
định động.

Ví dụ áp dụng lưới điện linh hoạt:
1400 MW
A
2000
3000MW
MW
10
600MW

C
10

5
1600MW
B
1000MW

a)

61
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


Ví dụ áp dụng lưới điện linh hoạt được trình bầy như hình vẽ. Xét lưới điện như
hình vẽ, nguồn A phát 2000MW, nguồn B phát 1000MW cấp điện cho phụ tải C
có yêu cầu công suất là 3000MW. Khả năng tải của đường dây AB là 1000MW,
đường dây BC là 1250MW, đường dây AC là 2000MW. Nếu các đường dây có
tổng trở như trên hình a thì công suất thể hiện như trên hình và ta thấy đường
dây BC bị quá tải. Muốn điều khiển dòng công suất trên các đường dây sao cho
dường dây BC chỉ tải cực đại là 1250MW, vừa đúng khả năng tải của nó thì phải
áp dụng các biện pháp điều chỉnh. Trên hình b dùng tụ điện nối tiếp có điều
khiển từ 0-5, trên hình c dùng kháng điện nối tiếp có tổng trở 7 còn trên hình
d dùng máy biến áp điều chỉnh góc giữa UA và UC bằng cách quay UA đi một
góc -4,30. Công suất tải trên các đường dây được ghi trên các hình và qua đó ta
thấy rõ lợi ích của việc các thiết bị điều chỉnh.
Lưới điện linh hoạt có tin cậy và hiệu quả kinh tế cao hơn nhiều so với lưới điện
kiểu cũ. Quy hoạch lưới điện linh hoạt cũng dễ dàng hơn do làm chủ được công
suất trên đường dây.
§ II CÁC CHẾ ĐỘ LÀM VIỆC CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN
Tập hợp các quá trình điện xẩy ra trong một thời điểm hoặc một khoảng thời
gian vận hành gọi là chế độ làm việc của hệ thống điện. Đặc trưng cho chế độ làm
việc là các thông số chế độ U, I, P, Q,….Các thông số này luôn biến đổi theo thời
gian, và là hàm số của thời gian. Tùy theo sự biến đổi của các thông số chế độ theo
thời gian, ta chia các chế độ làm việc của hệ thống điện thành các loại chế độ sau:
1. Chế độ xác lập trong đó các thông số chế độ biến thiên rất nhỏ quanh giá trị
trung bình, có thể coi như hằng số.

62
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


Trong chế độ xác lập, người ta phân thành chế độ xác lập bình thường , chế độ xác
lập sau sự cố, và chế độ sự cố xác lập.
* Chế độ xác lập bình thường là chế độ làm việc bình thường của hệ thống điện.
Hệ thống điện được thiết kế để làm việc với các chế độ xác lập này. Với chế độ
xác lập bình thường, đòi hỏi thỏa mãn các chỉ tiêu sau:
a. Chất lượng điện năng.
b. Độ tin cậy cung cấp điện.
c. Hiệu quả kinh tế (chi phí sản xuất điện năng nhỏ nhất).
d. An toàn của người và trang thiết bị.
* Chế độ xác lập sau sự cố cũng là chế độ đã được tính đến trước vì sự cố là không
tránh khỏi trong vận hành trong hệ thống điện. Trong chế độ này các chỉ tiêu được
giảm đi.
* Chế độ sự cố xác lập, ví dụ như chạm đất duy trì ở lưới điện 6 KV; 10KV. Chế
độ này không được phép gây hại và duy trì quá thời gian cho phép.
2. Chế độ quá độ, trong đó các thông số biến thiên mạnh theo thời gian. Người ta
chia thành 2 chế độ quá độ:
a. Chế độ quá độ bình thường: Xẩy ra thường xuyên khi hệ thống điện chuyển từ
chế độ xác lập này sang chế độ xác lập khác. Yêu cầu đối với chế độ này là kết
thúc nhanh và các thông số biến đổi trong giới hạn cho phép.
b. Chế độ sự cố, xẩy ra trong hệ thống điện. Yêu cầu đối với chế độ này là không
gây hại cho hệ thống điện và được loại trừ nhanh nhất có thể.
Chế độ xác lập bình thường:
a. Điều kiện cần để tồn tại chế độ xác lập bình thường.
- Đảm bảo sự cân bằng công suất tác dụng và công suất phản kháng trong mọi thời
điểm.
PF=Ppt+P
QF=Qpt+QP
- Cân bằng công suất tác dụng là cân bằng cơ điện trên trục của máy phát điện, một
bên là công suất cơ của tuabin, một bên là công suất điện của phụ tải. Còn cân
bằng công suất phản kháng là cân bằng điện từ giữa công suất phản kháng của các
máy phát điện do dòng kích từ gây ra và công suất phản kháng của phụ tỉa do yêu
cầu của từ trường trong các thiết bị dùng điện và các máy biến áp...
- Cân bằng công suất trong hệ thống điện luôn xẩy ra một cách tự nhiên, có nghĩa
là các nhà máy phát điện sản xuất ra bao nhiêu thì các thiết bị dùng điện sẽ sử dụng
hết bấy nhiêu.

63
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


- Các thiết bị dùng điện và các thiết bị phân phối đều được thiết kế làm việc với
tần số và điện áp nhất định, nếu tần số và điện áp lệch khỏi các giá trị đó thì các
thiết bị làm việc kém chất lượng, nếu lệch quá có thể dẫn tới hư hỏng. Do đó sự
cân bằng công suất chỉ được chấp nhận nếu nó không làm lệch tần số và điện áp
quá giá trị cho phép.
- Cân bằng công suất tác dụng được xem là cân bằng nếu tần số nằm trong giới hạn
cho phép. Nếu tần số thấp hơn giá trị tối thiểu thì có nghĩa là hệ thống điện thiếu
công suất tác dụng, nếu tần số cao hơn giá trị cho phép tối đa thì hệ thống điện
thừa công suất tác dụng.
- Công suất phản kháng được coi là cân bằng nếu điện áp nằm trong giới hạn cho
phép. Nếu điện áp thấp hơn giá trị tối thiểu có nghĩa là hệ thống điện thiếu công
suất phản kháng, nếu điện áp cao hơn giá trị tối đa cho phép thì hệ thống điện thừa
công suất phản kháng.
- Do sự lan truyền năng lượng điện trong hệ thống điện là tức thời (với tốc độ gần
bằng tốc độ ánh sáng), nên cân bằng công suất tác dụng có tính chất toàn hệ thống.
Do tính chất này, việc điều chỉnh cân bằng công suất tác dụng tức điều chỉnh tần
số chỉ cần thực hiện ở một tổ máy phát.
- Cân bằng công suất phản kháng thể hiện qua điện áp. Ta thấy điện áp tại mỗi nơi
của hệ thống điện là có thể khác nhau. Như vậy cân bằng công suất phản kháng có
tính cục bộ, khu vực, chỗ này thừa chỗ khác có thể thiếu. Do đó điều chỉnh công
suất phản kháng cũng tức là điều chỉnh điện áp phải thực hiện ở nhiều nơi khác
nhau. Vì thế cân bàng công suất phản kháng phải được đảm bảo cho toàn hệ thống
điện trên cơ sở đảm bảo cho từng nút hoặc từng khu vực của hệ thống điện.
- Trong hệ thống điện, giữa nguồn điện và các nút tải lớn cách nhau bằng lưới điện
siêu cao áp, trong đó điện trở nhỏ hơn điện kháng nhiều lần. (R<thức tính tổn thất điện áp:
U 

P.R  Q. X Q. X

U
U

- Từ công thức ta thấy, sự biến đổi công suất tác dụng hầu như không ảnh hưởng
tới điện áp trên lưới siêu cao áp. Do đó không thể dùng điều chỉnh cân bằng công
suất phản kháng để điều chỉnh tần số và điều chỉnh cân bằng công suất tác dụng để
điều chỉnh điện áp được.
b. Điều kiện đủ:
Chế độ xác lập luôn bị kích động bởi các kích động lớn, nhỏ do sự biến đổi
không ngừng của phụ tải và sự cố đủ loại.
Các kích động nhỏ xẩy ra liên tục, tác động vào cân bằng công suất tác dụng
trên máy phát điện và công suất phản kháng ở các nút phụ tải, cho nên chế độ xác
64
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


lập muốn tồn tại phải chịu được các kích động này. Nói cách khác, hệ thống điện
phải có ổn định tĩnh và ổn định điện áp, tức là khả năng phục hồi chế dộ ban đầu
sau khi bị kích động nhỏ. Đây chính là điều kiện đủ để chế độ xác lập tồn tại.
Còn muốn tồn tại lâu dài, hệ thống điện phải chịu được các kích động lớn, nói
cách khác, hệ thống điện phải có ổn định động, tức là khả năng phục hồi chế độ
xác lập sau khi bị kích động lớn.
Chế độ xác lập được dùng trong thực tế phải thỏa mãn điều kiện ổn định tĩnh
và ổn định động. Có một miền rộng các chế độ thỏa mãn các điều kiện này để có
thể lựa chọn thực hiện chế độ tối ưu.
§ III. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA HỆ THỐNG ĐIỆN:
1.Điện năng là sản phẩm không dự trữ được mà phụ tải yêu cầu đến đâu thì hệ
thống điện sản xuất đến đó. Công suất của nguồn điện phải luôn luôn cân bằng
với công suất của phụ tải. Công suất của phụ tải luôn biến đổi theo thời gian, do
đó công suất phát cũng phải biến đổi không ngừng để đáp ứng. Các thông số
chất lượng điện năng biến đổi theo phụ tải do đó phải được điều chỉnh một cách
liên tục.
2. Các quá trình xẩy ra trong hệ thống điện rất nhanh, từ phần trăm giây đến
vài chục giây. Ví dụ sau khi xẩy ra ngắn mạch thì trong 0.01 giây dòng điện
ngắn mạch đạt đến đỉnh nguy hiểm. Do đó trong hệ thống điện phải sự dụng
các thiết bị có phản ứng rất nhanh để điều khiển chế độ.
3. Hệ thống điện chịu sự tác động của quá trình già hóa thiết bị, quá trình này
gây ra các hỏng hóc ngẫu nhiên, dẫn đến ngừng cung cấp điện. Do đó hệ
thống điện phải được bảo dưỡng định kỳ thiết bị để phục hồi khả năng làm
việc và thay thế các thiết bị đã hết hạn sử dụng.
4. Hệ thống điện chịu tác động mạnh của môi trường, nhất là trường địa lý có
thể gây ra thiếu năng lượng sơ cấp (do khô hạn..), hỏng hóc dẫn tới mất điện
(sấm sét, gió bão, lũ lụt, sinh vật gây ngắn mạch..). Do đó (kết hợp với đặc
điểm của 3), hệ thống phải có dự phòng khá lớn công suất nguồn và năng
lượng sơ cấp, phải vận hành hoàn hảo, hệ thống tự động chống sự cố để giảm
thấp nhất các thiệt hại do sự cố.
5. Hệ thống điện là một khối thống nhất trải rộng khắp đất nước làm cho việc
điều khiển hoạt động và truyền tin khó khăn. Do đó để điều khiển tốt hoạt
động, hệ thống điện phải được phân cấp điều khiển và phải trang bị các kỹ
thuật biến đổi, đo lường và thông tin hoàn hảo.

65
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn


6. Hệ thống điện không ngừng phát triển trong không gian và theo thời gian, do
vậy đòi hỏi hệ thống vận hành cũng phải phát triển không ngừng về số lượng
và chất lượng.
B. Nội dung thảo luận
1. Buổi 1:
Đề tài thảo luận 1 :
- Lưới điện linh hoạt là gì? Hãy lấy ví dụ để chứng minh ưu điểm của lưới điện
linh hoạt so với lưới điện kiểu cũ.
Đề tài thảo luận 2 :
- Trình bầy các đặc điểm hoạt động của hệ thống điện.
- Phân tích chế độ làm việc của hệ thống điện.
C. Ngân hàng câu hỏi, bài tập
1. Cấu trúc của hệ thống điện là gì?
2. Nêu đặc điểm hoạt động của hệ thống điện?
3. Thế nào là sự hợp nhất các hệ thống điện?
4. Phân tích các chế độ làm việc của hệ thống điện?

----------o0o----------

66
Bé m«n: HÖ thèng ®iÖn



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×