Tải bản đầy đủ

Tiểu luận đánh giá tình hình sử dụng đất ở việt nam hiện nay

Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

MỤC LỤC
Lời nói đầu....................................................................................................................... 2
Chương I: ĐẤT ĐAI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP......................................3
1. Khái niệm..............................................................................................................3
2. Đặc điểm đất nông nghiệp .................................................................................3
3. Vai trò của đất nông nghiệp ...............................................................................5
4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp....................................................................6
a.

Hiện trạng sử dụng ...................................................................................6

b.

Phân bố đất nông nghiệp .........................................................................9

Chương II: ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP........................................................................13
1. Khái niệm............................................................................................................. 13
2. Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp ............................................................13
a.


Đất Công nghiệp – Xây dựng ..................................................................13

b.

Đất Dịch vụ...............................................................................................18

c.

Đất chuyên dùng khác..............................................................................21

3. Tính tất yếu trong việc chuyển dịch đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp. .21
Kết luận .......................................................................................................................... 23
Tài liệu tham khảo .........................................................................................................24

Trang 1 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Lời nói đầu
Trong nền sản xuất xã hội, đời sống vật chất, văn hóa, tinh thần của con người
ngày càng tăng lên dựa trên cơ sở của nền tảng phát triển sản xuất và tiến bộ xã hội. Nhu
cầu tiêu dùng các sản phẩm của xã hội ngày tăng cao. Tuy nhiên, nguồn lực để đáp ứng
những nhu cầu đó thì không phải là vô hạn. Do đó, phải tìm mọi cách phân chia và sử
dụng có hiệu quả nhất các nguồn lực của xã hội và tài nguyên thiên nhiên. Trong các
nguồn lực đó, đất là một trog những nguồn lực cơ bản nhất dùng để sản xuất ra của cải
vật chất, là nguồn tài nguyên thiên nhiên do tự sinh ra và tồn tại một cách độc lập với ý
muốn chủ quan của con người. Tài nguyên đất là một thành phần thuộc thế giới tự nhiên,
là loại tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được.
Như luật đất đai năm 1993 đã khẳng định: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng
quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường
sống, là địa bản phân bố các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, văn hóa xã hội, an
ninh quốc phòng.”
Thật vậy, đất đai là tư liệu sản xuất vì nó vừa là tư liệu lao động khi đất đai sản
xuất ra sản phẩm, vừa là đối tượng lao động khi đất chịu tác động của công cụ lao động.
Con người sử dụng hệ thống công cụ tác động vào vào đất để làm ra sản phẩm.
Vậy tình hình sử dụng đất ở Việt Nam như thế nào? Phân bố đã hợp lí hay chưa và
đất đai đem lại hiệu quả kinh tế cũng như quốc phòng cho nước ta thế nào?
Trước những câu hỏi mang tính thực tiễn đó nên nhóm em chọn: Đánh giá tình


hình sử dụng đất ở Việt Nam hiện nay làm đề tài tiểu luận.
Mặc dù có nhiều sự cố gắng, nhưng do nhận thức còn hạn chế nên bài viết không
thể tránh những thiếu sót. Vì vậy, rất mong sự đóng góp ý kiến của cô và các bạn để bài
viết hoàn thiện hơn.
Qua đây nhóm em cũng xin chân thành cảm ơn cô Phan Thị Thanh Thủy đã giúp
đỡ nhóm em rất nhiều để hoàn thành bài tiểu luận này.
Chân thành cảm ơn
Nhóm thực hiện
Trang 2 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Chương I:

ĐẤT ĐAI TRONG SẢN XUẤT NÔNG NGHIỆP

1. Khái niệm
Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông
nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về
nông nghiệp. Ở đây đất đai không chỉ là chỗ đứng, chỗ tựa của lao động mà còn cung cấp
thức ăn cho cây trồng và thông qua sự phát triển của trồng trọt tạo điều kiện cho ngành
chăn nuôi phát triển. Với ý nghĩa đó, đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt và không thể thay
thế trong sản xuất nông nghiệp, là cơ sở tự nhiên sản sinh ra của cải vật chất cho xã hội.
2. Đặc điểm đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là một loại đất chủ yếu trong vốn đất đai của Nhà nước. Tầm
quan trọng đặc biệt của nó được xác định bởi phần lớn loại đất này đóng vai trò là tư liệu
sản xuất chính tạo ra sản phẩm nông nghiệp mà chủ yếu là lương thực thực phẩm – yếu tố
cơ bản để duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội.
Một trong những nhiệm vụ cơ bản của việc phát triển khinh tế nông nghiệp đến
năm 2000 mà Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra tại Đại hội toàn quốc lần thứ VII là:
“Sản xuất nông nghiệp đi vào chuyên canh kết hợp với kinh doanh tổng hợp nhằm đạt giá
trị cao nhất trên một đơn vị diện tích. Thâm canh tăng vụ là chính và mở thêm diện tích ở
những nơi có điều kiện. Tăng sản lượng lương thực phục vụ đủ nhu cầu trong nước, có
dự trữ và xuất khẩu.
Nhắc đến đất nông nghiệp là người ta nghĩ ngay đến vấn đề sử dụng đất vào sản
xuất các ngành nông nghiệp, bởi vì thực tế có trường hợp đất đai được sử dụng vào
những mục đích khác nhau của các ngành. Trong trường hợp đó, đất đai được sử dụng
chủ yếu cho mục đích hoạt động sản xuất nông nghiệp mới coi là đất nông nghiệp, nếu
không sẽ là đất khác.
Tuy nhiên, để sử dụng đầy đủ , hợp lí ruộng đất trên thực tế người ta coi đất đai có
thể tham gia vào các hoạt động sản xuất nông nghiệp mà không cần có đầu tư lớn nào là
đất nông nghiệp cho dù nó đã đưa vào sản xuất nông nghiệp hay chưa. Vì vậy trong luật
đất đai năm 1993, điều 17 ghi rõ: “Khoanh định các loại đất nông nghiệp… điều chỉnh
việc khoanh định cho phù hợp với từng giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội trong phạm vi
Trang 3 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

từng địa phương và cả nước. Những diện tích đất đai phải qua cải tạo mới đưa vào hoạt
động sản xuất nông nghiệp được coi là đất có khả năng nông nghiệp. Nhà nước xác định
mục đích sử dụng chủ yếu của đất nông nghiệp là sử dụng vào sản xuất nông nghiệp.
Song, do đặc điểm tính chất từng loại đất này có sự khác nhau, dẫn đến tác dụng sử dụng
cụ thể cũng khác nhau, người ta chia đất nông nghiệp thành 4 loại sau đây:
 Đất trồng cây hàng năm: là toàn bộ diện tích thiwcj tế trồng các loại cây mà
thời gian sinh trưởng và tồn tại thường không quá 1 năm như đất trồng lúa,
đất trồng hoa màu, đất trồng chuyên rau…
 Đất trồng cây lâu năm: là toàn bộ diện tích thực tês đã trồng các loại cây mà
thời gian sinh trưởng và tồn tại trên một năm như đất trồng cà phê, dừa,
cam, chanh, xoài,… kể cả đất làm vườn ươm, cây giống.
 Đất trồng cây nông nghiệp lâu năm bao gồm cây lâm nghiệp, cây công
nghiệp lâu năm trồng xen, trồng kết hợp trên các loại đất khác như xen
đường giao thông, xung quanh các vùng đất chuyên dùng khác.
 Đất trồng cỏ dùng vào chăn nuôi: bao gồm diện tích đồng cỏ tự nhiên, đồng
cỏ trồng, bãi cỏ để thả gia súc.
 Đất có mặt nước dùng vào sản xuất nông nghiệp bao gồm các loại ao, hồ,
sông… thực tế đã nuôi trồng các loại thủy sản cá, tôm, cua,… loại đất này
không tính đến hồ, kênh, mương, máng thủy lợi.
Đất nông nghiệp ở nước ta phân bố không đồng đều giữa các vùng trong cả nước.
Vùng đồng bằng sông Cửu Long có tỷ trọng đất nông nghiêọ trong tổng diện tích đất tự
nhiên lớn nhất cả nước, khoảng 2.654.066 ha đất nông nghiệp, chiếm 67,1% diện tích
toàn vùng. Đất nông nghiệp chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của đất tại các vùng nên độ phì và
độ màu mỡ của đất nông nghiệp giữa các vùng cũng khác nhau. Ở đồng bằng sông Hồng
và đồng bằng sông Cửu Long, đất đai đượcbồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ,
mỗi năm đất phù sa bồi tụ ở đông bằng sông Cửu Long thêm 80m. Vùng Tây Nguyên và
Đông Nam Bộ phần lớn là đất đỏ bazan.

Trang 4 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Tuy đất đai khác nhau nhưng quỹ đất nông nghiệp Việt Nam là rất lớn, chiếm 19 –
22% diện tích đất tự nhiên. Với quỹ đất như vậy sẽ đảm bảo cho nguồn lương thực, thực
phẩm tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Do đặc điểm tự nhiên, khí hậu cận nhiệt đới và
thảm thực vật nhiệt đới đa dạng nên sản xuất nông nghiệp cũng mang tính thời vụ theo 4
mùa, còn ở miền Nam 2 mùa nên việc sản xuất lúa nước rất thuận lợi cũng như trồng các
loại cây công nghiệp có tính chiến lược cao như cao su, tiêu, cà phê… Để khai thác hợp lí
đất nông nghiệp cần phải có biện pháp kết hợp khoa học với truyền thống áp dụng đổi
mới để việc sử dụng đất trong nông nghiệp đạt hiệu quả tốt nhất.
3. Vai trò của đất nông nghiệp
Đất nông nghiệp là loại đất phù hợp cho trồng cây lương thực, cây hoa màu và chỉ
trồng trên đất nông nghiệp thì mới đạt hiệu quả cao, đảm bảo cho sự tồn tại, duy trì và
phát triển của các loại cây lương thực, hoa màu này. Phát triển kinh tế nông nghiệp chủ
yếu do quỹ đất nông nghiệp và tính chất đất đó là yếu tố cơ sở, nền tảng và làm tiền đề
cho sự phát triển này.
Đất đai nói chung và đất nông nghiệp nói riêng có vai trò quan trọng đối với việc
phát triển của nền kinh tế quốc dân. Nông nghiệp có nhiệm vụ bảo đảm lương thực, thực
phẩm cho toàn dân, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp, đẩy mạnh xuất khẩu, xây
dựng cơ sở vật chất, tạo thêm việc làm, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân
dân, mở rộng thị trường, ổn định xã hội và bảo vệ an ninh quốc gia, tạo cơ sở vũng chắc
cho sự nghiệp cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Để đảm bảo được các vấn đề nêu trên thì đất nông nghiệp phải đảm bảo trú trọng
hàng đầu. Bởi vì quỹ đất đau tự nhiên là không thay đổi song do nhu cầu phát triển của xã
hội đã làm cho đất nông gnhiệp bị thu hẹp lại, do đó cần phải có các chính sách đảm bảo
quỹ đất nông nghiệp luôn luôn đủ để đáp ứng cho quá trình sản xuất nông nghiệp đmả
bảo lương thực, thưucj phẩm cho toàn xã hội và kích thích các ngành nghề khác cùng
phát triền.
Nước ta có gần 80% dân số làm trong trông nghiệp, do đó đất nông nghiệp là môi
trường việc làm cho đa số người dân tăng thu nhập, nâng cao đời sống, đây là điều kiện
giữ vững sự ổn định trong nhân dân tạo nền móng vũng chắc về chính trị.
Trang 5 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Đất nông nghiệp nước ta đang ngày càng phát triển, ngoài trồng trọt ra, đất nông
nghiệp còn sử dụng vào lĩnh vực chăn nuôi, đặc biệt là mặt nước nuôi trồng thủy sản
đang ngày càng phát triển, có chiến lược mạnh trong việc xuất khẩu như: tôm, cua, cá,…
Đất nông nghiệp có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của của nông nghiệp
trong nông thôn nước ta, đời sống vật chất tinh thần đang ngày càng được cải thiện đúng
như mục tiêu mà Đảng và Nhà nước đã đề ra.
4. Tình hình sử dụng đất nông nghiệp
a. Hiện trạng sử dụng
Theo báo cáo Tổng điều tra đất đai năm 2010, tổng diện tích nhóm đất nông
nghiệp của cả nước năm 2010 là 26.100.160 ha, tăng 5.179.385 ha (gấp 1,25 lần) so với
năm 2000. Trong đó, lượng tăng chủ yếu ở loại đất lâm nghiệp (tăng 3.673.998 ha) và
loại đất sản xuất nông nghiệp (tăng 1.140.393 ha).
Bảng 1. Hiện trạng sử dụng đất nông nghiệp trên cả nước
Chỉ tiêu

Diện tích (ha)
Năm 2000

Năm 2005

Biến động (ha)
Năm 2010 2000-2005 2005-2010 2000-2010

Tổng diện tích
đất nông
20.939.679 24.822.560 26.100.160 3.882.881 1.277.600 5.160.481
nghiệp
Đất sản xuất
nông nghiệp

8.977.500

9.415.568

10.117.893

438.068

Đất lâm nghiệp 11.575.027 14.677.409 15.249.025 3.102.382

702.325

1.140.393

571.616

3.673.998

Đất nuôi trồng
thuỷ sản

367.846

700.061

690.218

332.215

-9.843

322.372

Đất làm muối

18.904

14.075

17.562

-4.829

3.487

-1.342

402

15.447

25.462

15.045

10.015

25.060

Đất nông
nghiệp khác

Nguồn: Tổng điều tra đất đai năm 2000, năm 2005 và năm 2010

Trang 6 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

0.03 0 0

Đất SX NN
Đất lâm
nghiệp
Đất nuôi
trồng thuỷ
sản
Đất làm muối
Đất nông
nghiệp0.38
khác

0.59

Đất SX NN
Đất lâm nghiệp
0.02 0 0

Đất nuôi trồng
thuỷ sản
Đất làm muối
Đất nông nghiệp
khác
0.43

0.55

Năm 2000

Năm 2005

Trang 7 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

0.03 0 0
0.39

Đất SX NN
Đất lâm nghiệp
Đất nuôi trồng thuỷ
sản
Đất làm muối

0.58

Năm
2010
Biến động sử dụng đất nông nghiệp được thể hiện trên các điểm sau:
Diện tích đất sản xuất nông nghiệp cả nước có sự gia tăng tương đối, giai đoạn
2000-2010, tăng bình quân 114.000 ha/năm. Sự gia tăng này có thể đến từ việc mở rộng
một phần quỹ đất chưa sử dụng, khai phá rừng, đất lâm nghiệp...
Trong cơ cấu đất sản xuất nông nghiệp, diện tích đất trồng lúa có sự suy giảm
đáng kể (trên 340.000 ha), trung bình mỗi năm giảm trên 34.000 ha. Có 41/63 tỉnh giảm
diện tích đất trồng lúa. Nguyên nhân giảm chủ yếu do chuyển từ đất trồng lúa kém hiệu
quả sang các loại đất nông nghiệp khác, như: đất trồng rau, màu hoặc trồng cây công
nghiệp (cao su, cà phê), trồng cây cảnh, cây ăn quả, nuôi trồng thủy sản và các loại đất
phi nông nghiệp (công trình công cộng, phát triển đô thị và các khu dân cư nông thôn,
hoặc đất sản xuất, kinh doanh).
Giai đoạn 2000-2005, diện tích đất lâm nghiệp tăng nhanh, từ 11.575.027 ha lên
14.677.409 ha, bình quân hằng năm tăng trên 620.000 ha và mức tăng trưởng này giảm
nhẹ trong giai đoạn kế tiếp. Đất lâm nghiệp của cả nước năm 2010 tăng 571.616 ha so với
năm 2005, tính chung cho cả giai đoạn diện tích đất lâm nghiệp tăng 3.673.998 ha.
Nguyên nhân tăng chủ yếu do các địa phương đã đẩy mạnh việc giao đất để trồng hoặc
khoanh nuôi phục hồi rừng, cùng với đó là do quá trình đo đạc, vẽ bản đồ địa chính đất
lâm nghiệp được xác định lại chính xác hơn.
Trang 8 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, thì tổng diện
tích đất lâm nghiệp cả nước đạt 96,3%, thấp hơn quy hoạch được duyệt là 595.059 ha,
trong đó có 35 tỉnh không hoàn thành chỉ tiêu quy hoạch.
Trong 5 năm đầu (2000-2005), diện tích đất nuôi trồng thủy sản có sự tăng trưởng
mạnh tăng từ 367.846 ha lên 700.061 ha, bình quân hàng năm tăng khoảng 66.500 ha.
Giai đoạn 5 năm tiếp theo (2006-2010) giảm 9.843 ha. Năm 2010, diện tích đất nuôi
trồng thủy sản chiếm 2,64% trong tổng cơ cấu đất nông nghiệp.
So với quy hoạch sử dụng đất đến năm 2010 của các tỉnh, thành phố, tổng diện
tích đất nuôi trồng thủy sản của cả nước (không tính diện tích nuôi trồng thủy sản kết
hợp) thực tế thấp hơn 124.392 ha (đạt 84,72% so với quy hoạch được duyệt).
Diện tích đất làm muối có sự suy giảm trong giai đoạn đầu 2000-2005 và tăng
trưởng trở lại trong giai đoạn sau 2006-2010. Diện tích đất làm muối giảm 4.829 ha giai
đoạn 2000-2005 và 5 năm sau đó tăng 3.487 ha. Tính cả giai đoạn 2001-2010, diện tích
đất làm muối giảm 1.342 ha. Mặc dù trong những năm qua, sản xuất muối có những tiến
bộ nhất định về năng suất và chất lượng, tuy nhiên, ngành này vẫn chưa đáp ứng được
nhu cầu trong nước. Hàng năm, đất nước còn phải nhập khẩu muối cho các nhu cầu khác
nhau với giá thành cao. Đây là vấn đề mang tính nghịch lý cần phải xem xét, vì Việt Nam
là một nước nhiệt đới, với 3.444 km chiều dài bờ biển.
Diện tích đất nông nghiệp khác đã có sự thay đổi đáng kể, tăng trưởng mạnh trong
10 năm qua, từ 402 ha năm 2000 lên tới 25.462 ha vào năm 2010, gấp hơn 63 lần. Mức
tăng trưởng gần như tuyến tính, lượng tăng trưởng hàng năm ở mức 2.506 ha.
b. Phân bố đất nông nghiệp
 Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế
Phân bố đất nông nghiệp theo vùng kinh tế trước hết được thể hiện theo tính tự
nhiên của đất đai. Tức là trong quỹ đất nông nghiệp của cả nước, đất nông nghiệp thuộc
phân bố theo các vùng như thế nào phụ thuộc vào đặc tính tự nhiên của đất đai. Trong đó,
các yếu tố địa hình, nông hóa, thổ nhưỡng đóng vai trò quyết định.

Trang 9 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam
120
100
80
60
40
20
0

Đất khác
Đất nông nghiệp

Ở Việt Nam
căn cứ vào các yếu tố tự nhiên của đất đai là chủ yếu, người ta phân quỹ đất đai thành 7
vùng lãnh thổ. Đất Nhà nước phân theo 7 vùng đó như sau: (theo tài liệu năm 1994)
ĐB sông Hồng
Khu Bốn cũ
Duyên hải miền Trung
Tây Nguyên
Đông Nam Bộ
ĐB sông Cửu Long

Đất nông nghiệp
56.56
13.1
12.05
11.2
41.22
73.77

Đất khác
43.44
86.9
87.95
88.8
58.78
26.23

Vùng Trung du miền núi phía Bắc:
Đất nông nghiệp có 1.201.437 ha chiếm 11,67% so với tổng quỹ đất tự nhiên của
vùng. Đất nông nghiệp ở đây chủ yếu trồng cây hằng năm (lúa rẫy, sắn, đậu, đỗ....). Phần
lớn đất, nông nghiệp ở vùng này là cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê,...) và cây ăn
quả. Nhờ thành tựu phát triển sản xuất lương thực của cả nước, nhờ các cơ sở hạ tầng của
vùng đang từng bước được củng cố và xây dựng nên khả năng chuyển đổi cây trồng và
khai thác nông nghiệp của vùng còn rất lớn.
Vùng Đồng bằng sông Hồng:
Đất nông nghiệp có 664.638 ha, chiếm 56,56% so với tổng diện tích toàn vùng.
Đất trong vùng được hình thành và bồi tụ thường xuyên bởi phù sa của hai hệ thống sông
Hồng và sông Thái Bình nên địa hình tương đối bằng phẳng, chất lượng đất tốt, rất phù
hợp cho việc trồng lúa. Vì vậy, vùng Đồng bằng sông Hồng được coi là vựa lúa của các
tỉnh phía Bắc. Do quá trình đô thị hóa, dân số đông nên đất nông nghiệp bị giảm mạnh.
Trang 10 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Vùng Khu Bốn cũ:
Đất nông nghiệp có diện tích 676.707 ha chiếm 13,1% diện tích toàn vùng. Đất đai
ở đây chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của điều kiện khí hậu khắc nghiệt. Bởi vậy, việc mở rộng
quỹ đất nông nghiệp của vùng gắn với đầu tư xây dựng các cơ sở hạ tầng, nhất là các cơ
sở hồ, đập đã và đang trở thành cần thiết.
Vùng duyên hải miền Trung:
Đất nông nghiệp có 604.956 ha chiếm 12,05% so với quỹ đất tự nhiên của vùng.
Vùng này có sự biến động đất nông nghiệp tương đối lớn theo hướng giảm cây hàng năm,
tăng các loại cây lâm nghiệp bảo vệ môi trường. Từ năm 1980 đến 1994, đất nông nghiệp
giảm 45.587 ha để chuyển sang đất lâm nghiệp. Đất trồng cây hằng năm giảm 93.495 ha,
đất bồi tụ từ các con sông lớn đa số đất nông nghiệp là đất rẫy có độ dốc lớn, dễ bị rửa
trôi khi gặp mưa kéo dài.
Vùng Tây Nguyên:
Đất nông nghiệp là 798.358 ha, chiếm 11,2% so với đất tự nhiên của vùng. Tuy
chiếm tỷ trọng nhỏ nhưng đất cảu vùng Tây Nguyên là đất đỏ bazan màu mỡ nên rất thích
hợp với các loại cây công nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao như: cà phê, cao su, hạt
điều... Đất chưa sử dụng 1.580.342 ha, có khả năng nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn. Vì
vậy, tiềm năng về nông nghiệp của vùng rất lớn.
Vùng Đông Nam Bộ:
Diện tích đất nông nghiệp là 1.029.375 ha, chiếm hơn 41,22% quỹ đất của vùng.
Vùng này chủ yếu là đất bazan màu mỡ thuận lợi cho phát triển các cây công nghiệp dài
ngày và các loại cây ăn quả có giá trị kinh tế cao. Vì vậy, đây là một trong những vùng
kinh tế trù phú, là miền đất có sức hấp dẫn đối với những người làm nông nghiệp. Tuy
nhiên, hiện tại trong vùng vẫn còn 35.087 ha đất chưa sử dụng, trong đó đất có khả năng
nông nghiệp chiếm tỷ trọng đáng kể. Đây là nguồn lực quý giá cần được khai thác.
Vùng Đồng bằng sông Cửu Long:
Đây là vùng đất nông nghiệp chiếm thành phần lớn đất nông nghiệp 2.620.238 ha
trong tổng số 3.955.550 ha, chiếm 73,77% diện tích đất của vùng. Hệ thống đất đai được
hệ thống sông Cửu Long bồi tụ phù sa thường xuyên nên rất màu mỡ. Vì vậy, đấy được
Trang 11 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

coi là vựa lúa cảu cả nước, vùng có sản lượng lương thực hàng hóa lớn nhất trong cả
nước. Bên cạnh đó, tiềm năng về đất đai của vùng cũng còn rất lớn. Đất chưa sử dụng
chủ yếu là đất nông nghiệp và được tập trung ở vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long
Xuyên. Để khai thác tiềm năng này cần đầu tư một cách đồng bộ cả về kinh tế và xã hội,
từ khai hoang cải tạo đất đến xây dựng được các kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật. Giải
quyết được các vấn đề đó việc khai thác mở ra rất lớn, vùng sản xuất láu hàng hóa sẽ
được mở rộng.
c. Hiệu quả kinh tế:
Đất canh tác ở các vùng nông thôn Việt Nam ngày càng bị thu hẹp lại. Diện tích
đất nông nghiệp còn bị mất chủ yếu là do quá trình đô thị hóa, công nghiệp hóa. Đất canh
tác bị mất còn do việc xây dựng và tích nước của các đập hồ thủy điện, làm ngập các
thung lũng trồng lúa, vùng đồi trồng cây ăn quả, các cụm dân cư… Diện tích đất canh tác
ở Việt Nam vào loại thấp nhất thế giới, chỉ chiếm tỷ lệ khoảng 0,12%. Trong khi những
mảnh đất màu mỡ dần ít đi, nhường chỗ cho những khu công nghiệp, sân golf thì mỗi
năm dân số tăng khoảng 1 triệu người. Mỗi năm Việt Nam mất đi 7.000 ha đất trồng lúa.
Do vậy, việc duy trì được diện tích 3,81 triệu héc-ta trồng lúa đến năm 2020 là khó khăn,
thách thức rất lớn.
Ước tính cả nước có 9,4 triệu héc-ta đất nông nghiệp, như vậy trung bình diện tích
đất nông nghiệp trên đầu người là 1.560,4 m2, chưa bằng 1/3 so với Thái Lan và Campu-chia. Số liệu thống kê năm 2010 cho thấy diện tích đất canh tác trung bình của một hộ
dân là 0,85 ha, trung bình một hộ có từ 5 đến 7 mảnh đất khác nhau, tổng khoảng cách từ
nơi ở đến ruộng của các hộ dân là khoảng 4,7 km. Ruộng đất phân tán, manh mún đã cản
trở tính kinh tế theo quy mô, cơ giới hóa và khả năng áp dụng tiến bộ kỹ thuật để tăng
năng suất nông nghiệp. Nghiên cứu của Đại học Copenhaghen và Trung tâm Tư vấn
chính sách nông nghiệp cho thấy, số ngày công lao động trung bình của Việt Nam là 389
ngày/năm/ha. Hộ nông dân càng có nhiều mảnh đất thì lợi nhuận trung bình thu được từ
mảnh đất đó càng giảm và chi phí càng tăng.
Khả năng tích tụ và tập trung ruộng đất của nông dân rất thấp, dẫn đến mức lợi
nhuận thu được từ những mảnh ruộng nhỏ không đủ để bảo đảm chi tiêu trong cuộc sống
Trang 12 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

của họ. Kinh tế trang trại phát triển chậm, chỉ 1% số nông hộ lập trang trại. Quy mô đất
trung bình của một trang trại cũng chỉ đạt 6 ha. Nguyên nhân chính của việc này là hoạt
động của thị trường đất nông nghiệp rất yếu ớt. Chỉ có 2,5% hộ nông thôn bán quyền sử
dụng đất trong 5 năm từ 2001 - 2005, và khoảng 4% trong giai đoạn 2006 - 2010. Hoạt
động thị trường thuê đất ở nông thôn cũng rất hạn chế.
Theo điều tra của Viện Chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn
(IPSARD), chỉ có 6% tổng số mảnh đất mà hộ sử dụng thông qua thị trường thuê mướn
với khoảng 10% số hộ cho thuê hoặc cho mượn đất. Rất nhiều nông dân sản xuất không
hiệu quả, kiếm thu nhập chủ yếu từ các hoạt động phi nông nghiệp phi chính thức nhưng
vẫn muốn giữ đất như một cơ chế để bảo hiểm rủi ro do thiếu hệ thống an sinh xã hội
chính thức tại nông thôn. Trong khi đó, với nguồn tích lũy hạn chế và thiếu hỗ trợ tín
dụng nên rất khó cho các nông dân giỏi có đủ khả năng mua hoặc thuê lại đất của các
nông dân khác. Kết quả là rất nhiều đất nông nghiệp, đặc biệt tại khu vực ven đô hoặc đất
rừng được các nhà đầu tư thành thị mua hoặc thuê để đầu cơ, sử dụng kém hiệu quả.

Chương II:

ĐẤT PHI NÔNG NGHIỆP

1. Khái niệm
* Theo Điều 13 luật đất đai năm 2003 qui định nhóm đất phi nông nghiệp bao gồm
các loại đất:
 Đất ở gồm đất ở tại nông thôn, đất ở tại đô thị.
 Đất xây dựng trụ sở cơ quan, xây dựng công trình sự nghiệp.
 Đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh.
 Đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp gồm đất xây dựng khu
công nghiệp, đất làm mặt bằng xây dựng cơ sở sản xuất, kinh doanh,
đất sử dụng cho hoạt động khoáng sản, đất sản xuất vật liệu xây
dựng, làm đồ gốm.
 Đất sử dụng vào mục đích công cộng gồm đất giao thông, thuỷ lợi,
đất xây dựng các công trình văn hoá, y tế, giáo dục và đào tạo, thể
dục thể thao phục vụ lợi ích công cộng, đất có di tích lịch sử - văn
Trang 13 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

hoá, danh lam thắng cảnh, đất xây dựng các công trình công cộng
khác theo quy định của Chính phủ.
 Đất do các cơ sở tôn giáo sử dụng.
 Đất có công trình là đình, đền, miếu, am, từ đường, nhà thờ họ.
 Đất làm nghĩa trang, nghĩa địa.
 Đất sông, ngòi, kênh, rạch, suối và mặt nước chuyên dùng.
Chúng ta cùng tìm hiểu 3 loại đất chính trong nhóm đất phi nông nghiệp là đất
Công nghiệp – Xây dựng, đất trong lĩnh vực Dịch vụ và đất chuyên dùng khác.
2. Tình hình sử dụng đất phi nông nghiệp
a. Đất Công nghiệp – Xây dựng
Diện tích đất công nghiệp, xây dựng:
 Diện tích đất công nghiệp khoảng 82 nghìn ha (2008)
 Diện tích đất xây dựng cơ sở hạ tầng khoảng 1,1 triệu ha (2008)
 Diện tích đất công nghiệp, xây dựng khoảng 1,2 triệu ha, chiếm khoảng 6%
diện tích đất (2008).
Phân bổ đất công nghiệp, xây dựng
Có sáu vùng công nghiệp tại Việt Nam được quy hoạch từ nay đến năm 2020.
Vùng 1 gồm 14 tỉnh Bắc Kạn, Bắc Giang, Cao Bằng, Điện Biên, Hòa Bình, Hà

Giang, Lai Châu, Lạng Sơn, Lào Cai, Phú Thọ, Sơn La, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Yên
Bái tập trung phát triển thủy điện, chế biến nông, lâm sản, khai thác và chế biến khoáng
sản, hóa chất, phân bón, luyện kim, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp cơ khí phục
vụ nông nghiệp và công nghiệp chế biến.
Vùng 2 gồm 14 tỉnh, thành Bắc Ninh, Hà Nội, Hà Tĩnh, Hải Dương, Hải Phòng,

Hà Nam, Hưng Yên, Nam Định, Ninh Bình, Nghệ An, Quảng Ninh, Thái Bình, Thanh
Hóa, Vĩnh Phúc) được định hướng tập trung phát triển ngành cơ khí, nhiệt điện, phát triển
ngành điện tử và công nghệ thông tin, hóa chất, luyện kim, khai thác và chế biến khoáng
sản, sản xuất vật liệu xây dựng, tiếp tục phát triển nhanh công nghiệp dệt may, da giày
phục vụ xuất khẩu, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản.
Trang 14 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Vùng 3 gồm 10 tỉnh, thành Bình Định, Đà Nẵng, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Phú
Yên, Quảng Bình, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Quảng Trị, Thừa Thiên-Huế tập trung phát
triển công nghiệp chế biến nông, lâm, hải sản, lọc và hóa dầu, cơ khí chế tạo, sản xuất vật
liệu xây dựng và dệt may, da giày, ngành điện tử và công nghệ thông tin.
Vùng 4 gồm 4 tỉnh Đắk Lắk, Đắk Nông, Gia Lai, Kon Tum tập trung phát triển
thủy điện, công nghiệp chế biến nông, lâm sản và khai thác, chế biến khoáng sản.
Vùng 5 gồm 8 tỉnh, thành Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Bình Phước, Bình
Thuận, Đồng Nai, Lâm Đồng, thành phố Hồ Chí Minh, Tây Ninh) tập trung phát triển
công nghiệp khai thác và chế biến dầu khí, điện, chế biến nông, lâm, hải sản và đặc biệt
là công nghiệp cơ khí, điện tử, công nghiệp phần mềm, hóa chất, hóa dược, phát triển
công nghiệp dệt may, da giày chất lượng cao phục vụ xuất khẩu, phát triển công nghiệp
trên cơ sở áp dụng công nghệ cao, phát triển các sản phẩm có hàm lượng tri thức cao.
Vùng 6 gồm 13 tỉnh, thành An Giang, Bạc Liêu, Bến Tre, Cần Thơ, Đồng Tháp,
Hậu Giang, Kiên Giang, Long An, Cà Mau, Sóc Trăng, Tiền Giang, Trà Vinh, Vĩnh Long
tập trung phát triển ngành công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản hướng vào xuất
khẩu, các ngành công nghiệp sử dụng khí thiên nhiên, ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp,
đặc biệt là công nghiệp sau thu hoạch và bảo quản, công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy
sản, cơ khí đóng tàu.
Biểu đồ phân bố các khu công nghiệp:
Đa số các khu công nghiệp tập trung ở những vùng như: Đông Nam Bộ, Đồng
bằng Sông Hồng, và thưa thớt ở những vùng núi phía Bắc cũng như vùng duyên hải miền
Trung.
Hiệu quả
Chủ trương phát triển các khu công nghiệp là đúng đắn, phù hợp, đã góp phần
đáng kể cho sự phát triển công nghiệp nói riêng và toàn nền kinh tế nói chung.
a) Sự phát triển của các khu công nghiệp đóng góp đáng kể vào sự phát triển công
nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Tạo thêm nhiều việc làm cho người lao động.
Trang 15 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

- Tạo môi trường cho chuyển giao công nghệ một cách nhanh chóng.
- Sản xuất nhiều hàng hoá tiêu dùng nội địa và sản phẩm xuất khẩu có tính cạnh
tranh cao.
-Việc hình thành và phát triển các khu công nghiệp đã tạo điều kiện để thu hút một
khối lượng lớn vốn đầu tư cho phát triển công nghiệp và phát triển kinh tế - xã hội nói
chung.
Trang 16 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

b) Xử lý chất thải, bảo vệ môi trường.
Chủ trương phát triển các khu công nghiệp một cách có trọng tâm phù hợp tình
hình và điều kiện thực tiễn trên các vùng lãnh thổ.
Sự phát triển các khu công nghiệp trong giai đoạn vừa qua rộng khắp trên phạm vi
toàn quốc, song nhìn chung tập trung chủ yếu ở khu vực 3 vùng kinh tế trọng điểm. Sự
phân bố tập trung này là khách quan, bởi lẽ các vùng kinh tế trọng điểm là nơi thuận lợi
cho sự phát triển công nghiệp nói chung và các khu công nghiệp nói riêng.
c) Công tác phát triển các khu công nghiệp đã thu được thành quả nhất định.
Trong hơn 10 năm xây dựng và hình thành các khu công nghiệp, khu chế xuất, quy
mô phát triển công nghiệp được bố trí tập trung có bước phát triển vượt bậc. Việc phát
triển đất công nghiệp, xây dựng khá ổn định. Năm 1996, cơ cấu lao động nông thôn phân
theo ngành như sau: trong nông, lâm, ngư 82,3%; công nghiệp, xây dựng 6,8%; dịch vụ
10,9%. Con số này thay đổi tương ứng qua các năm là 79%, 8%, 13% (năm 2000) và
68%, 5%, 17% (theo số liệu mới nhất của năm 2007).

Trong số các khu công nghiệp được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt và ra quyết
định thành lập, nhiều khu công nghiệp rất thành công và mang lại hiệu quả kinh tế - xã
hội cao. Nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đã rất thành công trong phát triển
các khu công nghiệp.
Trang 17 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Tuy nhiên cũng không thể nào thoát được những hạn chế
Đất khu công nghiệp phát triển tràn lan, tỷ lệ lấp đầy thấp là nhược điểm dễ nhận
thấy trong việc sự dụng loại đất này; mặt khác, việc khai thác sử dụng đất khu công
nghiệp gắn liền với nhiệm vụ xử lý nước thải và bảo vệ môi trường phải trở thành điều
kiện tiên quyết. Ngoài ra, để giảm áp lực đối với đất nông nghiệp, đất trồng lúa, cần có
chủ trương đầu tư lâu dài vào cơ sở hạ tầng để khai thác vùng đồi gò ít có khả năng nông
nghiệp, việc quyết định xây dựng khu công nghiệp mới phải cân nhắc kĩ đến quy hoạch
phát triển công nghiệp trong vùng với những trình tự và thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ.
Diện tích đất công nghiệp tuy tăng nhanh (bình quân 7000ha/năm) nhưng việc quy
hoạch và phát triển các khu công nghiệp còn dàn trải, thiếu sự thống nhất trên quy mô
liên vùng, liên tỉnh; chưa xem xét đồng bộ với quy hoạch phát triển dô thị, khu dân cư, hạ
tầng kinh tế- xã hội. Nhiều khu, cụm công nghiệp không phù hợp với điều kiện và khả
năng thực tế dẫn đến tình trạng triển khai chậm tiến độ, tỷ lệ lấp đầy thấp, để hoang hóa
trong nhiều năm.
Các công trình xây dựng hạ tầng xã hội như văn hóa, y tế, giáo dục, thể dục thể
thao tuy luôn được bố trí tăng cường về diệ tích đất, nhưng so với nhu cầu vẫn chưa đáp
ứng đầy đủ.
Phương hướng gia tăng diện tích đất công nghiệp, xây dựng
Đất công nghiệp cơ bản sẽ ổn định ở mức 350-400 nghìn ha so với 82 nghìn ha
hiện nay, phân bố hợp lý trên toàn lãnh thổ cho công nghiệp chế biến, chế tác, công nghệ
cao, năng lượng, khai khoáng, luyện kim, hóa chất, quốc phòng… Đến năm 2020 sẽ có
468 khu công nghiệp, trong đó có 108 khu công nghiệp thuộc 15 khu kinh tế ven biển và
30 khu kinh tế cửa khẩu với diện tích 187 nghìn ha để đưa tỷ trọng GDP công nghiệp của
cả nước từ gần 40% hiện nay lên 60% vào năm 2020.
Đất xây dựng cơ sở hạ tầng: Cần khoảng 1,8- 2 triệu ha để xây dựng các công
trình giao thông, thủy lợi, năng lượng, văn hóa, y tế, thể dục thể thao, giáo dục- đào tạo
khi đất nước trở thành một nước công nghiệp phát triển. Đến năm 2020 diện tích chiếm
đất của nhiệm vụ này là 1,4 triệu ha tăng 0,3 triệu ha so với năm 2008.
b. Đất Dịch vụ
Trang 18 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Các ngành dịch vụ chủ yếu ở Việt Nam:


Cung cấp điện, nước



Xây dựng (không kể sản xuất vật liệu xây dựng)



Thương mại



Tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, môi giới chứng khoán,...



Y tế, chăm sóc sức khỏe, chăm sóc trẻ em



Giáo dục, thư viện, bảo tàng



Du lịch, khách sạn, cho thuê nhà



Thông tin, bưu chính, internet



Giao thông, vận tải



Cung cấp năng lượng (không kể khai thác và sản xuất)



Giải trí, thể thao, đánh bạc



Ăn uống



Các dịch vụ chuyên môn (tư vấn, pháp lý, thẩm mỹ, v.v...)

Các ngành dịch vụ trên phân bố khắp nơi trên đất nước từ thành thị đến vùng nông
thôn. Ta có 2 mốc giai đoạn để phân tích.
Trước năm 2000
Ngành dịch vụ ở nước ta chưa phát triển rõ rệt, chỉ có một số loại dịch vụ điển
hình và phân bố còn rải rác. Hầu như giữa thành thị và nông thôn là không khác biệt lắm.
Dịch vụ chưa phát triển nên diện tích đất cho nông nghiệp là còn hạn chế, chưa có tính
tập trung cao và theo các hình thức nhỏ lẻ. Giai đoạn này nước ta còn mang nặng sản xuất
nông nghiệp trong khi nông nghiệp lại chiếm một phần đất rất lớn cho sản xuất. Đất chỉ
phụ vụ chủ yếu cho giáo dục, y tế chăm sóc sức khỏe và một phần nhỏ là ăn uống. Các
nhu cầu thiết yếu đó phân bố theo tình hình phân bố dân cư, nơi tập trung đông như các
thành phố, khu hành chính các địa phương và cuối cùng là rải rác tại các vùng nông thôn.
Chính sự kém phát triển này đã đưa dịch vụ không phải là thế mạnh của nước ta.
 phân bố còn rải rác nhỏ lẻ, chưa phát triển.
Sau năm 2000 cho đến nay
Trang 19 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Nước ta đang chú trọng phát triển ngành dịch vụ, hầu như các ngành dịch vụ đều
phát triển rất mạnh. Tính phân bố cũng có nhiều thay đổi, các ngành dịch vụ phân bố chủ
yếu tại các trung tâm thành phố lớn với quy mô ngày càng phát triển. Nổi bật ở một số
ngành như thương mại, tài chính ngân hàng, bảo hiểm, du lịch, khách sạn, giải trí thể
thao. Đây là các ngành mà trước năm 2000 còn rất mới mẻ. Bật nhất là là dịch vụ ăn uống
ngày càng phát triển, trong kinh tế các ngành luôn phát triển là y tế, giáo dục và dịch vụ
ăn uống là những ngành luôn phát triển. Hiện nay các trung tâm giáo dục ngày càng
nhiều cụ thể là là mỗi tỉnh đều có các trường đại học cao đẳng cho riêng mỗi tỉnh, tại
thành phố Hồ Chí Minh thì thành lập Làng đại học. Các trung tâm y tế, bệnh viện cũng
được đầu tư tại các thành phố và vùng nông thôn, cho thấy tính phân bố khá đồng đều.
Dịch vụ ăn uống phát triển rất nhanh tại các thành phố lớn, và đất phục vụ cho dịch vụ
này cũng khá lớn trong ngành dịch vụ, như các quán thức ăn nhanh ngày càng phát triển
đòi hỏi có một mặt bằng đất trong kinh doanh.
Tài chính ngân hàng, khách sạn bảo hiểm cũng phát triển kèm theo, chủ yếu chỉ
phát triển tại các trung tâm thành phố lớn. Đối lập với nó là du lịch, ngành du lịch phát
triển nổi bật nhất là các vùng nông thôn với hình thức như du lịch sông nước, danh lam
thắng cảnh.
Hiệu quả kinh tế
Theo chuyển đổi cơ cấu kinh tế thì Nông Lâm Ngư giảm Công nghiệp và Dịch vụ
tăng đã cho thấy hiệu quả kinh tế mà ngành dịch vụ mang lại.
Tỷ lệ phần trăm các ngành theo GDP (ước tính 2012):


Nông nghiệp 21,5%



Công nghiệp 40,7%

Trang 20 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

21.5
37.8
NONG NGHIEP
CONG NGHIEP
DICH VU

40.7



Dịch vụ 37,8%

So với các ngành khác thì ngành dịch vụ chiếm một lượng diện tích đất nhỏ nhưng
mang lại hiệu quả kinh tế rất cao chiếm 37.8% GDP cả nước. Trong đó du lịch là nguồn
thu ngoại tệ cho cả nước, tài chính ngân hàng phát triển tạo động lực về nguồn vốn cho
các ngành khác phát triển theo.
Khi đất nước chuyển đổi đi theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, các thiết bị
máy móc ngày càng thay thế con người thì ngành dịch vụ là nguồn trung tâm thu hút
người lao động, giúp người lao động giải quyết việc làm.
Ngành dịch vụ phát triển như giáo dục, y tế làm nâng cao đời sống người dân,
nâng cao dân trí, chất lượng sống.

Trang 21 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

c. Đất chuyên dùng khác
Đất chuyên dùng khác bao gồm đất tôn giáo, tín ngưỡng, đất nghĩa trang, nghĩa
địa, đất sông suối và mặt nước chuyên dùng, đất ở, đất phục vụ quốc phòng,…diện tích
sử dụng nhỏ và không đáng kể.
3. Tính tất yếu trong việc chuyển dịch đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp
Một là, do tính tất yếu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Phải dùng đất để xây
dựng nhà máy xí nghiệp nhằm đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa.
Hai là, chuyển đổi đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp đi cùng với quá trình
nâng cấp, phát triển hệ thống cơ sở hạ tầng và các công trình phát triển kinh tế xã hội, an
ninh quốc phòng, phục vụ lợi ích cộng đồng, lợi ích quốc gia.
Ba là, thu hẹp đất nông nghiệp, tăng đất phi nông nghiệp kéo theo chuyển đổi cơ
cấu kinh tế, cơ cấu lao động.
Bốn là, tạo điều kiện, thu hút giải quyết việc làm cho hàng triệu lao động với thu
nhập tương đối khá, giúp cải thiện và nâng cao đời sống vật chất cũng như tinh thần của
người lao động.
Năm là, thúc đẩy phương thức sản xuất mới. Khi diện tích đất bị thu hẹp, lực
lượng lao động nông nghiệp thiếu hụt sẽ thúc đẩy những phương thức sản xuất mới như
tích tụ ruộng đất, áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất.
Cơ cấu đất phi nông nghiệp trong giai đoạn 2000-2010.
3074
3740.6

Đất nông nghiệp
Đất phi nông nghiệp
Đất chưa sử dụng

26280.5
Cơ cấu đất năm 2012:
Trang 22 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Tốc độ tăng trưởng đất phi nông nghiệp giai đoạn 2000-2010.
Chỉ tiêu

Biến động (ha)

Diện tích (ha)
Năm
2000

Năm
2005

tăng (+), giảm (-).
Năm
2010

20002005

20052010

20002010

Tổng diện tích

2.850.29 3.232.71 3.670.18
+382.417 + 437.471 +819.888
8
5
6

Đất ở

443.178 598.428 680.477 +155.250 + 82.049 +237.299

Đất chuyên dùng

1.072.20 1.383.76 1.794.47
+311.564 + 410.713 +722.277
2
6
9

Đất tôn giáo, tín
ngưỡng

12.804

14.620

97.052

100.939

+3.311

+3.887

+7.198

Đất sông suối và
1.143.08 1.137.44 1.075.73
mặt nước chuyên
7
5
6
dùng

-5.642

-61.709

-67.351

Đất phi nông
nghiệp khác

+3.221

+715

+3.936

Đất nghĩa trang,
nghĩa địa

93.741

3.221

3.936

+1.816

Theo thống kê tính đến 2012 tổng diện tích tăng đến 3740.6 nghìn ha
Tình hình phân bố.
Đất phi nông nghiệp là loại đất thường được chuyển hóa từ đất nông nghiệp. Kể từ
khi kết thúc chiến tranh đất chưa sử dụng là rất lớn, đất chưa sử dụng sẽ được sử dụng
làm đất nông nghiệp, tiến hành canh tác. Khi đi vào giai đoạn công nghiệp hóa hiện đại
hóa đất nước thì đất phi nông nghiệp tăng cao dựa trên đất nông nghiệp.
Trang 23 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

Đất phi nông nghiệp phân bố có tính tập trung cao ở các đô thị, khu công nghiệp.
Đất ở, đất xây dựng trụ sở cơ quan phân bố đều dựa vào phân bố của đất nông nghiệp ở
các vùng nông thôn. Tại các đô thị diện tích đất ở lớn với mật độ cao gây nên sức ép
trong quy hoạch đất. Đất dùng cho sản xuất công nhiệp tập trung cao, tạo sự lien kết các
ngành trong hệ thống kinh tế, đất dung trong khác thác khoáng tập trung tại các vùng có
nguồn khoán sản với trữ lượng lớn. Các khu công nghiệp, khu chế suất thường tập trung
tại các trung tâm thành phố lớn.
Trước năm 2000 tình hình phân bố còn ở quy mô nhỏ, nhưng kể từ năm 2000 đến
nay đất phi nông nhiệp có tính tập trung cao hơn, các trung tâm thành phố ngày càng
được mở rộng, tập trung với mật độ cao.
Hiệu quả sử dụng
Tuy chiếm một phần diện tích nhỏ nhưng hiệu quả kinh tế mang lại vô cùng lớn,
theo tỷ lệ % theo ngành thì đất phi nông nghiệp chiếm 78,4%.
Diện tích đất ngày càng tăng thể hiện tính hiệu quả trong sử dụng đất nhất là trong
giai đoạn nước ta đang trong thời kỳ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước.
Bên cạnh đó cũng còn một số hạn chế đáng chú ý. Tính tập trung cao gây mất cân
bằng thành thì và nông thôn. Chưa sử dụng hết, một số đất thuộc loại đất phi nông nghiệp
đang bị bỏ hoang, các dự án đầu tư không hoàn thành dẫn đến có đất mà không sử dụng
gây tổn thất kinh tế. Các khu khai thác làm cạn kiệt nguồn tài tài nguyên do khai thác quá
mức.

 Kết luận
Qua các số liệu và phân tích trên ta thấy tình hình sử dung đất ở nước ta có nhiều
thay đổi tích cực, như là diện tích đất sử dụng tăng, đất chưa sử dụng, đất bỏ hoang chiếm
tỉ trọng thấp. Trong đó tỉ trọng đất Công nghiệp và xây dựng, dịch vụ đang có xu hướng
tăng so với tỉ trọng đất nông nghiệp. Nhìn chung các chính sách về đất đai của nước ta
tuy có tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều bất cập, vì vậy các cơ quan chức năng phải cố gắng
hơn nữa trong việc tìm ra giải pháp tối ưu nhất nhằm đưa nền kinh tế tiến bộ hơn nữa.

Trang 24 / 25


Tiểu luận Địa lý Kinh tế Việt Nam

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. PGS. Văn Thái (2003), Địa Lý Kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê.
2. TS. Trần Văn Thông (2003), Địa lý Kinh tế Việt Nam, NXB Thống kê.
3. Một số tư liệu khác sưu tầm trên Internet.

Trang 25 / 25


Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×