Tải bản đầy đủ

SKKN một số giải pháp giáo dục kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong công tác chủ nhiệm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
ĐƠN YÊU CẦU CÔNG NHẬN SÁNG KIẾN
Kính gửi: Sở GD& ĐT tỉnh Ninh Bình.
Chúng tôi là:

TT

Họ và tên

Năm
sinh

Chức danh,
đơn vị

1

Vũ Thị Bằng Giang

1980


Giáo viên trường
THCS Đồng Giao

2

Phạm Thị Huyền

1977

Giáo viên trường
THCS Đồng Giao

Tỷ lệ (%)
Trình độ đóng góp
chuyên
vào việc
môn
tạo ra
sáng kiến
Cử nhân
sư phạm
Toán
Cử nhân
sư phạm
Văn

50%

50%

1. Tên sáng kiến, lĩnh vực áp dụng
Là nhóm tác giả đề nghị xét công nhận sáng kiến: Một số giải pháp giáo
dục kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong
công tác chủ nhiệm.
Lĩnh vực áp dụng: Công tác Chủ nhiệm lớp cấp THCS trên địa bàn thành
phố Tam Điệp.
Thời gian áp dụng sáng kiến: Từ năm học 2016 - 2017
Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng
sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.


2. Nội dung


1. Giải pháp cũ thường làm
1.1.Tóm tắt giải pháp cũ
Để giáo dục kĩ năng sống hình thành và phát triển năng lực cho học sinh
trong công tác chủ nhiệm chúng tôi đã tiến hình quá trình giáo dục như sau
- Xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp:
Sau khi nhận lớp chủ nhiệm, tôi tiến hành xây dựng kế hoạch chủ nhiệm
trên cơ sở các các mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch công tác giáo dục của trường,
của ngành; Thông qua hệ thống hồ sơ sổ sách của học sinh (xếp loại hạnh kiểm
các năm trước).Thông qua nhận xét, đánh giá của ban cán sự lớp, tổ trưởng
(Nghỉ học, không làm bài tập, nói chuyện trong giờ, đánh nhau, vi phạm nội quy
của trường, của đội….) Lắng nghe ý kiến đánh giá của các giáo viên bộ môn.
Giáo viên chủ nhiệm nắm bắt đặc điểm tình hình lớp, số lượng, mặt mạnh, mặt
yếu, thuận lợi, khó khăn, xem xét xem học sinh có năng khiếu về các lĩnh vực,
có học sinh cá biệt không; đặc điểm gia đình học sinh. Đề ra nội quy lớp học yêu
cầu học sinh thực hiện.
- Xây dựng đội tự quản và phân công nhiệm vụ
Giáo viên cũng cần quan sát và lựa chọn những thành viên gương mẫu,
tích cực, thân thiện vào ban cán sự lớp, xây dựng đội ngũ cán bộ lớp hoạt động
hiệu quả, xây dựng nề nếp tự quản lớp học một cách năng động và sáng tạo. Xây
dựng phong trào thi đua và kỹ năng hành động của từng cá nhân trong đội tự
quản cho đến tập thể lớp học. Cuối cùng là phân công nhiệm vụ cho các thành
viên. Thông qua đội tự quản nắm bắt tình hình học sinh để giáo viên đôn đốc,
nhắc nhở việc thực hiện nội quy quy định của lớp của trường.
- Phối hợp với gia đình học sinh và các tổ chức đoàn thể trong nhà trường
Giáo viện chủ nhiệm phát cho học sinh phiếu điều tra thông tin, học sinh
điền các thông tin về bản thân, gia đình, số điện thoại của cha, mẹ để tiện cho
việc trao đổi thông tin mang tính chất hai chiều GVCN cung cấp số điện thoại
của giáo viên chủ nhiệm, của trường để phụ huynh tiện liên hệ khi cần thiết;
thường xuyên chủ động trao đổi với gia đình học sinh về tình hình học tập và
rèn luyện của các em đặc biệt là những học sinh có hoàn cảnh khó khăn, những
em học sinh chưa ngoan để cùng tìm biện pháp giáo dục
GVCN luôn phối hợp chặt chẽ với các giáo viên khác, các tổ chức đoàn
thể khác trong nhà trường, nhằm nắm bắt kịp thời tình hình của lớp chủ nhiệm,
để có những biện pháp giáo dục phù hợp, kịp thời.
- Xác định cách thức giáo kĩ năng sống, hình thành và phát triển năng lực
cho các em:
Giáo dục chủ yếu qua các hoạt động chính khóa và ngoại khóa như tiết
sinh hoạt lớp, tiết chào cờ đầu tuần, 15 phút đầu giờ, hoặc gặp gỡ cá nhân riêng
lẻ.


-

Giáo viên thuyết trình về các giá trị đạo đức thông qua các tiết Ngoài giờ
lên lớp (Theo chủ đề từng tháng, 2 tuần 1 tiết vào tiết 5 ngày thứ 6)
Đôn đốc, nhắc nhở, nhận xét ý thức đạo đức của các em trong 15 phút đầu giờ,
trong các tiết sinh hoạt. (uốn nắn và tuyên dương)
Thông báo tình hình học sinh cho gia đình để gia đình có biện pháp giáo
dục (Thông qua sổ liên lạc viết tay hoặc sổ liên lạc điện tử, trong các buổi họp
phụ huynh học sinh )
- Cách ứng xử của giáo viên trong quá trình rèn kĩ năng sống và phát triển
năng lực cho các em.
+ Với những em học sinh ngoan có ý thức rèn luyện thường nhận được những lời
khen, động viên khích lệ ngày càng tiến bộ.
+ Với những học sinh vi phạm, thiếu KNS: Giáo viên thiên về trách phạt như:
phạt trực nhật lớp, phạt lao động, phạt đứng trước dưới cờ đầu tuần (với những
học sinh vi phạm nội quy trường lớp). Yêu cầu các em chép phạt (với những học
sinh không làm bài, học bài); viết bản kiểm điểm, hoặc đình chỉ học (với những
học sinh đánh nhau, thường xuyên vi phạm nội quy nhà trường); mời phụ huynh
học sinh lên trao đổi về tình hình của con em mình….
1.2. Ưu điểm và hạn chế của giải pháp cũ.
Với phương pháp cũ trong giáo dục kĩ năng sống hình thành và phát triển
năng lực của học sinh qua công tác chủ nhiệm, tôi nhận thấy GVCN đã thực hiện
đầy đủ những nhiệm vụ của mình. Trong quá trình áp dụng cách thức giáo dục
này, tôi nhận thấy có những ưu điểm và những hạn chế sau:
* Ưu điểm:
- Giáo viên nắm bắt được một số tình hình, điều kiện hoàn cảnh của học
sinh trên cơ sở hồ sơ, sổ sách học sinh, giáo viên chủ nhiệm biết được ý thức đạo
đức của các em trong từng ngày từng tuần thông qua ghi chép của ban cán sự lớp
và đánh giá nhận xét của giáo viên bộ môn, của học sinh trong lớp.
- Giáo viên truyền đạt được cho học sinh một số giá trị đạo đức theo các
chủ đề của tiết học Ngoài giờ lên lớp (9 chủ đề/ 9 tháng)
- Giúp học sinh nhận ra được những điểm mạnh điểm yếu của bản thân
để phát huy và khắc phục. Các em có ý thức rèn luyện đạo đức, kĩ năng tránh
những sai lầm trong ứng xử, hành động. Đồng thời khi áp dụng cách giáo dục
này giáo viên chủ nhiệm kịp thời uốn nắn để các em tiến bộ.
* Hạn chế
- Về việc nắm bắt tình hình, điều kiện, hoàn cảnh của học sinh: Giáo viên
chủ nhiệm mới chỉ tiếp cận một cách thụ động, trên hệ thống sổ sách và sự đánh
giá của giáo viên bộ môn, học sinh trong lớp. Do đó những vấn đề giáo viên chủ
nhiệm nắm bắt được chưa thực sự chính xác, giáo viên chủ nhiệm chưa thể hiểu
hết được hoàn cảnh, tâm tư, tình cảm và tâm lý của học sinh. Trong khi lứa tuổi
học sinh THCS đang là thời kì giao thoa giữa người lớn và trẻ em, là thời kì mà


tâm sinh lý của các em có nhiều thay đổi thất thường theo điều kiện khách quan
bên ngoài. Những biểu hiện, hành vi của các em chỉ là hiện tượng, chưa phải là
bản chất. Do đó, không thể nhìn vào một số biểu hiện bên ngoài mà kết luận về
con người thực của các em. Vì vậy, việc giải quyết những vấn đề của học sinh sẽ
mang tính chất hình thức, phiến diện, khó có tính thuyết phục. Điều này sẽ làm
ảnh hưởng đến suy nghĩ của các em học sinh, đặc biệt là những em bị giáo viên
xử phạt chưa hợp lý, thậm chí còn xảy ra hiện tượng học sinh cố tình vi phạm
nhằm chống đối, thách thức giáo viên. Nếu việc này diễn ra thường xuyên, sẽ
làm cho một số đối tượng học sinh chưa ngoan càng trở nên lì lợm, coi thường kỉ
luật của lớp của trường.
Về quá trình giáo dục kĩ năng sống và phát triển năng lực cho học sinh:
Việc rèn kĩ năng sống, hình thành và phát triển năng lực của học sinh nếu chỉ
dùng phương pháp thuyết trình, nêu gương một cách lý thuyết trong 15 phút đầu
giờ, trong các tiết sinh hoạt và các tiết ngoài giờ lên lớp thì sẽ không đem lại
hiệu quả cao. Vì giáo dục kĩ năng, phát triển năng lực không giống như việc
truyền thụ kiến thức khoa học, phương pháp thuyết trình sẽ chỉ làm cho các
phạm trù đạo đức, kĩ năng sống, các năng lực cần phát triển trở nên mơ hồ, khó
hiểu. Thậm trí, nếu việc thuyết trình, giảng giải mà diễn ra thường xuyên thì học
sinh sẽ xem đó như một “bài ca muôn thuở”, nghe mãi mà không có bất cứ sự
lay động nào trong đầu óc hay con tim.
Điều này dẫn đến tình trạng học sinh chán nản, bỏ ngoài tai những lời
thuyết trình của thầy cô và tình trạng vi phạm nội quy trường lớp, vi phạm chuẩn
mực đạo đức , thiếu kĩ năng sống vẫn diễn ra thường xuyên, thậm trí còn phức
tạp và nan giải hơn.
Về biện pháp xử phạt đối với những hành vi vi phạm nội quy trường lớp,
vi phạm chuẩn mực đạo đức của học sinh:
Theo những giải pháp cũ nhiều giáo viên chủ nhiệm vẫn áp dụng đó là
phạt trực nhật, phạt lao động, chép phạt, viết bản kiểm điểm, thông báo cho gia
đình, đình chỉ học….. Bên cạnh việc giúp cho một số học sinh ngoan hơn, chăm
chỉ hơn, có ý thức học tập và lao động tốt hơn, thì phương pháp này đối với một
bộ phận không nhỏ học sinh lại bị phản tác dụng.
Một số em lười lao động mà bị phạt trực nhật, lao động thì hậu quả sẽ là
càng ngày các em đó càng lười lao động, làm việc một cách miễn cưỡng khó
chịu, dần dần sẽ có thái độ trơ lì, coi thường kỉ luật của lớp, của trường, không
tôn trọng giáo viên. Các em không xác định được giá trị bản thân, không có kĩ
năng hợp tác, không biết cảm thông chia sẻ… khó có cơ hội phát triển được các
năng lực vốn có của bản thân
Với việc bắt học sinh chép phạt, nếu lạm dụng sẽ dẫn đến hậu quả học
sinh sợ học, rồi bỏ học vào những môn bị chép phạt. Việc không học bài, không
làm bài cũ là không tránh khỏi đối với học sinh, nếu suốt ngày bị chép phạt sẽ là


áp lực đối với học sinh, nhiều em chỉ lo chép phạt nên trong giờ môn này lại học
môn kia. Kết quả là không học được môn nào. Và vì thế việc rèn kĩ năng sống,
phát triển năng lực cho các em càng trở nên khó khăn hơn.
Với việc bắt học sinh viết bản kiểm điểm là một trong những phương pháp
mà nhiều giáo viên thường áp dụng, đến mức mà bất kể học sinh nào cũng biết
viết kiểm điểm, đặt bút là viết được không cần suy nghĩ. Vì vậy, với phương
pháp này nếu lạm dụng sẽ làm cho học sinh coi thường các quy định của nhà
trường, không sợ bị phạt, và vi phạm vẫn là vi phạm.
Trên cơ sở phân tích ưu điểm và hạn chế của những giải pháp giáo dục kĩ
năng sống và phát triển năng lực cho học sinh đã được áp dụng, tôi nhận thấy để
phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế của giải pháp cũ, cần phải có những giải
pháp mới phù hợp và hiệu quả hơn trong công tác giáo dục kĩ năng sống, hình
thành và phát triển năng lực cần thiết cho học sinh trong công tác chủ nhiệm.
2. Giải pháp mới cải tiến
Từ thực trạng đã nêu ở trên, qua nhiều năm trực tiếp giảng dạy và làm công
tác chủ nhiệm tiếp xúc với nhiều đối tượng học sinh, tôi mạnh dạn đưa ra một số
giải pháp giáo dục kĩ năng sống và phát triển năng lực cho học sinh qua công tác
chủ nhiệm lớp.
2.1. Giải pháp 1: Xây dựng kế hoạch công tác chủ nhiệm:
Xây dựng kế hoạch chủ nhiệm lớp, người giáo viên chủ nhiệm cần chú ý
bám sát các mục tiêu, nhiệm vụ và kế hoạch công tác giáo dục của trường, của
ngành; đặc điểm tình hình lớp, số lượng, mặt mạnh, mặt yếu, thuận lợi, khó
khăn, học sinh có năng khiếu về các lĩnh vực, học sinh cá biệt, đặc điểm gia đình
học sinh.
Sau khi nắm các cơ sở trên, giáo viên chủ nhiệm lập kế hoạch hoạt động
cho năm học, cơ cấu lớp, mục tiêu phấn đấu (học tập, nề nếp, các phong trào
khác) biện pháp thực hiện. Từ kế hoạch cả năm giáo viên chủ nhiệm lần lượt lập
kế hoạch tháng, tuần.
Tuy nhiên cái mới của giải pháp là tôi xây dựng các nội dung, chương
trình, chủ điểm theo mốc thời gian để giáo dục kĩ năng sống và phát triển năng
lực cho các em theo từng tháng, từng tuần một cách cụ thể.. Việc làm này giúp
tôi chủ động trong việc chuẩn bị, tổ chức, định hình các kĩ năng sống, như:
Nhóm kĩ năng nhận biết và sống với chính mình(Tự nhận thức, xác định giá trị,
ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin…);Nhóm kĩ năng
nhận biết và sống với người khác(Giao tiếp, giải quyết mâu thuẫn, thương
lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác…) Nhóm kĩ năng ra quyết định một
cách hiệu quả(tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra


quyết định, giải quyết vấn đề…). Xác định các năng lực cần hình thành và phát
triển cho các em như năng lực nhóm năng lực quan hệ xã hội, nhóm năng lực
làm chủ và phát triển bản thân. Sau đó phổ biến rộng rãi để học sinh trong lớp
nắm được kế hoạch chung.
2.2.Giải pháp 2: Xây dựng đội tự quản và phân công nhiệm vụ
Xây dựng đội tự quản là khâu cực kì quan trọng góp phần đưa phong trào
của lớp phát triển theo hướng tích cực. Ban cán sự lớp là những hạt nhân nòng
cốt, là đầu tàu trong tất cả các công việc.
Không phải khi nào giáo viên chủ nhiệm cũng có mặt trên lớp, do đó Ban
cán sự lớp chính là đại diện cho lớp, chịu trách nhiệm trước giáo viên chủ nhiệm.
Làm tốt khâu này sẽ quyết định một nửa thành công trong công tác chủ nhiệm
của người giáo viên.
Tuy nhiên cái mới của giải pháp là tôi không tự quyết định thành phần ban
cán sự lớp mà trước tiên cho học sinh xung phong làm cán bộ lớp nếu cảm thấy
mình đủ tiêu chuẩn, phẩm chất, năng lực và có khả năng ứng phó với những tình
huống trong quá trình học tập rèn luyện và chỉ đạo lớp. Nếu chưa đủ số lượng
thì tôi tiếp tục cho học sinh trong lớp tự lựa chọn giới thiệu bình bầu, những bạn
mà các em cho là có uy tín làm cán bộ lớp. Tôi tiến hành tổ chức một buổi sinh
hoạt lớp với nội dung: “ Nếu em làm cán bộ lớp”, học sinh đứng trước lớp giới
thiệu về mình, về những năng lực vốn có của mình, và đưa ra hướng hành động
nếu em làm cán bộ lớp em sẽ làm gì…Thông qua việc làm nhỏ này tôi đã rèn cho
các em kĩ năng giao tiếp, kĩ năng tự nhận thức, KN xác định giá trị của bản
thân. Các em biết đánh giá đúng về năng lực, tình cảm, sở trường điểm mạnh
điểm yếu cũng như giá trị của bản thân mình.
2.3. Giải pháp 3: Phối hợp với gia đình học sinh và các tổ chức đoàn thể
GVCN cần làm tốt công tác phối kết hợp chặt chẽ với các giáo viên khác,
các tổ chức đoàn thể khác trong nhà trường, với phụ huynh học sinh nhằm nắm
bắt kịp thời tình hình của lớp chủ nhiệm, tình hình cụ thể từng em để cùng phối
hợp tìm ra những biện pháp giáo dục phù hợp, kịp thời, hiệu quả.
Ở giải pháp này, nếu trước kia tôi phát phiếu điều tra thông tin thì nay cùng
với việc đó, tôi trực tiếp thăm hỏi gia đình học sinh nhất là những học sinh có
hoàn cảnh khó khăn , những học sinh cá biệt , trò chuyện trực tiếp với phụ huynh
tìm hiểu hoàn cảnh , năng lực sở trường của học sinh để từ đó có biện pháp giáo
dục tích cực. Kết hợp với Ban chấp hành hội cha mẹ học sinh lớp trong buổi họp
phụ huynh học sinh đầu năm để cập nhật thông tin về học sinh lớp mình . Cập
nhật những thông tin đã tiếp cận , ghi chép cụ thể những thông tin của từng học
sinh lớp mình vào nhật ký chủ nhiệm lớp . Đặc biệt tôi còn cho học sinh viết bài
giới thiệu về gia đình mình, vai trò trách nhiệm của gia đình; về các tổ chức
đoàn thể trong nhà trường. Để từ đó các em cũng hiểu được gia đình, các tổ chức


đoàn thể cũng tham gia vào việc giáo dục định hướng cho các em. Cách làm này
giúp tôi rèn cho học sinh của mình kĩ năng tìm kiếm sự hỗ trợ, xác định được
những địa chỉ đáng tin cậy để bày tỏ nhu cầu cần giúp đỡ, tháo gỡ khó khăn, là
cơ hội để học sinh được giãi bày, vui buồn giảm bớt được tâm lí căng thẳng do bị
dồn nén xảm xúc… để có cách cư xử đúng mực trước những tình huống bất ngờ
của cuộc sống. Cùng với việc phối hợp với gia đình học sinh là phối hợp thướng
xuyên với các tổ chức đoàn thể như Đoàn, Đội để tổ chức các hoạt động ngoại
khóa từ đó giáo dục các em kĩ năng hợp tác, chia sẻ, đồng thời phát triển những
năng lực tiềm ẩn vốn có trong các em.
2.4. Giải pháp 4: Đa dạng hóa các hình thức giáo dục KNS theo định hướng
phát triển năng lực cho học sinh
Ở giải pháp cũ tôi giáo dục học sinh chủ yếu qua các tiết học chính khóa
thì nay tôi cải tiến bằng cách đa dạng hóa các hình thức giáo dục:
2.4.1.Giáo dục KNS theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong
các giờ học chính khóa.
GVCN trước hết là một giáo viên trực tiếp giảng dạy tại lớp. Do đó, bên
cạnh việc truyền thụ kiến thức khoa học, tôi luôn quan tâm đến việc hình thành
và phát triển năng lực cho học sinh thông qua các hoạt động.
Có thể nói để vừa phải đảm bảo tốt việc truyền thụ kiến thức văn hóa ở
môn học cho HS, vừa phải làm tốt công tác chủ nhiệm, đó là việc không dễ dàng,
nhưng “Chính sự quan tâm, lòng yêu thương và sự chia sẻ của người thầy đã
giúp những đứa trẻ phát huy hết khả năng của chúng” – theo John O’brien. Điều
đáng chú ý ở đây là GVCN lớp luôn phải xây dựng những thói quen cần thiết
cho mình trong quá trình dạy học. GS David Berliner của đại học bang Arizona
American cho rằng “nhà giáo là những người mà mỗi ngày phải đưa ra nhiều
quyết định quan trọng ảnh hưởng đến cuộc sống và tương lai của rất nhiều trẻ
em”. Vì vậy, cách duy nhất mà GVCN lớp có thể làm tốt nhiệm vụ dạy học là
phải tổ chức quản lý tốt lớp học. Điều đó liên quan đến việc hình thành và xây
dựng các thói quen cho mình và cho trẻ. Nhiều quyết định và yêu cầu của GVCN
lớp có thể trở nên tự động, nhanh chóng và nhẹ nhàng đối với HS khi họ chuyển
hóa được nhiều kiểu hoạt động trở thành những thói quen hàng ngày cho HS của
mình. Thói quen mà trẻ có được chính là sự chuyển hóa từ thói quen của GV đến
HS, đó là cơ sở đầu tiên cho việc rèn KNS theo định hướng phát triển các phẩm
chất và năng lực cho học sinh.
Vậy, làm thế nào để hình thành và phát triển phẩm chất và năng lực cho
học sinh trong các giờ học chính khóa? Đây chính là sự khéo léo, tinh tế của mỗi
giáo viên trong việc lựa chọn các phương pháp giảng dạy.


Bản thân tôi, vừa là một GVCN vừa là một giáo viên giảng dạy, tôi lựa
chọn phương pháp quản lý lớp học bằng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích
cực.
Giáo dục kỷ luật tích cực là giáo dục kỷ luật dựa trên nguyên tắc vì lợi ích
tốt nhất của HS, không làm tổn thương đến thể xác và tinh thần HS, có sự thỏa
thuận giữa GV – HS và phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của từng HS.
* Những biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với HS trong các giờ học
chính khóa
Trong thực tế có nhiều biện pháp giáo dục kỷ luật đối với HS tại các giờ
học chính khóa. Sau đây là những biện pháp giáo dục kỉ luật tích cực có thể áp
dụng trong lớp học đó là:
- Thay đổi cách cư xử trong lớp học, tạo ra sự tương tác tích cực giữa thầy
và trò trong các giờ học chính khóa, làm cho HS tiếp thu bài một cách thoải mái
nhất.
- Quan tâm đến những khó khăn của HS trong giờ học. Đó có thể là khó
khăn về tiếp thu bài, về cách trả lời câu hỏi của GV, về mức độ viết bài mà GV
yêu cầu, về tốc độ làm bài tập tại lớp.v.v…
- Tăng cường sự tham gia của HS trong việc xây dựng nội dung bài học.
Đây là biện pháp rất có hiệu quả nhằm động viên, khuyến khích HS học tập.
Muốn vậy, GV cần vận dụng nhiều phương pháp và kỹ thuật dạy học khác nhau
để thu hút HS tham gia vào bài học mới một cách sôi nổi và hào hứng.
- Tổ chức các hình thức hoạt động học tập đa dạng (trên lớp, hoạt động
trải nghiệm sáng tạo). Nếu giờ học diễn ra với các hình thức học tập khác nhau
sẽ tạo được bầu không khí thoải mái, kích thích ý thức học tập của HS.
* Lợi ích của việc sử dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực đối với HS
trong các giờ học chính khóa
Trong các giờ học chính khóa, GVCN lớp với tư cách là GV bộ môn trực
tiếp dạy HS lớp mình nên vận dụng các biện pháp giáo dục kỷ luật tích cực thì sẽ
có nhiều lợi ích rõ rệt.
- Về phía học sinh:
+ Có nhiều cơ hội chia sẻ những hiểu biết của mình về nội dung bài học, bày
tỏ cảm xúc, được mọi người quan tâm, tôn trọng và lắng nghe ý kiến của nhau.
+ Tích cực, chủ động hơn trong học tập.
+ Tự tin trước các bạn trong lớp khi trình bày ý kiến của mình.
+ Phát huy được khả năng của cá nhân trong quá trình học tập.
=> Từ đó rèn luyện cho các em những KNS và năng lực cần thiết như: Sống yêu
thương, sống tự chủ, sống trách nhiệm, năng lực tự học, năng lực tự giải quyết


vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp,
năng lực hợp tác.
- Về phía GVCN lớp sẽ nhận được những kết quả tốt đẹp sau:
+ Giảm được áp lực quản lý lớp học vì HS hiểu và tự giác chấp hành kỷ luật
học tập. Từ đó tạo được sự tin tưởng từ HS, được HS tôn trọng và giúp đỡ GV
trong quá trình giảng dạy.
+ Xây dựng được mối quan hệ thân thiện giữa thầy và trò trong giờ học chính
khóa.
+ Nâng cao hiệu quả quản lý lớp học, góp phần nâng cao chất lượng dạy học
và giáo dục.
+ Được sự đồng tình, ủng hộ từ phía gia đình HS và xã hội.
2.4.2.Giáo dục KNS theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh trong
các hoạt động ngoài giờ lên lớp: tiết chào cờ, tiết sinh hoạt, trong các giờ lao
động, hoạt động văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao...
Những kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục là một bộ phận chủ yếu của
năng lực sư phạm đối với GV phổ thông nói chung. Hiện nay với yêu cầu của
giáo dục là hình thành và phát triển nhân cách, năng lực ở HS thì vai trò của
GVCN lại trở nên đặc biệt quan trọng.
Kĩ năng tổ chức hoạt động giáo dục là một hệ thống cách thức tổ chức
quản lí, chỉ đạo, tổ chức hoạt động của GV giúp cá nhân và tập thể HS sử dụng
hợp lí các điều kiện thực hiện các hoạt động giáo dục nhằm phát triển toàn diện
nhân cách theo mục tiêu giáo dục nói chung, từng cấp học, lớp học nói riêng.
Để thực hiện chương trình hoạt động ngoài giờ lên lớp (HĐGDNGLL),
đòi hỏi GVCN lớp cần phải có một hệ thống kĩ năng giáo dục:
- Kĩ năng thiết kế chương trình, kế hoạch hoạt động
- Kĩ năng điều khiển, điều chỉnh hoạt động
- Kĩ năng tổ chức các loại hình thi theo chuyên đề (tìm hiểu truyền thống,
môi trường, văn hóa, tệ nạn xã hội,…).
- Kĩ năng tổ chức sinh hoạt Câu lạc bộ (các loại hình Câu lạc bộ…).
Có thể nói chương trình HĐGDNGLL là một chương trình tổng hợp liên
quan đến rất nhiều lĩnh vực văn hóa xã hội, kinh tế, chính trị, đạo đức, pháp luật,
… Rèn luyện rất tổng hợp những phẩm chất và năng lực của con người Việt Nam
trong giai đoạn hiện nay, vì vậy muốn tổ chức tốt HĐGDNGLL, GVCN cần phải
có năng lực sư phạm để thực hiện tốt mục tiêu chương trình HĐGDNGLL.
Các HĐGDNGLL bao gồm:
- Hoạt động chào cờ đầu tuần
- Hoạt động tập thể cuối tuần – sinh hoạt lớp


- Hoạt động lao động vệ sinh trường lớp.
 Giáo dục kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học
sinh thông qua hoạt động chào cờ đầu tuần.
* Vị trí của tiết chào cờ
- Tiết chào cờ đầu tuần là thời điểm mở đầu của một tuần học mới, một
tháng học mới, một chủ điểm giáo dục mới. Nó có tính chất định hướng hoạt
động cho một tuần, một tháng trên cơ sở khắc phục những mặt còn tồn tại của
tuần qua, tiếp tục phát huy những ưu điểm đã có
- Là dịp để HS được sinh hoạt tư tưởng, tham gia các hoạt động do nhà
trường tổ chức. Ðồng thời cũng là dịp để các tập thể lớp hiểu biết nhau về thành
tích phấn đấu và rèn luyện sau một tuần, một tháng thực hiện nhiệm vụ người
HS. Thông qua các hoạt động trong tiết chào cờ, HS có dịp tiếp xúc với đời sống
chính trị - xã hội của đất nước, làm quen và tăng thêm hiểu biết về những đổi
thay trên các lĩnh vực khác nhau của đất nước. Mặt khác, tiết chào cơ đầu tuần
cũng là dịp giúp các em hiểu biết về những ngày kỉ niệm chính có liên quan tới
chủ điểm giáo dục trong tháng.
- Trong tiết chào cờ đầu tuần, sự phối hợp hoạt động giữa GV và HS thể
hiện khá rõ nét. Ðó là sự phối hợp của các hình thức hoạt động giữa thầy và trò
nhằm tạo nên những điều kiện cho sự phát triển mối quan hệ giao tiếp giữa người
được giáo dục với người giáo dục. Do đó tiết chào cờ là một dịp để HS tập dượt
điều khiển hoạt động ở quy mô toàn trường. Có tác dụng góp phần rèn KNS,
phát triển năng lực tự quản của các em.
- Có thể nói, tiết chào cờ đầu tuần như là điểm xuất phát mà tại đó HS tự
hứa hẹn tự xác định phương hướng phấn đấu mới. Chính điều đó có tác dụng
khởi động hàng loạt hoạt động của tập thể HS, giúp cho mỗi tập thể lớp tự điều
chỉnh mình sao cho hoàn thiện hơn tuần trước, tháng trước.
* Nội dung của tiết chào cờ
- Phản ánh kết quả thi đua sau một tuần hay sau một đợt thi đua của trường,
của lớp cũng như của những cá nhân có nhiều tiến bộ. Nội dung này có tác dụng
động viên kích thích, gây khí thế mới trong hoạt động hàng ngày, hàng tuần của
HS.
- Những sự kiện chính trị - xã hội diễn ra hàng tuần, trong tháng có liên
quan trực tiếp đến những yêu cầu của chủ điểm giáo dục; hoặc phản ánh sự
hưởng ứng của nhà trường đối với những hoạt động của địa phương, của xã hội.
- Những vấn đề có tính toàn cầu cũng là nội dung của tiết chào cờ. Ðó là các
vấn đề: Bảo vệ môi trường; Phòng chống HIV/ADS và các tệ nạn xã hội khác,
quyền bình đẳng giữa các dân tộc, hòa bình và hòa hợp, hội nhập quốc tế.
- Lồng ghép vào đó là các tiết mục văn nghệ, những câu chuyện kể theo chủ
đề của tháng, của tuần, những tiết mục diễn kịch hát múa của các em học sinh.
* Phương pháp giáo dục của GVCN trong tiết chào cờ đầu tuần


- GVCN định hướng cho học sinh những vấn đề cần giải quyết trong tiết
chào cờ đầu tuần đầu tiên của năm: Nêu lên những việc cần chuẩn bị, cần thực
hiện đối với lớp nói chung và ban cán sự lớp nói riêng. Trên cơ sở đó các tiết
chào cờ tiếp theo học sinh tự giác quản lí và thực hiện các hoạt động (Vị trí của
lớp, chuẩn bị ghế ngồi, nếu trong tuần lớp trực tuần thì ban cán sự lớp có trách
nhiệm phân công người trực các phòng ban, kê bàn ghế, chuẩn bị loa đài, cờ thi
đua…, cử người kể chuyện Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí
Minh…..)
- GVCN quan sát, theo dõi giám sát và đôn đốc việc thực hiện nhiệm vụ của
học sinh trong lớp
- Có những hình thức khen - chê, động viên khích lệ kịp thời tạo sự hứng
khởi, kích thích khả năng tự giác và trách nhiệm của học sinh trong các hoạt
động tập thể.
* Mục tiêu cần đạt đối với học sinh thông qua tiết chào cờ.
- Khắc sâu ý thức đối với Tổ quốc, Ðảng, Bác Hồ; xây dựng ý thức và động
cơ đạo đức chính trị đúng đắn, xác định trách nhiệm của mình là học tập vì Tổ
quốc, biến ý thức đó thành hành động thực tiễn.
- Ðịnh hướng vào những yêu cầu trọng tâm của nhà trường trong từng thời
điểm, gây khí thế mới thúc đẩy HS thi đua rèn luyện.
Phát huy tính tự giác và khả năng tự quản của HS trong các hoạt động
dưới cờ như khả năng điều khiển, khả năng đánh giá thi đua, khả năng nắm tình
hình tham gia của các lớp.
 Như vậy thông qua tiết chào cờ đầu tuần, học sinh được hình thành và
phát triển một cách tổng hợp các phẩm chất và năng lực: sống tự chủ, sống trách
nhiệm, năng lực tự học, năng lực tự giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực thẩm
mỹ, năng lực thể chất, năng lực giao tiếp, năng lực hợp tác.
 Giáo dục kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
thông qua các buổi lao động
Trong yêu cầu đổi mới giáo dục theo hướng phát triển năng lực người học
như hiện nay, giáo dục lao động cần được xem là một tiêu chí quan trọng trong
giáo dục đạo đức, giúp học sinh phát triển toàn diện.
Giáo dục lao động là một trong 11 nguyên tắc của giáo dục có ý nghĩa quan
trọng trong việc hình thành nhân cách người học. Bỏ qua, hoặc xem nhẹ nguyên
tắc này đồng nghĩa với việc các nhà trường không hoàn thành mục tiêu giáo dục
toàn diện.
Từ rất lâu, các nhà trường dù ở cấp nào đi nữa ngoài việc rèn đạo đức, cung
cấp tri thức cho học sinh thì một yếu tố rất quan trọng đó là luôn coi lao động là


việc làm cần thiết để giáo dục toàn diện học sinh. Ngoài giờ học, hàng tuần, học
sinh phải tham gia lao động, vệ sinh trường lớp, vệ sinh nơi công cộng và tham
gia lao động công ích ở địa phương. Có như vậy, với sự tiến hành thường xuyên
và có kế hoạch của các nhà trường sẽ giúp ích rất lớn vào việc hình thành đức
tính yêu lao động ở trẻ, giúp các em hiểu và có trách nhiệm với bản thân, cuộc
sống.
Như vậy, trong nhiệm vụ lao động, vệ sinh trường lớp nếu GVCN biết khéo
léo tổ chức cũng là một con đường giáo dục hiệu quả nhằm hình thành và phát
triển phẩm chất và năng lực cho học sinh. Thông qua hoạt động này, giáo viên có
thể uốn nắn, điều chỉnh nhiều hành vi ảnh hưởng xấu đến sự hình thành nhân
cách của học sinh. Lao động không chỉ là cơ hội để giúp học sinh rèn luyện kỹ
năng lao động mà còn bồi đắp tình thương, tinh thần trách nhiệm, khả năng
sáng tạo, làm việc nhóm, biết trân trọng người lao động và giá trị của lao động.
Vậy làm thế nào để thông qua hoạt động lao động GVCN Giáo dục kĩ
năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh?
Bản thân tôi, dù là hoạt động nào của lớp chủ nhiệm tôi cũng luôn định
hướng và phát huy tinh thần tự giác, trách nhiệm của học sinh, trước hết là ban
cán sự lớp.
Với công tác lao động cũng không ngoại lệ. Trước mỗi nhiệm vụ lao động
được phân công, việc đầu tiên tôi tổ chức họp nhanh nhóm cán bộ lớp nêu lên
nhiệm vụ và yêu cầu cần thực hiện của nhiệm vụ lao động.
Trên cơ sở đó, để phát huy tính tự giác và sáng tạo của học sinh, tôi giao
quyền tổ chức, quản lí, phân công thực hiện, kiểm tra giám sát hoạt động cho ban
cán sự lớp, đặc biệt là lớp phó lao động.
Tuy nhiên, tôi luôn đồng hành cùng các em trong mọi hoạt động, kịp thời
chỉnh đốn, đôn đốc, nhắc nhở, khích lệ kịp thời để phát huy tinh
thần tự giác, năng lực sáng tạo và giải quyết vấn đề của học sinh.
 Giáo dục kĩ năng sống theo định hướng phát triển năng lực cho học sinh
thông qua tiết sinh hoạt lớp cuối tuần gắn với chủ đề
* Vị trí ý nghĩa của tiết sinh hoạt lớp cuối tuần.
- Sinh hoạt lớp cuối tuần (SHLCT) là một hình thức tổ chức
HÐGDNGLL, là hoạt động tập thể HS sau một tuần do các em tự tổ chức và điều
khiển. Trong tiết này, GVCN lớp giữ vai trò cố vấn giúp HS, cùng các em tham
gia vào những hoạt động cụ thể.
- SHLCT là một trong những biện pháp cơ bản có ý nghĩa trực tiếp trong
việc góp phần xây dựng tập thể HS đoàn kết, kỷ luật, phát huy được tác dụng đối
với từng thành viên. Tiết SHLCT nhằm đánh giá các hoạt động của lớp diễn ra
trong tuần, định hướng cho các hoạt động sẽ phải thực hiện ở tuần tới. Tiết


SHLCT chiếm vị trí hết sức quan trọng trong việc biến các yêu cầu của nhà
trường thành nhiệm vụ mà lớp phải thực hiện. Nhờ vậy, tập thể HS ngày càng
được củng cố, phát triển, đặc biệt là nâng cao được năng lực tự quản của các em.
* Nội dung hoạt động tập thể cuối tuần.
- Ðánh giá các công việc thực hiện trong tuần về mọi mặt bao gồm: học
tập, thực hiện nội quy nhà trường, các phong trào thi đua, vấn đề kỉ luật, các sự
kiện, sự việc có liên quan đến tinh thần và ý thức phấn đấu của lớp.
- Tổ chức đăng ký thi đua giữa các tổ HS, giữa các thành viên trong lớp
theo một chủ đề nào đó.
- Tiến hành sơ kết, tổng kết thi đua sau một tuần, một tháng, hay sau một
đợt thi đua hoặc sau một học kì, một năm học.
- Các sinh hoạt theo chủ đề thường gắn với các ngày kỉ niệm lớn, gắn với
các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ở trong nước và trên thế giới,
những sự kiện của địa phương, của nhà trường hay của ngay tập thể lớp.
- Các hoạt động văn hóa nghệ thuật: biểu diễn văn nghệ, vui chơi giải trí, thi
đố vui..
+ Tiết SHLCT là một dạng của HĐGDNGLL, là một hình thức tổ chức giáo
dục tự quản cho HS và là một trong những biện pháp cơ bản góp phần xây dựng
tập thể HS đoàn kết.
+ Ðây cũng là dịp để HS làm quen với nhiều loại hình hoạt động khác nhau,
giúp các em phát triển các kĩ năng cơ bản và cần thiết của người HS.
+ Vì thế nó giữ một vị trí quan trọng trong việc chuyển giao nhiệm vụ của nhà
trường tới từng lớp một cách kịp thời và chính xác.
+ Tiết SHLCT do HS cùng nhau tự tổ chức dưới sự giúp đỡ, cố vấn của GVCN
lớp.
* Những mục tiêu giáo dục cần đạt được trong tiết sinh hoạt.
- HS có những hiểu biết cần thiết về tập thể, về vai trò và nhiệm vụ của
bản thân trong việc đóng góp xây dựng tập thể.
- Nâng cao tính tích cực, tự giác trong các hoạt động tập thể, có ý thức
phấn đấu cho danh dự của lớp, của trường, cho truyền thống tốt đẹp của tập thể,
có ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm trước tập thể, có ý thức hợp tác,
phê bình và tự phê bình.
- Hình thành một số kĩ năng về xây dựng tập thể, về tự quản, kỹ năng tổ
chức, kỹ năng điều khiển và tham gia các hoạt động tập thể, kỹ năng đánh giá và
tự đánh giá.
Trên thực tế là nhiều học sinh thường không thích giờ sinh hoạt lớp. Tại
sao vậy như vậy? Lý do là:


- Nội dung giờ sinh hoạt lớp khô cứng lặp đi lặp lại, không thực sự gắn với
nhu cầu của học sinh. Các em không thực sự cảm nhận được vấn đề trong chủ đề
là vấn đề của chính họ phải giải quyết mà là vấn đề của thầy, cô.
- Hình thức tổ chức giờ sinh hoạt lớp thường đơn điệu, nhàm chán, không
hứng thú với học sinh bởi các em không được cùng nhau tổ chức, cùng tham gia
vào giờ sinh hoạt lớp.
- Giáo viên quá nghiêm khắc, không gần gũi, thân thiện, không đặt mình
vào vị trí của học sinh để hiểu các em.
3. Hiệu quả kinh tế, xã hội dự kiến đạt được.
Áp dụng sáng tạo những giải pháp mới đem lại những hiệu quả nhất định cụ
thể như sau:
Hiệu quả kinh tế:
Sau khi áp dụng sáng kiến tôi nhận thấy đây là một giải pháp có khả năng
tiết kiệm cao về kinh tế, thời gian và công sức cho các thầy cô giáo, cho nhà
trường và gia đình trong việc giáo dục học sinh.
Hiệu quả xã hội:
Sáng kiến kinh nghiệm về giải pháp“Một số giải pháp rèn kĩ năng sống
theo định hướng phát triển năng lực sống cho học sinh trong công tác chủ
nhiệm” mang một ý nghĩa rất quan trọng và là công việc hết sức cần thiết, bởi
lẽ các em sẽ học được cách rèn luyện và rút ra những kinh nghiệm, kỹ năng
mà các em sẽ gặp lại trong cuộc sống, là bài học quí báu mang ý nghĩa giáo dục
sâu sắc để các em tự hoàn thiện mình.
Hiện nay ngành giáo dục đang đẩy mạnh phong trào thi đua: “Xây dựng
trường học thân thiện - Học sinh tích cực” thì việc giáo dục giá trị sống rèn luyện
kỹ năng sống có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Qua đó, giúp các em nhìn lại
những việc làm của mình từ trong hành động, trong suy nghĩ, lời nói đến việc
làm. Nó còn giúp các em hoàn thiện hơn về nhân cách, về lối sống, các em sẽ
tích cực hơn .Có kỹ năng tham gia các hoạt động mang ý nghĩa cộng đồng, đoàn
kết ,yêu thương, trách nhiệm, hợp tác, hòa đồng, thân ái, đồng cảm, chia sẻ với
mọi người xung quanh và hơn hết là sống tốt, sống có ý nghĩa và có một niềm tin
thiết tha hơn về cuộc sống hiện tại và tương lai. Đồng thời góp phần nâng cao
chất lượng giáo dục nói chung.
4. Điều kiện và khả năng áp dụng.
4.1. Điều kiện cơ sở vật chất:


Với điều kiện cơ sở vật chất của các trường như hiện nay đều áp dụng được
đề tài này bởi nó không đòi hỏi về phương tiện kĩ thuật hiện đại, không yêu cầu
quá cao về trang thiết bị máy móc mà chủ yếu phụ thuộc khả năng sư phạm của
người thầy.
4.2. Về trình độ giáo viên:
Hiện nay hầu hết các trường đều có đội ngũ giáo viên đạt trình độ chuẩn và
trên chuẩn, nhiều giáo viên có kinh nghiệm, năng động nhiệt tình, yêu nghề nên
đây cũng là điều kiện lí tưởng để chúng ta áp dụng đề tài này.
4.3. Về phía học sinh:
Đề tài này có thể áp dụng với các đối tượng học sinh lớp 7 và cũng rất phù
hợp với tất cả các đối tượng học sinh bậc THCS.
Danh sách những người đã tham gia áp dụng sáng kiến

TT

1

2

Họ và tên

Vũ Thị Bằng Giang

Phạm Thị Huyền

Trình độ Nội dung
chuyên công việc
môn
hỗ trợ

Năm
sinh

Chức danh,
đơn vị

1980

Giáo viên trường
THCS Đồng Giao

Cử nhân
sư phạm
Toán

1977

Giáo viên trường
THCS Đồng Giao

Cử nhân
sư phạm
Văn

Giáo viên
chủ
nhiệm
Giáo viên
dậy bộ
môn văn
của lớp

Chúng tôi xin cam đoan mọi thông tin nêu trong đơn là trung thực, đúng
sự thật và hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

Bắc Sơn ngày 20 tháng 3 năm 2018
NGƯỜI VIẾT SÁNG KIẾN
Vũ Thị Bằng Giang

Phạm Thị Huyền



XÉT DUYỆT CỦA HỘI ĐỒNG TRƯỜNG
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
XÉT DUYỆT CỦA PHÒNG GIÁO DỤC
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................
.................................................................................................................................



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×