Tải bản đầy đủ

Một số biện pháp giúp giáo viên lớp 5 a trường tiểu học yên thắng 1 làm tốt công tác chủ nhiệm lớp

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO LANG CHÁNH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP GIÁO VIÊN LỚP 5
TRƯỜNG TIỂU HỌC YÊN THẮNG I, HUYỆN LANG CHÁNH
LÀM TỐT CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP

Người thực hiện: Quách Văn Quyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường TH Yên Thắng I
SKKN thuộc lĩnh vực: Chủ nhiệm

THANH HÓA, NĂM 2018

1


MỤC LỤC

TT
I
1.1.
1.2.
1.3.
1.4.
II.
2.1.
2.2.
2.3.
2.4.
III.
3.1.
3.2

Nội dung
MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Mục đích nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu
NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Cơ sở lý luận
Thực trạng của vấn đề
Các giải pháp thực hiện
Hiệu quả
KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
Kết luận
Kiến nghị

Trang
2
2
4
4
4
5
5
5
7


15
16
16
17

I. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài.
Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều
kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”, đã xác
định mục tiêu đổi mới là:
2


“Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào
tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu
học tập của nhân dân. Giáo dục con người Việt Nam phát triển toàn diện và phát
huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ
quốc, yêu đồng bào; sống tốt và làm việc hiệu quả.
Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, quản lý
tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập;
bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ
hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định
hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo
dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực” [1].
Từ mục tiêu trên, tôi xét thấy giáo viên chủ nhiệm ở Tiểu học có một vị trí
vô cùng quan trọng trong việc hình thành cho học sinh những cơ sở ban đầu cho
sự phát triển đúng đắn và lâu dài về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mĩ và các kĩ
năng sống cơ bản để học sinh tiếp tục học Trung học cơ sở.
Ngoài việc tổ chức, hướng dẫn các hoạt động học tập của học sinh xuyên
suốt các buổi học, các hoạt động giáo dục, các giờ chơi, trong các buổi sinh
hoạt, giao lưu tập thể,…và cả hoạt động học tập ở nhà của học sinh. Thì giáo
viên chủ nhiệm còn là cầu nối giữa nhà trường và phụ huynh trong việc cùng
giáo dục học sinh, là người nắm bắt rõ ràng nhất các thông tin của học sinh và
gia đình các em để phản ánh với nhà trường, nắm bắt tâm tư tình cảm, đặc điểm
tâm lý của từng em đề xây dựng kế hoạch giáo dục và cùng với các giáo viên bộ
môn hoàn thành mục tiêu giáo dục các em. Vì vậy công việc của một giáo viên
chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là rất nặng nề, rất vất vả và vô cùng phức tạp.
Để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình, người giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu
học phải trải qua biết bao nhiêu khó khăn, vất vả. Vì vậy, tôi khẳng định rằng
công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là cực kì quan trọng, là nhân tố
số một quyết định chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Sau nhiều năm
làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi luôn trăn trở làm sao để học sinh cảm nhận được
"Mỗi ngày đến trường là một ngày vui"? Làm như thế nào trong công tác chủ
nhiệm lớp để mình luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao? Đó là lí do tôi
chọn đề tài: “Một số giải pháp giúp giáo viên lớp 5 trường Tiểu học Yên Thắng
1, huyện Lang Chánh làm tốt công tác chủ nhiệm lớp”. Mong được chia sẻ và
nhận được những đóng góp chân tình từ các thầy giáo, cô giáo.
1.2. Mục đích nghiên cứu.
- Giúp giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm ở lớp mình chủ nhiệm.
3


- Ghi lại những việc đã làm thành công để đúc rút kinh nghiệm cho bản
thân và đồng nghiệp.
- Giúp học sinh tự tin hơn trong giao tiếp, tạo điều kiện cho học sinh phát
huy tối đa những kỹ năng của minhftrong học tập, giao tiếp.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Một số giải pháp giúp giáo viên lớp 5 trường Tiểu học Yên Thắng 1,
huyện Lang Chánh làm tốt công tác chủ nhiệm lớp.
1.4. Phương pháp nghiên cứu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết: Để hiểu sâu hơn về
vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, các phương pháp chủ nhiệm và
quy trình công tác của giáo viên chủ nhiệm.
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Để điểu tra,
khảo sát nắm được các cách thức mà giáo viên chủ nhiệm trước đó đã thực hiện,
đồng thời nắm bắt thực tế lớp, thông tin cụ thể về từng học sinh, …
- Phương pháp thống kê, xử lý số liệu: Đề tổng hợp kết quả sau khi triển
khai các biện pháp mới so sánh với lúc chưa thực hiện để đánh giá hiệu quả của
biện pháp đưa ra. Xử lý số liệu một cách chính xác nhằm đánh giá đúng giải
pháp thực hiện hiệu quả đến đâu.
- Phương pháp vấn đáp: Trao đổi trực tiếp với học sinh, phụ huynh, tổng
phụ trách Đội về các hoạt động của học sinh ở trường, lớp , gia đình.
- Phương pháp nêu gương: Nêu những gương người tốt, việc tốt để học
sinh noi theo.

II. NỘI DUNG SÁNG KIẾN
2.1. Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm.
Là người giáo viên tôi nhận thức hết thức sâu sắc lời dạy bảo ân cần của
Bác Hồ trong bức thư Bác gửi cho học sinh nhân dịp ngày khai giảng năm học
đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tháng 9 năm 1945: “Non sông
4


Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh
quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ
một phần lớn ở công học tập của các em [2]. Đó là trách nhiệm, là niềm vinh
quang, tự hào. Tôi suy nghĩ phải làm gì đấy để xây dựng và hình thành cho các
em phẩm chất, năng lực tốt ngay từng giờ, từng ngày học và ý thức trách nhiệm
của các em đối với bản thân, với tập thể lớp, nhà trường và cộng đồng xã hội.
Lương tâm của nhà sư phạm mách bảo tôi phải uốn nắn kịp thời cho các em hình
thành các kĩ năng và ý thức được các nội quy, nền nếp đã được quy định. Quan
tâm, động viên, giúp các em từ việc nhỏ đến việc lớn. Làm hành trang cho các
em mang theo vào cuộc sống sau này.
Mặt khác, người giáo viên chủ nhiệm lớp với vai trò được thay mặt Hiệu
trưởng quản lý và tổ chức học tập, rèn luyện đạt mục tiêu đào tạo. Giáo viên chủ
nhiệm vừa đóng vai trò quản lý hành chính Nhà nước, vừa đóng vai trò người
thầy giáo, đồng thời còn đóng vai trò người đại diện cho quyền lợi của tập thể
lớp. Giáo viên chủ nhiệm là người chủ chốt của nhà trường làm công tác giáo
dục đạo đức, lối sống cho học sinh lớp mình chủ nhiệm [3].
Để trở thành giáo viên chủ nhiệm tốt đòi hỏi giáo viên phải có phẩm
chất đạo đức tốt, tâm huyết với nghề, gần gủi, yêu thương học sinh. Giáo viên
chủ nhiệm phải hoàn thành tốt các nhiệm vụ, tìm hiểu và nắm vững học sinh
trong lớp về mọi mặt, là cầu nối giữa lớp với Ban giám hiệu, gia đình học sinh,
giáo viên bộ môn, tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong để giáo dục học sinh trong
lớp mình chủ nhiệm. Làm tốt công tác giáo dục học sinh, nhất là với học sinh cá
biệt và giúp đỡ học sinh khó khăn đạt hiệu quả trong học tập và đặc biệt là đưa
phong trào của lớp đạt kết quả cao; đòi hỏi người giáo viên làm công tác chủ
nhiệm lớp phải tích cực nghiên cứu và ứng dụng khoa học tâm lý - giáo dục để
hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ giáo viên chủ nhiệm lớp và các nhiệm vụ khác.
Đặc biệt phải có phẩm chất tâm lý của người làm cha, làm mẹ, là người bạn lớn
của học sinh, góp phần hình thành và phát triển nhân cách của các em một cách
toàn diện.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
Học sinh lớp 5 là lớp cuối cấp ở Tiểu học. Ở lứa tuổi này, các em đã có
nhiều thay đổi về nhận thức, về tâm sinh lí, tình cảm và cả các mối quan hệ xã
hội. Nhiều em đang ở ngưỡng cửa của tuổi dậy thì. Các em rất dễ bị lôi kéo, dụ
dỗ, bị xâm hại,… Nhưng các em vẫn chưa có đủ khả năng để từ chối, để tự bảo
vệ mình. Vì vậy, các em rất cần được giáo dục và rèn luyện nhiều kĩ năng sống
để tự tin trong học tập, trong cuộc sống.
Năm học 2017 -2018, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 5A, với tổng số 16
học sinh. Trong đó:
5


Dân tộc Thái: 15 em.
Học sinh nữ: 9 em.
Học sinh khuyết tật: 2 em
Học sinh con hộ nghèo: 5 em.
Và trong lớp có hai học sinh có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn và bị thiểu
năng trí tuệ nặng.
+ Kết quả khảo sát chất lượng đầu năm trước khi áp dụng các giải pháp:
- Kết quả xếp loại môn Toán và Tiếng Việt:
Hoàn thành tốt
SL
%
1
6,25

Hoàn thành
SL
%
10
62,5

Chưa hoàn thành
SL
%
5
31,25

- Kết quả xếp loại về phẩm chất và năng lực:
Mức độ
Phẩm chất
Năng lực

Tốt
SL
3
1

Đạt
%
18,75
6,25

SL
11
10

%
68,75
62,5

Chưa đạt
SL
%
2
12,5
5
31,25

Trong lớp phần đa là các em dân tộc Thái, sống ở địa bàn có điều kiện kinh
tế xã hội đặc biệt khó khăn, đường xá cách trở, giao thông đi lại khó khăn; các
em ở nhà chủ yếu sống sinh hoạt và giao lưu bằng tiếng Thái. Do đó các em đa
số nhút nhát, ít hòa đồng với bạn bè, ít có cơ hội tiếp xúc, giao lưu với các bạn
nơi khác và cuộc sống bên ngoài, khả năng tự học hạn chế, tính tự giác chưa
cao. Các em khuyết tật thì có một em chưa tự chủ được ngay cả trong sinh hoạt
cá nhân.
Qua bảng số liệu nhận thấy, tỉ lệ học sinh chưa hoàn thành môn Toán và
Tiếng Việt và ở mức chưa đạt về năng lực còn rất cao, vì vậy giáo viên phải làm
thế nào để học sinh hoàn thành được các môn học và đạt năng lực, phẩm chất
đúng với vị thế của trường Tiểu học đạt Chuẩn quốc gia mức độ 1.
Ở trường, các em được học 9 buổi/ tuần. Vì vậy, giáo viên chủ nhiệm lớp
có thời gian rất nhiều để tiếp cận các em, từ đó các phương pháp giáo dục của
giáo viên sẽ nhanh chóng và có điều kiện tốt để thành công.
Đã nhiều năm làm giáo viên chủ nhiệm lớp, phần nào đã có chút ít kinh
nghiệm trong công tác chủ nhiệm nhưng với mỗi lớp học sinh mới, tôi vẫn thấy
công việc của một giáo viên chủ nhiệm lớp ở tiểu học là rất nặng nhọc, phức tạp.
6


Mỗi giáo viên muốn làm tốt công tác chủ nhiệm thì phải vừa là một giáo viên
giỏi về chuyên môn, vừa phải là một nhà tâm lí giỏi để hiểu học sinh, để xử lí
các tình huống rắc rối sao cho khéo léo, tế nhị và đạt hiệu quả giáo dục cao. Nếu
giáo viên không tâm huyết với nghề, không có tinh thần trách nhiệm cao thì khó
mà hoàn thành nhiệm vụ. Chất lượng học tập của học sinh, nhân cách, đạo đức,
lối sống…của học sinh rồi sẽ ra sao? Bởi ở mỗi năm học các em đều nhận được
những phương pháp và kiến thức mới, tiếp thu được những cái hay, cái đẹp, cái
mới, cái riêng,… Chính vì hiểu rõ điều đó nên trong những năm học qua, song
song với việc giảng dạy tốt các môn học theo quy định, tôi luôn cố gắng phấn
đấu làm tốt vai trò, nhiệm vụ của một giáo viên chủ nhiệm lớp.
2.3. Các giải pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề.
Từ những thực trạng nêu trên, tôi đã tiến hành phân tích và áp dụng một số
giải pháp cải tiến trong công tác chủ nhiệm lớp ở năm học 2017 - 2018. Với
cách làm này, giúp học sinh gần gũi với thầy cô và bạn bè hơn, học sinh mạnh
dạn hơn trong giao tiếp và giúp người giáo viên chủ nhiệm hoàn thành tốt nhiệm
vụ của mình. Tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp cụ thể mà tôi đã áp dụng
thành công trong công tác chủ nhiệm lớp như sau:
Giải pháp 1: Tìm hiểu các thông tin về học sinh của lớp mình chủ nhiệm;
lập kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện chương trình giáo dục trong từng tuần,
tháng, học kỳ và năm học.
Công việc đầu tiên của người giáo viên chủ nhiệm lớp là tìm hiểu tình
hình học sinh của lớp về mọi mặt như hoàn cảnh gia đình học sinh. Tôi đã phối
hợp với giáo viên chủ nhiệm các em của năm học trước để nắm bắt toàn bộ
thông tin về học sinh sau đó tổ chức họp phụ huynh đầu năm để gặp mặt và trực
tiếp đến gặp mặt phụ huynh học sinh lớp mình để biết được điều kiện sống của
học sinh. Lên lịch đi thăm từng gia đình học sinh, mục đích đi thăm gia đình phụ
huynh nhằm qua đàm thoại với phụ huynh để biết được phụ huynh quan tâm đến
học sinh về việc học như thế nào? Dò xét xem tư tưởng của phụ huynh về giáo
dục như thế nào? Quan tâm đến việc học tập của con cái mình ra sao? Tôi đã tìm
hiểu nhằm để biết được điều kiện sống của học sinh, biết được đặc điểm của học
sinh để có biện pháp giáo dục hữu hiệu nhất, chú ý tìm hiểu học sinh có hoàn
cảnh đặc biệt qua theo giỏi từng diễn biến cá nhân học sinh. Đi từng gia đình
học sinh nhằm quan sát địa bàn nơi ở của học sinh. Trong nhà có giành riêng góc
học tập cho các em không? Nếu có thì đã làm như thế nào? Từ những điều đặt ra
đó tôi đã khuyến khích các em học lại theo nhóm. Cùng trao đổi cho nhau học
tập để cùng nhau tiến bộ.
Qua tìm hiểu học sinh, tôi nắm được đầy đủ các thông tin cần thiết về từng
học sinh để ghi vào Sổ Chủ nhiệm và Sổ cá nhân. Và quan trọng hơn cả là tôi đã
7


hiểu một phần về học sinh của mình, điều đó rất có lợi cho tôi trong công tác
giảng dạy và giáo dục học sinh.
Từ thực tế nắm bắt được tình hình của học sinh tôi tham khảo ý kiến của
giáo viên bộ môn, Tổng phụ trách đội, xây dựng một kế hoạch chủ nhiệm. Kế
hoạch này ngoài việc căn cứ vào kế hoạch của nhà trường, phải dựa vào tình
hình thực tế của lớp, xây dựng kế hoạch cả năm, kế hoạch học kỳ, tháng, tuần.
Có được kế hoạch thì tôi đi vào hướng dẫn học sinh thực hiện theo kế hoạch đã
định. Trước hết phải tổ chức bầu chọn đội ngũ Hội đồng tự quản của lớp, các
ban trong lớp. Đội ngũ này sẽ giúp giáo viên động viên, đôn đốc, kịp thời uốn
nắn, kiểm tra đối tượng học sinh. Sau mỗi đợt công tác, giáo viên tổng kết lại cả
quá trình và rút ra cho mình bài học kinh nghiệm. Từ đó biết được ưu, khuyết
điểm của lớp để khắc phục và đưa ra hướng hoạt động mới. Những vấn đề trong
hướng dẫn lớp hoạt động, giáo viên ghi vào Sổ chủ nhiệm, Sổ cá nhân những gì
mình theo dõi được ở học sinh. Từ đó giúp giáo viên đánh giá và giáo dục học
sinh sát thực hơn.
Giải pháp 2: Xây dựng nền nếp lớp học.
a. Sắp xếp vị trí cho học sinh.
Sau khi nắm vững các thông tin về học sinh của lớp mình phụ trách, tôi đã
tiến hành sắp xếp vị trí của từng em:
- Những học sinh thấp, có biểu hiện không tốt về thị giác và thính giác
ngồi ở vị trí các bàn trên, học sinh cao ngồi ở các bàn tiếp theo.
- Những học sinh tiếp thu bài tốt ngồi cùng bàn với những bạn tiếp thu bài
còn chậm để trong quá trình học tập các em có điều kiện giúp đỡ bạn cùng tiến.
- Những học sinh chưa có ý thức cao trong học tập, hay nói chuyện và làm
việc riêng trong lớp thì cho ngồi trước, gần bàn của giáo viên.
- Sau mỗi tháng học, tôi tiến hành sắp xếp lại vị trí cho các em để đảm
bảo sự phát triển hài hòa cho học sinh.

8


b. Bầu Hội đồng tự quản và các Ban trong lớp.
Đầu tiên khi nhận lớp, tôi đã dựa trên cơ sở của Điều lệ trường tiểu học,
các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của giáo viên làm công tác chủ nhiệm,
quy định của ngành, quy định về quyền hạn và trách nhiệm nghĩa vụ của học sinh
để xây dựng nội quy lớp học. Nhưng việc thực hiện nội quy lại cần phải trên cơ sở
chỉ đạo hoạt động và giám sát của Hội đồng tự quản và các ban trong lớp.
Hội đồng tự quản được thành lập là vì học sinh, bởi học sinh và để đảm bảo
cho các em tham gia một cách dân chủ, tích cực vào đời sống học đường;
khuyến khích các em tham gia một cách toàn diện vào các hoạt động của lớp,
của trường, phát triển tính tự chủ, sự tôn trọng, bình đẳng, tinh thần hợp tác và
đoàn kết của học sinh.
* Công tác chuẩn bị bầu Hội đồng tự quản: Trước khi bầu Hội đồng tự quản
giáo viên cần họp phụ huynh và các tổ chức để xin ý kiến của phụ huynh và các
tổ chức về mô hình Hội đồng tự quản.
Trong phiên họp giáo viên đưa ra mô hình Hội đồng tự quản và cùng thống
nhất về cơ cấu và cách thức bầu Hội đồng tự quản và giáo viên nghe ý kiến về
việc lựa chọn các thành viên trong hội đồng cũng như việc tham gia vào bầu hội
đồng tự quản.
Sau đó giáo viên cần chuẩn bị tư tưởng cho các em khi tham gia Hội đồng tự
quản, những lợi ích có thể có của Hội đồng tự quản và công việc chính của các em
cùng với vai trò, trách nhiệm mà các em cùng thực hiện. Thảo luận về cơ cấu, tiêu
chuẩn của các thành viên trong Hội đồng tự quản. Tiếp theo là lập danh sách ứng
9


cử, đề cử để bỏ phiếu bầu Hội đồng tự quản, bầu ban kiểm phiếu. Sau đó giáo viên
hướng dẫn các em trong danh sách ửng cử và đề cử vào Hội đồng tự quản chuẩn bị
bài tranh cử với các nội dung như: giới thiệu bản thân, những mong muốn về lớp
học, những việc sẽ làm nếu trở thành các thành viên của Hội đồng tự quản. Việc
này tạo điều kiện cho các em cảm thấy dân chủ, công bằng, bình đẳng và học được
cách thuyết trình trước tập thể các em cảm thấy tự tin khi trình bày.
Do đặc thù của lớp số lượng 16 học sinh, nên trong các phiên họp chuẩn
bị bầu đã thống nhất cơ cấu: một chủ tịch, hai phó chủ tịch, bốn ban: ban học
tập, ban văn nghệ - thể dục, ban sức khỏe – vệ sinh, ban đối ngoại.
*Bầu Hội đồng tự quản: Trên cơ sở công tác chuẩn bị, giáo viên hướng dẫn
để các em tự bầu Hội đồng tự quản theo như dự kiến. Nên để các em tham gia ứng
cử, đề cử vào thành viên Hội đồng tự thuyết trình tranh cử tránh việc cầm giấy đọc
để các em được thể hiện khả năng thuyết trình. Sau đó Ban kiểm phiếu tiến hành
làm việc. Em nào có số phiếu cao sẽ trúng Chủ tịch và các Phó Chủ tịch.
*Thành lập các ban: Sau khi đã bầu được Chủ tịch và các Phó Chủ tịch,
thì Hội đồng tự quản bàn bạc với giáo viên chủ nhiệm thành lập các ban theo dự
kiến. Việc thành lập các ban cần có sự tham gia hỗ trợ của giáo viên và phụ huynh
để động viên, định hướng các em vào các ban. Sau khi thành lập các ban xong,
tiến hành bầu trưởng các ban, thư ký. Và cuối cùng các ban xây dựng kế hoạch
hoạt động và kế hoạch đó thực hiện dưới sự giúp đỡ của phụ huynh và giáo viên.

Sơ đồ Hội đồng tự quản lớp 5A
c. Giao nhiệm vụ cụ thể cho Hội đồng tự quản lớp.
10


Giáo viên chủ nhiệm hướng dẫn, giao nhiệm vụ cho Hội đồng tự quản và
các ban để Hội đồng tự quản và các ban tự quản lí, điều hành để các em tham
gia một cách dân chủ và tích cực trong nhà trường.
Chủ tịch Hội đồng chịu trách nhiệm quản lý điều hành mọi hoạt động
của lớp. Phân công, giao nhiệm vụ và đôn đốc cho hoạt động của các Phó Chủ
tịch, các trưởng ban.
Các Phó Chủ tịch phụ trách theo dõi, đôn đốc, giúp đỡ các ban thực
hiện nhiệm vụ được phân công.
Các trưởng ban có chức năng giao nhiệm vụ, theo dõi, hỗ trợ các thành
viên trong ban thực hiện tốt nhiệm vụ được phân công phụ trách.
d. Xây dựng nề nếp lớp học.
Ngay từ đầu năm học, giáo viên cho học sinh đọc thuộc nội quy lớp học
và yêu cầu các em thực hiện tốt nội quy của lớp mình.
Thời gian 15 phút đầu giờ các buổi học, tôi yêu cầu các trưởng ban tổ
chức các hoạt động cho lớp: Chữa bài tập, ôn lại các kiến thức cũ, đọc báo Măng
non, báo Thiếu nhi dân tộc, Trò chơi, văn nghệ...
e.Tiến hành phân loại học sinh:
Qua tuần đầu theo dõi, giáo viên cần nắm rõ từng đối tượng học sinh
trong lớp để xắp xếp chỗ ngồi cho các em thật hợp lý. Mỗi tổ, mỗi nhóm đều có
đủ các đối tượng học sinh: học sinh hoàn thành tốt, học sinh hoàn thành, học
sinh hoàn thành chậm.
Trong lớp có ba dãy bàn tương ứng với tổ, mỗi nhóm có 2 em. Đối với
học sinh còn chậm, thì giáo viên xắp xếp tạo điều kiện về chỗ ngồi thuận lợi
nhất để tạo điều kiện cho việc quan sát, theo dõi, uốn nắn kịp thời của giáo viên.
Khi ngồi học bàn ghế phải ngay ngắn, ngồi vuông góc, ngồi thẳng hàng,
bàn nào có em nói chuyện là mời em đó lên ngồi bàn trên.
Trong khi học bài nếu học sinh phát biểu tôi luôn chú ý động viên dù trả
lời không đúng hoặc đúng ít để tạo cho lớp mình có một phong trào học tập
hăng say và sôi động. Do đó tôi thấy rằng với những việc làm như thế, mỗi giờ
dạy của tôi đối với lớp có phần sôi động hẳn lên, tạo cho cả hai phía giáo viên
và học sinh. Giáo viên thì hứng thú giảng dạy, còn học sinh thì hứng thú học tập
và kết quả truyền thụ và tiếp thu của các em khá cao.
Ngoài việc dạy kiến thức tôi luôn quan tâm đến việc ghi chép bài vở của
học sinh, xem các em viết bài như thế nào? Em nào ghi chưa hợp lý và chưa
khoa học, tôi đã hướng dẫn các em ghi chép đầy đủ và khoa học hơn.
Hướng dẫn các em cách cầm sách khi đọc bài.
Hướng dẫn các em trả lời các câu hỏi phải có đủ chủ ngữ và vị ngữ.
11


Luôn quan tâm giúp đỡ các em học hạn chế, các em khuyết tật.
Trong khi ngồi học ở lớp, tôi luôn nhắc nhở và quan sát tư thế ngồi học của
các em, để kịp thời sửa chữa cho các em ngồi đúng tư thế.
Khi giảng dạy tôi luôn dùng những kí hiệu trên bảng để điều khiển lớp,
nhằm hạn chế sự làm việc riêng của học sinh, giáo viên khỏi phải nói nhiều và
thói quen trong học tập. Trong khi dạy học tôi luôn chú ý các em hoàn thành
chậm hoặc tính trầm lặng ít phát biểu. Đối với các em ít nói, tôi thường gọi các
em đứng dậy nhắc lại những câu trả lời của bạn hoặc đọc lại những câu ghi trên
bảng để tạo cho các em thêm mạnh dạn và nói lưu loát hơn trước đám đồng. Còn
các em hạn chế về kỹ năng nào đó tôi luôn chú ý kèm cặp và dìu dắt kĩ hơn các
em khác. Luôn động viên và khuyến khích các em dù có những việc làm nhỏ. Từ
đó tôi thấy các em mạnh dạn hơn và kết quả giáo dục nâng cao.
Hằng ngày, trong các tiết sinh hoạt giáo viên tuyên dương khen ngợi những
cá nhân, những tổ có nhiều cố ngắng trong việc giữ gìn tốt nề nếp cho các em
khác, tổ khác noi theo và cũng thật nhẹ nhàng, nhưng nghiêm khắc, phê bình
những cá nhân, tổ còn mắc sai phạm làm ảnh hưởng đến nề nếp của lớp.
Tôi luôn xây dựng phẩm chất đạo đức cho mình, xứng đáng phải là một tấm
gương sáng về phẩm chất đạo đức để các em noi theo. Tôi luôn rèn luyện nghiệp
vụ để giờ lên lớp đạt kết quả cao. Từ đó việc hướng dẫn học sinh được dễ hơn
và để học sinh dựa vào mình để học tập và tu dưỡng.
Giải pháp 3: Xây dựng “lớp học thân thiện, học sinh tích cực”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo phát động phong trào “Xây dựng trường học thân
thiện, học sinh tích cực” nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt
là giáo dục đạo đức, nhân cách và kĩ năng sống cho học sinh. Qua các năm thực
hiện, phong trào đã có sức lan tỏa mạnh mẽ cả chiều sâu lẫn chiều rộng, mang
lại hiệu quả thiết thực cho ngành giáo dục và cho xã hội. Muốn phong trào “Xây
dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực” ở mỗi trường đạt hiệu quả thì mỗi
giáo viên chủ nhiệm phải tích cực “Xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích
cực”. Có nhiều “lớp học thân thiện, học sinh tích cực” thì mới có “trường học
thân thiện, học sinh tích cực”.
“Xây dựng lớp học thân thiện” là tạo ra môi trường học tập thân thiện, an
toàn, gần gũi với học sinh, làm cho học sinh cảm thấy “mỗi ngày đến trường là
một ngày vui”. Xây dựng được “lớp học thân thiện” thì sẽ có “học sinh tích
cực”. Xây dựng được lớp học thân thiện, học sinh tích cực thì sẽ hạn chế được tỉ
lệ học sinh lưu ban, bỏ học, sẽ nâng cao được chất lượng giáo dục toàn diện cho
học sinh.
Công việc “xây dựng lớp học thân thiện, học sinh tích cực” được tôi tiến
hành từng bước như sau:
a. Trang trí lớp học xanh- sạch- đẹp:
12


Việc trang trí lớp học chỉ mình giáo viên và học sinh làm thì chưa đạt hiệu
quả mà cần có sự giúp đỡ của phụ huynh học sinh. Chính vì vậy, ngay từ phiên
họp phụ huynh đầu năm tôi đã định hướng cho phụ huynh cùng biết và tham gia
trang trí lớp với giáo viên và học sinh.
Lớp học thân thiện phải có cây xanh, phải luôn sạch sẽ, ngăn nắp và được
trang trí đẹp, đảm bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Do vậy, tôi hướng dẫn
và cùng với phụ huynh và học sinh thực hiện các công việc sau đây:
Trồng cây xanh trong lớp bằng cách: cho các loại cây sống chỉ cần nước và
ưa rợp đổ nước vào các vỏ chai nhựa được cắt tỉa cách điệu rồi treo trên vách
tường, cửa sổ để trang trí. Hoặc trồng cây vào chậu để ở các góc hay cuối lớp.
Trang trí lớp đẹp, hài hòa đảm bảo tính thẩm mĩ và tính giáo dục cao. Phần
trang trí lớp, tôi cùng với một số phụ huynh và học sinh cùng thực hiện. Phần
trang trí lớp thực hiện các công việc:
Dùng giấy Ao xây dựng các bảng biểu: sơ đồ hội đồng tự quản, thời khóa
biểu, bảng thời tiết, bảng nhiệm vụ của học sinh, bảng các góc – góc Toán, góc
Tiếng việt, góc Khoa học - Nghệ thuật, ... Sử dụng các bản đồ phù hợp: Bản đồ
thế giới, bản đồ địa lý tự nhiên Việt Nam, bản đồ hành chính Việt Nam treo vào
các mảng tường để vừa trang trí vừa là đồ dùng học tập cần thiết thuận tiện cho
giáo viên và học sinh mỗi khi cần sử dụng.
Thiết kế nội dung các bảng biểu: Việc trang trí các bảng biểu cần thực tế, đẹp
mắt, linh hoạt, khoa học và tránh sự rườm rà, cần rõ ràng và phù hợp với điều
kiện, nên tiết kiệm và tận dụng các vật liệu có sẵn.
Ví dụ: Như làm bảng Thời khóa biểu chỉ cần dùng giấy Ao, dùng băng dính
có họa tiết dán làm khung và chia ô, dùng giấy bìa cứng in tên các thông tịn trên
thời khóa biểu và dùng băng dính dán vào bảng và đính lên tường.
b. Đề ra các yêu cầu cơ bản đối với học sinh của một lớp học thân thiện,
học sinh tích cực.
Yêu cầu cơ bản của một “lớp học thân thiện, học sinh tích cực”:
- Không có học sinh chán học, bỏ học và nghỉ học vô lí do.
- Lớp học phải được trang trí đẹp, phù hợp, có tính thẩm mĩ và tính giáo
dục cao.
- Phải sử dụng có hiệu quả và bảo quản tốt các thiết bị, đồ dùng dạy học.
- Lớp học phải sạch sẽ trong suốt buổi học, bàn ghế phải ngay ngắn, không
có học sinh xả rác bừa bãi.
- Có tập thể bạn học thân thiện: không nói tục, chửi bậy; phải luôn hòa nhã
với bạn bè và giúp đỡ nhau trong học tập.
- Lớp học phải an toàn, không có nguy hiểm, không có tai nạn xảy ra.
13


- Học sinh phải tích cực tham gia các hoạt động tập thể, rèn luyện kĩ năng
sống, giữ gìn vệ sinh môi trường.
- Học sinh học đủ các môn học theo quy định, chất lượng học tập ngày
càng được nâng cao và vượt trội so với năm học trước.
- Học sinh tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, nhân đạo.
- Lớp học là môi trường bình đẳng nam nữ, không phân biệt giàu nghèo,
không có hiện tượng học sinh bị phạt, bị kiểm điểm phê bình trước toàn trường.
Hằng ngày, tôi nhắc nhở các em thực hiện theo 5 nhiệm vụ của người học
sinh và các yêu cầu của “lớp học thân thiện, học sinh tích cực”. Khi có học sinh
chưa hoàn thành nhiệm vụ, tôi yêu cầu em đó đọc lại 5 nhiệm vụ của người học
sinh và nêu rõ nhiệm vụ nào mình chưa làm được để sửa chữa, khắc phục. Nhờ
vậy, các em mới tự giác thực hiện, số lượng học sinh vi phạm nội quy của nhà
trường, của lớp ngày càng giảm dần.
Giải pháp 4: Xây dựng mối quan hệ thầy - trò và bạn bè trong lớp.
a. Xây dựng mối quan hệ thầy- trò:
Trước đây, quan hệ thầy, trò là quan hệ giảng giải - ghi nhớ. Ngày nay,
quan hệ này được thay bằng quan hệ phân công - hợp tác. Thầy thiết kế - trò thi
công. Thầy làm mẫu, giao việc - trò làm theo mẫu của thầy. Mỗi lời thầy nói ra
phải là một “lệnh”. Do vậy, mọi yêu cầu tôi đưa ra, học trò phải thi hành thật
nghiêm. Ngay từ đầu, tôi yêu cầu học trò phải cố gắng làm cho đúng. Nếu chưa
đúng thì phải làm lại cho đúng mới thôi. Đúng là đúng từ việc làm, nghiêm là
nghiêm trong việc làm chứ không phải ở thái độ khắt khe, gay gắt. Quan hệ cơ
bản nhất của tôi và học trò là quan hệ hợp tác làm việc: tôi giao việc - học trò
làm; tôi hướng dẫn - học trò thực hiện.
Khi giao việc, tôi chỉ nói một lần, nhưng chỉ nói khi lớp trật tự. Với cách
làm này, tự nhiên thầy sẽ trở nên nói ít, học trò sẽ làm nhiều. Làm việc như thế
nào thì đạo đức, ý thức sẽ kèm theo như thế ấy. Làm đến nơi đến chốn thì ý thức
kỉ luật cũng đến nơi đến chốn.
Hành vi của giáo viên sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến tâm lí cũng như sự hình
thành tính cách của trẻ. Vì vậy, khi lên lớp, tôi luôn chú ý đến cả cách đi đứng, nói
năng, cách ăn mặc, cách cầm sách, chữ viết, ... để học trò noi theo. Không vì bất cứ
lí do gì mà tôi cho phép mình cẩu thả hoặc xuề xòa, qua loa trước mặt học sinh.
Khi học sinh nào làm bài chưa đúng, tôi yêu cầu học sinh đó phải làm lại chứ
không sữa ngay. Tôi giúp đỡ, hướng dẫn học sinh làm lại ngay tại lớp. Bởi tôi quan
niệm rằng đối với học sinh tiểu học chấm bài không phải để bắt lỗi, để la mắng học
sinh mà chấm để nhằm phát hiện những chỗ chưa đúng của học sinh, giúp các em
làm lại cho đúng, cho hoàn thiện hơn. Với cách nói đúng, làm đúng trong học tập,
các em trở thành những con người tự tin, trung thực, không gian dối.
14


Khi có học sinh mắc sai lầm, thiếu sót, tôi luôn cố gắng kiềm chế và tôn
trọng học sinh, tìm hiểu cặn kẽ thấu đáo nguyên nhân để có biện pháp giúp đỡ
các em sửa chữa. Tôi không bao giờ có những lời nói, cử chỉ xúc phạm các em.
Ở tuổi này, lòng tự trọng của các em rất cao, chỉ một lời nói xúc phạm sẽ làm tan
nát tâm hồn trẻ thơ. Thậm chí có em sẽ oán hận, căm ghét thầy cô, bỏ học và
không bao giờ trở lại lớp học nữa cho dù có nhiều người đến nhà vận động.
Qua nhiều năm làm công tác chủ nhiệm lớp, tôi biết rằng có những em học
chưa tốt hoặc có hôm không học bài, làm bài nhưng lỗi không phải hoàn toàn là
do các em. Có em ham chơi nên quên học bài, có em do bị mất căn bản từ các
lớp dưới. Nhưng cũng có em học chưa đạt, hoặc không học bài làm bài là do
những điều kiện khách quan. Gia đình của các em đâu phải lúc nào cũng đầm
ấm, hạnh phúc; đâu phải em nào cũng may mắn được bố mẹ, ông bà động viên
trong mỗi bước học tập. Và có biết bao nhiêu bố mẹ phải lo làm thuê, làm mướn
kiếm sống hoặc ốm đau, bệnh hoạn,... nên không ngó ngàng gì đến việc học của
con cái, thậm chí các em còn bị mắng chửi, bị đánh đập, ... Những sóng gió đó
đã tác động đến tâm lí trẻ thơ, cản trở việc học tập của các em. Nếu như giáo
viên không biết được những nguyên nhân đó thì rất dễ nổi giận đùng đùng, rồi la
mắng, trừng phạt các em. Điều đó rất bất lợi cho quan hệ thầy - trò sau này. Vì
vậy, đứng trước một học sinh quậy phá, hay lơ đãng không học bài, làm bài, tôi
không kết án trừng phạt ngay mà bình tĩnh chờ đến hết buổi học gặp riêng các
em để hỏi cho rõ nguyên nhân. Lần đầu các em vi phạm, tôi nhẹ nhàng nhắc
nhở. Nếu lần thứ hai, các em vẫn tái phạm, tôi phải đến nhà tìm hiểu nguyên
nhân để có biện pháp giúp đỡ, giáo dục các em.
Hàng ngày, tôi luôn khích lệ và biểu dương các em kịp thời, ca ngợi những ưu
điểm của các em nhiều hơn là phê bình khuyết điểm. Tôi cố tìm ra những ưu điểm
nhỏ nhất để khen ngợi động viên các em. Nhưng trong khi khen, tôi cũng không
quên chỉ ra những thiếu sót để các em khắc phục và ngày càng hoàn thiện hơn.
Với những em hay nhút nhát, ít hòa nhập bạn bè, đó không phải do lỗi của
các em mà đó là do điều kiện sinh sống của các em tạo nên. Nên khi tổ chức dạy
học hoặc trong các hoạt động giáo dục khác tôi luôn tạo mọi điều kiên cho các
em đó được hòa nhập vào các hoạt động vì chỉ có trong hoạt động các em được
giao lưu, tiếp xúc bạn bè từ đó các em được lôi cuốn vào các hoạt động bạn bè,
thì tâm hồn các em được hồn nhiên nên việc các em ngại hoạt động rụt rè được
khắc phục.
Khi nói chuyện, khi giảng, cũng như khi nghiêm khắc phê bình lỗi lầm của
học sinh, tôi luôn thể hiện cho các em thấy tình cảm yêu thương của một người
thầy đối với học trò. Theo quy luật phản hồi của tâm lí, tình cảm của thầy trước
sau cũng sẽ được đáp lại bằng tình cảm của học trò. Lòng nhân ái, bao dung, đức
vị tha của người thầy luôn có sức mạnh to lớn để giáo dục và cảm hóa học sinh.
“Lớp học thân thiện” chỉ có được khi người thầy có tấm lòng nhân hậu, bao
15


dung, hết lòng vì học sinh thân yêu của mình. Có một người thầy như vậy thì
chắc chắn học sinh sẽ chăm ngoan, tích cực và ham học, thích đi học.

Giáo viên quan sát, giúp đỡ học sinh trong từng tiết học
b. Xây dựng mối quan hệ bạn bè.
Trong cuộc sống của mỗi con người, ngoài những người thân trong gia
đình ra, ai cũng cần có bạn bè để chia sẻ. Học sinh Tiểu học cũng vậy, nếu các
em có nhiều bạn bè thân thiết trong lớp thì các em sẽ hợp tác vui vẻ với nhau và
sẽ giúp đỡ nhau cùng tiến bộ. Em học tốt sẽ giúp những em học chưa tốt; ngược
lại, em học chậm cũng dễ dàng nhờ bạn giúp đỡ mình học tập mà không phải e
ngại, xấu hổ. Nhưng trong thực tế, một lớp học thường xuất hiện nhiều nhóm
học trò, đặc biệt là những lớp cuối cấp. Các em thường hay chia bè phái, phân
biệt giàu nghèo, hay nói xấu hoặc trêu chọc nhau. Những em nữ thì hay hờn
giận. Tuy các em chưa gây ra chuyện gì nghiêm trọng nhưng nó vẫn ảnh hưởng
xấu đến tình cảm bạn bè và chất lượng học tập của lớp. Là một giáo viên chủ
nhiệm, tôi luôn quan tâm đến vấn đề này. Xây dựng được mối quan hệ bạn bè
đoàn kết, gắn bó thì tôi sẽ xây dựng được nề nếp lớp học, tiến tới xây dựng môi
trường học tập thân thiện. Từ môi trường học tập thân thiện đó, chất lượng học
tập của lớp chắc chắn sẽ được nâng cao.
Để xây dựng mối quan hệ bạn bè thân thiết, đoàn kết, gắn bó, sẵn sàng giúp
đỡ nhau trong học tập, tôi luôn tạo ra các hoạt động, các công việc đòi hỏi sự
hợp tác của nhiều học sinh. Cách làm cụ thể như sau:
Trong mỗi tiết học, tôi thường xuyên chia nhóm ngẫu nhiên. Tiết học này,
các em chung nhóm với bạn này, nhưng tiết sau, các em lại chung nhóm với bạn
khác. Lúc đầu có em chưa chịu, tuy ngồi chung nhóm nhưng có em lại quay mặt
16


ra chỗ khác, hoặc ngồi im không tham gia, ai muốn làm gì thì làm; có nhóm lại
cãi nhau, không ai chịu làm nhóm trưởng hoặc đùn đẩy nhau không chịu ghi kết
quả thảo luận vào phiếu, dẫn đến không hoàn thành nhiệm vụ. Trước tình trạng
đó, tôi tuyên bố sẽ chấm kết quả của từng nhóm và lấy kết quả đó chung cho tất
cả các thành viên của nhóm. Do đó, buộc tất cả các em phải tích cực nếu không
sẽ không hoàn thành nhiệm vụ. Cứ như vậy, dần dần việc hợp tác của học sinh
trong lớp đã được cải thiện.
Tôi khuyến khích học sinh tự viết ra những điều em chưa đồng ý về việc
làm, cách cư xử của các thành viên trong Hội đồng tự quản, các Trưởng ban
hoặc của một bạn nào đó trong lớp chứ không nói xấu, không xa lánh bạn. Căn
cứ vào những điều các em viết ra, nếu là những điều tốt thì tôi đọc cho cả lớp
nghe rồi tuyên dương ngay trước lớp. Còn những điều các em phê bình thì tôi
phải điều tra nắm rõ đúng hay sai. Sau đó mới góp ý riêng với những học sinh bị
bạn phê bình, yêu cầu các em phải xin lỗi bạn và phải sửa chữa.
Đầu năm học, tôi thỏa thuận với cả lớp rằng nếu trong lớp mình có bạn
nào đau ốm phải nằm viện thì cả lớp sẽ quyên góp tiền để mua quà đến thăm
bạn, động viên bạn an tâm chữa bệnh; những em ở gần nhà sẽ thay nhau chép
bài cho bạn. Khi bạn khỏi bệnh, các bạn trong Ban học tập sẽ giúp đỡ bạn học
tập để theo kịp chương trình.
Để tạo dựng cho các em một tình bạn bền đẹp với những kỉ niệm sâu sắc
của tuổi học trò, tôi tổ chức sinh nhật cho học sinh ngay tại lớp học trong giờ ra
chơi. Những em có ngày sinh trùng vào ngày thứ bảy, chủ nhật thì sẽ được tổ
chức vào chiều thứ sáu. Hình thức tổ chức do các em do Ban văn nghệ quyết
định. Nhưng chủ yếu chỉ là múa hát, là những lời chúc mừng và một món quà
nhỏ khoảng vài chục nghìn đồng do cả lớp đóng góp. Có rất nhiều em không
nhớ ngày sinh của mình. Bởi các em chưa bao giờ được cha mẹ tổ chức sinh
nhật, chưa bao giờ được nhận một món quà mang ý nghĩa sâu sắc. Vì vậy, khi
được cả lớp tổ chức sinh nhật, nhiều em rất xúc động.
2.4. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm.
Qua một thời gian tuy chưa dài nhưng với những giải pháp nêu trên tôi
thấy lớp học của tôi thật sự đi vào nề nếp, chất lượng học tập của học sinh tiến
bộ rõ rệt. Các em hăng say trong học tập, chăm ngoan, tự tin, nhiệt tình trong
các phong trào. Từ đó giúp cho công tác chủ nhiệm của tôi rất nhẹ nhàng vì các
em đã được hình thành sẵn các nề nếp, thói quen học tập cũng như sinh hoạt.
Khả năng tự quản của các em rất cao. Lớp tôi luôn được tổ chuyên môn, đồng
nghiệp, nhà trường đánh giá là lớp có nề nếp học tập tốt. Điều đó làm tôi rất vui
mừng và vơi đi những vất vả, mệt nhọc. Tình cảm thầy - trò, bạn bè ngày càng
gắn bó và thân thiện.
17


Trong năm học 2017 -2018, tuy trường tôi là trường vùng sâu, vùng xa của
huyện nhưng học sinh lớp tôi vẫn luôn đi học chuyên cần, duy trì sỹ số lớp
100%, học sinh lên lớp thẳng đạt 100%, đến giữa học kỳ 2, không còn học sinh
không hoàn thành nhiệm vụ các môn học và 100% học sinh được đánh giá đạt
trở lên về năng lực và phẩm chất. Và đặc biệt với mỗi học sinh ở lớp tôi chủ
nhiệm thì "Mỗi ngày đến trường là một ngày vui". Đó là điều mà chưa có giáo
viên nào ở nơi đây làm được.
Hơn thế nữa, đa số học sinh lớp tôi luôn đến trường đúng giờ, luôn đảm bảo
an toàn cả trong giờ học lẫn giờ chơi; không có học sinh gây gổ đánh nhau trong
và ngoài nhà trường, không có học sinh bị tai nạn giao thông.
Đồ dùng dạy học và bàn ghế của lớp suốt năm qua luôn được bảo quản tốt,
không có tình trạng hư hỏng, mất mát như những lớp khác.
Học sinh luôn tin tưởng thầy và sẵn sàng bộc lộ những tâm tư tình cảm và
những điều mình mong muốn với thầy.
Lớp học luôn đạt lớp tiên tiến, chi đội xuất sắc, được nhà trường đánh giá
cao về nền nếp và khả năng tự quản của học sinh.
* Kết quả khảo sát giữa học kỳ 2 môn Toán và Tiếng Việt:
Hoàn thành tốt

Hoàn thành

SL

%

SL

%

4

25

12

75

Chưa hoàn thành
SL

%

+ Kết quả xếp loại về phẩm chất và năng lực:

Mức độ

Tốt

Đạt

Chưa đạt

SL

%

SL

%

Phẩm chất

6

37,5

10

62,5

Năng lực

4

25

12

75

SL

%

III. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
18


Theo tôi, muốn trở thành một nhà sư phạm, một giáo viên chủ nhiệm lớp
giỏi, khéo léo, tinh tế trong ứng xử và thành công trong việc giáo dục học sinh
thì mỗi người giáo viên chủ nhiệm cần phải:
Tìm hiểu để biết được một cách toàn diện, sâu sắc về từng học sinh. Hiểu rõ
hoàn cảnh gia đình, đặc điểm tâm lí, tính cách,... của từng học sinh để có biện
pháp giáo dục phù hợp.
Chú trọng xây dựng và bồi dưỡng Hội đồng tự quản, huấn luyện để các em
trở thành những “người lãnh đạo nhỏ” tài ba.
Luôn giữ được sự bình tĩnh trước lỗi lầm của học sinh, tìm hiểu cặn kẽ thấu
đáo nguyên nhân của mỗi tình huống xảy ra để có cách xử lí đúng đắn, hợp tình,
hợp lí; tránh trách nhầm, trách oan học sinh làm các em hoang mang, thiếu niềm
tin vào người thầy.
Luôn biết khích lệ biểu dương các em kịp thời. Hãy khen ngợi những ưu
điểm sở trường của các em để các em thấy giá trị của mình được nâng cao, có
niềm tin và hứng thú học tập hơn.
Luôn thể hiện cho học sinh thấy tình cảm yêu thương của một người thầy đối
với học sinh. Hãy nhớ rằng lòng nhân ái, bao dung, đức vị tha của người thầy
luôn có một sức mạnh to lớn để giáo dục và cảm hóa học sinh.
Duy trì và sáng tạo trong công tác xây dựng “lớp học thân thiện học sinh tích cực”,
làm sao để tất cả các em luôn cảm thấy “mỗi ngày đến trường là một ngày vui”.
Phối hợp chặt chẽ với phụ huynh học sinh; kiên trì vận động phụ huynh tích
cực tham gia vào công tác giáo dục học sinh.
Giáo viên hãy nỗ lực phấn đấu là một tấm gương đạo đức tự học và sáng tạo;
có một kho tàng kiến thức và kỹ năng sư phạm vững chắc để học sinh học tập và
noi theo, là một tấm gương sáng cho các em.
Giáo dục Tiểu học là vấn đề chính trị - xã hội quan trọng, có giá trị cơ bản và
lâu dài, có tính quyết định đối với cuộc đời cá nhân mỗi người. Vì vậy, người
giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học có một vị trí đặc biệt quan trọng. Lao động
của một giáo viên chủ nhiệm lớp ở Tiểu học là lao động sáng tạo không ngừng,
sự sáng tạo đó đòi hỏi phải toàn diện: sáng tạo trong soạn giảng, trong tổ chức
các hoạt động học tập, vui chơi, trong sinh hoạt tập thể và đặc biệt là trong các
biện pháp giáo dục đạo đức và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh. Vì vậy, chỉ
có những giáo viên thực sự tâm huyết với nghề, thực sự thương yêu học sinh của
mình thì mới có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ.
3.2. Kiến nghị.
19


Để công tác chủ nhiệm của mỗi giáo viên được thành công và có cơ hội
để các giáo viện chủ nhiệm được giao lưu học hỏi lẫn nhau trong từng đơn vị
trường học và trên địa bàn huyện, tôi mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị sau:
3.2.1. Đối với giáo viên .
- Gần gũi, quan tâm tới tất cả các em học sinh; tôn trọng và yêu thương
các em như con của mình.
- Thường xuyên trao đổi với đồng nghiệp về thực trạng của học sinh, từ
đó thống nhất rút kinh nghiệm trong công tác chủ nhiệm ở lớp mình.
3.2.2. Đối với nhà trường.
- Thường xuyên tổ chức các đợt hội thảo về công tác chủ nhiệm lớp
- Động viên kịp thời các đồng chí giáo viên làm tốt công tác chủ nhiệm.
3.2.3. Đối với Phòng Giáo dục và Đào tạo.
Thường xuyên tổ chức Hội thi "Giáo viên làm công tác chủ nhiệm giỏi"
để giáo viên trong huyện được giao lưu, học hỏi những kinh nghiệm hay của
nhau nhằm mục đích nâng cao hiệu quả của công tác chủ nhiệm ở các lớp, góp
phần lớn vào cùng nâng cao hiệu quả chất lượng giáo dục theo mục tiêu mà
Đảng và nhà nước đề ra.
Trong quá trình nghiên cứu đề tài này bản thân tôi hết sức cố gắng. Tuy
nhiên cũng không tránh khỏi những khiếm khuyết. Vậy tôi kính mong Hội đồng
khoa học nhà trường và các cấp; bạn bè đồng nghiệp xem xét, góp ý kiến để
sáng kiến được hoàn thiện hơn./.
Tôi xin chân thành cám ơn!
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
HIỆU TRƯỞNG

Lang Chánh, ngày 12 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung của
người khác.

Phạm Văn Thành

Quách Văn Quyền

TÀI LIỆU THAM KHẢO
20


1. Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI “Về đổi mới căn bản, toàn
diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong
điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế”,
ban hành ngày 04/11/2013.
2. Tiếng Việt 5, tập 1 – Nguyễn Minh Thuyết (chủ biên), Hoàng Hòa
Bình, Trần Mạnh Hưởng, Trần Thị Hiền Lương, Nguyễn Trí – Nhà xuất bản
Giáo dục Việt Nam, 2006.
3. Module TH 34: Công tác chủ nhiệm lớp ở trường Tiểu học.

DANH MỤC
21


CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG
ĐÁNH GIÁ XẾP LOẠI CẤP PHÒNG GD&ĐT, CẤP SỞ GD&ĐT VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:.................................................................................................
Chức vụ và đơn vị công tác:.................................................................................,

TT

Tên đề tài SKKN

Kết quả
Cấp đánh
đánh giá
giá xếp loại
xếp loại
(Phòng, Sở,
(A, B,
Tỉnh...)
hoặc C)

Năm học
đánh giá xếp
loại

1.
2.
3.
4.
5.
...
* Liệt kê tên đề tài theo thứ tự năm học, kể từ khi tác giả được tuyển dụng vào
Ngành cho đến thời điểm hiện tại.
----------------------------------------------------

22



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×