Tải bản đầy đủ

Một vài kí thuật dạy học sinh lớp một viết đúng, đẹp

A. MỞ ĐẦU
I. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục Tiểu học là nền tảng của giáo dục quốc dân, lớp 1 là nền móng của
bậc Tiểu học. Tập viết là một trong những phân môn có tầm quan trọng đặc biệt
ở bậc Tiểu học. Tập viết không những có mối quan hệ mật thiết tới chất lượng
học tập ở các môn học khác mà còn góp phần rèn luyện một trong những kĩ
năng hàng đầu của việc học Tiếng Việt trong nhà trường.
Học chữ chính là công việc đầu tiên khi các em đến trường. Đối với học
sinh lớp 1 tập viết lại càng quan trọng hơn. Những nét chữ đầu đời của các em
chính là tài sản quý báu để các em học tiếp lên lớp trên. Chính vì vậy việc dạy
cho các em viết đúng, đẹp ngay từ lớp 1 là việc làm vô cùng quan trọng. Học
vần, tập đọc giúp cho học sinh đọc thông viết thạo. Viết đúng, đẹp, nhanh, rõ
ràng học sinh có điều kiện ghi chép bài học của tất cả các môn học tốt hơn. Chữ
viết và dạy viết được cả xã hội quan tâm. Nhiều thế hệ thầy cô giáo đã trăn trở,
góp công, góp sức để cải tiến kiểu chữ, nội dung cũng như phương pháp dạy học
chữ viết. Tuy vậy, nhiều học sinh vẫn viết sai, viết xấu, viết chậm, điều đó ảnh
hưởng không nhỏ tới các môn học khác. Ngoài ra Tập Viết còn góp phần quan
trọng vào việc rèn luyện cho học sinh những phẩm chất đạo đức tốt như: Tính
cẩn thận bền bỉ, tinh thần kỉ luật và óc thẩm mỹ bởi người xưa nói: “Nét chữ, nết
người”.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, với ý thức và lương tâm, trách nhiệm

nghề nghiệp của giáo viên, bản thân tôi luôn suy nghĩ và trăn trở. Trong giảng
dạy, tôi đã không ngừng tích lũy kinh nghiệm về chữ viết để sớm giúp các em
viết chữ đúng và đẹp, luôn tìm ra phương pháp dạy học thích hợp để viết chữ
đẹp. Bởi vậy tôi đã mạnh dạn đưa ra “Một vài kí thuật dạy học sinh lớp 1 viết
đúng đẹp” để giúp học sinh viết chữ đúng, đẹp, kịp thời đáp ứng dạy theo chuẩn
kiến thức kĩ năng. Đồng thời giúp học sinh có vốn kĩ năng ban đầu thuận lợi cho
việc phát huy viết chữ đẹp sau này.
II. Mục đích nghiên cứu:
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp có
cơ sở khoa học, có tính khả thi để góp phần giúp học sinh lớp 1 viết đúng và
đẹp.
III. Đối tượng nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng và các giải pháp rèn chữ viết cho học
sinh lớp 1.
- Phạm vi nghiên cứu: Lớp 1A2 Trường Tiểu học Ngọc Khê 2, huyện Ngọc
Lặc, tỉnh Thanh Hóa.
IV. Phương pháp nghiên cứu:






Phương pháp nghiên cứu lí luận .
Phương pháp điều tra, khảo sát, thu thập số liệu.
Phương pháp quan sát.
Phương pháp tổng kết kinh nghiệm.

1


B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lí luận:
1. Cơ sở tâm lí của trẻ:
Học sinh lớp 1, ngay từ những ngày đầu tiên đi học ở trường Tiểu học còn
nhiều bỡ ngỡ, rụt rè. Việc giúp các em làm quen với chữ viết thật là khó khăn ,
bởi đôi tay cầm bút còn vụng về lóng ngóng, chóng mệt mỏi vì cơ và xương bàn
tay của trẻ đang ở độ phát triển, nhiều chỗ còn là sụn. Khi cầm bút các em có
tâm lý sợ, điều này gây một phản ứng tự nhiên là các em cầm bút chặt, các cơ
tay căng nên rất khó di chuyển. Do vậy, dường như các em viết bằng toàn thân


chứ không chỉ bằng tay (khi viết mím môi, tròn mặt, vẹo người,...)tôi nhận thấy
rằng đối với học sinh lớp 1 nếu cùng một lúc mà đòi hỏi các em vừa viết đúng,
viết đẹp ngay là một điều khó có thể thực hiện được.
2. Đặc điểm đối mắt của trẻ khi viết:
Trẻ tiếp thu hình ảnh của chữ viết qua mắt nhìn. Khi các em phải phát
hiện lại hình ảnh chữ viết đã thu được qua mắt lần đầu để ghi lại dạng của nó
trên mặt giấy. Vì vậy, nếu nét chữ được trình bày với kích thước quá nhỏ hoặc
ánh sáng kém thì các em phải cúi sát xuống để nhìn cho rõ chữ khi tập viết, từ
đó gây cận thị.
Ngoài chức năng ghi nhận hình chữ, mắt còn có nhiệm vụ hướng dẫn tác
động để tái hiện các đường nét của chữ viết. Trong thời gian đầu có thể các em
nhận ra đúng hình dạng của mẫu chữ. Chỉ sau một số lần luyện tập, số lần nhắc
đi nhắc lại nhiều hay ít tuỳ theo từng em thì các em mới chép lại đúng mẫu.
3. Khả năng chú ý:
Khả năng tập trung của các em còn chưa cao, tư duy chưa phát triển đều,
các thao tác trí tuệ của các em chưa hoàn chỉnh. Vì thế trong quá trình giảng bài,
phân tích chữ mẫu giáo viên phải phân tích rõ ràng, dễ hiểu, chính xác.
Tóm lại: Nắm được đặc điểm này nên trong quá trình dạy tập viết, tôi thường
quan tâm tư thế ngồi học, tốc độ viết và số lượng bài viết vừa sức với các em.
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
1. Thuận lợi:
- Học sinh lớp 1 mới được làm quen với môi trường lớp học mới nên các
em rất thích học, ham học, ham viết.
- Phụ huynh cho con đến trường ở đầu năm cũng rất quan tâm đến việc
học tập của con em mình.
- Nhà trường đầu tư cơ sở vật chất: Bộ chữ mẫu của Giáo viên, những
bảng chữ mẫu (với nhiều kiểu chữ) cho học sinh quan sát.
- Nhà trường, ngành giáo dục quan tâm đến chất lượng chữ viết của các
em ngay từ lớp 1.
2. Khó khăn: Qua khảo sát đầu năm, tôi thu được kết quả như sau :
Tổng
Trình bày Trình bày
Trình bày
số học đúng, đẹp
đúng, nhưng chưa đúng
sinh
chưa đẹp
nét, mẫu chữ
SL %
SL
%
SL
%
Kết quả
31
7
22,6 14
45,
10
32,2
2


2
Nguyên nhân kết quả trên là các em học sinh lớp 1 gặp rất nhiều khó khăn khi
bước vào lớp 1:
- Ở mẫu giáo các em mới được làm quen với đọc và tô các chữ cái. Các
em không biết viết, hoặc chỉ viết chữ in, chưa xác định đúng được dòng kẻ, viết
không đúng mẫu chữ, ngồi viết chưa đúng tư thế vì còn mải chơi, nghịch.
- Các em chưa xác định được điểm đặt bút, điểm dừng bút khi viết chữ.
- Chưa xác định được khoảng cách viết giữa các con chữ và các chữ trong
từ.
- Các em viết sai về độ cao, thế chữ chưa đúng mẫu.
- Viết nối giữa các con chữ (ch, tr, nh, ph, ng, ngh, gh, gi) chưa đẹp.
- Mặt khác các em chuyển từ hoạt động vui chơi sang hoạt động học nhiều
hơn, phải viết nhiều các em mỏi tay dẫn đến nản chí khi viết.
- Phụ huynh chưa nắm được mẫu chữ mới để hướng dẫn con em mình
luyện viết đúng đẹp ở nhà.
III. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề:
Với cấu trúc nội dung chương trình và yêu cầu của tập viết lớp 1, để phát
huy thuận lợi và khắc phục những khó khăn và tồn tại nêu trên, qua những năm
dạy học và học hỏi kinh nghiệm của các đồng chí giáo viên trong trường, tham
khảo ý kiến của chuyên môn, bản thân tôi đã rút ra một số biện pháp như sau:
Biện pháp 1: Chuẩn bị điều kiện vật chất , quy định để học sinh tập viết tốt.
Một nhân tố không thể thiếu được khi dạy tập viết cho học sinh là sự
chuẩn bị về phòng học, bàn ghế, bảng lớp cùng với bảng con, bút, vở của học
sinh.
* Phòng học:
Nhân tố quan trọng đầu tiên là phòng học đúng quy định, có hệ thống cửa
sổ thoáng mát, đủ ánh sáng. Được sự quan tâm của nhà trường và hội phụ huynh
học sinh của lớp khối 1 được trang bị đầy đủ bóng điện và 4 chiếc quạt treo trần
trong lớp để phục vụ cho việc dạy và học trong những ngày trời mưa, trời tối
không có ánh sáng mặt trời các em có đủ ánh sáng để học tập và viết bài, các em
không bị nóng bức chảy mồ hôi làm ướt vở trong những ngày hè nóng bức.
* Bàn ghế học sinh:
Vào đầu năm học, nhà trường đã tạo điều kiện tốt nhất và luôn ưu tiên
riêng khối 1những bộ bàn ghế phù hợp với lứa tuổi tạo điều kiện thuận lợi cho
học sinh ngồi học, ngồi viết tốt.
* Bảng lớp: Bảng lớp là phương tiện rất cần thiết đối với giáo viên. Việc
trình bày bảng là bài mẫu cho học sinh học tập và noi theo. Bảng lớp là bảng từ
có những đường kẻ ô vuông chuẩn sẽ giúp cho giáo viên trình bày bài viết trên
bảng lớp được đúng đẹp và dễ dàng. Đồng thời cũng là để giúp học sinh dễ theo
dõi nội dung bài viết.
* Bảng con của học sinh:
- Trong lớp chúng tôi yêu cầu thống nhất 1 loại bảng nhựa cùng kích
thước 20 x 25cm, mặt bảng có kẻ ô vuông rõ ràng cỡ có chia thành các dòng kẻ
nhỏ (giống như dòng kẻ trong vở ô li).
3


- Dùng khăn ẩm giặt sạch, để lau bảng.
* Phấn và bút viết:
+ Phấn viết:
Tôi yêu cầu học sinh dùng phấn trắng, mềm (hãng phấn Mic). Đồng thời
tôi hướng dẫn cách trình bày bảng sao cho khi viết không phải xoá đi nhiều lần
để đỡ mất thời gian và tránh được thao tác thừa khi viết bảng.
VD: Dạy bài 62: ôm, ơm - khi luyện viết bảng giáo viên yêu cầu học sinh
trình bày vào bảng một dòng ôm rồi mới giơ bảng.
+ Bút viết:
- Giai đoạn viết bút chì: Chọn bút chì tốt loại mềm(2B) để thuận tiện khi
sử dụng và đỡ mất thời gian vót chì, dành thời gian đó để cho luyện viết.
- Giai đoạn viết bút mực: Tôi hướng dẫn phụ huynh mua cho các em bút
Kim Thành loại bút dễ viết nhưng không quá đắt tiền.
* Rèn tư thế ngồi viết - cách cầm bút:
Hoạt động viết thuận lợi phụ thuộc rất nhiều vào tư thế và cách cầm bút.
- Muốn rèn chữ cho học sinh trước hết giáo viên phải rèn cho các em tư
thế ngồi viết đúng: Lưng thẳng, không tỳ ngực vào bàn, đầu hơi cúi, mắt cách vở
khoảng 25 đến 30cm. Hai chân đặt vuông góc dưới bàn, tay trái tì nhẹ nhàng
mép vở để giữ vở.
- Cầm bút bằng 3 ngón tay: Ngón cái, ngón trỏ và ngón giữa của bàn tay
phải. Khi viết di chuyển bút từ trái sang phải, cán bút nghiêng về phía bên phải
cổ tay, khuỷu tay và cánh tay cử động theo mềm mại thoải mái.
Việc giúp học sinh ngồi viết đúng tư thế và cầm bút đúng sẽ giúp các em
viết đúng và viết nhanh được.
* Rèn cách để vở khi viết:
- Ở lớp 1, học sinh chủ yếu rèn viết chữ đứng nên học sinh cần để vở ngay
ngắn trước mặt.
- Khi viết chữ về bên phải, quá xa lề vở, cần xê dịch vở sang trái để mắt
nhìn thẳng nét chữ, tránh nhoài người về bên phải để viết tiếp.
* Rèn giữ vở sạch và trình bày vở:
- Vở phải luôn giữ sạch, có đủ bìa nhãn, không bỏ vở, xé trang. Không bôi
mực ra vở, không làm quăn mép vở. Vở viết của học sinh chọn cùng một loại
giấy trắng, không nhoè mực...
- Khi học sinh chuyển viết bút mực, giáo viên thường xuyên nhắc nhở để
các em nhớ và trình bày vở đúng, sạch, đẹp.
Biện pháp 2: Rèn chữ của giáo viên:
Nhận thức của trẻ đi từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng. Từ tư
duy trừu tượng đến nhận thức cảm tính, từ nhận thức cảm tính đến nhận thức lý
tính. Qui luật nhận thức của trẻ là như vậy, vì thế trực quan là vô cùng quan
trọng. Các em sẽ nhanh chóng bắt chước chữ của cô giáo chủ nhiệm - cô giáo
dạy đến hơn 80% số tiết trong một ngày. Vì vậy, chữ của cô phải đúng, phải đẹp
và có khả năng viết chữ mẫu (trên giấy và trên bảng). Giáo viên viết chữ xấu thì
không thể dạy học sinh viết chữ đẹp được.
Trong giờ lên lớp, chữ viết của giáo viên trên bảng là trực quan tốt nhất
cho việc rèn chữ của các em.Vì vậy, trong bất kể giờ học nào: Toán, Chính tả,
4


Tập viết hay các môn học khác, tôi luôn viết bảng cẩn thận, nét phấn phải thanh
mảnh và đều nét. Muốn vậy, tay phải đưa phấn vào bảng phải nhẹ nhàng, đều
tay, khi cần kẻ những dòng thẳng có thể dùng ngón út tì lên bảng làm chuẩn.
Chữ viết trên bảng của giáo viên phải thẳng hàng, trình bày phải khoa học để
học sinh quan sát và noi theo.
Chữ viết của giáo viên khi chấm bài của học sinh cũng được tôi đặc biệt
chú ý: chữ viết bằng bút đỏ thật nắn nót, cẩn thận để nhìn vào đó các em học tập
chữ viết của cô, đó cũng chính là trực quan sinh động khi dạy học trò.
Biện pháp 3: Rèn chữ viết cho học sinh:
Đây là biện pháp quyết định then chốt cho học sinh viết chữ đẹp. Người
giáo viên sau khi đã nắm vững chương trình, nội dung cũng như nắm vững
nguyên tắc dạy học Tiếng Việt và các lỗi học sinh hay mắc phải khi viết thì rèn
chữ cho học sinh lớp 1 đúng và đẹp là vấn đề xuyên suốt trong các tiết học.
ó Đối với các bài Tập viết:
1. Xác định vị trí các đường kẻ, điểm dừng bút, điểm đặt bút, cách rê bút,
cách lia bút :
- Xác định các đường kẻ :
Trước tiên giáo viên hướng dẫn học sinh nắm được các thuật ngữ dòng
kẻ:“Dòng kẻ ngang 1, ngang 2, ngang 3, ngang 4, ngang 5. Ô li 1, ô li 2…ô li 5.
Đường kẻ ngang trên, ngang dưới của một ô li. Dòng kẻ dọc 1, dòng kẻ dọc 2,
… dòng kẻ dọc 5” trong vở ô li, vở Tập viết, trên bảng con, bảng lớp.
- Điểm dừng bút : Là vị trí kết thúc của chữ trong một chữ cái. Điểm dừng
bút có thể trùng với điểm đặt bút hoặc không nằm trên đường kẻ li.
- Điểm đặt bút: Là vị trí bắt đầu khi viết một nét trong một chữ cái. Điểm
đặt bút có thể nằm trên đường kẻ li hoặc không nằm trên đường kẻ li.
VD: Khi hướng dẫn viết chữ ăm trong bài: Tô chữ hoa E, Ê giáo viên nêu quy
trình viết như sau:
+ Đặt bút trên đường kẻ ly thứ hai viết con chữ a nối liền với con chữ m
đều cao hai ô ly, điểm dừng bút chạm đường ly thứ hai.
- Cách rê bút: Là nhấc nhẹ đầu bút nhưng vẫn chạm vào mặt giấy theo
đường nét viết trước hoặc tạo ra vệt mờ để sau đó có nét viết khác đè lên. ( Từ
rê được hiểu theo nghĩa di chuyển chậm đều đều, liên tục trên bề mặt của giấy,
do vậy giữa đầu bút và mặt giấy không có khoảng cách)
- Cách lia bút: Là dịch chuyển đầu bút từ điểm dừng này sang điểm đặt
bút khác, không chạm vào mặt giấy. Khi lia bút, ta phải nhấc bút lên để đưa
nhanh sang điểm khác, tạo một khoảng cách nhất định giữa đầu bút và mặt giấy.
Trong quá trình hướng dẫn học sinh về quy trình viết một chữ cái, rèn kĩ
thuật nối chữ, viết liền mạch người giáo viên cần lưu ý sử dụng các thuật ngữ
trên cho chính xác.
+ Ví dụ: Khi hướng dẫn học sinh viết chữ m tôi hướng dẫn như sau:
- Nét 1: Đặt bút giữa đường kẻ 2 ( ĐK 2) và đường kẻ 3 ( ĐK 3), viết nét
móc xuôi trái chạm ĐK3, dừng bút ở ĐK 1.
- Nét 2: Từ điểm dừng bút nét 1, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét móc
xuôi thứ hai có độ rộng bằng một ô li rưỡi; dừng bút ở ĐK 1.
5


- Nét 3: Từ điểm dừng bút của nét 2, rê bút lên gần ĐK 2 để viết tiếp nét
móc hai đầu ( độ rộng bằng nét 2); dừng bút ở ĐK2.
2. Dạy học sinh viết đúng, viết đẹp thành thạo các nét cơ bản.
Đầu tiên giáo viên dạy cho học sinh viết hai nét ngang và sổ. Viết cơ bản
hai nét trên cũng dễ viết và nó giúp học sinh giúp học sinh sau này có dạng chữ
viết thẳng, ngay ngắn từ đầu. Sau khi rèn kỹ hai nét trên, giáo viên mới tiến hành
dạy các nét móc xuôi, nét móc ngược, nét móc hai đầu, nét khuyết.
Để trong quá trình dạy tập viết được thông nhất trong cách gọi tên các nét,
giáo viên thống nhất với học sinh cách gọi tên các nét như sau:
: Nét sổ
: Nét cong hở trái
: Nét ngang
: Nét cong hở phải
: Nét xiên phải
: Nét cong kín
: Nét xiên trái
: Nét khuyết trên
: Nét móc xuôi
: Nét khuyết dưới
: Nét móc ngược
: Nét thắt giữa
: Nét móc 2 đầu
: Nét xoắn
Làm tốt phần này tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh khi viết chữ được
đúng đẹp theo mẫu.
Với từng loại nét chữ cơ bản, trước khi dạy tôi luôn chú ý tới lỗi học sinh
dễ mắc phải khi viết để lưu ý học sinh trong quá trình tập luyện, hạn chế tối đa
việc để cho các em viết sai rồi mới sửa. Hình thành cách viết đúng cho học sinh
ngay từ những bài đầu tiên.
+ Các nét thẳng:
Giáo viên hướng dẫn học sinh xác định điểm bắt đầu và điểm dừng bút,
khuyến khích các em viết mạnh dạn và dứt khoát khi đã xác định đúng vị trí.
Tập luyện nhiều lần trên bảng con rồi viết vào vở tập viết và luyện tiếp vở ô li
khi ở nhà.

VD:
+ Các nét cong trái, cong phải:
Các lối học sinh thường gặp : Đây là các nét tạo nên các chữ cái c, a, d, đ,g,…
Khi viết các nét này, học sinh thường mắc lỗi là nét cong méo, độ cong không
đều, vị trí điểm đặt bút thì đúng nhưng điểm kết thúc thường thiếu chính xác.

VD:
6


Cách khắc phục :Với những trường hợp như thế ngay từ khi các em bắt đầu
viết chữ tôi giúp học sinh: xác định được vị trí đặt bút và kết thúc của nét chữ,
đặc biệt là vị trí dễ sai nhất của nét cong. Khi học sinh viết sai, cần uốn nắn, sửa
chữa ngay. Có thể sửa ngay trên bảng con của học sinh bằng các nét phấn khác
màu để học sinh dễ nhận ra điểm sai của mình. Chú ý các nét này cần viết chậm
để đường cong tròn đều. Sau đó luyện tập nhiều trên vở ô li. Kết quả thu được
nhiều bài viết đẹp.

VD:
+ Nét móc xuôi, nét móc ngược:
Đây là các nét tạo nên các chữ i, t, u, ư, d,đ, n, m.
Các lỗi học sinh thường mắc : Thực tế, khi viết nét này, một số học sinh viết
quá rộng hoặc nhọn nét.

VD :
Cách khắc phục : Khi dạy các em viết cần chú ý cách rê bút để phần cong tròn
đều, rộng vừa phải, nét sổ thật thẳng. Luyện viết nhiều lần trên vở ô li.
Kết quả thu được rất khả quan, có nhiều bài viết đúng đẹp.
VD :

+ Nét khuyết trên:
Nét này góp phần tạo nên chữ h, k, l, b.
Các lỗi học sinh thường mắc : Trong khi viết nét này, học sinh thường mắc lỗi
là điểm gặp nhau giữa nét nghiêng phải và nét sổ thẳng không cắt đúng đường
kẻ thứ hai hoặc muốn điểm gặp nhau đúng vị trí thì các em lại uốn làm cho nét
sổ không thẳng.

7


VD :
Cách khắc phục: Khi tổ chức học sinh luyện viết nét này, tôi hướng dẫn học
sinh: xác định vị trí đặt bút, nét nghiêng đưa lên không được võng. Xác định
đúng vị trí điểm nét sổ thẳng và viết mạnh dạn, dứt khoát. Các em cần được tập
viết nhiều lần.
Để cho học sinh xác định đúng vị trí tạo nên điểm gặp nhau chính xác
nhất, giáo viên đưa một loạt các trường hợp để chuẩn bị viết nét sổ thẳng, từ đó
học sinh xác định được vị trí tạo nên điểm cắt chính xác nhất. Một số học sinh
chưa hiểu tôi dùng bút đỏ chấm điểm cắt của 2 nét trên vở hoặc phấn khác màu
để các em lưu ý khi viết.
Khi học sinh viết sai, cần viết ngay chữ đúng bên cạnh để học sinh quan
sát, nhận xét điểm sai của mình và sửa chữa ngay, không nên bỏ qua dù chỉ là lỗi
nhỏ.
+ Nét khuyết dưới: Nét này góp phần tạo nên chữ g, y,...
Các lỗi học sinh thường mắc: Theo kinh nghiệm, tôi nhận thấy học sinh
thường mắc những sai sót là nét vòng quá rộng. Điểm gặp nhau của nét khuyết
không đúng giữa thân chữ làm chữ không ngay ngắn.

VD :
Cách khắc phục : Khi tổ chức luyện viết cho học sinh, tôi tách ra từng nét và
nói kĩ cách viết, nhấn mạnh những chữ các em hay sai và đặc biệt là cho các em
tập viết nhiều lần trên vở ô li. Kết quả thu được nhiều bài viết đẹp.

VD :
+ Nét móc hai đầu có nét thắt ở giữa:
Nét này cấu tạo nên chữ k, r,...
Đây là nét khó nhất trong các nét cơ bản tạo chữ cái. Chính vì thế, tôi
phân tích kĩ cấu tạo, độ cao, khoảng cách phân chia để tạo nét xoắn nhỏ ở giữa.
Các lỗi học sinh thường mắc : Khi viết nét này, học sinh thường mắc lỗi : có
khi nét thắt quá cao, có khi lại quá thấp.Có khi từ nét thắt các em viết ngay nét
nghiêng trái và hất móc.
8


VD:
Cách khắc phục : Khi dạy viết nét này, cho các em tập tô nhiều lần trên mẫu
chữ,viết mẫu để học sinh tập viết nhiều lần vào vở luyện viết( vở ô li) và giáo
viên sửa sai kịp thời. Kết quả có nhiều bài viết đúng, đẹp.
+ Nét xoắn: Nét này tạo nên chữ b, r, v, s.
Nét này gồm nét cong phải hở và nét cong trái hở nối liền nhau tạo thành nét
cong khép kín nhỏ. Điểm kết thúc của nét này thấp hơn đường kẻ thứ hai một
chút. Tôi tổ chức các em tô nhiều lần trên mẫu chữ, viết mẫu để học sinh tập viết
nhiều lần vào vở luyện viết ( vở ô li) xác định điểm bắt đầu và điểm kết thúc của
nét rồi tập viết trên bảng con. Kết quả có nhiều bài viết đúng, đẹp.

VD:
2. Rèn luyện học sinh viết đúng trọng tâm các nhóm chữ,mẫu chữ:
Theo QĐ 31/2002/QĐ – BGD&ĐT ngày 14/6/2002 của BGD & ĐT quy
định. Mẫu chữ viết thường và chữ hoa (theo cỡ chữ nhỡ):
+ Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các
con chữ ấy ( như các chữ a, ă, â, c, e, ê…) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy
dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có
các độ cao là vị trí trên khuông kẻ như sau:
- 2 đơn vị ( 2 ô li vở): a, ă, â, c, e, ê, m, o, ơ, u, ư, v, x.
- 2,5 đơn vị ( 2 ô li rưỡi vở): r, s.
- 3 đơn vị( 3 ô li vở) : t.
(các chữ 2 đơn vị; 2,5 đơn vị và 3 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn )
- 4 đơn vị( 4 ô li vở): d, đ (với 4 đơn vị trên dòng chuẩn)
- 4 đơn vị ( 4 ô li vở): p, q (với 2 đơn vị trên và 2 đơn vị dưới dòng chuẩn)
- 5 đơn vị ( 5 ô li vở) : b, h, k, l ( với 5 đơn vị trên dòng chuẩn)
- 5 đơn vị ( 5 ô li vở): g, y (với 2 đơn vị trên và 3 đơn vị dưới dòng chuẩn)
Căn cứ vào đặc điểm cấu tạo và mối quan hệ về cách viết các chữ cái, để
học sinh viết đúng kĩ thuật, đẹp nắm chắc mẫu chữ, GV chia chữ viết thành các
nhóm và xác định trọng tâm đại diện cho mỗi nhóm chữ gồm những nét nào,
nhóm chữ nào học sinh hay viết sai, học sinh gặp khó khăn gì khi viết các nhóm
chữ đó, để khắc phục nhược điểm giúp học sinh viết đúng và đẹp mẫu chữ trong
trường tiểu học cỡ vừa như sau :
Nhóm 1 : Gồm các chữ : m, n, u, ư, i, t, v, r, p.
9


Các lỗi học sinh thường hay mắc : Học sinh viết chưa đúng nét nối giữa các
nét, nét móc thường hay bị đổ nghiêng, nét hất lên thường hay bị choãi chân ra
không đúng.

VD:
Cách khắc phục : Cho học sinh viết nét sổ có độ cao 2 ô li. Sau đó mới viết
móc xuôi, nét móc hai đầu có độ cao 2 ô li thật đứng, thật thẳng.
Khi học sinh viết thành thạo các nét đó mới cho học sinh ghép các nét
thành chữ. Khi ghép luôn chú ý điểm đặt bút, dừng bút, độ cao, độ rộng của mỗi
nét để chữ viết cân đối đẹp. Sau đó luyện tập viết nhiều lần trong vở ô li.

VD:
Nhóm 2 : Gồm các chữ : b, l, h, k, y
Các lỗi học sinh hay mắc : Học sinh hay viết sai điểm giao nhau của nét, chữ
viết còn cong vẹo

VD :
Cách khắc phục : Trước tiên, giáo viên cho học sinh viết nét sổ có độ cao 5 ô li
một cách ngay ngắn thành thạo để rèn tư thế cầm bút chắc chắn cho học sinh,
sau đó dạy học sinh viết nét khuyết trên có độ cao 5 ô li, độ rộng trong lòng 1 ô
li.
Để giúp học sinh viết đủng điểm giao nhau của các nét khuyết, hướng
dẫn học sinh đặt một dấu chấm nhỏ vào sát đường kẻ dọc trên dòng kẻ ngang 2
của li thứ tư và rèn cho học sinh luôn đưa bút từ điểm bắt đầu qua đúng chấm rồi
mới đưa bút lên viết tiếp nét khuyết trên có độ rộng 1 ô li. Tương tự như vậy dạy
học sinh viết nét khuyết dưới có độ cao 5 ô li, rộng 1 ô li.
Khi dạy viết chữ h, hướng dẫn học sinh viết nét khuyết trên trước, từ điểm
dừng bút của nét khuyết trên ở ĐK ngang 1 rê bút viết tiếp nét móc hai đầu có
độ cao 2 ô li, rộng 1 ô li rồi dừng bút ở đường kẻ ngang 2. Tương tự như vậy với
các chữ còn lại. Học sinh được luyện tập nhiều trong vở ô li.

10


VD:
Nhóm 3 : Gồm các chữ cái : o, ô ,ơ, a, ă, â,c, x, d, đ, q , g
Các lỗi học sinh thường mắc : Hay viết chữ o chiều ngang quá rộng hoặc quá
hẹp, nét chữ không tròn đều, đầu to, đầu bé, chữ o méo. Hầu hết các em viết chữ
o xấu.

VD:
Cách khắc phục : Để viết được đúng và đẹp nhóm chữ này cần phải viết chữ o
đúng và đẹp tròn theo qui định. Giáo viên cho học sinh chấm 4 điểm vuông góc
đều nhau như điểm giữa 4 cạnh của hình chữ nhật. Và từ điểm đặt bút của con
chữ o viết một nét cong tròn đều đi qua 4 chấm thì sẽ được chữ o tròn đều và
đẹp. Sau đó hướng dẫn học sinh ghép các nét cơ bản khác để tạo thành chữ. Để
viết không bị rời rạc, đứt nét, phải nhấn mạnh hơn chỗ nét nối, nhất là chỗ rê
bút, từ điểm dừng bút của con chữ vừa viết rê bút lên viết liền mạch đến điểm
đầu mới được nhấc bút.

VD:
3.Hướng dẫn viết vần, từ ứng dụng
Ở phần đầu học chữ ghi âm học sinh đã được hướng dẫn rất kĩ về độ cao,
độ rộng của từng nét chữ. Khi dạy sang phần vần tuy không cần hướng dẫn cụ
thể nét chữ song cần thường xuyên cho học sinh nhắc lại độ cao các chữ cái,
những chữ cái nào có độ cao bằng nhau, nét nối giữa các chữ cái trong một chữ
ghi tiếng, khoảng cách giữa các chữ ghi tiếng( bằng một con chữ o)
VD: Dạy bài 47: en, ên
- Sau khi cho học sinh quan sát chữ mẫu và phân tích, so sánh chữ mẫu
(như phần phương pháp trực quan)
- GV hướng dẫn quy trình viết từng chữ.
- Học sinh luyện viết bảng con: + Lần 1: en, ên
+ Lần 2: lá sen, con nhện.
- Giáo viên quan sát sửa bài cho từng HS ngay trên bảng con
- Cho nhận xét bài viết của bạn trên bảng, GV yêu cầu học sinh nhận xét:
+ Bạn viết đúng chữ chưa?
+ Đúng độ cao và khoảng cách chưa?
11


Giai đoạn quan sát chữ mẫu và viết vào trong vở tập viết. Giáo viên cho
học sinh quan sát kĩ chữ mẫu đầu dòng xem chữ cần viết, từ cần viết cao bao
nhiêu, khoảng cách các con chữ trong một chữ, khoảng cách các chữ trong từ là
bao nhiêu, sau đó mới đặt bút viết.
VD: Dạy bài tô chữ hoa B (phần luyện tập tổng hợp)
- Học sinh đọc nội dung bài, quan sát chữ mẫu đầu dòng.
+ Một dòng tô mấy chữ B? ( 6 chữ)
+ Chữ B viết rộng trong mấy ô ? (4 ô li rưỡi)
+ Vậy một dòng viết được mấy chữ B? (viết được 6 chữ B)
- Giáo viên nêu quy trình viết, cho học sinh quan sát vở mẫu rồi viết bảng.

4. Xác định khoảng cách:
Qua các giờ tập viết giáo viên giúp học sinh nhận thấy rằng:
Khoảng cách giữa các con chữ trong một chữ là nửa thân con chữ o, các
nét chữ trong một chữ phải viết liền nét.
Khoảng cách giữa các chữ trong một từ là cách nhau một thân con chữ o.
VD: Bài 94: ich, êch (tiết 1)
- Khi hướng dẫn viết từ: con ếch, GV nêu câu hỏi:
+ Nêu khoảng cách giữa các con chữ trong từ con ếch?
+ Khoảng cách giữa hai chữ trong từ con ếch là bao nhiêu?

VD:
5.Khắc phục những lỗi thường gặp khác
Hướng dẫn cách ghi dấu thanh:
Khi viết dấu các chữ có dấu thanh quy trình viết liền mạch bằng cách lia
bút theo chiều từ trái qua phải, từ trên xuống dưới, đánh dấu nguyên âm trước,
đánh dấu thanh sau.
Các dấu huyền, sắc, hỏi, ngã đặt phía trên các nguyên âm, dấu nặng đặt
phía dưới các nguyên âm. Viết vừa phải các dấu thanh không viết dài quá, to quá
hoặc nhỏ quá.
Với chữ có dấu phụ như ô, ơ, ê thì các thanh sắc, huyền, nặng, hỏi ở bên
phải đầu mũ, dẫu ngã ghi ở giữa phía trên dấu mũ cân đối nằm đúng dòng li quy
định, không được chạm vào chữ hay dấu phụ.
VD: Bài 91: oa, oe (tiết 1)
- Khi hướng dẫn viết từ: múa xòe, giáo viên nêu câu hỏi
12


Nhận xét vị trí thanh sắc (/)và thanh huyền(\) trong từ múa xòe? (thanh
sắc viết trên con chữ u, thanh huyền viết trên con chữ o).

VD:
ó Đối với các bài Tập chép và viết chính tả (ở học kì II)
Bước sang học kì II, kĩ thuật viết chữ của học sinh đã nâng lên rõ rệt, các
em biết cách trình bày đoạn thơ theo yêu cầu của bài Học vần cũng như bài Tập
đọc. Tôi tiếp tục rèn cho học sinh kĩ thuật viết tổng hợp qua bài tập chép, chính
tả; không chỉ tạo điều kiện cho các em luyện chữ viết mà còn hỗ trợ cho trình
bày các môn học khác, giúp các em tự tin hoàn thành yêu cầu viết chữ của lớp
học.
Ở giai đoạn này, giáo viên cần phải hướng dẫn tỉ mỉ để các em viết đúng
mẫu, có biện pháp để giúp các em khắc phục nhược điểm. Với những học sinh
yếu, viết mẫu trong một số bài chính tả của những tuần đầu ở mỗi bài chính tả
một câu văn hoặc một dòng thơ. Viết thật ngay ngắn và đẹp cho các em quan sát.
Đến khi viết bài tôi yêu cầu các em nhìn theo mẫu rồi viết (lưu ý viết thật tròn
trĩnh) kể cả trong bài tập chép hay nghe – viết tôi đều làm như vậy, tăng cường
viết mẫu hướng dẫn vào buổi luyện tiếng việt hay tiết tự học chỉ sau một tuần
làm như vậy tôi thấy chữ viết của các em đã tiến bộ rõ rệt.
+ Các quy định đối với chữ viết thường và chữ viết hoa trong cỡ chữ nhỏ,
trình bày bài chính tả, luyện viết:
+ Nếu kể chiều cao của con chữ thấp nhất không kể các dấu phụ trên các
con chữ ấy ( như các chữ a, ă, â, c, e, ê…) là đơn vị chiều cao của chữ và lấy
dòng kẻ dưới cùng của khuông kẻ vở làm dòng chuẩn thì các chữ viết thường có
các độ cao là vị trí trên khuông kẻ như sau:
- 1 đơn vị : a, ă, â, c, e, ê, m, o, ơ, u, ư, v, x.
- 1,25 đơn vị : r, s.
- 1,5 đơn vị : t.
(các chữ 1 đơn vị 1,25 đơn vị và 1,5 đơn vị trên đều viết trên dòng chuẩn )
- 2 đơn vị: d, đ (với 2 đơn vị trên dòng chuẩn)
- p, q (với 1 đơn vị trên và 1 đơn vị dưới dòng chuẩn)
- 2,5 đơn vị : b, h, k, l ( với 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn)
- g, y (với 1 đơn vị trên và 1,5 đơn vị dưới dòng chuẩn)
+ Các chữ hoa đều có độ cao 2,5 đơn vị trên dòng chuẩn trừ g và y có độ
cao 4 đơn vị, với 2,5 đơn vị ở trên và 1,5 đơn vị ở dưới dòng chuẩn.
+ Hướng dẫn trình bày bài chính tả:
• Cách ghi thứ, ngày - tháng - ghi tên môn – ghi tên bài viết.
+ Cách ghi thứ - ngày - tháng:
chữ “Thứ” cách lề vở 1 ô
+ Cách ghi tên phân môn: “Chính tả” cách lề 5 ô
13


+ Cách ghi tên bài:
Cách ghi tên bài không phải là đến khi viết chính tả giáo viên mới giới
thiệu cho học sinh. Với tôi, ngay trong các bài học vần, trong các môn học khác
khi ghi tên bài tôi luôn chú ý trình bày làm sao cho đúng, cho khoa học và đẹp
mắt tức là viết đúng và trình bày cân đối trên bảng.
Ở đây, giáo viên phải cho học sinh thấy được cái đẹp ở đây không những
chỉ về chữ viết mà còn cả về cách trình bày. Từ đó hình thành cho học sinh cách
trình bày bài một cách khoa học và đẹp mắt. Cách trình bày đó được tôi nhắc
nhở xen kẽ trong các bài học của môn học khác. Đến khi viết chính tả, tôi chỉ
cần lưu ý học sinh là các em có thể tự ước lượng và trình bày vào vở của mình
(có thể chưa thật cân đối) và dần dần trở thành thói quen, được thực hành nhiều
lần các em sẽ có kỹ năng trình bày bài đúng, đẹp và khoa học. Đối với những
học sinh yếu, hướng dẫn các em ở một số bài đầu tiên về cách viết, viết cách lề
khoảng mấy ô. Sau đó yêu cầu học sinh tự ước lượng, tự thực hành.
• Cách trình bày đoạn văn, đoạn thơ:
Trong các bài học vần, khi đưa ra đoạn văn, đoạn thơ (khổ thơ) ứng dụng
tôi luôn chú ý cách trình bày đoạn ứng dụng đó trên bảng phụ hoặc bảng lớp giới
thiệu cho học sinh hiểu cách trình bày từng bài đó.
Cụ thể :
* Thơ:
Bài : Tặng cháu
Vở này ta tặng cháu yêu ta
Tỏ chút lòng yêu cháu gọi là
Mong cháu ra công mà học tập
Mai sau cháu giúp nước non nhà.
Ở đây, giáo viên giúp học sinh hiểu:
+ Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải viết hoa con chữ đầu tiên (chữ
viết), in hoa con chữ đầu tiên (chữ in).
+ Chữ đầu các dòng thơ phải thẳng đều nhau.
+ Cuối đoạn thơ phải có dấu chấm.

VD:
14


`

Bài : Cái Bống
Cái bống là cái bống bang
Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ nấu cơm
Mẹ Bống đi chợ đường trơn
Bống ra gánh giúp chạy cơn mưa ròng.
Ở đây, giáo viên cũng phải giúp học sinh hiểu:
+ Tất cả các chữ đầu mỗi dòng thơ phải được viết hoa con chữ đầu tiên
(đối với chữ viết), in hoa (đối với chữ in)
+ Cuối đoạn thơ có dấu chấm.
Hơn nữa, ở đây giáo viên còn phải giúp học sinh nhận thấy số chữ ở từng
dòng thơ và cách trình bày khác với bài trước.
Dòng 6 chữ phải lùi vào so với lề vở 2 ô li.
Dòng 8 chữ phải lùi ra khoảng 1 ô so với dòng 6, tức là cách lề vở 1 ô li.

Đoạn văn : giáo viên phải giúp học sinh thấy được: chữ đầu đoạn văn, chữ
đầu câu phải viết hoa con chữ đầu tiên, cuối câu có sử dụng dấu câu “.”. Như
vậy, ngay từ các bài học vần giáo viên giới thiệu cho học sinh, cách trình bày
cách viết hoa (viết hoa tên riêng …) cách ghi dấu chấm, cách ghi dấu phẩy hay
cả cách ghi dấu chấm hỏi có trong bài.
Trong những bài chính tả của những tuần đầu, luôn luôn có bảng chép
mẫu bài viết. VD: Khi dạy bài “Trường em” tôi chuẩn bị bảng như sau:
Trường em
Trường học là ngôi nhà thứ hai của em.
Ở trường có cô giáo hiền như mẹ, có nhiều bè bạn thân thiết như anh
em.
+ Bài viết đúng, đẹp các con chữ đều, chuẩn là bài để học sinh nhìn. Tôi
còn hướng dẫn học sinh cách viết chữ đầu đoạn văn: lùi vào so với lề vở 1 ô li.

15


Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy khác nhau
Để việc học sinh viết đúng, đẹp thì phải thực hành song song và đồng bộ
việc dạy tập viết với các môn học khác. Học sinh không chỉ viết đứng và đẹp ở
vở tập viết mà phải đẹp ở tất cả các loại vở. Muốn viết đẹp và thành thạo thì cần
phải nắm được kĩ thuật viết
Để việc dạy và học đạt hiệu quả, tôi đã sử dụng nhiều phương pháp và
đạt một số kết quả nhất định. Sau đây là một vài phương pháp tôi thường sử
dụng:
1. Phương pháp trực quan:
Giáo viên khắc sâu biểu tượng về chữ viết cho các em bằng nhiều con
đường: kết hợp mắt nhìn, tai nghe, tay luyện viết.
Chữ mẫu là hình thức quan trọng ở tất cả các bài tập viết. Đây là điều kiện
đầu tiên để các em viết đúng.
VD: Bài 8: 1, h - giáo viên chuẩn bị chữ mẫu l, h cho học sinh quan sát và
nhận xét.
Bài 47: en, ên - GV viết mẫu chữ lên bảng cho học sinh quan sát (tiết 1),
đưa vở mẫu cho học sinh quan sát (tiết 2).
2. Phương pháp đàm thoại gợi mở:
Phương pháp này được sử dụng chủ yếu ở giai đoạn đầu của tiết học. Giáo
viên dẫn dắt học sinh tiếp xúc với các chữ sẽ học bằng một hệ thống câu hỏi, từ
việc hỏi về các nét cấu tạo chữ cái, độ cao, kích thước chữ cái đến việc so sánh
nét giống nhau và nét khác biệt giữa các chữ cái đã học với các chữ cái phân
tích.
VD1: Dạy bài 8: l, h - Giáo viên cho học sinh quan sát chữ mẫu
- Chữ "l" cao mấy li? Gồm mấy nét?
- Chữ "h" cao mấy li? Gồm mấy nét?
- So sánh chữ "l" và "h" có đặc điểm gì giống và khác nhau?
VD2: Dạy bài 47: en, ên - GV cho học sinh quan sát chữ mẫu và hỏi:
- Chữ en gồm mấy con chữ?
- Độ cao các con chữ?
- Khoảng cách giữa các con chữ trong chữ en là bao nhiêu?
- So sánh chữ en và ên có gì giống và khác nhau.
16


3. Phương pháp luyện tập :
Giáo viên cần chú ý đến các giai đoạn của quá trình tập viết chữ. Việc
hướng dẫn cho học sinh luyện tập thực hành phải tiến hành từ thấp đến cao để
học sinh dễ tiếp thu.
Khi học sinh luyện tập viết chữ, giáo viên cần luôn luôn chú ý hướng dẫn
để các em cầm bút đúng và ngồi đúng tư thế. Bài viết đẹp phải đi cùng với tư thế
đúng, rèn cho trẻ viết đẹp mà quên mất việc uốn nắn cách ngồi viết là một thiếu
sót lớn của giáo viên.
Cần lưu ý các hình thức luyện tập cơ bản sau:
* Tập viết chữ vào bảng con của học sinh:
Hình thức tập viết trên bảng có tác dụng kiểm tra sự tiếp thu cách viết và
bước đầu đánh giá kỹ năng viết chữ của học sinh. Hình thức này dùng để kiểm
tra bài cũ hoặc sau bước giải thích cách viết chữ, bước luyện tập viết chữ ở lớp.
Từ đó, giáo viên phát hiện những chỗ sai của học sinh để uốn nắn (sai về kích
cỡ, hình dáng, thứ tự các nét viết).
* Luyện viết trong vở tập viết:
Muốn cho học sinh sử dụng có hiệu quả vở tập viết, giáo viên cần hướng
dẫn tỉ mỉ nội dung và yêu cầu về kĩ năng viết của từng bài (chữ mẫu, các dấu chỉ
khoảng cách giữa các chữ, dấu chỉ vị trí đặt bút, thứ tự viết nét…) giúp các em
viết đủ, viết đúng số dòng đầu tiên ở mỗi phần bài viết.
* Luyện viết trong vở ở ô li:
Giáo viên cần viết mẫu cho toàn bộ học sinh trong vở cho đến khi học hết
phần âm (chữ cái). Sau khi chuyển sang phần học vần, tiếng, từ giáo viên có thể
chọn 1 số em viết chưa đẹp để viết mẫu( nếu lớp quá đông)
* Rèn nếp viết chữ rõ ràng sạch đẹp:
Sự nghiêm khắc của giáo viên về chất lượng ở tất cả các môn học là cần
thiết. Có như thế, việc luyện tập viết chữ mới được củng cố đồng bộ và thường
xuyên. Việc làm này yêu cầu người giáo viên ngoài những hiểu biết về chuyên
môn còn cần có sự kiên trì, cẩn thận và lòng yêu nghề - mến trẻ.
4. Phương pháp trò chơi:
Trong giờ rèn viết, tôi thường tạo không khí lớp học vui tươi, thoải mái.
Chẳng hạn, tôi cho các em viết chữ đúng, nhanh, đẹp và kích thích các em bằng
những lời khen ngợi và những phần thưởng phù hợp. Giờ tập viết, phần kiểm
tra bài cũ, tôi tổ chức trò chơi thông qua phần viết đúng, đẹp các chữ, các từ ứng
dụng hay giờ luyện viết, tôi thường dành những khoảng thời gian rất ngắn cho
các em vận động tại chỗ cho đỡ mỏi tay, mỏi lưng. Như vậy, các em rất hào
hứng, sôi nổi trong giờ học, các em không ngại rèn chữ và giờ học có hiệu quả
hơn.
5. Phương pháp đánh giá, nhận xét:
Rèn chữ cho các em là khâu quan trọng, song đánh giá, nhận xét cũng không thể
thiếu trong việc dạy chữ. Vì thế, trong giờ tập viết nào tôi cũng chấm, chữa ngay
trong giờ. Tôi chấm ít nhất 10 bài, nhận xét cụ thể, số còn lại thì chấm sau.
Nhữngchữ học sinh viết sai hoặc không đúng mẫu, sau khi gạch bằng bút đỏ, tôi
viết mẫu chữ đó ra lề vở để học sinh so sánh, đối chiếu, tự rút ra lỗi sai mà khắc
phục.
17


Và như vậy bằng cách luyện tập thường xuyên, tích cực, chữ của các em tiến
bộ rất nhiều.
6. Phương pháp nêu gương, khen thưởng:
Đó là nêu những gương điển hình, học tốt, viết chữ đẹp, hăng hái thi đua
xây dựng bài để các em khác học tập, phấn đấu. Tôi dành một góc trong lớp học
để trưng bày những bài viết đẹp của lớp hoặc của trường để kích thích phong
trào thi đua, rèn luyện học sinh trong lớp, trong trường.
Biện pháp 5: Luôn đổi mới phương pháp dạy học.
Để góp phần giúp đỡ học thành công, người giáo viên phải không ngừng
học hỏi, tìm tòi, và đổi mới các phương pháp sao cho phù hợp với đối tượng học
sinh, với nội dung bài dạy, với điều kiện thực tế của lớp. Theo tinh thần đổi mới
phương pháp giảng dạy, tiết chính tả cần tạo điều kiện để học sinh chủ động tiếp
nhận kiến thức (tự quan sát – nhận xét – ghi nhớ), tự giác luyện tập và rút kinh
nghiệm qua thực hành luyện viết dưới sự hướng dẫn của giáo viên.
Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh học sinh:
Đối với học sinh lớp 1, mỗi nét chữ của học sinh không chỉ có bàn tay
của cô giáo mà còn có sự hỗ trợ rất lớn của cha mẹ các em.
Chính vì vậy mà giáo viên cần biết kết hợp cùng với phụ huynh để trao
đổi cùng nhau tìm ra biện pháp tốt nhất giúp học sinh khắc phục những nhược
điểm đó.
Cần giúp cho phụ huynh học sinh hiểu rằng, chính bản thân họ cũng phải
đọc chuẩn – viết chuẩn thì việc rèn chính tả cho con em họ mới có hiệu quả cao.
Hướng dẫn cho gia đình kiểm tra, rèn đọc, rèn viết cho con mình. Tôi
thường viết mẫu và yêu cầu gia đình kiểm tra xem con mình đã viết đúng cỡ
chữ, đúng yêu cầu chưa. Làm như vậy sẽ nâng cao nhận thức của phụ huynh và
học sinh, xem trọng phân môn Tiếng Việt, chú ý rèn chữ viết đúng, viết đẹp cho
các em khi ở nhà.
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm:
Qua nghiên cứu, thực nghiệm chuyên đề tôi nhận thấy chữ viết của học
sinh đã có nhiều tiến bộ, chữ viết của các em rõ ràng, đúng độ cao, đủ nét, viết
đúng khoảng cách giữa các con chữ, giữa các từ, đã xác định được điểm đặt bút
và điểm dừng bút, các em luôn có ý thức rèn chữ và giữ vở sạch...
Không có em nào mắc lỗi, trình bày bài chính tả sạch, đẹp.
Trình bày
Trình bày
Trình bày
Tổng
đúng, đẹp đúng, nhưng
sai
số học
chưa đẹp
sinh
SL
%
SL
%
SL
%
Kết quả bài cuối HKI
31
13 41,9
14
45,2
4
12,9
Kết quả bài giữa HKII
31
25 80,6
6
19,4
0
0
Ngoài ra, việc rèn luyện chữ viết còn có tác dụng đem lại hứng thú học tập
cho các em . Nhiều em bắt đầu cố gắng nỗ lực và có tính kiên trì chịu khó cao.
Giáo viên chỉ là người hướng dẫn, định hướng nhưng cũng có vai trò không
kém phần quan trọng. Sự rèn luyện của giáo viên không chỉ giúp học sinh hình
thành kỹ năng mà còn rèn luyện phẩm chất đạo đức tốt cho các em.
18


C. KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ
I. Kết luận:
Trên đây là toàn bộ kinh nghiệm mà bản thân đã rút ra trong quá trình giảng
dạy học sinh lớp 1 viết đúng, đẹp. Kết quả đạt được tuy chưa mĩ mãn nhưng bản
thân nhận thấy hoàn toàn có thể ứng dụng rộng rãi trong dạy học với đối tượng
là học sinh lớp 1. Với mục đích nhằm không ngừng nâng cao chất lượng dạy và
học, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước. Song, do thời
gian có hạn và sự hạn chế của cá nhân, nội dung trình bày trên không tránh khỏi
thiếu sót. Rất mong nhận được ý kiến đóng góp của Ban giám hiệu, các đồng
nghiệp và các cấp lãnh đạo, để bản thân tôi được học hỏi thêm, góp phần hoàn
thiện và nâng cao chất lượng chữ viết, giữ gìn sách vở của học sinh, xứng đáng
với ý nghĩa :
“Mỗi chữ viết là một bông hoa đẹp
Mỗi trang vở là một vườn hoa tươi”.
Tôi xin chân thành cảm ơn
II. Kiến nghị:
+ Đối với phụ huynh học sinh:
• Chuẩn bị đầy đủ đồ dùng cho học sinh khi đến lớp: bút, bảng con, phấn, giẻ
lau.
• Tự luyện viết chữ ở nhà theo yêu cầu của thầy cô giáo.
• Phụ huynh thường xuyên rèn cho các em thói quen nói từ đúng, câu hay khi
giao tiếp trong gia đình.
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG
ĐƠN VỊ

Ngọc Khê, ngày 15 tháng 4 năm 2018
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
NGƯỜI VIẾT

Lê Thị Huyền
XÁC NHẬN CỦA PHÒNG GIÁO DỤC

19


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Tài liệu: Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại – Xí nghiệp in Tổng hợp - Bộ Nội
vụ - Đại học sư phạm Hà Nội I - 1994 . Đỗ Xuân Thảo.
2. Tài liệu: Phương pháp dạy học Tiếng Việt 5 - NXB Giáo dục . PGS – TS Lê
Phương Nga.
3. Tài liệu tâm lí học Tiểu học - NXB Giáo dục - 1997. PGS-TS Bùi Văn Huệ.
4. Dạy và học môn Tiếng Việt theo chương trình mới - NXB Giáo dục – 2003.
TS Nguyễn Trí.
5 . Vở Tập viết lớp 1(Tập 1,2), Sách Tiếng Việt 1(Tập 1,2), Vở bài tập Tiếng
Việt 1(Tập 1,2) của Nhà xuất bản Giáo dục.
6.Vở ô li luyện viết và vở ghi chính tả của học sinh lớp 1A2 năm học 2017 –
2018

20


SỎ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO THANH HÓA

PHÒNG GD & ĐT NGỌC LẶC

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT VÀI KĨ THUẬT DẠY
HỌC SINH LỚP MỘT VIẾT ĐÚNG, ĐẸP

Họ và tên: Lê Thị Huyền
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Ngọc Khê 2
SKKN thuộc môn: Tiếng Việt

THANH HÓA, NĂM 2018
21


MỤC LỤC
NỘI DUNG

TRANG

A.Mở đầu........................................................................................................1
I. Lí do chọn đề tài...........................................................................................1
II. Mục đích nghiên cứu..................................................................................1
III. Đối tượng nghiên cứu................................................................................1
VI. Phương pháp nghiên cứu...........................................................................1
B. Nội dung sáng kiến kinh nghiệm.............................................................2
I. Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.....................................................2
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.....................2
III. Các biện pháp đã thực hiện để giải quyết vấn đề .....................................3
Biện pháp 1: Chuẩn bị điều kiện vật chất, quy định để học sinh tập viết tốt 3
Biện pháp 2: Rèn chữ của giáo viên................................................................4
Biện pháp 3: Rèn chữ viết cho học sinh..........................................................5
Biện pháp 4: Vận dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy khác nhau.......16
Biện pháp 5: Luôn đổi mới phương pháp dạy học..........................................18
Biện pháp 6: Phối hợp với phụ huynh học sinh..............................................18
VI. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm........................................................18
C. Kết luận, kiến nghị...................................................................................19
I. Kết luận .......................................................................................................19
II.Kiến nghị.....................................................................................................19
TÀI LIỆU THAM KHẢO...............................................................................20

22


23



Tài liệu bạn tìm kiếm đã sẵn sàng tải về

Tải bản đầy đủ ngay

×